Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.83 MB, 203 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>1 </small>
<b> BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ </b>
<b>HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA </b>
<b>NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>2 </small>
<b> BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ </b>
<b>HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các Viện nghiên cứu về lao động việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong công tác nghiên cứu, thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho luận án.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, chia sẻ khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận án này.
Xin trân trọng cảm ơn !
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>4 </small>
<i>Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của các giáo viên hướng dẫn. Những thông tin, dữ liệu, số liệu đưa ra trong luận án được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc. Những số liệu thu thập và tổng hợp của cá nhân đảm bảo tính khách quan và trung thực. </i>
<b> Tác giả </b>
<b>Nguyễn Thị Thùy Dương </b>
<b> </b>
<small>5 </small>
<b>Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên </b>
37
2.1 Tổng quan về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
37
<b>2.2. Lý luận quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh về </b>
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
51
<b>2.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân </b>
tỉnh về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn và giá trị tham khảo cho tỉnh Thái Nguyên
79
<b>Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh </b>
90
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><small>6 </small>
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên tác động đến quản lý nhà nước của UBND tỉnh về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
90
3.2. Tình hình lao động, việc làm nơng thơn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
99
<b>3.3. Thực trạng quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh </b>
Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
106
3.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
135
<b>Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh </b>
151
4.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước tác động đến quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
151
4.2. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh đến năm 2030
153
4.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
<b>PHỤ LỤC </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><small>7 </small>
<b>DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><small>10 </small>
<b>LỜI MỞ ĐẦU </b>
<b>1. Tính cấp thiết của đề tài luận án </b>
Ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, cùng với xu hướng đơ thị hóa ngày càng gia tăng mạnh mẽ, dân số sinh sống ở nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao, tạo nên lực lượng lao động tại nông thôn. Hiện nay ở nước ta, lao động nông thôn vẫn chiếm khoảng 30% lực lượng lao động của cả nước [48]. Lao động nông thôn là những người tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, chế biến nông sản, hoặc các ngành công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn... Đây là lực lượng lao động đóng vai trị chủ yếu sản xuất ra lương thực, thực phẩm, hàng hóa dịch vụ cung cấp cho các vùng nông thôn cũng như góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang là xu thế toàn cầu và được dự đoán sẽ tăng tốc trong những năm tới, tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của mỗi quốc gia và xóa mờ ranh giới giữa con người với máy móc, nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin, điều khiển, tự động hóa, các hệ thống rơ bốt có trí thơng minh nhân tạo sẽ thay thế con người trong nhiều cơng đoạn hoặc tồn bộ dây chuyền sản xuất, nhất là trong những ngành sử dụng nhiều lao động. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo áp lực lớn lên thị trường lao động, làm gia tăng áp lực trong việc giải quyết việc làm, phát triển thị trường lao động. Nếu khơng có giải pháp tổng thể để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao thì sẽ phải đối mặt với tình trạng dư thừa lao động và thất nghiệp, đặc biệt ở khu vực nông thôn.
Nhận thức được vai trị của lao động nơng thơn, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp, chính sách nhằm thực hiện chủ trương đa dạng hóa việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhóm đối tượng này. Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. Hệ thống chính sách việc làm, dạy nghề và giải pháp thực hiện mục tiêu hỗ trợ việc làm cho người lao động nông thôn, phát triển thị trường lao động, góp phần tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động trong nông thôn được xem là một trong những chính sách cơ bản nhất của quốc gia. Giải quyết việc làm nhằm
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><small>11 </small>
giải quyết thoả đáng nhu cầu việc làm ở khu vực nông thôn, bảo đảm cho những người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm; góp phần đảm bảo an toàn, ổn định an ninh trật tự xã hội ở khu vực nông thôn; tạo điều kiện phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cho dân cư ở khu vực nông thôn Việt Nam.
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đơng Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo Niêm giám thống kê Thái Nguyên năm 2022, tỷ lệ lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với tỷ trọng 66,5%. Những năm qua, UBND tỉnh Thái Nguyên đã triển khai đồng bộ và thiết thực các mục tiêu về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, kết nối cung cầu lao động. Tuy vậy, thị trường lao động nơng thơn của tỉnh có đặc thù là lao động khó tìm được việc làm phù hợp ngay tại địa phương [40]. Mặc dù, những năm gần đây, tỉnh tiếp nhận nhiều dự án đầu tư mới với quy mô lớn trong nhiều lĩnh vực như: điện tử, may mặc, xây dựng…, số lượng các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất đang ngày càng gia tăng, dẫn đến nhu cầu tuyển dụng lao động vào làm việc là rất lớn. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy nhiều doanh nghiệp đang gặp khó trong vấn đề tuyển dụng lao động trong khi nguồn cung lao động của tỉnh vẫn còn tương đối dồi dào. Trong khi các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển lao động nhưng vẫn khơng tuyển đủ thì ngược lại, người lao động muốn tìm việc làm nhưng vẫn khơng tìm được cơng việc phù hợp với trình độ, chun mơn và tay nghề của mình.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu” trên thị trường lao động ở các vùng nông thôn Thái Nguyên xuất phát từ công tác quản lý nhà nước. Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, song công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của tỉnh Thái Nguyên chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn. Chức năng định hướng thơng qua các kế hoạch, chương trình, đề án về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn chưa bám sát với thực tiễn thị trường. Cơng tác thực thi chính sách về giải quyết việc làm, kết nối cung cầu lao động, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tăng cường thông tin cho lao động khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, lực lượng lao động yếu thế còn nhiều hạn chế. Bộ máy quản lý nhà nước về giải quyết việc làm vẫn còn tồn tại bất cập về năng lực, trình độ cán bộ quản lý, sự phối hợp giữa các sở ban ngành… Chức
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>12 </small>
năng thanh kiểm tra và giám sát thị trường lao động nông thôn trên địa bàn cũng chưa thực sự tốt, vẫn còn để xảy ra một số tiêu cực như bóc lột sức lao động, trốn đóng bảo hiểm, chậm hoặc nợ trả lương người lao động…
Ngoài ra, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về giải quyết việc làm cho lao động nói chung, cho lao động nơng thơn nói riêng. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào tình hình việc làm và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, không tiếp cận chủ đề này dưới góc độ của quản lý cơng dựa trên 05 nội dung cơ bản: (1) Xây dựng, ban hành kế hoạch, chương trình, đề án việc làm cho lao động nơng thơn; (2) Thực thi pháp luật có liên quan đến việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nơng thơn; (3) Thực thi chính sách về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; (4) Thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; (5) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Ngồi ra, theo khảo cứu của NCS, cũng đã có một số cơng trình nghiên cứu về 1 trong 5 nội dung quản lý - chính sách giải quyết việc chính làm song cịn ít nghiên cứu mang tính đầy đủ, tồn diện về hệ thống các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động gắn kết giữa tạo việc làm, hỗ trợ tìm kiếm việc làm với đào tạo nghề nghiệp cho lao động khu vực nông thôn.
