Cách mạng Pháp
Cách mạng Pháp là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Pháp, diễn ra từ
năm 1789 đến 1799, khi lực lượng dân chủ và cộng hòa đã lật đổ chế độ
quân chủ chuyên chế và cả Giáo hội Công giáo Rôma tại Pháp cũng đã
phải trải qua nhiều thay đổi. Tuy thể chế của Pháp đã trải qua các giai đoạn
cộng hòa, đế quốc, và quân chủ trong 75 năm sau khi Đệ nhất Cộng hòa bị
Napoléon Bonaparte đảo chính, cuộc cách mạng này đã kết thúc chế độ
phong kiến trong xã hội Pháp. Nó được xem là quan trọng hơn các cuộc
cách mạng khác tại Pháp sau này. Nó cũng làm giảm xu hướng chuyên chế
và đề cao sức mạnh của người dân, biến họ từ thần dân thành công dân.
Sức ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Pháp rất lớn, nhất là đối với các quốc
gia theo chế độ phong kiến thời bấy giờ.
Nguyên nhân
Nhiều yếu tố dẫn tới cuộc cách mạng; về một số mặt trật tự cũ không còn
chống đỡ nổi tính cứng nhắc của chính nó đối diện với một thế giới đang
thay đổi; một số mặt khác, nó rơi vào những tham vọng của một tầng lớp
trưởng giả đang nổi lên, cộng với sự lo lắng của những người nông dân,
người làm công ăn lương, và các cá nhân ở mọi tầng lớp đang chịu ảnh
hưởng từ những tư tưởng của thời đại Khai sáng. Khi cách mạng diễn ra và
khi quyền lực được trao từ tay triều đình cho các thể chế luật pháp, những
xung đột quyền lợi của các nhóm liên minh ban đầu đó đã trở thành nguồn
gốc của xung đột và đổ máu.
Chắc chắn, các nguyên nhân của cách mạng phải bao gồm tất cả những
điều sau:
• Sự oán giận đối với hoàng gia chính thể chuyên chế.
• Sự oán giận đối với hệ thống lãnh chúa từ phía những người nông
dân, làm công ăn lương, và ở một mặt rộng hơn cả của tầng lớp
trưởng giả.
• Sự nổi lên của các tư tưởng của thời đại ánh sáng.
• Nợ quốc gia không thể kiểm soát nổi, có nguyên nhân từ việc tăng
thêm gánh nặng của một hệ thống thuế rất lớn.
• Sự thiếu thốn thức ăn vào những tháng ngay trước khi cách mạng nổ
ra.
[1]
• Sự oán giận đối với tầng lớp quý tộc đặc quyền và sự thống trị đối
với cuộc sống công cộng từ phía những tầng lớp chuyên nghiệp đầy
tham vọng.
• Ảnh hưởng của Cách mạng Hoa Kỳ.
Tuyên ngôn quyền con người.
Hoạt động tiền cách mạng đã bắt đầu khi vua Louis XVI của Pháp (trị vì từ
1774–1792) đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính hoàng gia. Nhà
vua Pháp, và về mặt tài chính cũng là quốc gia Pháp, có những món nợ rất
lớn. Trong thời vua Louis XV (trị vì từ 1715–1774) và Louis XVI nhiều
bộ trưởng, gồm cả Nam tước Turgot (Bộ trưởng Tài chính 1774–1776) và
Jacques Necker (Bộ trưởng Tài chính 1777–1781), đều không thành công
trong việc đưa ra cải cách nhằm biến hệ thống thuế của Pháp trở nên đồng
đều hơn. Các biện pháp đó luôn bị phản đối từ phía "hội đồng nhà vua"
(tòa án), dân "Quý tộc," vốn tự coi mình là những người bảo vệ quốc gia
chống lại chế độ chuyên quyền, cũng như khỏi các bè phái của triều đình,
và cả các bộ trưởng mất chức. Charles Alexandre de Calonne, người đã trở
thành Bộ trưởng Tài chính năm 1783, theo đuổi một chiến lược chi tiêu
minh bạch, coi đó là phương tiện để thuyết phục những ông chủ nợ tiềm
tàng về sự đáng tin cậy và ổn định của nền tài chính Pháp.
Tuy nhiên, Calonne, từ lâu đã theo dõi tình hình tài chính của Pháp, đã
quyết định rằng nó vẫn có thể cứu vãn được và đưa ra một loại thuế đất đai
thống nhất coi đó là phương tiện để đưa tài chính Pháp vào khuôn khổ về
dài hạn. Trước mắt, ông hy vọng rằng một sự biểu thị ủng hộ từ phía Hội
đồng quý tộc được chọn lọc kỹ lưỡng sẽ lấy lại được lòng tin vào tài chính
Pháp, và cho phép vay mượn thêm cho tới khi thuế đất đai mang lại hiệu
quả và cho phép bắt đầu trả nợ.
Mặc dù Calonne đã thuyết phục nhà vua về sự cần thiết của những cải cách
của ông, Hội đồng quý tộc đã từ chối tán thành các biện pháp của ông, đòi
hỏi rằng chỉ một chỉ một cơ cấu đại diện thực sự; tốt nhất là États
Généraux (Hội nghị các Đẳng cấp) của vương quốc, mới có thể thông qua
luật thuế mới. Nhà vua, thấy rằng chính Calonne là một trở ngại đã cách
chức ông và thay bằng Étienne Charles de Loménie de Brienne, vị Tổng
giám mục Toulouse, người sau này là lãnh đạo phe đối lập trong Quốc hội.
Brienne lúc ấy đã có được vị trí mở rộng để tiến hành cải cách, trao cho
dân chúng nhiều quyền dân sự (gồm cả tự do tôn giáo với phái Tin lành),
và hứa hẹn triệu tập hội nghị đại diện các đẳng cấp trong năm năm, nhưng
trong lúc ấy ông cũng cố gắng thúc đẩy các kế hoạch của Calonne. Khi các
biện pháp này được đưa ra trước "Hội đồng Nhà vua" tại Paris (một phần
cũng phải nhờ đến sự không lịch thiệp của nhà vua), Brienne phản đối, gắn
sức giải tán toàn bộ Hội đồng và thu thêm các loại thuế mà không cần
quan tâm tới họ. Điều này đã dẫn tới một sự phản ứng rộng lớn từ nhiều
nơi trong đất Pháp, gồm cả "Ngày của những viên ngói" nổi tiếng ở
Grenoble. Thậm chí quan trọng hơn, sự hỗn loạn khắp đất nước đã làm các
nhà cho vay ngắn hạn, mà ngân khố Pháp phải phụ thuộc vào và từng ngày
một phải thuyết phục họ ngừng rút các khoản nợ, đưa lại một tình trạng
gần như phá sản buộc Louis và Brienne phải đầu hàng.
