Trò chuyện cùng “Banker” Trần Mộng
Hùng
Đi thẳng vào các vấn đề mà
người gửi tiền, khách hàng, nhà đầu tư, cổ đông và dư luận quan
tâm như trạng thái vàng, cho vay liên ngân hàng, liệu có sự
“chệch hướng” chiến lược trong ngắn hạn và những bài học rút
ra từ “tai nạn” vừa qua ở ACB – ông Trần Mộng Hùng, một
trong những người sáng lập ngân hàng TMCP Á châu (ACB),
được coi là một “banker” chuyên nghiệp, đã có cuộc trả lời
phỏng vấn với nhà báo Hải Lý và phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị.
ACB và thanh khoản vàng
Đang có thông tin ACB không cân đối được trạng thái vàng do
bị rút vàng vừa qua. Thực sự như thế nào, thưa ông?
Khoảng 20% vốn huy động của ACB bằng vàng. Khi khách
hàng rút tiền, một số người rút cả vàng và ngoại tệ. Cùng với
lượng vàng đang có của mình, ACB cũng được ngân hàng Nhà
nước (NHNN) và các ngân hàng bạn kịp thời cho vay tiền, vàng
đủ để chi trả khi người dân có nhu cầu rút tiền, vàng. Theo chỗ
tôi được biết, ACB chưa sử dụng hết hạn mức cho vay đó.
Thực tế, ACB không mất cân đối trạng thái vàng. Trước đây khi
tham gia bình ổn giá vàng, ACB được phép mua vàng trên tài
khoản ở nước ngoài. Bán trong nước bao nhiêu, ngân hàng mua
ở nước ngoài bấy nhiêu. Cân đối giữa số vàng huy động trong
nước đã bán và số vàng ACB đã mua theo nghiệp vụ kinh doanh
tài khoản vàng ở nước ngoài được NHNN cho phép, ACB không
âm một lượng nào. ACB đang xin phép Chính phủ và NHNN
cho nhập số vàng của ACB đã mua. Trong khi chưa được nhập,
phải mua vàng trong nước để bù đắp dự trữ thanh khoản vàng
đảm bảo nhu cầu sử dụng vốn bằng vàng của ACB.
Nếu không được nhập khẩu, có thể hiểu ACB sẽ phải tiếp tục
mua vàng trong nước. Với sự chênh lệch giá vàng nội – ngoại
hiện nay, việc mua từ thị trường trong nước có thể dẫn đến lỗ lã,
đúng không thưa ông?
Đúng thế. Tuy nhiên số lỗ, nếu có, không lớn so với lợi nhuận
đạt được 8 tháng và cả năm của
ACB.
Ông Trần Mộng Hùng t
ốt
nghi
ệp đại học Kinh tế
TP.HCM, chuyên ngành
ngân hàng, làm giảng vi
ên
trư
ờng cao cấp Nghiệp vụ
ngân hàng từ năm 1978
–
1980. Trước khi thành l
ập
ACB, ông công tác t
ại công
ty vàng bạc đá quý S
ài Gòn
(SJC).
Ông Trần Mộng Hùng là
người sáng lập ra ngân h
àng
Á Châu và là người lãnh
đạo, dẫn dắt ACB không
ngừng phát triển trong suốt
gần 20 năm qua. Trước đây,
ông là chủ tịch HĐQT và
hiện nay là cố vấn HĐQT
của ACB. Ông là người
luôn quan tâm đến sự phát
triển an toàn, bền vững,
quản trị điều hành, công
khai minh bạch tại ACB.
Với cổ đông trong nước,
ông Trần Mộng Hùng và
các bên có liên quan đang
sở hữu tỷ lệ cổ phần cao
nhất tại ACB và thực hiện
Lợi nhuận và rủi ro
Dẫu vậy khả năng đạt chỉ tiêu lợi nhuận sẽ bị ảnh hưởng?
Khả năng đạt kế hoạch lợi nhuận là khó, nhưng quan trọng nhất
là đáp ứng các tiêu chí an toàn tài chính. Định hướng hoạt động
an toàn, bền vững, lợi nhuận hợp lý của ACB chưa có gì thay
đổi.