Là một cán bộ công tác trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Thái Nguyên, xuất phát từ những khoảng trống cả về lý thuyết và thực tiễn,
<i><b>tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm luận án tiến sĩ chuyên </b></i>
<i><b>2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu </b></i>
Với mục đích nghiên cứu đặt ra như trên, luận án đã xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>13 </small>
- Nghiên cứu tổng quan các cơng trình khoa học đã cơng bố có liên quan đến quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nơng thơn nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng; từ đó chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện; và xác định hướng nghiên cứu cho luận án của tác giả.
- Hoàn thiện, bổ sung khung lý thuyết quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh, cụ thể xác định chủ thể quản lý, mục tiêu quản lý, nguyên tắc quản lý và nội dung quản lý nhà nước… Khái quát kinh nghiệm quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở một số địa phương trong nước có điều kiện tương đồng; rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho UBND tỉnh Thái Nguyên.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước của UBND tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh; chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến những hạn chế đó.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh trong các năm tiếp theo.
<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án </b>
<i><b>3.1. Đối tượng nghiên cứu </b></i>
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác quản lý nhà nước của chính quyền địa phương về giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn trên địa bàn một địa phương cấp tỉnh.
<i><b>3.2. Phạm vi nghiên cứu </b></i>
<i>a) Phạm vi nghiên cứu về nội dung: </i>
- Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn được nghiên cứu trong luận án gồm: tạo việc làm; hỗ trợ tạo việc làm và cải thiện chất lượng việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn.
- Bộ máy quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thơn gồm nhiều cấp, nhiều cơ quan như: Chính Phủ, Bộ Lao động - Thương binh, Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc,… UBND cấp tỉnh, UBND huyện, thị xã, thành phố và UBND cấp xã... Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án này, xuất phát từ góc độ quản lý hành chính cơng, NCS
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><small>14 </small>
tập trung vào chủ thể quản lý nhà nước là UBND tỉnh, trong đó các cơ quan chun mơn của tỉnh (các Sở, ban ngành) thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động và việc làm trên địa bàn tỉnh.
- Nội dung quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn được nghiên cứu trong luận án này bao gồm: (1) Xây dựng, ban hành kế hoạch, chương trình, đề án việc làm cho lao động nơng thơn; (2) Thực thi pháp luật có liên quan đến việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; (3) Thực thi chính sách về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; (4) Thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; (5) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
<i>b) Phạm vi nghiên cứu về thời gian: </i>
Luận án tập trung phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2018 đến 2022 (giai đoạn trước và sau Đại dịch Covid-19), đồng thời đề xuất các giải pháp định hướng đến năm 2030.
<i>c) Phạm vi nghiên cứu về không gian: </i>
Luận án nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động đang sinh sống tại các khu vực nông thôn trên phạm vi tỉnh Thái Nguyên.
<b>4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án </b>
<i><b>4.1. Phương pháp luận </b></i>
Luận án được triển khai nghiên cứu dựa trên quan điểm về Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lao động, việc làm và vai trò của nhà nước; trên cơ sở quán triệt, vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về lý thuyết quản lý và quản lý hành
<b>chính nhà nước. </b>
<i><b>4.2. Phương pháp nghiên cứu </b></i>
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học để giải quyết những mục tiêu nghiên cứu đặt ra. Trong đó, bao gồm 2 nhóm: (1) Các phương pháp thu thập thông tin và (2) Các phương pháp xử lý thông tin.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>15 </small>
a) Các phương pháp thu thập số liệu bao gồm phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và phương pháp thu thập số liệu sơ cấp từ điều tra khảo sát.
<i>- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Các tài liệu thứ cấp thứ cấp </i>
được NCS thu thập từ các nguồn chính thống và có độ tin cậy cao như: các báo cáo của UBND tỉnh và Sở Lao động – Thương bình Xã hội tỉnh Thái Nguyên; Niên giám thống kê tỉnh Thái Ngun; các cơng trình nghiên cứu khoa học đã được cơng bố có liên quan như luận án tiến sĩ, đề tài khoa học cấp tỉnh, các bài nghiên cứu đăng trên tạp chí chuyên ngành… và một số nguồn chính thức từ các tổ chức nước ngồi như ILO, WB, ADB…
<i>- Phương pháp điều tra, khảo sát: Luận án tiến hành phát phiếu khảo sát </i>
cho 2 nhóm đối tượng:
(1) Người lao động hoạt động trong các ngành nghề ở nông thôn trên địa bàn một số xã của tỉnh Thái Nguyên, bao gồm 8 xã, thị trấn, đại diện cho 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Thái Nguyên. Cụ thể như sau: Xã Linh Sơn, (Tp. Thái Nguyên); Xã Quân Chủ (huyện Đại Từ); Thị trấn Sông Cầu (huyện Đồng Hỷ); Xã Phúc Thuận (Tp. Phổ Yên); Xã Hợp Thành (huyện Phú Lương); Xã Phúc Chu (huyện Định Hóa); Xã Vũ Chấn (huyện Võ Nhai); và Xã Lương Phú (huyện Phú Bình). Việc chọn địa điểm khảo sát tại các xã này xuất phát từ lý do số lượng lao động nông thơn chiếm tỷ trọng cao, trong khi đó hiện trạng kinh tế, việc làm ở các xã này tương đối khó khăn, cần nâng cao vai trị quản lý của nhà nước trong giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn. Số
<i>phiếu khảo sát phát ra: 325 phiếu (Xem phụ lục 1), quy mô mẫu chiếm xấp xỉ 5% tổng số lao động nông thôn trên các địa bàn khảo sát; Số phiếu thu về: 322 phiếu (Xem Phụ lục 3) </i>
(2) Cán bộ tham gia vào công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của tỉnh Thái Nguyên bao gồm: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; phòng Lao động, Thương binh và Xã hội tại 8 huyện, thị xã, thành phố nói trên; các cán bộ ở 8 xã, thị trấn thuộc địa bàn khảo sát; cán bộ công tác tại các cơ sở dạy nghề, tư vấn giới thiệu việc làm; cán bộ làm việc tại các tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức liên quan tới dạy nghề, giải quyết việc làm đối với lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Số phiếu phát ra:
<i>100 phiếu (Xem phụ lục 2) chiếm khoảng 10% tổng số cán bộ trong ngành của tỉnh; Số phiếu thu về: 87 phiếu (Xem Phụ lục 4) </i>
Số lượng phiếu điều tra đối với các địa bàn không đồng đều do phụ thuộc
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>16 </small>
vào điều kiện và khả năng của mỗi địa bàn lấy phiếu. Tuy nhiên nhìn trên bình diện tổng thể kết quả thu được đủ đại diện cho tiến hành phân tích theo nguyên tắc lựa chọn đại diện trong điều tra xã hội học. Mục đích của khảo sát nhằm đánh giá kết quả của công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của UBND tỉnh; đồng thời thu thập những tác động của công tác giải quyết việc làm đến tình trạng việc làm, thu nhập của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Các phân tích được sử dụng với mục đích tìm ra những kết quả, hạn chế, những thuận lợi, khó khăn của UBND tỉnh Thái Nguyên trong công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; đồng thời xác định về cơ hội, thách thức trong việc đạt được mục tiêu đặt ra trong giai đoạn tới.