Ngày 8 tháng 8 năm 1788 nhà vua đồng ý triệu tập hội nghị bất thường
États Généraux vào tháng 5 năm 1789 — lần đầu tiên kể từ 1614. Brienne
từ chức vào ngày 25 tháng 8, 1788, và Necker một lần nữa lại gánh vác
trọng trách tài chính quốc gia. Ông đã sử dụng vị trí của mình để đề xuất
các cải cách mới, nhưng chỉ để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ của các đại diện
quốc gia.
Hội nghị đại diện các Đẳng cấp năm 1789
Việc kêu gọi triệu tập Hội nghị các Đẳng cấp dẫn tới sự gia tăng lo ngại từ
phía đối lập rằng chính phủ sẽ cố gắng triệu tập một hội nghị với thành
phần có lợi cho họ. Nhằm tránh tình trạng này, "Hội đồng Nhà vua" của
Paris, vốn đã trở về vai trò quyền lực tại thành phố trong thắng lợi, tuyên
bố rằng Hội nghị phải được triệu tập theo những cách thức đã được tiến
hành như ở lần Hội nghị trước. Mặc dầu có vẻ rằng các thành viên Hội
đồng Pari không nhận thức đầy đủ về "những cách thức năm 1614" khi họ
đưa ra quyết định này, nhưng nó đã gây nên một sự xáo động. Hội nghị
năm 1614 bao gồm số lượng đại biểu ngang nhau từ mỗi đẳng cấp, và trật
tự là, Đẳng cấp thứ nhất (tăng lữ), Đẳng cấp thứ hai (quý tộc), và Đẳng cấp
thứ ba (tất cả những người khác) và mỗi đẳng cấp (toàn thể tất cả các đại
biểu thuộc đẳng cấp đó) được bầu một phiếu.
Hầu như ngay lập tức "Ủy ban Ba mươi", một tổ chức những người Paris
tự do, đa số là quý tộc, bắt đầu kích động chống lại nó, đòi phải tăng gấp
đôi Đẳng cấp thứ ba và bầu theo đầu phiếu (như đã từng được thực hiện ở
nhiều hội đồng địa phương). Hội đồng Nhà vua tại Paris nhanh chóng phản
công lại, tuyên bố rằng chỉ các quy trình bầu cử; những người được ủy
quyền được bầu cử bởi những "Quan án quản hạt" và "hội đồng nhà vua"
tại các địa phương chứ không phải bởi các tỉnh; mới cần được quyết định
bởi kiểu năm 1614. Necker, thay mặt cho chính phủ, cuối cùng đi đến kết
luận là Đẳng cấp thứ ba cần phải được tăng lên gấp đôi, nhưng vấn đề bầu
theo đầu phiếu vẫn phải để lại cho Hội nghị tự giải quyết. Nhưng những sự
oán giận từ cuộc tranh cãi đó vẫn còn rất lớn, và những cuốn sách mỏng,
như của Abbé Sieyès Đẳng cấp thứ ba là gì, tuyên truyền rằng các đẳng
cấp được ưu tiên là những kẻ ăn bám và rằng chính các đại biểu của Đẳng
cấp thứ ba mới là đại diện quốc gia, làm cho những sự oán giận đó vẫn tồn
tại.
Khi Hội nghị được triệu tập ở Versailles vào ngày 5 tháng 5 năm 1789,
những bài phát biểu dài của Necker và Lamoignon, người giữ các con dấu,
không hướng dẫn được gì nhiều cho các đại biểu, họ lại phải quay lại các
cuộc họp nhóm để ủy nhiệm cho các thành viên của mình. Vấn đề bầu cử
theo đầu phiếu hay theo đẳng cấp không được đặt ra, nhưng các đại biểu
Đẳng cấp thứ ba lúc ấy yêu cầu lá phiếu của một đẳng cấp chỉ có giá trị khi
đại diện cho toàn thể các đại biểu của đẳng cấp đó tại Hội nghị. Tuy nhiên,
những cuộc thương lượng giữa các đại biểu tại Hội nghị của các đẳng cấp
thứ nhất và thứ hai để hoàn thành việc này không mang lại kết quả, vì chỉ
có một đa số không đáng kể tăng lữ và đa số lớn hơn các quý tộc tiếp tục
ủng hộ việc bầu cử theo đẳng cấp.
Quốc hội
Vào 28 tháng 5 năm 1789, Tu viện trưởng Emmanuel Joseph Sieyès đề
nghị rằng các đại biểu Đẳng cấp thứ ba, hiện đang hội họp như các "Nhóm
bình dân" (Commons), tiến hành xác minh những quyền lực của chính
mình và mời hai nhóm đại biểu của hai đẳng cấp kia tham gia, nhưng
không phải chờ đợi họ. Họ đã tiến hành như vậy, hoàn thành quá trình vào
17 tháng 6
[2]
. Sau đó họ bỏ phiếu ủng hộ một biện pháp cơ bản hơn, tuyên
bố họ là Quốc hội, một cơ quan đại diện không phải là của các đẳng cấp
mà là của "nhân dân". Đạo luật đầu tiên của quốc hội là Tuyên bố Dân
quyền và Nhân quyền. Họ đã mời các đại biểu của các đẳng cấp trên tham
gia cùng họ, nhưng nói rõ rằng họ có ý định tiến hành các công việc quốc
gia dù có hay không có sự tham gia của các đại biểu kia.
