Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Các trào lưu nghệ thuật - Phần 7 pps

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (801.17 KB, 18 trang )

Các trào lưu nghệ thuật, từ Trừu Tượng Động
Thái tới Ngôn Ngữ Và Ý Niệm (7)
Những người Âu

Piet Mondrian, composition

Sau giai đoạn bị chiếm đóng và áp bức trong chiến tranh thế giới II, cuộc
giải phóng châu Âu vào năm 1945 đã mở ra thời kỳ phục hưng cho mọi khía cạnh
cuộc sống, trong đó có văn học nghệ thuật. Với hầu hết các nghệ sỹ siêu thực đang
trong cảnh tha hương –Siêu thực, trào lưu quan trọng nhất thời tiền chiến ở châu
Âu - giờ đây đã hầu như không tồn tại. Phong cách trừu tượng kỷ hà của Mondrian
và đệ tử dường như cũng chẳng còn thích hợp mấy nữa sau những thảm họa của
phát xít và chiến tranh. Mặc dù Tân biểu hình (New Fuguration) là khía cạnh bản
chất của nghệ thuật hậu chiến châu Âu, song nghệ thuật trừu tượng phi hình thức
(informenl abstract art) mới trình ra được các khả năng thể hiện tự do và phóng dật
đa dạng lớn lao nhất. Đối sánh với nghệ thuật Mỹ, hội họa châu Âu dường như ít
gây hấn và hướng nội hơn
Sau chiến tranh, Paris vẫn tiếp tục đóng vai trò là trung tâm nghệ thuât châu
Âu. Trong một thời gian ngắn, một nhóm nghệ sỹ tự coi là “ những nghệ sỹ trẻ của
truyền thống Pháp “ đã cố gắng liên gộp bảng mầu của Bonnard và Matisse cùng
cấu trúc lập thể thành một hình hệ trừu tượng thuận mắt (harmonious abstraction).
Song hài hòa không phải là điều trải nghiệm hậu chiến cần tới. Những giọng điệu
cấp tiến mạnh mẽ như của nhà phê bình Michel Tapíe ( Pháp, sinh năm 1909 ) đã
thẳng thừng chống lại gánh nặng truyền thống cổ điển nặng nề chả còn có gì
chung với “trọn bộ những cơn mê ly đầy ý nghĩa của đời sống và huyền thoại “,
vọng gọi về “những bài học của Dada và của cuộc cách mạng siêu thực hướng đến
một dạng nghệ thuật dũng cảm, sẵn sàng từ khước an toàn để đạt tới “ những hiện
thực siêu nghiệm và mơ hồ“
Gallery Rene’ Drouin đã là địa chỉ chính danh cho những những tuyên
xướng khiêu khích và mới mẻ nhất.Thậm chí cả trước khi Paris được giải phóng,
Drouin vẫn đã tổ chức các triển lãm của Dubuffet, Jean Fautrier và rồi, ngay tiếp


sau là Wols, Henri Michaux, George Mathieu và Hans Hartung. Mathieu đã vẽ
với một tốc độ và nội lực rất lớn, theo kiểu ý bút, tạo ra những hình thể ngay lập
tức trước mắt công chúng (y như kiểu viết thư pháp, liền một mạch không nhấc
đầu bút khỏi mặt giấy - ND). Hành vi của ông bị một số người coi là sự thô thiển
hoá tính riêng tư trong sáng tạo của nghệ sỹ (khi ngồi vẽ trước công chúng), song -
bởi những thực hành nghệ thuật theo kiểu vừa kể trên, ông lại cũng được coi là
nhà tiên khởi của nghệ thuật trình diễn (performance art ).