Dữ liệu sơ cấp qua phiếu điều tra được xử lý bằng phương pháp phân tổ thống kê với phần mềm SPSS. Đối với những dữ liệu thống kê không theo tỷ lệ phần trăm, luận án sử dụng thang đo. Nếu giá trị trung bình cao hơn 3, nghĩa là nhiều người có cái nhìn tích cực với vấn đề được đánh giá; cịn nếu giá trị trung bình thấp hơn 3 có nghĩa là vấn đề đó được nhìn nhận chưa tốt lắm.
b) Các phương pháp xử lý thông tin, số liệu bao gồm: phương pháp phân tích thống kê; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp.
<i>- Phương pháp phân tích thống kê: tác giả sử dụng những công cụ xử lý </i>
dữ liệu hiện đại để phân tích đánh giá kết quả, tác động của quản lý nhà nước về việc làm đối với biến đổi tình trạng việc làm, thu nhập của lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên... Luận án cũng sử dụng phương pháp này để có căn cứ tiến hành dự báo xu hướng việc làm đối với lao động nông thôn Thái Nguyên đến 2030.
<i>- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Luận án sử dụng phương pháp này để </i>
so sánh, đối chiếu tình hình lao động, việc làm của lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên qua các năm nhằm làm rõ những vấn đề thực tiễn cần giải quyết thông qua các công cụ quản lý được tiến hành bởi chính quyền địa phương. Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, luận án hướng đến việc mô tả thực trạng việc làm của lao động nông thôn ở tỉnh Thái Nguyên theo địa bàn, theo giới tính, theo độ tuổi, theo ngành nghề thông qua bảng số liệu. Thông tin được mô tả trong những bảng thống kê này sẽ phản ánh kết quả thực thi công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn qua các năm; Những số liệu thứ cấp về giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế… cũng được đưa vào so sánh để thấy ảnh hưởng từ thực hiện công tác quản lý nhà nước đến thúc đẩy phát triển kinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17"><small>17 </small>
tế xã hội của khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
<i>- Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận án sử dụng phương pháp này để </i>
phân tích những ưu điểm, hạn chế, những cơ hội, thách thức của công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nơng thơn trên địa bàn tỉnh Thái Ngun, từ đó tìm ra phương thức phù hợp để bổ sung, hồn thiện công tác quản lý nhà nước hiệu quả và bền vững. Đồng thời, phương pháp này được sử dụng để phân tích những kinh nghiệm trong nước và quốc tế liên quan đến quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thơn, từ đó tìm hướng tiếp cận của luận án về giải quyết, hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
<b>5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu </b>
<i><b>5.1. Câu hỏi nghiên cứu </b></i>
Trong quá trình triển khai nghiên cứu luận án, NCS đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết nhằm đạt đến mục đích nghiên cứu như sau:
<i>Câu hỏi 1: Quản lý nhà nước của UBND tỉnh về giải quyết việc làm cho </i>
lao động nơng thơn là gì? Quản lý nhà nước của UBND tỉnh về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn bao gồm những nội dung nào? Các nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước của UBND tỉnh về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn?
<i>Câu hỏi 2: Trong giai đoạn nghiên cứu, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái </i>
Nguyên với các cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc của tỉnh đã triển khai công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh như thế nào? Những kết quả đã đạt được cũng như những bất cập, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước, cụ thể trên các mặt: Các kế hoạch, chương trình, đề án về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của tỉnh như thế nào? Thực tiễn thực thi chính sách, pháp luật có liên quan đến việc làm cho lao động nông thôn ra sao? Công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình giải quyết việc làm cho lao động được triển khai có hiệu quả và chặt chẽ khơng? Tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh về giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên diễn ra như thế nào?
<i>Câu hỏi 3: Căn cứ vào thực tiễn công tác quản lý nhà nước về giải quyết </i>
việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên cần tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước theo những phương hướng và giải pháp nào nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập; tạo việc làm ổn định
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small>18 </small>
và tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên?
<i><b>5.2. Giả thuyết nghiên cứu </b></i>
Nếu UBND tỉnh Thái Nguyên triển khai có hiệu quả, đồng bộ và kịp thời các giải pháp hoàn thiện 5 nội dung của quản lý nhà nước như được đề xuất trong luận án, cụ thể: Xây dựng và ban hành quy hoạch, kế hoạch, đề án về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của tỉnh phù hợp với thực tiễn và có hiệu quả; Công tác thực thi pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn hiệu lực và kịp thời; Cơng tác triển khai các chính sách về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn được nâng cao hiệu quả; Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường và nghiêm minh; Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của UBND tỉnh, Sở Lao động Thương binh Xã hội và các Sở ban ngành khác hoạt động hiệu quả và có sự phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt… thì hoạt động quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên sẽ mang lại những kết quả cao hơn, người lao động nông thôn Thái Ngun sẽ có cơ hội tìm kiếm việc làm đầy đủ, phù hợp với trình độ khả năng và mang lại thu nhập ổn định, thực hiện xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn bền vững.
<b>6. Những đóng góp mới của luận án </b>
<i><b>6.1. Về lý luận </b></i>
Kết quả nghiên cứu của luận án đã bổ sung những luận cứ khoa học để hoàn thiện khung lý thuyết quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn;
Luận án đã xây đựng được khung lý thuyết hoàn chỉnh về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn;
Luận án đề xuất khung đánh giá thông qua các mẫu phiếu khảo sát để phân tích và xem xét kết quả của cơng tác quản lý nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
<i><b>6.2. Về thực tiễn </b></i>
Luận án sau khi hồn thành có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu một bức tranh tổng thể về kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm đối với lao
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>19 </small>
động nông thôn Thái Nguyên trong thời gian 2018-2022; cung cấp thêm thông tin từ thực tiễn nghiên cứu để các nhà khoa học có định hướng tham mưu cho Đảng và Nhà nước xây dựng cơ chế quản lý phù hợp về hỗ trợ tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng và khu vực phía Bắc nói chung định hướng đến năm 2030.