Louis XVI đóng cửa Phòng quốc gia nơi Quốc hội họp. Quốc hội chuyển
những cuộc bàn cãi của mình ra ngoài sân Jeu de Paume của vua, nơi họ
tiến hành Lời tuyên thệ Jeu de Paume (20 tháng 6, 1789), theo đó họ đồng
ý không trở về cho tới khi lập ra được một hiến pháp cho nước Pháp. Đa
số các đại diện của giới tăng lữ nhanh chóng gia nhập với họ, cùng với bốn
bảy thành viên giới quý tộc. Tới 27 tháng 6 phe hoàng gia đã công khai
nhượng bộ, mặc dù quân đội bắt đầu kéo tới với số lượng đông đảo quanh
Paris và Versailles. Các thông điệp ủng hộ Quốc hội bay tới từ Paris và các
thành phố khác của Pháp. Ngày 9 tháng 7, Quốc hội tự tổ chức lại thành
Quốc hội lập hiến.
Ở Paris, Cung điện hoàng gia và những khoảng đất của nó đã trở thành nơi
tụ họp của nhiều cuộc tụ tập liên tục. Một số quân đội quay sang phía
chính nghĩa của dân chúng.
Quốc hội lập hiến
Đột chiếm ngục Bastille
Vào ngày 11 tháng 7, 1789, vua Louis, dưới ảnh hưởng của các quý tộc
bảo thủ trong Hội đồng Cơ mật, cũng như của vợ ông, Marie Antoinette,
và em trai, Quận công Artois, trục xuất vị bộ trưởng cải cách Necker và tái
cơ cấu lại tất cả các bộ. Đa phần Paris coi đó là sự khởi đầu của cuộc đảo
chính của hoàng gia, đã nổi loạn. Một số lực lượng quân đội tham gia vào
đám đông dân chúng; một số khác thì đứng trung lập.
Đột chiếm ngục Bastille, 14 tháng 7 1789
Ngày 14 tháng 7, 1789, sau bốn giờ xung đột, quân khởi nghĩa chiếm được
ngục Bastille. Mặc dù có lệnh ngừng chiến để tránh sự tàn sát lẫn nhau, vị
quan giám ngục ở đó là Hầu tước Bernard de Launay và nhiều lính gác vẫn
vị giết. Đám đông đem đầu quan giám ngục cắm cọc mang đi diễu hành
quanh thành phố. Tuy những người Paris chỉ giải thoát cho bảy tù nhân
(bốn kẻ lừa đảo, hai công tử quý tộc bị giam do đạo đức xấu, và một nghi
phạm giết người) nhưng Bastille vẫn được coi là một biểu tượng hùng hồn
của tất cả những gì bị căm ghét của "chế độ cũ". Quay trở về Tòa thị
chính, đám đông buộc tội vị prévôt des marchands (tương đương chức thị
trưởng) Jacques de Flesselles là kẻ phản bội; ông bị giết ngay trên đường
đến một nơi có vẻ là một tòa án ở Cung điện hoàng gia Palais Royal.
Nhà vua và những kẻ ủng hộ trong quân đội lùi bước, ít nhất là ở thời điểm
đó. Hầu tước Lafayette đảm nhiệm chỉ huy Cảnh vệ quốc gia ở Paris; Jean-
Sylvain Bailly — chủ tịch Quốc hội vào lúc đó của Lời tuyên thệ Jeu de
Paume — trở thành thị trưởng thành phố dưới một cơ cấu chính quyền mới
được gọi là "công xã" (thay cho Hội đồng Nhà vua tại Paris). Nhà vua tới
Paris, nơi mà vào ngày 27 tháng 7, ông chấp nhận một phù hiệu tam tài (ba
màu) giữa lúc dân chúng hô "Quốc gia muôn năm" thay vì "Đức vua muôn
năm".
Tuy nhiên, sau cuộc bạo lực này, các quý tộc; vẫn được đảm bảo chút ít
bởi sự hòa giải tạm thời, giữa nhà vua và người dân; đã bắt đầu giải phóng
đất nước khỏi những kẻ "nhập cư", một số họ bắt đầu âm mưu tiến hành
nội chiến bên trong vương quốc và xúi giục liên minh châu Âu chống lại
nước Pháp.
Necker được gọi trở lại nắm quyền, nhưng thắng lợi của ông chóng tàn. Là
một nhà tài chính khôn ngoan hơn là một chính trị gia khôn khéo, ông đã
quá nhấn mạnh vai trò của mình bằng cách yêu cầu và giành được một sự
ân xá chung, đánh mất phần lớn sự ủng hộ của nhân dân. Ông còn cho rằng
mình có thể tự cứu nước Pháp.
Giới quý tộc không yên tâm với sự hòa giải bề ngoài giữa nhà vua và dân
chúng. Họ bắt đầu chạy ra nước ngoài, một số bắt đầu âm mưu nội chiến
và kêu gọi một liên minh châu Âu chống Pháp.
Đến cuối tháng 7, khởi nghĩa và tinh thần chủ quyền nhân dân lan ra khắp
nước Pháp. Tại các vùng nông thôn, rất nhiều người có hành động quá
mức: một số đốt các chứng từ nợ và đốt phá không ít các lâu đài, coi chúng
là một phần của một cuộc tổng khởi nghĩa nông dân được gọi là La
Grande Peur (Sự sợ hãi vĩ đại). Thêm vào đó, âm mưu tại triều đình
Versailles và số lượng lớn người lang thang do thất nghiệp đã dẫn đến các
tin đồn bừa bãi và sự hoang tưởng (đặc biệt ở nông thôn), gây ra sự lo sợ
và rối loạn trong nước, góp phần vào La Grande Peur (Hibbert, 93).
Bãi bỏ chế độ phong kiến
Ngày 4 tháng 8 năm 1789, Quốc hội bãi bỏ chế độ phong kiến, dẹp bỏ cả
các quyền của lãnh chúa của Đẳng cấp thứ hai và các loại thuế thập phân
của Đẳng cấp thứ nhất. Trong vòng vài giờ, các quý tộc, tăng lữ, các thị
trấn, tỉnh lỵ, các công ty và các thành thị mất đi quyền ưu tiên của mình.