George Mathieu's art work




George Mathieu's art work



Wols (người Đức – tên đầy đủ là Alfred Otto Wolfgang Schulze, 1913 –
1951), trước kia đã từng theo học âm nhạc và kiến trúc và từng thực hành nhiếp
ảnh, rốt cục trở thành một họa sỹ tự học có tầm cỡ. Ông còn làm thơ và quan tâm
một cách sâu sắc tới sinh học và địa chất học. Sống tại Pháp trong thời chiến,
Wols bị giam giữ vài lần và vào tuổi 38, sau rất nhiều năm nghiện rượu nặng, ông
đã chết tại Paris. So sánh Wols với Pollock, nhà lịch sử Mỹ thuật Werner
Haftmann từng nói :
“… Bởi thấu nhận những sự kiện tệ hại vào những tháng năm tiêu điều
trước và trong chiến tranh, cuộc sống và tác phẩm của Wolsvà Pollock dường như
đã cung cấp bằng cớ lịch sử cho chính thời kỳ đó. Pollock nổi loạn, còn Wols thì
thụ động và cam chịu: ông đơn thuần chỉ ghi lại những gì xẩy tới cho mình –
không phải những sự kiện đơn sơ trong đời sống - mà là những hình ảnh phún

trào từ tâm hồn bị thương tổn của ông…”

Wols art work





Wols art work


Wols art work



Henri Michaux ( Người Bỉ , 1899 – 1984 ) cũng là một danh họa tự học,
và được biết tới bởi thi ca của mình, đã - theo nghĩa đen – vạch ra con đừơng
hướng về tính tự động nhờ vào việc tạo ra những nét nguệch ngoạc và những ký
hiệu – là những gì mà nhà văn Mêxico đoạt giải Nobel Octavio Paz từng nhận xét
là sự tự do của “ những sức nặng ý niệm và gần với địa hạt của ngôn ngữ ý động
học hơn là với ngôn ngữ thông thừơng”. Michaux tin vào sự tự do vô chính phủ
triệt để và sử dụng ảo giác để khêu động các thấu thị mới cũng như các trạng thái
nhận thức hưng phấn cao độ. Những
“ký hiệu “ của ông vỗ nhẹ nhàng vào màng vô thức, làm rung lên cơn ứng
ngẫu tâm linh cực đoan nhất.

Henri Michaux art work




Henri Michaux art work





Henri Michaux art work



Tại Italia, rất nhiều cuộc lập nhóm của các nghệ sỹ trừu tượng đã diễn ra
sau sự sụp đổ của đảng Phát xít. Lúc đầu, một kiểu dạng trừu tượng trữ tình
(lyrical abstraction) đã thu hút đựơc rất nhiều nghệ sỹ giỏi, song ngay lập tức, các
cá nhân dẫn đạo đã xuất hiện. Tại Milan, Lucio Fontana ( 1899 – 1968 ) chính là
trung tâm của những thí nghiệm mới mẻ. Sinh tại Argentina, Fontana được đào tạo
tại Milan, nơi ông thực hiện những điêu khắc gốm và xi măng -bắc cầu cho nghệ
thuật và thủ công. Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, ông quay về
Buenos Airet - nơi ông trở thành một nhân vật trung tâm trong một trào lưu nghệ
thuật hiện đại. Cùng với một số đệ tử, ông đã ấn hành “manifesto blanco “ (tuyên
ngôn trắng) vào năm 1946. Gắn bó chặt chẽ với tinh thần thời đại, Fontana khẳng
quyết rằng:“ biến hóa chính là trạng huống cơ bản của tồn tại “. Tạo ra một chuyển
hóa tổng thể cho mọi khía cạnh của đời sống, ông đã ứng dẫn những khám phá
trong khoa học thời đó vào nghệ thuật và kêu gọi một nền “ tân nghệ thuật hòa hợp
mạnh mẽ hơn vào những nhu cầu tinh thần “ của một kỷ nguyên mà trong đó
“ những tấm tole được vẽ và ngẫu tượng thạch cao chẳng còn bất cứ lý do nào để
tồn tại nữa “ – một thông cáo mang tính tiên tri vào lúc ấy. Ông đề xuất một thứ
nghệ thuật hiện diện trong bốn chiều hiện sinh, trong sự đồng nhất của không gian
và thời gian và là thứ nghệ thuật được xuất hiện chỉ khi nào lý tính ở vị trí thứ yếu
so với vô thức. Trong chuyến trở lại Milan của mình, Fontana đã trở thành nhà
sáng lập ra chủ nghĩa không gian (spatialism) và đã tạo ra vài tác phẩm môi trường