Luận án nghiên cứu bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế về quản lý nhà nước đối với giải quyết việc làm cho người dân nông thôn, điều này cung cấp thêm luận cứ cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý ở địa phương xác định mơ hình và cách thức phù hợp trong giải quyết việc làm đối với lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Những đánh giá có tính hệ thống của Luận án về kết quả quản lý nhà nước về giải quyết việc làm đối với lao động nông thôn ở tỉnh Thái Nguyên trong 5 năm từ 2018-2022 cũng như việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân sẽ giúp xác định được phương hướng, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên trong những năm tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của Luận án là tài liệu hữu ích, có thể sử dụng để tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các lĩnh vực liên quan thuộc chun ngành quản lý cơng, chính sách công, quản lý kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn ... ở các trường cao đẳng, đại học, các viện nghiên cứu ở các địa phương khác và trên phạm vi cả nước.
<b>7. Cấu trúc của luận án </b>
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án có kết cấu gồm 4 chương:
<i><b>Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước của </b></i>
UBND tỉnh đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
<i><b>Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái </b></i>
Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
<i><b>Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Ủy </b></i>
ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><small>20 </small>
<b>CHƯƠNG 1 </b>
<b>TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CĨ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO </b>
<b>LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN </b>
Trong những năm qua, vấn đề việc làm, thu nhập của người lao động cũng như chất lượng cuộc sống của người lao động là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan nghiên cứu cũng như của các doanh nghiệp và người dân để hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ về phát triển bền vững, phù hợp với định hướng kinh tế thị trường XHCN... Chính vì vậy, các nghiên cứu về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động là một chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, đặc biệt từ đầu những năm 2000 khi Đảng và Nhà nước ngày càng chú trọng hơn đến chất lượng, vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội trên cả nước. Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, chưa có nhiều cơng trình nghiên cứu, tìm hiểu sâu vào hoạt động quản lý Nhà nước đối với vấn đề này.
Trong quá trình triển khai nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh đã tiếp cận một số lượng tài liệu dưới dạng: giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài tham luận kỷ yếu hội thảo trong nước, quốc tế và rất nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành,… có chủ đề liên quan đến quản lý nhà nước về việc làm, giải quyết việc làm, hỗ trợ và tạo việc làm cho người lao động, lao động nông nghiệp, nông thôn. Về cơ bản, tất cả các công trình nghiên cứu mà tác giả thu thập và tìm hiểu được có liên quan đến luận án tập trung vào 3 nhóm sau:
(1) Tình hình nghiên cứu về lao động, việc làm khu vực nơng thơn
(2) Tình hình nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao động nơng thơn nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
(3) Tình hình nghiên cứu quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thơn
Dưới đây, NCS tổng quan lại nội dung chính của các cơng trình đã thu thập và tìm hiểu được, và trên cơ sở đó, đánh giá mức độ có thể tham khảo cho luận án của tác giả cũng như những khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu.
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><small>21 </small>
<b>1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thơn </b>
<i><b>1.1.1. Tình hình nghiên cứu về lao động, việc làm khu vực nơng thơn </b></i>
<i>a) Các cơng trình nghiên cứu nước ngoài </i>
Theo định nghĩa của tổ chức Lao động quốc tế (ILO, 2008), việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật. Việc làm đối với mỗi người lao động, được làm việc gắn với từng công việc cụ thể, khơng chỉ tồn tại mà cịn là sự hồn thiện bản thân. Đối với xã hội, việc làm tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ góp phần cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. “Việc làm có thể định nghĩa như một thực trạng, trong đó có sự trả cơng bằng tiền hoặc hiện vật do có sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” (ILO 2014). “Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” (ILO 2014). Như vậy, việc làm được bắt nguồn từ lao động của con người (tất nhiên là chỉ ở những người có sức lao động) thông qua công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động nhằm tạo ra của cải vật chất, việc làm luôn gắn với một ngành nghề nhất định.
Đối với hộ gia đình nơng dân, trước sức ép từ sự biến đổi xã hội, để tồn tại, nông dân không chỉ thực hiện các việc làm trong nông nghiệp mà còn tiến hành các hoạt động việc làm liên quan đến kinh tế phi nông nghiệp. Thực tế chứng minh các hoạt động phi nông nghiệp được nông dân các nước có nền kinh tế chuyển đổi đóng góp từ 20-70% thu nhập của lao động nông thôn (Adams, 2001; Benjamin, 1992; De Brauw và những tác giả khác, 2002; De Brauw và Rozelle, 2008; Wang, Herzfeld, và Glauben, 2007; Yu và Zhao, 2009). Nói cách khác, để đảm bảo tài chính chi tiêu cho đời sống thì người nơng dân ngồi thời gian làm nơng nghiệp, cịn tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, và dịch vụ khác. Ngoài các khoản tiền thu được từ sự tham gia của người lao động vào thị trường lao động người dân nói chung, nơng dân nói riêng cịn có được thu nhập từ các khoản cho thuê tài sản, các khoản chuyển khoản từ lao động di cư…
<i>Unemployment duration and employability in remote rural labour markets (Thất nghiệp và khả năng tuyển dụng trên thị trường lao động nông thôn), Martin M. & Ronald W.M. (2003) [80]. Nghiên cứu đã phân tích những </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22"><small>22 </small>
hàng rào tìm kiếm việc làm của những người thất nghiệp ngắn và dài hạn ở thị trường lao động nông thôn. Nghiên cứu xác định một số vấn đề về tìm việc cụ thể và cơng việc khác mà người thất nghiệp sống ở cộng đồng người sử dụng lao động (cầu lao động) và thảo luận về các chính sách tiềm năng để giải quyết nhu cầu của những cá nhân thất nghiệp. Những giải pháp toàn diện và khách hàng làm trung tâm được yêu cầu để giải quyết các rào cản đối với những người tìm việc ở nơng thơn, bao gồm cung cấp người lớn giáo dục cơ bản, đào tạo linh hoạt tập trung vào kỹ năng và kinh nghiệm làm việc với sự liên quan cụ thể đến các ngành nghề kinh tế nông thôn mới và các dịch vụ hỗ trợ chính thức cho người tìm việc trong khu vực cơ lập. Đối với chính sách về cung lao động cần kết hợp với những biện pháp kích cầu để khuyến khích sự phát triển
<i>nội sinh và ngoại sinh ở khu vực nông thôn tách biệt. </i>
<i>Discussion in rural labour in development Economics (Bàn luận về lao động nông thôn trong kinh tế phát triển), Harry Toshima (2009) [70] nghiên </i>
cứu đặc điểm cơ bản của nền kinh tế châu Á với mục tiêu là thay đổi nền kinh tế từ chỗ sử dụng không hết lao động tiến tới tận dụng hết lao động ở mức độ cao qua 3 giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Ông đưa ra lý thuyết tăng trưởng của các nước kinh tế gió mùa. Theo ơng, mơ hình tăng trưởng của Lewis khơng có ý nghĩa thực tế với tình trạng dư thừa lao động trong nơng nghiệp gió mùa. Bởi vì nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong các đỉnh cao thời vụ và chỉ thừa lao động trong mùa nhàn rỗi. Trong mơ hình này, sự phát triển được bắt đầu bằng việc vẫn giữ lại lao động trong nông nghiệp và chỉ tạo thêm những hoạt động mới...