Bớt ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo Rôma
Cuộc cách mạng đã đem lại sự chuyển dịch quyền lực lớn từ Giáo hội
Công giáo La Mã sang Nhà nước. Luật ban hành năm 1790 bao gồm cả
việc bãi bỏ quyền đánh thuế trên vụ mùa (còn được gọi là "dîme") của
Giáo hội, việc xóa bỏ những đặc quyền của giới giáo sỹ, và sung công tài
sản Giáo hội, người sau đó sở hữu nhiều đất đai nhất trên toàn quốc. Đi
cùng với cuộc cách mạng là cú phản đòn dữ dội về phe giáo chức mà kèm
theo đó là bắt bớ và thảm sát các linh mục trên toàn đất Pháp. Điều ước
năm 1801 giữa Quốc hội và Giáo hội đã chấm dứt thời kỳ bài Công giáo
và thiết lập nên những luật lệ cho mối quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và
Nhà nước Pháp. Điều ước này tồn tại cho đến khi bị hủy bỏ bởi nền Đệ
Tam Cộng hòa nước Pháp để tách biệt giữa Giáo hội và nhà cầm quyền
vào ngày 11 tháng 12 năm 1905.
Sự hình thành các đảng phái
Các bè phái trong Quốc hội bắt đầu lộ rõ hơn. Quý tộc Jacques Antoine
Marie de Cazalès và đức cha Jean-Sifrein Maury dẫn đàu một phe sau này
được gọi là cánh hữu, chống lại cách mạng. Những nhà "dân chủ bảo
hoàng" hay còn gọi là monarchiens, liên kết với Necker lại thiên về tổ
chức một nước Pháp tương tự như mô hình nước Anh Quân chủ lập hiến.
Họ bao gồm Jean Joseph Mounier, Bá tước Lally-Tollendal, Bá tước
Clermont-Tonnerre và Pierre Victor Malouet, Bá tước của Virieu. Đảng
Quốc Gia, đại diện cho thành phần trung hữu của Quốc hội, bao gồm
Honoré Mirabeau, La Lafayette và Bailly; trong khi Adrien Duport,
Antoine Barnave và Alexander Lameth đại diện cho quan điểm cực hữu
hơn. Hầu như đơn độc với thuyết cấp tiến bên cánh tả là luật sư
Maximilien Robespierre.
Cha Emmanuel Joseph Sieyès đi đầu trong đề xuất lập pháp trong giai
đoạn này và đã đôi lúc thành công trong việc đem lại sự đồng lòng giữa
thành phần trung lập và cánh tả.
Ở Paris, nhiều hội đồng, thị trưởng, hội đồng đại biểu và các quận riêng
biệt đều đòi hỏi quyền độc lập lẫn nhau. Tầng lớp trung lưu đang trên đà
phát triển. Đội Cảnh vệ Quốc Gia dưới sự dẫn dắt của La Lafayette từ từ
nổi lên như một thế lực chính trị độc lập tương tự như các hội nhóm tự
phát khác.
Trên cơ sở tham khảo Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng
8 năm 1789, Quốc hội ban hành Tuyên ngôn về nhân quyền và quyền công
dân. Tương tự như tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, bản tuyên ngôn này chỉ
bao gồm những tuyên bố nguyên tắc hơn là một bản hiến pháp có hiệu lực
thực thụ.
Đến một hiến pháp
Quốc hội lập hiến không chỉ hoạt động như một cơ quan lập pháp mà còn
như một thực thể thống nhất để soạn thảo một hiến pháp mới.
Necker, Mounier, Lally-Tollendal đã đầu tranh để thành lập một thượng
viện nhưng không thành công. Thượng viện do họ đề nghị gồm những
thành viên được chọn bởi hoàng gia từ những người được nhân dân đề cử.
Giới quý tộc đòi hỏi phải có một Thượng viện được bầu cử từ những người
có dòng dõi. Nhưng chính đảng được yêu chuộng nhất mới giành được lợi
thế: nước Pháp sẽ có một Quốc hội với một viện duy nhất. Trong đó nhà
vua chỉ có quyền "phủ quyết tạm thời": có thể hoãn việc đưa một dự luật
vào thi hành, nhưng không thể phủ quyết hoàn toàn.
Nhân dân Paris đã đánh bại mọi nỗ lực của phe bảo hoàng nhằm chống lại
trật tự xã hội mới: họ đã tuần hành trên đại lộ Versailles ngày 5 tháng 10
năm 1789. Sau vài cuộc ẩu đả, nhà vua và hoàng tộc đã chấp thuận sự dẫn
độ từ Versailles về Paris.
Quốc hội đã thay thế Các tỉnh của Pháp với tám mươi ba phân khu
(département), được điều hành giống như nhau và giống nhau về quy mô
và dân số.
Lúc đầu chỉ được hình thành để đối phó với một cuộc khủng hoảng tài
chính, tới lúc này Quốc hội lại chủ trọng đến những vấn đề khác và làm sự
thiếu hụt càng trở nên trầm trọng. Mirabeau dẫn đầu trong vụ việc này,
trong Quốc hội giao cho Necker quyền lực tuyệt đối về tài chính.
Tiến đến Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ
Nhằm đối phó với khủng hoảng kinh tế, Quốc hội đã thông qua bộ luật
ngày 2 tháng 12 năm 1789 cho phép chuyển toàn bộ tài sản của Giáo hội
cho chính quyền quốc gia, với điều kiện chính quyền phải chịu mọi chi phí
cho các hoạt động của Giáo hội. Nhằm nhanh chóng tiền tệ hóa một lượng
của cải khổng lồ đến như vậy, Chính phủ đã phát hành một loại tiền giấy
mới, assignat, được đảm bảo giá trị bằng số đất tịch thu của Giáo hội.
Việc ban hành thêm bộ luật ngày 13 tháng 2 năm 1790 đã bãi bỏ lời thề
của nhà tu hành. Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ được thông qua ngày
12 tháng 7 năm 1790 (mặc dù đến ngày 26 tháng 12 năm 1790 mới được
nhà vua ký), đã biến các giáo sĩ còn lại trở thành người làm công cho nhà
nước và yêu cầu họ phải tuyên thệ tuyệt đối trung thành với Hiến pháp.
Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ còn biến giáo hội Công giáo thành một
lực lượng của nhà nước thế tục.
