NGƯỜI HOẠ SĨ THẦM LẶNG
SAY MÊ VỚI BẢNG M
ÀU SƠN
MÀI
Họa sĩ Văn Bình sinh
năm 1918, đúng vào nóm
kết thúc thế chiến lần thứ
I. Ông tốt nghiệp mỹ
thuật Đông Dương khóa
XII (1938 - 1943) và
trước đó, đã theo học lớp
dự bị của trường.
Khóa học của ông là
khóa đầy sóng gió. Ông
Victor Tardieu, cựu giám
đốc trường, người sáng lập, có thiện cảm với sinh viên và đồng nghiệp,
vừa qua đời (1937). Chính quyền thuộc địa đã cử Evariste Jonch
ère làm
tân giám đốc. Vốn nặng đầu óc “mẫu quốc đi khai hóa văn minh” tới
Sài Gòn đã tuyên bố với tờ Opinion rằng: “Tôi sang Đông Dương
chuyến này là để đào tạo lớp thợ thủ công mỹ nghệ khéo tay, chứ
không phải để tạo ra những nghệ sĩ như ông Victor Tardieu đã chủ
VĂN BÌNH-Phong cảnh Tây Bắc-sơn mài
trương. Người An Nam không có đầu óc thông minh và sáng tạo để trở
thành nghệ sĩ” . Một làn sóng phẫn nộ, khinh bỉ, phản đối E. Jonchère
thực sự đã dâng cao trong trường cũng như các cựu sinh viên đã ra
trường. Một loạt bài báo công khai đả kích E. Jonchère được tuyệt đại
đa số trí thức và đồng bào các đô thị Nam Bắc hưởng ứng mãnh liệt. E.
Jonchère đã đầu hàng, nhận ra sự thật lố lăng về lời tuyên bố hàm hồ
của mình. Trường MTĐD tiếp tục mở cửa đón sinh viên các khóa theo
chương trình chính quy, đúng nghĩa của trường mỹ thuật.
Có mặt trong cuộc đấu tranh của sinh viên, cộng với phong trào đòi
quyền dân chủ, dân sinh của Mặt trận Bình Dân đang dâng cao (1936-
1939), Văn Bình thấm thía nhận ra rằng: muốn học nghệ thuật và làm
nghệ thuật, trước hết phải biết thiết lập được mối quan hệ bình đẳng
giữa các nền văn minh dân tộc; và muốn học nghệ thuật Châu Âu vừa
du nhập vào xứ ta, thì trước hết phải biết học và yêu quý vốn nghệ
thuật dân tộc của ông cha mình”. Và Văn Bình đã chọn khoa sơn ta,
sơn rửa - sơn mài - là môn học chính, bên cạnh khoa sơn dầu phương
Tây như môn học bắt buộc mà hoàn toàn tự giác.
Một năm sau khi ra trường, 1944, tác phẩm sơn mài đầu tay Bên bờ ao
được gửi đến tham gia triển lãm Duy Nhất (Salon Unique). Ông đã
nhận được một trong số giải thưởng cao nhất về chất liệu của phòng
tranh. Giải mang tên họa sĩ Nhật Sekiguchi, 1000 đồng Đông Dương
(họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm chiếm giải cao nhất về sơn dầu, 1200 đồng
Đông Dương, mang tên toàn quyền Decoux). Thế là từ nay cuộc hành
trình đi vào thế giới “vàng son - đen trắng”, Văn Bình đã nhận ra khả
năng thành đạt ban đầu của mình, từ đó đã mở ra cho chàng họa sĩ trẻ
những ô cửa sổ mới nhìn ra thế giới cái đẹp của sự sáng tạo.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, tiếp đến kháng chiến toàn
quốc bùng nổ 1946. Tạm biệt đầy lưu luyến nàng thơ vàng son choáng
lộng và Thủ đô yêu dấu, với chiếc ba lô làm hành trang, như mọi ch
àng
trai trẻ yêu nước, yêu đời khát khao độc lập tự do, Văn Bình tham gia
đoàn quân văn hóa kháng chiến trong ban kịch Thế Lữ - Anh Vũ
(1944- 1945); có mặt trong đội truyền bá quốc ngữ, Nha thông tin
Tràng Tiền (Hà Nội). Tháng 4/1946 có mặt trong đoàn quân Nam Tiến
tại Huế, sáng tác tranh kịp gửi ra triển lãm mỹ thuật toàn quốc tại nhà
Khai Trí Tiến Đức bên Hồ Gươm Hà Nội; cùng v
ới họa sĩ Nguyễn Đức
Nùng trong tổ tuyên truyền kháng chiến lưu động do công đoàn Huế tổ
chức. Mặt trận Huế vỡ, Văn Bình ra Thanh Hóa, công tác trong đoàn
xung phong sản xuất của Tổng bộ Việt Minh. Năm 1948 Văn Bình
chuyển sang công tác báo Cứu Quốc Liên Khu IV. 1954 tiếp quản Thủ
đô Hà Nội, công tác tại xưởng họa Trung ương. Hai năm sau 1956,
Trường cao đẳng mỹ thuật Việt Nam mời ông về tham gia công tác
giảng dạy, đồng thời giữ chức trưởng phòng giáo vụ nhà trường. Từ
đấy vốn sống và vốn ký họa kháng chiến sẽ là kho tư liệu quý giá giúp
ông có phương tiện và thì giờ làm tranh bố cục hoàn chỉnh, nhất là
tranh sơn mài mà ông đã nặng nợ với giấc mơ nghệ thuật của mình.