<i>b) Các cơng trình nghiên cứu trong nước </i>
<i>Phát triển việc làm gắn với việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn - thành thị, Lê Xuân Bá (2008) [15]. Tác giả đã phân tích phát triển việc làm gắn </i>
với việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn - thành thị ở cấp độ địa phương. Nghiên cứu đưa ra những kết luận: Tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc làm không phải lúc nào cũng cùng chung một tốc độ; thách thức về việc làm nói chung và chuyển đổi cơ cấu lao động nơng thơn - thành thị nói riêng thường có thể thấy rõ hơn ở cấp tỉnh, nơi gặp nhiều khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Từ đó, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị chính sách: Thúc đẩy các hoạt động phi nông nghiệp; phát triển hạ tầng; phát triển doanh nghiệp trên cơ sở phát triển sản xuất và tự tạo việc làm...
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Ngoài ra, một số nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội... đều cho thấy xu hướng phát triển của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ; chỉ ra các nguồn lực cho sự phát triển, những cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển của khu vực nơng thơn Việt Nam; những kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa của một số địa phương; đồng thời đưa ra các giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy phát triển khu vực nơng thơn Việt Nam.
<i><b>1.1.2. Tình hình nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao động nơng thơn nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên </b></i>
Hầu hết, các cơng trình nghiên cứu tiếp cận đến vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nói chung và lao động nơng thơn nói riêng trên 2 khía cạnh: (1) Hỗ trợ lao động tự tạo việc làm; (2) Trực tiếp, gián tiếp tạo công ăn việc làm cho người lao động. Phần tiếp theo, nghiên cứu sinh hệ thống hóa những tài liệu nghiên cứu thuộc nhóm này như sau:
<i>a) Tình hình nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn “Youth unemployment in rural areas” (Việc làm cho thanh niên nông thôn), Fred C. & Andy F. (2000) [69] đã chỉ rõ q trình phát triển kinh tế khu </i>
vực nơng thơn đang tạo ra thời kỳ thất nghiệp, thiếu việc làm đối với thế hệ trẻ do nhiều nguyên nhân mang tính khách quan và chủ quan của q trình phát triển kinh tế xã hội trong khu vực này. Việc ứng dụng khoa học công nghệ làm giảm thời gian lao động và số lượng lao động nhưng lại tăng năng suất lao động dẫn đến tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nơng thơn là điều tất yếu; thêm vào đó những lao động nông thôn với trình độ chun mơn và các kỹ năng nghề nghiệp thấp thì khả năng chủ động tạo việc làm, tái hoà nhập thị
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><small>24 </small>
trường lao động sau khi mất việc bởi khủng hoảng và suy thối kinh tế khơng cao, làm thời gian thất nghiệp kéo dài. Nghiên cứu nhấn mạnh định hướng chính sách chuyển đổi nghề đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm đối với lao động trẻ nông thôn là vấn đề cần sự quan tâm, hỗ trợ của cả chính quyền trung ương, địa phương. Tuy nhiên để định hướng này phát huy hiệu quả thì cần có sự nỗ lực từ phía người lao động để nhanh chóng tái hoà nhập với thị trường lao động.
<i>“Agricultural Growth, Employment and Poverty: A Policy Perspective” (Tăng trưởng, việc làm và nghèo đói trong nơng nghiệp: Triển vọng chính sách), Bollman R.D. và Bryden J.M (2002) [64] dựa trên nghiên cứu kinh </i>
nghiệm từ một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canađa, Na Uy và Phần Lan chỉ ra rằng, trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, nhiều lao động ở khu vực nông thơn chuyển đổi nghề với mong muốn tìm được việc làm với thu nhập tốt hơn và điều kiện làm việc phù hợp hơn. Tuy nhiên thói quen về môi trường sống, phong tục và điều kiện ăn ở cũng như sinh hoạt làm một bộ phận người lao động khơng có ý định rời khỏi khu vực nơng thôn hay ngừng tham gia các hoạt động nông nghiệp. Thêm vào đó, việc đảm bảo an ninh lương thực cũng có vai trị rất quan trọng trong q trình phát triển kinh tế, việc thực hiện mục tiêu này cần phải có một lực lượng lao động nhất định. Chính vì vậy các chính sách về việc làm đối với lao động nơng nghiệp, nơng thơn trong q trình tồn cầu hố hội nhập kinh tế quốc tế đang nhận được quan tâm thoả đáng từ chính phủ các quốc gia.
<i>“Rural unemployment pushes migrants to urban areas” (Thất nghiệp lao động nông thôn thúc đẩy di dân ra thành thị) Martin M. & Ronald W.M. </i>
(2003) [80] cũng đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngắn và dài hạn ở thị trường lao động nông nghiệp, nơng thơn. Theo đó, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động ở khu vực nông thôn bắt nguồn từ nhu cầu về lao động trong khu vực nông nghiệp, về quan điểm phát triển kinh tế nông thôn của từng khu vực, cũng như năng lực của người lao động khi tham gia vào thị trường lao động ngồi khu vực nơng nghiệp. Nghiên cứu này cũng đề cập đến các hoạt động mà chính quyền địa phương thực hiện nhằm hỗ trợ người lao động nông thơn nâng cao trình độ lao động, nâng cao kỹ năng nghề và thực hiện tư vấn giới thiệu việc làm nhằm khuyến khích lao động nơng nghiệp, nơng thơn chủ động tìm kiếm cơ hội tham gia thị trường lao động. Bên cạnh trao đổi khuyến nghị chính sách đối với chính quyền địa
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><small>25 </small>
phương, nghiên cứu này còn đưa ra những khuyến nghị đối với đơn vị sử dụng lao động, các cơ sở đào tạo nghề… nhằm phối kết hợp nhiều bên liên quan để giải quyết vấn đề việc làm đối với lao động nơng thơn nói chung và nơng dân nói riêng.