Phản ứng lại bộ luật này, Tổng giám mục của giáo phận Aix và giám mục
của giáo phận Clermont đã tổ chức và lãnh đạo cuộc đình công của các
giáo sĩ ở Quốc hội lập hiến. Giáo hoàng không chấp nhận sự sắp đặt này,
và điều đó đã dẫn đến sự phân hóa các giáo sĩ thành hai phái: "những
người tuyên thệ" (juror hay "giáo hội lập hiến"), gồm những người đã lập
lời thề chấp nhận sự sắp đặt mới; và "những người không tuyên thệ" (non-
juror hay "những thầy tu bướng bỉnh" - refractory priests), gồm những
người không chịu chấp nhận theo sự sắp đặt của chính quyền.
Từ sự kiện kỷ niệm ngày phá ngục Bastille đến cái chết của
Mirabeau
Quốc hội đã bãi bỏ những đặc trưng của "chế độ cũ" — quốc hiệu, chế
phục (quần áo của người hầu các nhà quyền quý), v.v việc này đã cô lập
hơn nữa tầng lớp quý tộc bảo thủ và làm gia tăng đội ngũ những kẻ lưu
vong. Vào ngày 14 tháng 7 năm 1790 và trong nhiều ngày tiếp theo, những
đám đông ở quảng trường Champ de Mars đã kỷ niệm 1 năm ngày phá
ngục Bastille; những người tham gia đã lập lời thề "trung thành với đất
nước, với pháp luật, và với đức vua"; đích thân vua và hoàng tộc cũng
tham dự.
Các cử tri trước đó đã bầu ra chính quyền tối cao để nắm quyền trong năm
đầu, nhưng nhờ Lời thề Jeu de Paume Công xã Paris vẫn được quyền tổ
chức những cuộc họp thường kỳ liên tục cho đến khi Hiến pháp được ban
hành. Phe cánh hữu giờ đây đòi hỏi một cuộc bầu cử mới, nhưng Mirabeau
đã thành công khi khẳng định cơ cấu Quốc hội cơ bản đã được thay đổi, và
do đó không cần thêm bất cứ cuộc bầu cử nào khác trước khi Hiến pháp
hoàn thành.
Những năm cuối của thập niên 1790 là thời kỳ bùng nổ của nhiều cuộc
phản cách mạng quy mô nhỏ với nỗ lực huy động toàn bộ hay một bộ phận
quân đội nhằm đối phó với cách mạng. Tuy nhiên, những cuộc nổi dậy này
đều chung một kết cục là thất bại. Hoàng gia, theo nhận xét của François
Mignet, "ủng hộ mọi nỗ lực phản cách mạng nhưng không thừa nhận trong
bất cứ trường hợp nào".
[3]
Quân đội phải đối mặt với tình trạng rối loạn nội bộ nghiêm trọng: Đại
tướng Bouillé, với thành tích đàn áp được một số cuộc nổi dậy yếu thế,
càng được những người phản cách mạng kính trọng và ngưỡng mộ.
Theo luật mới trong quân đội, những chiến sĩ có thâm niên và thực lực sẽ
được coi trọng và tiến cử chứ không còn quan trọng người đó thuộc đẳng
cấp hay giai cấp nào. Luật lệ mới này đã làm cho nhiều hạ sĩ, sĩ quan hiện
thời bất mãn, không lâu sau đó họ đã đào ngũ và tham gia phản cách
mạng.
Trong thời kỳ này, nổi bật là sự xuất hiện ngày càng nhiều của của các
"phái hội" trong giới chính trị Pháp, tiêu biểu là phái Jacobin (phiên âm
"Gia-cô-banh"): Theo Bách khoa toàn thư Britannica 1911, tính đến ngày
10 tháng 8 năm 1790 đã có 152 phái hội liên kết với Jacobin. Khi phái
Jacobin bắt đầu vang danh khắp nơi, một số những người đồng sáng lập đã
rời bỏ nó để thành lập phái '89. Những người bảo thủ đã thành lập phái
Impartiaux và sau đó là phái Quân chủ (Monarchique). Các phái này tổ
chức phân phát bánh mì với mong muốn nhận được sự ủng hộ của quần
chúng nhân dân nhưng đã không thành công, trái lại họ còn thường xuyên
bị chống đối và thậm chí trở thành mục tiêu phá hoại. Cuối cùng chính
quyền thành phố Paris đã giải tán phái Quân chủ vào tháng 1 năm 1791.
Giữa tình hình này, Quốc hội vẫn tiếp tục công việc của mình để hoàn
thành bản Hiến pháp mới. Theo đó, một tòa án mới sẽ được bổ nhiệm,
mang tính chất tạm thời và các thẩm phán được quyền hoạt động độc lập
với nhà vua. Bãi bỏ hình thức bổ nhiệm kiểu "cha truyền con nối" ở mọi
cơ quan nhà nước, trừ chính quyền Quân chủ. Nhà vua vẫn có quyền lực
tuyệt đối nếu muốn gây chiến, nhưng cơ quan lập pháp mới được quyền
quyết định có nên tuyên bố chiến tranh hay không. Ngoài ra, Quốc hội còn
bãi bỏ mọi hàng rào thương mại trong nước; cấm mở phường hội, xưởng
dạy nghề và các tổ chức của công nhân; bất cứ cá nhân nào cũng phải có
giấy phép hành nghề (môn bài) mới được hành nghề và buôn bán; đình
công trở thành việc bất hợp pháp.
Mùa đông năm 1791, lần đầu tiên Quốc hội lưu tâm về vấn đề quý tộc bỏ
đi di tản (émigrés). Trong phiên họp của Quốc hội về việc ban hành luật
mới cấm di tản, sự an toàn của đất nước được đặt ra trước quyền tự do xuất
cảnh của mỗi người. Mirabeau đã giành phần thắng với cách giải quyết mà
ông cho là "xứng đáng được dùng trong bộ luật tàn bạo của Draco".
[4]
Không may, Mirabeau đã qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1791. Mignet nhận
xét, "Không ai có thể sánh với quyền lực và sự nổi tiếng của Mirabeau", và
trong vòng năm đó, Quốc hội mới đã thông qua điều luật "tàn bạo" của
Mirabeau.
