BỆNH SỐT RÉT ( MALARIA )
(Kỳ 1)
1. Đại cương:
1.1. Định nghĩa:
Sốt rét (SR) là một bệnh lây theo đường máu, do ký sinh trùng (KST) SR
được truyền từ người bệnh sang người lành bởi muỗi Anopheless; bệnh lưu hành
địa phương và có thể phát thành dịch. Đặc điểm lâm sàng: sốt thành cơn có chu
kỳ, với 3 giai đoạn: rét, nóng, vã mồ hôi, kèm theo thiếu máu, lách to. Có nhiều
thể bệnh: thể mang KST lạnh, thể cụt, thể thông thường điển hình, sốt rét ác tính,
sốt rét đái huyết cầu tố
2.2. Mầm bệnh:
1.2.1. KSTSR: là một đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài
Plasmodium. Có 4 loài KSTSR ở người: P. falciparum, P. vivax, P. ovale, P.
malariae; riêng P. malariae thấy ở cả những khỉ lớn châu Phi.
1.2.2. Chu kỳ phát triển KSTSR: có chu kỳ vô tính ở người và chu kỳ hữu
tính ở muỗi.
Chu kỳ vô tính có 2 giai đoạn:
- Giai đoạn trong gan (còn gọi giai đoạn tiền hồng cầu): thoa trùng do muỗi
truyền sẽ qua máu trong thời gian ngắn (30 phút) rồi vào nhu mô gan, phân chia
thành các merozoite gan (tiểu thể hoa cúc), từ đó lại xâm nhập vào máu. Với P.
falciparum, thoa trùng phát triển nhanh thành merozoite gan, rồi vào máu hết trong
thời gian ngắn; với P. vivax và P. ovale một số thoa trùng ở lại gan dưới dạng thể
ngủ (hypnozoite), và sau 1-6 tháng hoặc lâu hơn mới phát triển thành merozoite
gan để vào máu.
- Giai đoạn trong máu (giai đoạn hồng cầu): các merozoite gan xâm nhập
vào hồng cầu, phát triển qua thể nhẫn, sau thành thể tư dưỡng (non, già), thể phân
liệt, cuối cùng phá vỡ hồng cầu và các merozoite hồng cầu từ trong thể phân liệt
được giải phóng ra ngoài, một số xâm nhập vào hồng cầu khác, một số phát triển
thành thể hữu tính (giao bào đực và cái - gametocyte).
Chu kỳ hữu tính ở muỗi:
Giao bào được muỗi Anopheles hút vào dạ dày sẽ phát triển thành giao tử
(gamete), sau thành hợp tử (zygote) và trứng "di động" (ookinete). Ookinete chui
qua thành dạ dày và phát triển ở mặt ngoài dạ dày thành trứng (oocyste), oocyste
lớn lên, vỡ ra và giải phóng thoa trùng, cuối cùng thoa trùng di chuyển về tuyến
nước bọt của muỗi để tiếp tục truyền vào người khi muỗi đốt người. Chu kỳ ở
muỗi từ 10 đến 40 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ ngoài trời; P. falciparum phát
triển ở nhiệt độ > 16°C, P. vivax phát triển ở nhiệt độ > 14,5°C.
1.2.3. Đặc điểm của P. falciparum và P. vivax liên quan tới bệnh lý:
Đặc điểm P. falciparum
P. vivax
- Phân bố địa dư • Ch
ủ yếu
vùng nhiệt đới
• T
ừ vĩ tuyến
37° B
ắc đến 25°
Nam
- Giai đoạn trong gan • 6 ngày • 8 ngày đ
ến
2 năm
- Thể ngủ trong gan (hypnozoite)
• (-) • (+)
- Khả năng gây cơn sốt tái ph
át
xa
• (-) • (+)
- Chu kỳ trong hồng cầu • 48 giờ • 48 giờ
- Tế bào đích chủ yếu của KST • HC m
ọi
tuổi, xu hướng
ưa
HC non
• HC m
ạng
lưới, HC non
- Nơi KST phát tri
ển chủ yếu
trong máu
• Mao m
ạch
phủ tạng
• Mao m
ạch
ngoại vi và phủ tạng
- Số lượng mer
ozoite gan phát
triển từ 1 thoa trùng
• 30.000 • 10.000
- Số lư
ợng merozoite hồng cầu
trong 1 thể phân liệt
• 16-32 • 16-20
- Mật độ KST trung b
ình trong 1
mm
3
máu
• 20.000-
500.000
• 20.000
- Thời gian giao bào c
ần để
trưởng thành
• 8 - 10 ngày • 2 ngày
- Thời gian giao bào t
ồn tại sau
• 2-
3 ngày
• < 3 ngày
khi trưởng thành đến nhiều tuần
- Nhi
ệt độ tối thiểu để phát triển
trong muỗi Anopheles
• > 16°C • > 14,5°C
- Th
ời gian phát triển trong muỗi
Anopheles ở nhiệt độ 28°C
• 9-10 ngày • 8 - 10 ngày
- Thời gian KST tồn tại trong c
ơ
thể người.
• 1-2 năm • 1,5-5 năm
1.2.4. KSTSR ở Việt Nam:
ở Việt Nam 2 loại KST phổ biến nhất là P. falciparum và P. vivax; ngoài ra
còn gặp P. malariae nhưng hiếm hơn, P. ovale đang được nghiên cứu xác định. Tỷ
lệ P. falciparum cao hơn P. vivax ở các vùng rừng núi đồi và ven biển miền Nam
từ Phan Thiết trở vào; P. vivax chiếm đa số ở vùng đồng bằng và ven biển nước lợ
từ Phan Thiết trở ra. ở Việt Nam, P. falciparum kháng Chloroquine từ 1961, và đã
thành đa kháng với Sulfonamide chậm, Pyrimethamin, Fansidar, viên SR II, thậm
chí hiệu lực của Quinine đã giảm.