<i> “Agriculture and Employment” (Nông nghiệp và việc làm), Jurger </i>
Fechter (2012) [76] đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực nông thôn đối với việc làm và sự thịnh vượng. Tác giả khẳng định vấn đề tự tạo việc làm của người lao động không chỉ gây ra hiệu ứng lây lan, ảnh hưởng đến mức sống của nhiều cá nhân, mà cịn tác động đến ổn định quốc gia. Chính vì thế, các chính sách tự tạo việc làm là cần thiết. Tuy nhiên, mỗi cá nhân, mỗi người lao động có hồn cảnh khác nhau khi tham gia vào thị trường lao động. Tự tạo việc làm đối với người lao động có nhiều điểm khác biệt so với việc người lao động tham gia cung ứng sức lao động trên thị trường. Việc làm do người lao động tự tạo ra không chỉ phụ thuộc vào năng lực của bản thân người lao động, về giới tính của người lao động, nhu cầu làm việc và hoàn cảnh kinh tế - xã hội gia đình của họ mà cịn phụ thuộc vào cơ chế chính sách tạo việc làm mà nhà nước đem đến cho người lao động, vào chất lượng từ hoạt động hướng nghiệp, đào tạo mà họ là đối tượng thụ hưởng cũng như từ nhu cầu sử dụng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ mà họ cung ứng trên thị trường. Các chính sách tự tạo việc làm cho người lao động sẽ không thành công nếu không giải quyết cùng lúc 4 nội dung này. Điều này được thể hiện tương đối rõ nét khi tiến hành tổng quan các cơng trình nghiên cứu sau:
<i>“Nghiên cứu dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố và đơ thị hoá”, Lê Xuân Bá (2012) [16] khẳng định việc làm </i>
của người lao động chia thành 2 hình thức “việc làm công ăn lương” và “việc làm tự tạo”. Để giải quyết việc làm cho người lao động, nhà nước cần hiểu đặc điểm nhu cầu của những nhóm đối tượng lao động khác nhau để đưa ra những chính sách hỗ trợ việc làm cho phù hợp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động việc làm ở nông thôn nước ta. Tác giả nhận định tự tạo việc làm của người lao động là quá trình họ tự tạo ra, chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện các hoạt động lao động đem lại nguồn thu nhập hợp pháp, mà với những hoạt động này người lao động tự đầu tư chi phí và hưởng tồn bộ lợi nhuận thu được ứng với chi phí họ đầu tư.
<i>Báo cáo phát triển Việt Nam về xây dựng lực lượng lao động cho một nền </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><small>26 </small>
<i>kinh tế thị trường, Ngân hàng thế giới (2013) [30] cho thấy, điều kiện cần để </i>
phát triển thị trường lao động cho người dân nông thôn là tiếp cận các nguồn vốn sinh kế (gồm vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn tài nguyên). Chẳng hạn, tại khu vực Tây Nguyên, người dân tộc thiểu số có những lợi thế so sánh về nguồn lực đất đai, nguồn lực về vốn tài nguyên. Thêm vào đó, do đặc điểm văn hoá, phụ nữ ở khu vực này có tính cần cù, chịu khó học hỏi và tham gia vào các dự án, chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế trên địa bàn. Chính vì thế việc triển khai các dự án hỗ trợ đào tạo phát triển trồng trọt, chăn nuôi, phát triển các ngành nghề truyền thống... gắn với điều kiện kinh tế xã hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số đã góp phần giúp cho các hộ gia đình dân tộc thiểu số mà nữ giới làm chủ hộ ở các tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Ngãi & Quảng Nam trên địa bàn Tây Nguyên có những chuyển biến tích cực về kinh tế.
<i>“Sinh kế vùng cao - Một số nghiên cứu điểm về phương pháp tiếp cận mới”, Triệu Văn Hùng (2013) [24] nhấn mạnh kết quả thực hiện chính sách tự </i>
tạo việc làm thông qua các hỗ trợ về nguồn lực xã hội, nguồn lực tài chính… để cải thiện sinh kế đối với đồng bào vùng cao và dân tộc ít người tất yếu phải dựa trên nguyên tắc phát huy tiềm năng tại chỗ về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội gắn với đặc điểm người lao động trong vùng. Để giải quyết việc làm cho lao động nơng thơn trong q trình CNH-HĐH đất nước, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình, dự án, chính sách nhằm hỗ trợ chuyển đổi nghề đối với nhóm đối tượng lao động này.
<i>“An analysis on effects of Unemployment on rural Youth” (Phân tích ảnh hưởng của thất nghiệp đến lao động trẻ nông thôn), Kang C. & Dannet L. </i>
(2013) [77] chỉ ra những chính sách của chính quyền trung ương và việc triển khai chính sách của chính quyền địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến nâng cao năng suất lao động, cơ hội việc làm từ đó nâng cao thu nhập cho lao động trẻ làm việc ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc phát triển những ngành kinh tế phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn nhằm tăng hiệu quả của hoạt động sản xuất nơng nghiệp. Nói cách khác, việc phát triển chuỗi giá trị liên quan đến sản xuất nông nghiệp là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế nông thôn. Hoạt động của chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp không chỉ hỗ trợ việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nơng sản mà cịn tạo ra những cơ hội việc làm cho những lao động đang làm theo mùa vụ trong nông nghiệp, những lao động chuyển đổi
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>27 </small>
nghề… nhưng vẫn duy trì được lực lượng lao động trong khu vực nơng thơn, khơng để xảy ra tình trạng thiếu vắng lao động chủ lực ở khu vực này do phải di cư tìm việc làm nơi đơ thị.
Thơng qua chính sách phát triển du lịch cộng đồng nông nghiệp, nhiều người dân vùng nông thôn đã tự tạo việc làm phù hợp. Đây là kết quả nghiên cứu của ILO (International Labour Organisation - 2014) khẳng định trong
<i>nghiên cứu “Recruitment practices and seasonal employment in Agriculture” (Thực tiễn tuyển dụng và việc làm mùa vụ trong nông nghiệp). Những ngơi </i>
làng ở miền bắc Thái Lan nơi có điều kiện ưu đãi về thiên nhiên, là điểm đến yêu thích của nhiều du khách bản địa và quốc tế. Xuất phát từ nhu cầu tham quan du lịch, chính quyền địa phương đẩy mạnh quảng bá phát triển du lịch cộng đồng nông nghiệp, thu hút sự thăm quan của du khách. Để phát triển du lịch khu vực nơng thơn, chính quyền địa phương đã chủ động khuyến khích và có những chính sách hỗ trợ các hộ gia đình trong khu vực phát triển những ngành nghề phụ trợ phục vụ trực tiếp, gián tiếp loại hình du lịch này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nhiều hộ gia đình đã tận dụng hoạt động phát triển du lịch để phát triển các loại hình hoạt động có liên quan đến nơng nghiệp nhằm tối đa hóa việc sử dụng đất.