Chuyến đi đến Varennes
Dù phải vất vả chống đỡ với cuộc Cách mạng trong nước, vua Louis XVI
vẫn từ chối mọi lời đề nghị giúp đỡ đầy mưu toan và không đáng tin cậy
của các quốc vương khác ở châu Âu mà bắt tay với Đại tướng Bouillé,
người luôn đối đầu với Quốc hội và lên án gay gắt tình trạng quý tộc di
tản. Bouillé hứa cho vua Louis ẩn náu ở Montmedy để âm thầm ủng hộ
ông.
Hành quyết Vua Louis XVI
Đêm 20 tháng 6 năm 1791, Hoàng gia vội vã rời bỏ Tuileries. Tuy vậy, vì
quá tự tin dẫn đến khinh suất, ngay trong ngày hôm sau vua Louis đã để lộ
sơ hở và bị phát hiện và bắt giữ tại Varennes (tại phân khu Meuse). Chiều
ngày 21 tháng 6, vua bị đưa về Paris trong sự canh giữ cẩn mật của Quốc
hội.
Pétion, Latour-Maubourg và Antoine Pierre Joseph Marie Barnave, đại
diện cho Quốc hội, đã tiếp kiến Hoàng gia tại Épernay và cùng đi với họ.
Kể từ lúc này, Barnave trở thành cố vấn và người ủng hộ Hoàng gia.
Khi họ đến Paris, quần chúng nhân dân đã im hơi lặng tiếng. Quốc hội lâm
thời đã tước quyền lực của vua Louis. Vua và hoàng hậu Marie Antoinette
bị giam giữ dưới sự canh phòng nghiêm ngặt.
Những ngày cuối cùng của Quốc hội lập hiến
Với đa số đại biểu trong Quốc hội vẫn còn ủng hộ chế độ Quân chủ lập
hiến hơn là chế độ Cộng hoà, các phe phái đã đi đến thỏa thuận cho vua
Louis làm một đấng quân vương bù nhìn: nhà vua phải lập một lời thề
trong Hiến pháp và ban sắc lệnh để tuyên bố rằng nếu ngài chống lại lời
thề đó, chỉ huy quân đội với mục đích gây chiến tranh với Quốc gia, hay
cho phép ai làm điều đó nhân danh ngài thì ngài sẽ phải thoái vị.
Jacques Pierre Brissot đã thảo một bản kiến nghị, nhấn mạnh rằng dù sao
dưới con mắt của Quốc hội thì Louis XVI đã bị phế truất kể từ chuyến bay
đến Varennes. Một đám đông khổng lồ đã tụ tập ở Quảng trường Champ-
de-Mars để ký vào bản kiến nghị này. Georges Danton và Camille
Desmoulins đọc một bài diễn văn sôi nổi. Quốc hội đã phải huy động
chính quyền thành phố để bảo vệ "trật tự công cộng". Lực lượng Vệ binh
Quốc gia dưới sự chỉ huy của La Lafayette đã đứng ra đương đầu với đám
đông. Các vệ binh phải bắn chỉ thiên để cảnh cáo sau những loạt đá được
ném ra từ đám đông; nhưng nhận thấy đám đông vẫn lấn tới không chút e
dè, tướng Lafayette ra lệnh bắn thẳng vào đoàn người tiến tới, làm khoảng
50 người chết.
Tiếp theo sau vụ thảm sát này, chính quyền địa phương đã đóng cửa nhiều
hội ái quốc và những tờ báo cấp tiến như L'Ami du Peuple của Jean-Paul
Marat. Danton vội vã trốn đến Anh, Desmoulins và Marat thì giấu mình ẩn
nấp.
Trong lúc đó, nỗi lo ngoại xâm lại bắt đầu đe dọa : Hoàng đế Leopold II
(đế quốc La Mã Thần thánh) - anh vợ vua Pháp, vua Friedrich Wilhelm II
của Phổ, và em trai đức vua Charles-Phillipe, bá tước Artois đã ban hành
Tuyên bố Pilnitz, yêu cầu trao trả tự do cho vua Louis XVI và giải tán
Quốc hội, nếu chính quyền Cách mạng không đáp ứng những điều kiện
này thì họ sẽ tiến đánh nước Pháp. Vô hình trung bản tuyên bố này càng
đẩy vua Louis vào tình thế hiểm nghèo. Người Pháp thì chẳng hề để ý đến,
còn những lời đe dọa dùng vũ lực trên chỉ đơn thuần là chiến sự ở ngoài
vùng biên giới.
Ngay từ trước chuyến đi ở Varennes, các thành viên của Quốc hội Lập
hiến đã quyết định quyền lập pháp sẽ do Quốc hội mới (Quốc hội lập
pháp) tiếp tục. Giờ đây Quốc hội (Quốc hội Lập hiến) thu thập và chọn lựa
nhiều điều luật khác nhau trong Hiến pháp mà trước đây họ đã thông qua
để viết thành một bản Hiến pháp mới, cho thấy sự dũng cảm đáng nể khi
không lợi dụng cơ hội này để sửa lại một số điều quan trọng, rồi trình nó
lên cho vua Louis XVI vừa được trao trả ngôi vị. Vua chấp nhận Hiến
pháp và viết rằng "Ta cam kết sẽ duy trì Hiến pháp này tại Tổ quốc, bảo vệ
nó khỏi mọi sự công kích từ nước ngoài, và phê chuẩn thực thi Hiến pháp
này bằng mọi cách mà ta tùy ý sử dụng". Nhà vua đã có một buổi diễn
thuyết trước Quốc hội và nhận được những tràng pháo tay nhiệt tình từ
khán giả và các thành viên trong Quốc hội. Quốc hội tuyên bố chấm dứt
nhiệm kỳ vào ngày 29 tháng 9 năm 1791.
Mignet đã viết, "Hiến pháp năm 1791 là công trình của giai cấp tư sản và
sau đó trở thành giai cấp có quyền lực nhất; bởi vì, theo lẽ thường, thế lực
chiếm ưu thế hơn bao giờ cũng giành được quyền kiểm soát trong thể
chế Trong bản Hiến pháp này, con người là nguồn gốc của mọi quyền
lực, nhưng nó đã không được sử dụng".[3]
Quốc hội lập pháp và sự sụp đổ của nền Quân chủ.
