Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Bệnh đau mắt hột nguyên nhân và điều trị pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (179.19 KB, 6 trang )






Bệnh đau mắt hột -
nguyên nhân và điều trị
Đau mắt hột là bệnh lý chỉ tình trạng viêm giác mạc, kết mạc mắt mãn tính
do vi khuẩn Clamydia Trachomatis gây ra. Nếu không được chữa trị có thể
dẫn đến mù mắt. Đây là một bệnh khá phổ biến, có thể lây lan thành dịch,
thường gặp nhất là ở những vùng thiếu nước sạch và có hệ thống vệ sinh
phòng bệnh kém.

Ảnh minh họa
Bệnh biểu hiện bằng những tổn thương dạng hột hoặc thẹo trên giác mạc
mắt. Bệnh đau mắt hột có thể tự khỏi, nhưng có một số trường hợp có thể
dẫn đến các biến chứng như cụp mi, lông xiêu, loét và sẹo đục giác mạc…
thậm chí dẫn đến mù lòa.
Nguyên nhân
Đau mắt hột là do vi khuẩn Clamydia Trachomatis gây ra, nhưng trong một
số trường hợp không giữ vệ sinh tốt, các vi sinh vật gây bệnh khác có thể
khiến cho bệnh nặng thêm.

Vi khuẩn Clamydia Trachomatis - Ảnh minh họa
Triệu chứng
Đau mắt hột có nhiều biểu hiện khá đa dạng, có thể từ những dấu hiệu nhỏ
thường bị bỏ qua đến những triệu chứng nặng và kéo dài dai dẳng. Tùy vào
mức độ bệnh mà đau mắt hột có thể được chia thành 2 thể như sau:
Thể nhẹ: hay còn được gọi là đau mắt hột đơn thuần. Ở thể này, các tổn
thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc và dừng lại ở đó. Bệnh nhân có
thể không có triệu chứng gì hoặc chỉ có các triệu chứng như, ngứa mắt, cộm


mắt, hay cảm thấy mỏi mắt và có thể chảy nước mắt. Bệnh có thể tự khỏi
nếu người bệnh giữ vệ sinh tốt và không bị tái nhiễm.
Thể nặng: Vi khuẩn xâm nhập xuống những lớp sâu bên dưới của kết mạc
mắt. Biểu hiện bệnh trầm trọng và kéo dài. Bệnh có thể gây các biến chứng
như lông quặm, cụp mi, sẹo giác mạc… và dẫn đến mù mắt nếu không được
điều trị tốt.
Bệnh đau mắt hột có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như:
 Viêm kết mạc mãn tính: làm cho mắt cộm, ngứa, đỏ quanh năm.
 Lông quặm, lông xiêu: là tình trạng lông mi mọc xiêu vẹo, biến dạng,
quặp hoặc cọ sát liên tục vào giác mạc khiến giác mạc bị tổn thương, trầy
xước, đục, mờ giác mạc, thậm chí có thể gây loét giác mạc. Nếu nhiễm trùng
có thể dẫn đến viêm mủ nhãn cầu gây teo, mù mắt.
 Viêm sụn mi: là tình trạng sụn mi bị dày lên, xơ hóa và biến dạng.
 Loét giác mạc.
 Bội nhiễm: Các tác nhân gây bệnh khác có thể xâm nhập gây viêm,
loét giác mạc, những trường hợp nặng có thể gây mù lòa.
 U hột ở rìa: u hột ở vùng rìa giác mạc lan vào diện đồng tử và có khi
có cả trên toàn bộ giác mạc.
 Loạn thị: do sạn vôi và các sẹo mắt hột cọ sát lâu ngày trên giác mạc
làm giác mạc gồ ghề, lởm chởm, sai lệch đường đi của ánh sáng vào mắt gây
loạn thị, giảm thị lực.
 Khô mắt, khô giác mạc: do các ống tuyến bị teo, giảm tiết dịch. Mắt
trắng khô như mắt tượng, mờ hẳn. Khô mắt có thể dẫn tới tình trạng loét
giác mạc, thủng giác mạc và gây mù mắt.
 Viêm tuyến lệ, tắc ống dẫn lệ: gây ra triệu chứng mờ mắt, chảy nước
mắt sống. Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có 3 triệu chứng mà chúng
ta hay gọi là tình trạng mắt toét gồm: trụi lông mi, mắt ướt, bờ mi đỏ.
Điều trị
Thông thường, các bệnh nhân đau mắt hột sẽ được điều trị bằng cách dùng
thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc mỡ tra mắt theo sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên

khoa. Các thuốc thường được sử dụng để điều trị đau mắt hộ hiện nay là:
pommade Tetracycline 1%, nhỏ mắt vào ban đêm trong 5 đến 10 ngày liền
mỗi tháng, thời gian dùng thuốc kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm. Kèm theo
uống Tetracycline/ Erythromycine / Doxycycline trong 3-4 tuần.
Phòng bệnh
Việc quan trọng nhất để phòng bệnh đau mắt hột là giữ vệ sinh sạch sẽ. Nên
rửa mặt bằng khăn sạch và nước sạch, không nên dùng chung khăn rửa mặt.
Không tắm nước ao hồ, tránh nước bẩn bắn vào mắt. Nên đeo kính bảo vệ
mắt khi ra đường.

Ảnh minh họa
Nên đi khám mắt địnhkì khoảng 6 tháng/ lần để phát hiện sớm các biến
chứng. Ngay khi phát hiện các triệu chứng bất thường về mắt nên đến khám
tại các cơ sở chuyên khoa mắt để phát hiện sớm các dị tật hoặc bệnh lí về
mắt.

×