Ngồi ra, có nhiều nghiên cứu trong nước, đánh giá nhiều góc độ khác nhau liên quan đến giải quyết việc làm cho lao động nông thơn trong q trình
<i><b>chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay như nghiên cứu của Đỗ Hồi Nam (Chính </b></i>
<i>sách việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh di dân - Nghiên cứu tại </i>
<i><b>một số tỉnh Bắc Trung bộ - 2015), Hoàng Tú Anh (Giải quyết việc làm cho lao </b></i>
<i>động nông thôn trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng - 2012), Mai Ngọc Cường (Đánh giá chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và đảm bảo dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân nông thôn - 2016), Nguyễn Thị Lan Hương (Lao động nông nghiệp nông thôn, an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô - 2010), Mai Ngọc Anh (Tách biệt xã hội về kinh tế đối với nông dân Việt Nam - 2013) … </i>
Những nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, lao động nông thôn làm thuê tập trung vào các khía cạnh để giải quyết việc làm cho nhóm đối tượng này cụ thể như sau: (i) bản thân người lao động với các đặc điểm về nhu cầu làm việc, về năng lực bản thân, về hoàn cảnh kinh tế - xã hội gia đình…; (ii) cơ chế chính sách và tổ chức thực thi, giám sát các hoạt động tạo việc làm mà nhà nước đem đến cho người lao động; (iii) các hoạt động hướng nghiệp, đào tạo và giới thiệu việc làm cho người lao động; (iv) cung cầu
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28"><small>28 </small>
trên thị trường lao động trong nông nghiệp, ở địa bàn nông thôn, thành thị; (v) các vấn đề kinh tế xã hội phát sinh từ giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng cơng nghiệp hố - hiện đại hố… Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước một lần nữa khẳng định để thành công trong giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam phải giải quyết cùng lúc nhiều vấn đề.
Để giúp người nơng dân thốt nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống thì việc Chính phủ hỗ trợ người lao động nói chung, lao động nơng thơn nói riêng chủ động tiếp cận tới thị trường lao động để có được việc làm thu nhập là điều hết sức quan trọng. Thời gian vừa qua để thực hiện mục tiêu giảm nghèo nói chung, nghèo đối với những địa bàn khó khăn, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình, dự án, chính sách để giúp người nghèo, người nơng dân nơng thơn từng bước thốt nghèo thơng qua hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ đào tạo tay nghề… nhằm giải quyết việc làm cho nhóm đối tượng này. ActionAid và Oxfam (2014) khẳng định đến nay, người lao động nông thôn đã ở một trình độ phát triển cao hơn so với trước do đó nhu cầu của họ đã mở rộng hơn và hướng đến chất lượng cuộc sống tốt hơn. Nghèo đối với người dân nông thôn không chỉ liên quan đến thu nhập mà còn liên quan đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hiện nay, khi Chính phủ ban hành Quyết định 59/2015/QĐ-TTg về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, thì việc rà sốt, đánh giá lại các kết quả của quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động nông thơn các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của nhóm đối tượng này để đưa ra những khuyến nghị phù hợp trong tình hình mới là hợp lý và cần thiết.
<i>“Tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, </i>
Hồ Thị Diệu Ánh (2015) [14] LATS Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã nghiên cứu quá trình tự tạo việc làm đối với lao động nơng thơn trong q trình phát triển kinh tế xã hội theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, gia tăng số lượng và tỷ trọng lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Luận án đã xây dựng mơ hình các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động nông thôn cũng như xem xét các yếu tố cá nhân người lao động, các yếu tố chính sách của địa phương… có ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tự tạo việc làm của lao động nơng thơn trong q trình dịch chuyển kinh tế xã hội trên địa bàn. Luận án khẳng định đẩy mạnh đổi mới cơ chế chính sách, đa dạng hóa các dịch vụ tài chính, nâng cao khả năng chia sẻ thơng tin từ
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><small>29 </small>
các tổ chức đoàn thể địa phương sẽ tác động mạnh mẽ đến tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
<i>“Giải quyết việc làm lúc nông nhàn cho lao động nông thôn”, Nguyễn </i>
Văn Thắng (2015) [43] đã chỉ ra việc chuyển đổi nghề của thanh niên vùng thu hồi đất ở Hà Nội phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức cũng như trình độ của đối tượng thanh niên; các hoạt động triển khai chính sách trên địa bàn cịn nhiều bất cập, ảnh hưởng của nó đến q trình chuyển đổi nghề của thanh niên chưa thật sự rõ ràng. Nghiên cứu này do đó gợi ý những nghiên cứu sâu hơn về các phương thức triển khai hoạt động để đạt được mục tiêu đề ra của chính sách.
<i>“Giải quyết việc làm cho lao động Việt Nam trong bối cảnh cơng nghiệp hóa nơng nghiệp, đơ thị hóa nông thôn”, Nguyễn Thị Thu Trà, Luận án tiến sĩ </i>
(2016) [51] đã chỉ ra, quá trình thu hồi đất nơng nghiệp phục vụ mục tiêu cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng thơn đã làm tăng số người bị mất việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp ở nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu của đề tài, trung bình mỗi ha đất bị thu hồi, thì có 13 lao động nơng nghiệp rơi vào tình trạng mất việc làm; mỗi lao động nông thôn bị thu hồi đất có khoảng 1,5 lao động rơi vào tình trạng mất việc làm. Nghiên cứu khẳng định, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều biện pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động có đất bị thu hồi như hướng nghiệp, giới thiệu cơ hội việc làm… Tuy nhiên, việc chuyển đổi nghề đối với người lao động nông nghiệp, nhất là lớp người cao tuổi là rất khó khăn; các doanh nghiệp ở địa phương chưa mặn mà trong tuyển dụng lao động trên địa bàn và nhiều người phải di cư ra thành phố tìm việc làm tại các khu đơ thị, khu cơng nghiệp… Các địa phương có đất bị thu hồi chưa có những phản ứng chính sách kịp thời để giải quyết việc làm tại chỗ cũng như hỗ trợ lao động tìm kiếm việc làm mới nơi đơ thị khi khơng cịn đất nơng nghiệp cũng là những nội dung được đề cập trong nghiên cứu này.