Quốc hội
Với Hiến pháp 1791, nước Pháp vẫn theo chế độ Quân chủ lập hiến. Nhà
vua phải chia sẻ quyền lực với Quốc hội được bầu ra, nhưng vua vẫn được
sử dụng quyền phủ quyết và quyền lựa chọn bộ trưởng.
Quốc hội mới họp phiên đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1791 và bắt
đầu tan rã, lộn xộn trong vòng không đến một năm sau đó. Theo nhận xét
của Britanica 1911: "Quốc hội đã thất bại trong nỗ lực cầm quyền, để lại
đằng sau là ngân khố trống rỗng, lực lượng quân đội và hải quân vô kỷ
luật, và một dân tộc trụy lạc, chơi bời trác táng trong an bình và thành
công".
Quốc hội bao gồm khoảng 165 người trong Hoàng gia Feuillant theo Quân
chủ lập hiến bên cánh hữu, khoảng 330 người theo phe Cộng hòa tự do
thuộc phái Girondin (phiên âm Gi-rông-đanh) bên cánh tả, và khoảng 250
đại biểu trung lập.
Ban đầu, nhà vua bác bỏ bản án tử hình đối với di dân và ra sắc lệnh bắt
buộc các giáo sĩ chưa tuyên thệ trong vòng 8 ngày phải lập lời tuyên thệ do
Hiến pháp Công dân của Giới Tăng lữ quy định trước đây. Sau một năm,
những bất đồng trong đường lối cầm quyền đã dẫn đến khủng hoảng.
Chiến tranh
Tình hình chính trị của thời kỳ này đã đưa đến kết quả tất yếu là đẩy nước
Pháp vào cuộc chiến với đế quốc Áo và các nước Đồng minh. Nhà vua,
Hoàng gia Feuillant và phái Girondin háo hức lao vào gây chiến. Nhà vua
cùng nhiều thành viên Feuillant cho rằng chiến tranh là cách quảng bá
rộng rãi hình ảnh và quyền lực của mình; vua còn lập cả một kế hoạch khai
thác bóc lột các quốc gia bại trận. Dù bất cứ kết quả nào xảy ra đều có thể
củng cố thế lực cho nhà vua. Phái Girondin thì lại muốn mở rộng phạm vi
Cách mạng bao trùm cả châu Âu. Chỉ một số thành viên cấp tiến trong
phái Jacobin đứng ra phản đối chiến tranh với lý do nên củng cố và mở
rộng Cách mạng trong nước. Hoàng đế Áo Leopold II, anh trai Hoàng hậu
Marie Antoinette, có lẽ cũng không mong muốn chiến tranh xảy ra, nhưng
đã qua đời ngày 1 tháng 3 năm 1792.
Nước Pháp khai chiến với Áo ngày 20 tháng 4 năm 1792 và Phổ liên minh
với phe Áo vài tuần sau đó. Chiến tranh Cách mạng Pháp đã bắt đầu.
Trận chiến có ý nghĩa quan trọng đầu tiên là trận chiến giữa Pháp-Phổ tại
Valmy ngày 20 tháng 9 năm 1792. Trời mưa tầm tã nhưng hỏa lực của
pháo binh Pháp vẫn tỏ ra đầy uy lực. Vào thời gian ấy, nước Pháp chìm
trong sự hỗn loạn và chế độ phong kiến giờ chỉ còn là quá khứ.
Xem chi tiết : Chiến tranh Cách mạng Pháp
Nền lập hiến bị khủng hoảng
Đêm 10 tháng 8 năm 1792, quân khởi nghĩa với sự ủng hộ của nhà lãnh
đạo cách mạng mới, Công xã Paris, đã tấn công Tuileries. Vua và hoàng
hậu trở thành các tù nhân, những người còn lại trong Quốc hội, gồm
khoảng hơn một phần ba nghị sĩ có mặt lúc đó, phần lớn thuộc phái
Jacobin, đã đình chỉ quyền lực của triều đình.
10 tháng 8 1792 Công xã Paris - Bạo loạn tại cung Tuileries
Phần còn lại của chính phủ phụ thuộc vào sự ủng hộ của Công xã Cách
mạng. Khi Công xã đưa những toán sát thủ vào tù để xét xử một cách tùy ý
và giết gần 1.400 người, và gửi giấy thông báo qua khắp các thành phố
khác của Pháp để kêu gọi noi theo, Quốc hội chỉ có thể chống đỡ một cách
yếu ớt. Tình hình này cứ kéo dài đến khi Quốc ước họp ngày 20 tháng 9
năm 1792 với nhiệm vụ soạn thảo Hiến pháp mới và trên thực tế đã trở
thành chính quyền mới của Pháp. Ngày hôm sau, chính quyền tuyên bố
chấm dứt chế độ Quân chủ và lập ra nền Cộng hoà. Ngày này được chọn là
ngày bắt đầu của năm đầu tiên trong Lịch Cách mạng Pháp.
Quốc ước
Với chế độ Cộng hòa mới, quyền lập pháp thuộc về Quốc ước và quyền
hành pháp thuộc về Ủy ban An ninh Toàn quốc. Phái Girondin trở thành
đảng phái có thế lực nhất trong Quốc ước và trong Ủy ban.
Trong Bản Tuyên ngôn Brunswick, quân đội của Vương quốc Phổ dọa sẽ
trả thù người Pháp nếu nước Pháp ngăn cản các nỗ lực của Phổ trong việc
phục hồi chế độ Quân chủ trên nước này. Ngày 17 tháng 1 năm 1793, vua
Louis bị kết án tử hình cùng tội danh âm mưu chống lại tự do nhân dân và
an ninh chung với sự chấp thuận của một số ít thành viên trong Quốc ước.
Buổi hành quyết ngày 21 tháng 1 đã làm nổ ra nhiều cuộc chiến với các
quốc gia châu Âu khác. Hoàng hậu người Áo của Vua Louis là Marie
Antoinette, cũng theo gót Louis lên máy chém ngày 16 tháng 10.