Vừa qua, từng thời điểm, dưới một số tác động của một vài cá
nhân, kế hoạch phát triển ngắn hạn có thể chệch hướng chiến
lược. Việc xác lập chỉ tiêu tăng trưởng phải hợp lý, phù hợp tình
hình, bối cảnh chung. Nếu chủ quan, xác lập chỉ tiêu kế hoạch
duy ý chí, thì sẽ rủi ro. Nhìn nhận lại, qua sự cố này, chỉ tiêu lợi
nhuận, nếu không đạt vẫn sẽ cao hơn những năm trước và hoàn
toàn không ảnh hưởng đến vốn của cổ đông, tiền gửi của khách
hàng vẫn an toàn, ACB sẽ tiếp tục phát triển vững chắc.
đúng cam kết đầu tư lâu dài.
Sự kiện xảy ra cho thấy trên thực tế ACB đã chạm trán rủi ro.
Phải chăng chiến lược của ngân hàng đã khác đi, không chỉ đơn
thuần là chệch hướng? Ý chúng tôi là ACB đã đầu tư vào không
ít doanh nghiệp…
Chiến lược của ACB tập trung vào mảng ngân hàng bán lẻ,
không đầu tư vào doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác. Sự
việc xảy ra là do tính toán của một vài cá nhân, không phải chủ
trương của ngân hàng.
Trường hợp của ông Nguyễn Đức Kiên chỉ là cá biệt. Các quy
trình, quy chuẩn tín dụng của ACB đã có từ lâu. Các khoản vay
của ông Kiên thông qua các công ty con đều có tài sản thế chấp.
Tuy nhiên việc thu hồi vốn phải có thời gian.
Cho vay cầm cố chứng khoán, kể cả cổ phiếu ngân hàng, hiện
ACB chưa sử dụng hết hạn mức quy định cho phép. Còn có
một vài tổ chức, cá nhân sử dụng tiền vay sai mục đích, và dĩ
nhiên họ cũng không nói là vay để đi thâu tóm ngân hàng, phải
phân tích sâu, tìm hiểu kỹ nguồn gốc dòng tiền mới có thể kết
luận được.
Còn có những khoản sử dụng vốn rủi ro khác nữa, thưa ông?
Ông Lý Xuân Hải đã cho ký hợp đồng uỷ thác cho 19 nhân viên
để thực hiện việc nhận 718 tỉ đồng của ACB, để gửi vào ngân
hàng Công thương. Số tiền gửi này đã quá hạn. ACB đã tổ chức
thực hiện việc khởi kiện yêu cầu ngân hàng Công thương hoàn
trả tiền.
Giả sử ngay cả khi không được hoàn trả, ACB hoàn toàn có thể
trích lập dự phòng rủi ro từ nguồn lợi nhuận đã có tám tháng đầu
năm là 2.300 tỉ đồng. Sự cố này không ảnh hưởng đến cổ đông
cũng như người gửi tiền.
Chính sách tín dụng hiện
nay của ACB?
ACB tập trung phát triển
khách hàng truyền thống là
khách hàng cá nhân và các
doanh nghiệp vừa và nhỏ,
các doanh nghiệp có sản
xuất chế biến hàng tiêu
dùng, chế biến hàng xuất
khẩu thuỷ sản, may mặc,
giày dép, các doanh nghiệp
hoạt động trong các ngành
hoá chất, nhựa và các sản
phẩm từ nhựa và dược
phẩm. Đây là nhóm khách
Có “chệch hướng”?
Sự “chệch hướng” ngắn hạn như
ông đề cập, đã để lại cho ACB
nhiều bài học?
Tôi luôn khuyến nghị hội đồng
quản trị, hội đồng tín dụng, hội đồng đầu tư ACB tập trung vào
nghiệp vụ ngân hàng thương mại; rà soát lại các công ty con,
công ty liên kết. Nếu có đầu tư thì phải thoái vốn toàn bộ. Liên
kết với các ngân hàng khác là cần thiết, hỗ trợ nhau trên cơ sở
cùng có lợi, nhưng không nhất thiết phải có vốn trong những
ngân hàng đó.