Cũng từ đây đánh dấu bước chuyển biến và trưởng thành mang phong
cách và cá tính rõ nét về sơn mài của Văn Bình.
… “Với tôi sơn mài chỉ thực sự được cách tân kể từ sau giai đoạn hòa
bình lập lại. Vì đã có thì giờ và phương tiện cho các họa sĩ bình tâm
trong tư duy suy nghĩ và sáng tạo. Tuy nhiên phải loại trừ ra một vài
trường hợp hiếm hoi của những người đi trước có tài năng và cá tính -
như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân có thể xem là ví dụ mẫu mực “, lời
Văn Bình.
“Với tôi vẫn lời họa sĩ, những tranh đã được hội đồng nghệ thuật tuyển
chọn cho Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam như “Bản Nậm Nà” (1958),
“Phong cảnh Tây Bắc”, “Nước non Cao Bằng” (1995), “Tre và chuối”
(1993). Riêng tranh “Vịnh Hạ Long” (1955) trong Sưu tập của cố tổng
thống Sucarnô, Indonesia - là tương đối đạt, cũng như những tranh
“Chiến thắng Điện Biên Phủ “ (1995), “Mùa gặt ở Tây Bắc” (1993)…
đều cùng dòng cảm hứng thẩm mỹ. Những tranh này, tôi thích vì nó có
dáng dấp truyền thống và có bút pháp phong cách tác giả cũng như ch
ất
liệu nghệ thuật. Tôi tự xét vẽ tranh phong cảnh có phần đạt hơn tranh
vẽ người. Do đó, so với những tranh phong cảnh kể trên, thì bức “Cư
ớp
Bắc Bộ Phủ” hiện để ở Bảo tàng trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, tôi
thấy chưa đạt, chưa vừa ý”.
Anh nghĩ gì về tài năng và cá tính của một nghệ sĩ sơn mài hiện đại?
Tác giả bài viết hỏi họa sĩ. “Phương tiện, thời gian, lương tâm, cộng
với tài năng cá tính của người nghệ sĩ quyết định cho thành công của
một tác phẩm. Tôi vẫn muốn nhắc lại những tác phẩm sơn mài của
Nguyễn Gia Trí đã làm trước trước Cách mạng đến cuối đời như
“Vườn xuân Trung Nam Bắc”, “Ao làng”… đã trải qua trên nửa thế kỷ
nghệ thuật, mà sao thấy vẫn đẹp, vẫn bền, vẫn rất Nguyễn Gia Trí” ,
họa sĩ tâm sự. Cũng như vậy những tranh của Nguyễn Sáng như B
ộ đội
trú mưa, Bộ đội dừng chân trên đồi, Phong cảnh chùa tháp… hoặc với
Nguyễn Tư Nghiêm như Giao thừa bên Hồ Gươm, Điệu múa cổ, Thánh
Gióng… hiện nằm trong sưu tập Bảo tàng mỹ thuật, vẫn thấy bền, thấy
đẹp, độc đáo. Rõ ràng làm sơn mài không phải là “đánh bạc”, “đánh
đố” hay “may rủi”, hoặc đổ lỗi cho chất liệu, theo kiểu “vụng múa chê
đất lệch”. Ông kết luận: “cái đẹp của sơn mài không nhất thiết cứ phải
đứng lại ở bảng màu cơ bản. Cũng không phải cứ tìm tòi được nhiều
màu như cách vẽ sơn dầu là thành công. Vấn đề là họa sĩ phải cao tay,
phải sáng tạo, phải có thị hiếu tốt mà điều khiển bảng màu, từ đó mới
tạo ra phong cách bút pháp riêng cho người họa sĩ.
Đó là tất cả những gì mả tác giả bài viết biết về thân thế và sự nghiệp
của cố họa sĩ Văn Bình. Nhân kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của ông,
đã gợi lại cho tôi những hồi ức đẹp về người họa sĩ luôn sống trong sự
thầm lặng, khiêm nhường, miệt mài, say mê với bảng màu “vàng son
đen đỏ” mà ông đã lựa chọn, dấn thân, tự nguyện cống hiến trọn đời
cho cái đẹp.
TRẦN THỨC