Tranh biếm của George Cruikshank về thời kỳ Khủng bố dưới sự thống trị
của Maximilien Robespierre
Khi cơn sốt chiến tranh lên cao, giá cả leo thang khiến các sans-culotte
(lao công nghèo và các thành viên cấp tiến của phái Jacobin) nổi dậy: các
hoạt động phản Cách mạng bắt đầu nổ ra ở vài vùng miền. Điều này càng
tạo cơ hội cho phái Jacobin thâu tóm quyền lực. Chịu ảnh hưởng của quần
chúng nhân dân do bất bình với bè phái Girondin và nhờ lợi dụng sức
mạnh của các sans-culotte ở Paris, một cuộc đảo chính (coup d'état) đã
diễn ra với sự tham gia của quân đội. Nhờ kết quả này, sự liên minh giữa
phái Jacobin và các phần tử sans-culotte trở thành nòng cốt trong chính
quyền mới. Các chính sách thể hiện sự cấp tiến rõ rệt.
Ủy ban An ninh Toàn quốc dưới sự quản lý của Maximilien Robespierre
và phái Jacobin đã gây nên giai đọan Thời kì Khủng bố (tạm dịch từ Reign
of Terror)(1793–1794). Ít nhất 1200 người đã phải bước lên máy chém vì
bị quy vào tội phản Cách mạng. Chỉ cần là một ý nghĩ thoáng qua hay một
biểu hiện nhỏ trong hành vi cũng bị nghi ngờ là phản Cách mạng (hay như
trường hợp của Jacques Hébert chính vì quá nhiệt tình với Cách mạng hơn
cả các nhà đương chức cầm quyền); và các phiên tòa bao giờ cũng chỉ xử
một cách qua loa và kết tội là chủ yếu.
Hành hình nhà Độc tài Robespierre
Năm 1794 Robespierre đã xử tử các thành viên Jacobin cấp tiến thuộc phái
Cực đoan và Ôn hoà; chính vì vậy, sự ủng hộ tích cực của quần chúng
nhân dân đối với ông giảm đi rõ rệt. Ngày 27 tháng 7 năm 1794, người
Pháp nổi dậy chống lại Triều đại Kinh hoàng với cuộc chính biến
Thermido. Kết quả: những thành viên phái Ôn hòa trong Quốc ước đã phế
truất và xử tử Robespierre cùng các đồng đội của ông trong ban lãnh đạo
của Ủy ban An ninh Toàn quốc. "Hiến pháp năm thứ III" (theo lịch Cách
mạng Pháp) được Quốc ước thông qua ngày 17 tháng 8 năm 1795; được
dân chúng ủng hộ trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 9 và có hiệu lực từ
ngày 26 tháng 9 năm 1795.
Chế độ Đốc chính.
Hiến pháp mới đã lập ra Hội đồng Đốc chính (Directoire) và Lưỡng viện
lập pháp đầu tiên trong lịch sử nước Pháp. Quốc hội bao gồm Hạ viện gồm
500 đại biểu (Conseil des Cinq-Cents - Hội đồng 500) và Thượng viện
gồm 250 đại biểu (Conseil des Anciens). Quyền hành pháp nằm trong tay 5
đốc chính do Thượng viện bổ nhiệm hàng năm từ danh sách do Hạ viện
đưa lên.
Napoleon trong chiến dịch ở miền Bắc nước Ý-1796
Với sự thành lập của chế độ Đốc chính, Cách mạng Pháp có vẻ đã kết
thúc. Đất nước muốn nghỉ ngơi và chữa lành các vết thương. Những người
muốn tái lập vua Louis XVIII cùng chế độ cũ, và những người muốn quay
lại Thời kì khủng bố La Terreur chỉ chiếm số lượng không đáng kể. Khả
năng can thiệp của nước ngoài đã tiêu tan cùng thất bại của Đệ nhất Liên
minh (Première coalition). Tuy nhiên, 4 năm của chế độ Đốc chính đã là
khoảng thời gian của một chính phủ chuyên quyền độc đoán và sự bất an
thường xuyên. Những sự tàn bạo trong quá khứ đã làm cho lòng tin và
thiện ý giữa các bên trở thành không thể được. Cũng bản năng tự bảo vệ
mà đã dẫn các thành viên của Quốc ước chiếm phần lớn trong cơ quan lập
pháp và toàn bộ Hội đồng Đốc chính buộc họ giữ ưu thế.
Khi đại đa số dân chúng Pháp muốn loại bỏ họ, họ đã chỉ có thể giữ được
quyền lực của mình bằng những biện pháp bất thường. Họ đã từng bước lờ
đi các điều khoản của hiến pháp, và dùng đến vũ khí khi kết quả bầu cử
chống lại họ. Họ đã quyết tâm kéo dài chiến tranh - cách tốt nhất để kéo
dài quyền lực của mình. Do đó, họ bị dẫn đến việc dựa vào quân đội - phe
cũng muốn chiến tranh.
Chế độ mới vấp phải sự chống đối từ những người bảo hoàng và các phần
tử Jacobin còn sót lại. Quân đội đàn áp các cuộc nổi dậy và các hoạt động
phản cách mạng. Nhờ đó quân đội và vị thống lĩnh xuất sắc của họ,
Napoleon Bonaparte càng có thế lực hơn.
Ngày 9 tháng 11 năm 1799 (ngày 18 tháng Sương mù của năm thứ 8 theo
lịch Cách mạng Pháp), Napoléon tổ chức một cuộc đảo chính, lập nên chế
độ tổng tài. Sự kiện Napoléon xưng Hoàng đế vào năm 1804 đã đặt dấu
chấm hết cho giai đoạn Cộng hòa, thành quả tiêu biểu của Cách mạng
Pháp.
Chú thích
1. ^ Do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino vào năm 1788-1789 làm
mùa màng thất bát.Thêm vào đó, hiện tượng El Nino còn có ảnh
hưởng tănh mạnh ở trong khoảng thời gian 1789-1793 tại châu
Âu.Richard H. Grove, “Global Impact of the 1789–93 El Niño,” Tạp
chí khoa học Nature 393 (1998), trang 318–319
2. ^ John Hall Stewart. A Documentary Survey of the French
Revolution. New York: Macmillan, 1951, trang 86.
3. ^ [1]
4. ^ [2]