Sự “chệch hướng” không chỉ trong lĩnh vực đầu tư, nó đã lan cả
sang kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng.
hàng có quan hệ tín dụng
lâu năm và có uy tín thanh
toán nợ vay với ACB.
Nhóm khách hàng này có tài
sản đảm bảo là nhà ở, nhà
máy sản xuất.
Đối tượng khách hàng mục tiêu của ACB là doanh nghiệp vừa
và nhỏ, cá nhân có thu nhập trung bình và ở địa bàn phù hợp với
năng lực quản trị của hệ thống ACB. Ngoài ra, ACB kinh doanh
trên thị trường liên ngân hàng. Phải thấy rằng trong điều kiện
bình thường, cho vay liên ngân hàng ít rủi ro. Bây giờ thì khác.
Vay liên ngân hàng phải có tài sản đảm bảo. Nhiều ngân hàng
vay liên ngân hàng không phải để bù đắp thanh khoản ngắn hạn
tạm thời. Một số đến hạn không trả, kéo dài dây dưa, từ rủi ro kỳ
hạn dẫn đến rủi ro nguồn vốn.
Tôi luôn nhắc nhở anh em không chạy theo tăng trưởng tổng tài
sản với quy mô lớn, gây áp lực lên việc sử dụng vốn sao cho
hiệu quả, an toàn. Đồng vốn cho vay ra đi không đúng địa chỉ là
vô cùng rủi ro.
Ông là người có kinh nghiệm trong ngân hàng. Vì sao ông rút
khỏi hội đồng quản trị vào thời kỳ kinh doanh nhiều rủi ro như
thế?
Lúc bấy giờ tôi đã tham gia tổ chức được một bộ máy quản trị
điều hành mà tôi an tâm. Nhưng thực ra đó mới là ý muốn chủ
quan của mình. Trong quá trình vận động, một vài người đã tác
động không phù hợp tới chiến lược ngân hàng.
Tháng 3 năm sau nhiệm kỳ của hội đồng quản trị hiện hành
chấm dứt. Khi đó hội đồng quản trị cũ phải có báo cáo đánh giá
công việc và cổ đông sẽ là người quyết định hội đồng quản trị
mới. Các thành viên cần tự rút ra bài học, cần có tầm nhìn dài
hạn, không chạy theo lợi ích trước mắt.
ACB đã từng chạy theo lợi ích trước mắt chưa, thưa ông?
Nếu có thời điểm nào đó ngân hàng phát triển không bình
thường, có thể có lý do đặc thù kinh tế Việt Nam có sự khác
biệt. Chẳng hạn tổ chức, cá nhân có điều kiện thâm nhập, muốn
sử dụng ngân hàng cho mục đích khác. Tôi tin các cơ quan quản
lý đã nhận ra vấn đề và sẽ xác lập lại trật tự để hoạt động ngân
hàng đi vào nề nếp theo quy định của pháp luật.
Ông có nghĩ rằng một phần rủi ro liên quan đến đạo đức kinh
doanh ngân hàng?
Đạo đức kinh doanh là vấn đề lớn. Với ngân hàng, đạo đức kinh
doanh phải được đặt lên hàng đầu, đảm bảo an toàn tiền gửi của
dân và vốn của cổ đông. Trách nhiệm của ngân hàng phải kinh
doanh đúng pháp luật, đồng thời lợi nhuận kiếm được một cách
chính đáng.
Đã có bao giờ, trong một thời khắc nào đó, ông nhận ra trong
những đồng tiền lợi nhuận của ACB có đồng không chính đáng?
Lợi nhuận phải được phân phối hợp lý giữa những người tham
gia tạo ra nó. Hài hoà lợi ích của cổ đông, của khách hàng, của
nhân viên, và của cộng đồng xã hội từ đó tạo ra đồng tiền chính
đáng. Tôi nghĩ ACB đã làm đúng theo nguyên tắc này trong quá
trình kinh doanh.