mang mầu sắc trừu tượng (abstract environment) đầu tiên. Trong những năm 1950,
ông bắt đầu chọc thủng và rạch vào tole của mình, giới thiệu không gian thực
(trong các vết và lỗ rạch)như thể một phần của bức tranh. Tác phẩm của ông có
ảnh hưởng mạnh mẽ tới những nghệ sỹ Italia trẻ hơn (những nghệ sỹ độc
sắc/monochrome painters, nhóm nghệ thuật nghèo khó/arte povera , những nhà ý
niệm/Conceptualists ) cũng như tới những nghệ sỹ Đức (nhóm Zero)

Fontana art work



Fontana art work



Fontana at work



Trong khi Fontana trở nên một quyền lực dẫn đạo nghệ thuật tại Milan thì
Emilio Vedova và Alberto Burri, từng người một, cũng đã hoàn tất vai trò ấy tại
Venice và Rome. Những tác phẩm của nghệ sỹ Venice Emilio Vedova ( sinh năm
1919 ) có ảnh hưởng kép từ cả Tintoreto và Boccioni. Vào khoảng đầu thập niên
1950, nghệ sỹ này đã tạo ra hình thái “ Hội họa hành động “ của bản thân, là
những tác phẩm trừu tượng động lực phản chiếu trực tiếp hành vi của ông lên bề
mặt vải. Vedova cũng tìm cách giải phóng hội họa khỏi bức tường và tạo nên
những bưc tranh đứng tự do bằng ván, gỗ hay là thép - như trong Loạt tranh mang
tên Plumiri (1962 – 1965) - chính là những thử nghiệm sớm sủa của trải nghiệm về
không gian. Trong bài phát biểu vào năm1948, Vedova đã tuyên bố những suy
nghĩ của mình về trạng thái căng thẳng và khó khăn của việc trở nên một nghệ sỹ

trong thế giới đương đại, của việc phải dấn mình hướng về một dạng nghệ thuật
mới mẻ chưa từng ai biết



Vedova at work



Vedova artwork


Vendova artwork


Alberto Burri (1915 – 1995), được đào tạo làm thầy thuốc tại Rome, bắt
đầu vẽ khi bị Mỹ bắt làm tù binh chiến tranh ở Texas. Vào khoảng đầu thập kỷ 50,
nhà phẫu thuật nguyên khởi này đã tạo ra một loạt tranh bằng những bao tải rách,
trên đó, ông đã nhỏ xuống những giọt sơn đỏ, gợi lại những băng cá nhân loang
máu của các nạn nhân chiến tranh. Trong sự nghiệp dài lâu và đầy năng lượng của
mình, Burri đã làm việc với vô số chủng loại chất liệu; những tấm gỗ cháy, nhựa
công nghiệp, những tấm thiếc kẽm, những tấm chiụ nhiệt. Nghệ thuật trừu tượng
của ông thường xuyên mang theo những hàm ngụkhông thể chối cãi về thế giới
thực, từ những ẩn dụ thời kỳ đầu về những thân thể bị thương cho tới những tấm
ván (panels) sau này gợi ý tới bề mặt trái đất. Tác phẩm của ông, trong rất nhiều
khía cạnh, đã tiên báo cho trào lưu Arte Povera (nghệ thuật nghèo khó) rất hưng
thịnh tại Italy vào thập kỷ 60.


Alberto Burri, Grande Rosso P18, 1964




Alberto Burri: Imagens 2.



Alberto Burri
Grande legno G 59

×