Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Hệ thực vật ở Vườn quốc gia Bạch Mã docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (88.68 KB, 8 trang )


Hệ thực vật ở
Vườn quốc gia
Bạch Mã



Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận
hệ thực vật Vườn quốc gia
Bạch Mã khá phong phú về
thành phần loài và số lượng cá
thể so với các nơi khác trong
khu vựcThừa Thiên-Huế. Trên
quan điểm sinh thái và quần
hệ thực vật, có thể chia thảm
thực vật ở Vườn quốc gia
Bạch Mã thành 3 dạng chính:
Thực vật của rừng nguyên
sinh nhiệt đới, thực vật của
rừng thứ sinh đã phục hồi cao
và thảm thực vật nhân tạo (các
loại cây trồng phủ xanh đất
trống đồi trọc).

Thảm thực vật rừng nguyên
sinh nhiệt đới chiếm tới 70%
diện tích, được đặc trưng bởi
hai kiểu rừng chính: Rừng kín
thường xanh mưa mùa á nhiệt
đới thường phân bố ở độ cao
trên 900 m và rừng kín thường


xanh mưa mùa nhiệt đới
thường phân bố ở độ cao dưới
900 m. Các loài thực vật ưu
thế của rừng nguyên sinh
thuộc họ dẻ (Fagaceae), thầu
dầu (Euphorbiaceae), chè
(Theaceae) Đáng chú ý là
thực vật ở đây có sự pha trộn
thành phần giữa các loài lá
kim và lá rộng, đồng thời có
sự giao lưu của các loài phân
bố ở phía bắc và phía nam.
Điều này thể hiện được tính
đa dạng về thành phần loài
thực vật. Trong vùng còn có
nhiều cây gỗ lớn, đường kính
0,60-0,90m, tạo tán che kín,
đặc trưng cho rừng mưa ẩm
nhiệt đới.

Thảm thực vật rừng thứ sinh,
ngược lại hầu hết là các cây
gỗ nhỏ, cây bụi, dây leo và
thảm cỏ, quyết, sim, mua
Mặc dù vậy, độ che phủ của
rừng tái sinh khá cao, nhiều
cây gỗ đã vượt lên và khá lớn
(trung bình có đường kính 10-
30 cm). ước tính thảm thực
vật tái sinh được phục hồi

trong vòng 20-30 năm trở lại
đây.

Thảm thực vật rừng nhân tạo
được trồng 25 năm gần đây.
Các loài thực vật được trồng
để phục hồi các khu vực đất
trống đồi núi trọc, chủ yếu là
các loài: Tràm hoa vàng,
thông hai lá, thông dầu, keo
tai tượng, bạch đàn các loại,
trầm và cây kim giao Hiện
nay khu rừng trồng đã xanh
tốt và nhiều vùng cây trồng
gần khép tán, tạo tầng che phủ
cho đất.

Các công trình nghiên cứu đã
thống kê được 336 loài cây,
thuộc 120 họ, 7 ngành của
thực vật bậc cao. Đáng chú ý
nhất là ngành thông và ngành
ngọc lan.

Trong ngành thông đã xác
định được 13 loài với 7 họ.
Trong đó loài chiếm ưu thế là
hoàng đàn giả hay tùng Bạch
Mã (Dacrydium elatatum).
Các loài phổ biến về kinh tế

là: Thông lòng gà
(Dacrycapus inbricatus), kim
giao (Nageia sp.), thông tre
(Podocarpus chiensis). Đặc
biệt ở đây có loài pơ mu
(Fokienia hodginsii) cho đến
nay mới chỉ phát hiện được
một cá thể trên tận đỉnh cao
của khu nghỉ mát.

Ngành ngọc lan chiếm ưu thế
với 285 loài thuộc 232 chi và
89 họ. Họ có các loài ưu thế
lần lượt là: Chè (Theaceae), dẻ
(Fagaceae), thầu dầu
(Euphorbiaceae), cỏ
(Poaceae)

Trong số các loài thực vật đã
được xác định có nhiều loài
cây gỗ quí hiếm như: Trầm
(Aquilaria crassana), gõ
(Sindora), trắc (Dalberia sp.),
sến (Madhuca sp), táu
(Vatica), kiền kiền (hopea)
và nhiều cây dược liệu quí:
Hồng sâm (Dracaena), thiên
niên kiện (Aglaonema), ngũ
gia bì hương (Schefflera)


×