<i>Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), Tạp chí Mặt trận [35] đã cho rằng: Trong những năm qua, Đảng và </i>
Nhà nước ta hết sức quan tâm giải quyết việc làm cho lao động nông thơn. Điều đó được thể hiện ở nhiều chính sách như chính sách đất đai, chính sách tín dụng nơng thơn, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và đa dạng hoá sản phẩm nơng nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn... Mặc dù vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn đã được tiến hành nhưng nhìn chung vẫn cịn chậm và cịn nhiều bất cập. Do nền kinh tế nói chung và kinh tế nơng nghiệp nói riêng cịn
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30"><small>30 </small>
chậm phát triển, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm nên chưa tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thơn. Do q trình đơ thị hóa đang diễn ra ngày càng nhanh chóng nên ở nhiều vùng nông thôn nước ta, nông dân bị thu hồi đất nơng nghiệp; trong khi đó, trình độ của lao động nơng nghiệp cịn hạn chế tỉ lệ lao động nơng thơn khơng có việc làm, thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng. Hơn nữa, cơng tác đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn được triển khai còn chậm. Ở nhiều bộ, ngành, địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, khơng phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Những hạn chế đó đang làm cản trở đến việc tạo việc làm cho lao động nông thôn nước ta thời gian qua.
<i>Strathocona (Local employment Policy Area Agricultural Impact Assessment - 2019) [84] trong nghiên cứu của mình đã trao đổi về lao động </i>
nơng nghiệp và đánh giá chính sách của chính quyền địa phương về lao động trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển kinh tế. Nghiên cứu này dựa trên các dữ liệu sơ cấp để kiểm tra, đánh giá cơ hội việc làm, thu nhập ở những khu vực nông thôn. Dữ liệu thống kê cho thấy, xu thế tất yếu của việc di cư tìm việc làm ngồi lĩnh vực nơng nghiệp, ngồi khu vực nơng thơn. Tuy nhiên ở các vùng miền khác nhau, sự phát triển của các ngành kinh tế cũng có sự khác biệt bởi yếu tố tự nhiên cũng như điều kiện nguồn nhân lực. Tác giả đưa ra những trao đổi liên quan đến định hướng việc làm dựa trên tiềm năng phát triển của từng khu vực. Chính sách việc làm theo quan điểm của tác giả gắn với chiến lược phát triển kinh tế của từng khu vực mà chiến lược kinh tế lại đi cùng với lợi thế so sánh về địa chính trị của mỗi địa phương.
<i>b) Tình hình nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên </i>
Trong quá trình tìm hiểu về chủ đề của luận án, NCS đã tìm thấy một số ít các cơng trình khoa học viết về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở tỉnh Thái Nguyên, đặc biệt có một vài cơng trình đã nghiên cứu trực diện về lao động ở khu vực nông thôn trên địa bàn.
<i>Nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên, Triệu Đức Hạnh (2013) [25]. Thông qua các bảng số </i>
liệu thu thập được, tác giả đã nêu bật 10 đặc điểm chính của lao động việc làm tỉnh Thái Nguyên như sau: (1) Dân số nông thôn chiếm tỷ lệ cao, cơ cấu lao động trong độ tuổi sống ở khu vực nông thôn khá lớn; (2) Dịch chuyển lao
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><small>31 </small>
động từ nông thôn ra thành thị có xu thế tăng chậm; (3) Lao động có việc làm chiếm tỷ lệ khá cao, lao động làm việc trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm phần đa số. Xu thế lao động làm việc trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản không giảm; (4) Lao động nông thôn trong độ tuổi hoạt động kinh tế chiếm tỷ lệ lớn; (5) Lao động nông thôn có trình độ thấp, phần lớn chưa qua đào tạo; (6) Lao động nông thôn chưa sử dụng hết thời gian làm việc, thời gian rảnh rỗi khá lớn, việc tận dụng thời gian rảnh rỗi mang tính tự phát và không ổn định; (7) Năng suất lao động thấp, thu nhập bình quân thấp, một số chưa đạt mức tối thiểu và có xu hướng tăng nhẹ; (8) Tỷ lệ lao động có thu nhập ở mức nghèo và cận nghèo khá cao, lao động có thu nhập trung bình chiếm đa số; (9) Nhận thức của người dân về bảo hiểm còn hạn chế, tỷ lệ tham gia rất thấp, tiềm năng phát triển rất lớn đặc biệt là bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế; (10) Mối quan hệ 3 bên lỏng dần từ trên xuống dưới, vai trò đại diện cho người lao động của các tổ chức hiệp hội chưa rõ nét. Dựa trên thực trạng về lao động và việc làm ở khu vực nông thôn Thái Nguyên, tác giả đã đánh giá tính chất bền vững về việc làm của lao động nông thôn dựa trên 10 tiêu chí và bằng phương pháp RDWI vùng nghiên cứu. Kết quả tính tốn chỉ số cho thấy việc làm lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên chưa đạt chuẩn bền vững.
<i>Giải quyết việc làm nhằm tăng thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Phạm Thị Hải Xuân (2014) [63]. Nghiên cứu cho thấy tình </i>
trạng thiếu việc làm của các hộ nông dân Thái Nguyên là khá gay gắt, tỷ suất sử dụng thời gian lao động thấp. Nguyên nhân của thực trạng trên là do các hộ nông dân thiếu vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, diện tích đất canh tác bình qn hộ thấp, cơ cấu kinh tế trong nơng thơn cịn lạc hậu, giao thơng cịn khó khăn, trình độ dân trí còn hạn chế. Nghiên cứu đã chỉ rõ những hộ có thu nhập khá có tỷ suất sử dụng thời gian lao động cao hơn các hộ khác do họ có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Hướng sản xuất của hộ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc làm của hộ, các hộ thuần nông có tỷ suất sử dụng thời gian lao động thấp nhất. Điều này cho thấy phân cơng lao động trong nơng thơn có vai trị quan trọng trong giải quyết việc làm trong nơng thôn. Tác giả đã dùng hàm Cobb-Douglas đánh giá tác động của các nhân tố đến thu nhập của hộ nông dân và nhận thấy các yếu tố như: số lao động của hộ, số ngày công lao động của hộ, vốn đầu tư của hộ, hướng sản xuất của hộ, diện tích canh tác của hộ, trình độ văn hóa của chủ hộ, dân tộc của chủ hộ có ảnh hưởng
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><small>32 </small>nhiều đến thu nhập của hộ.
Từ phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động nông thôn, tác giả Phạm Xuân Hải đưa ra 3 nhóm giải pháp cụ thể nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn phù hợp với điều kiện cụ thể của Thái Nguyên. (1) Nâng cao chất lượng nguồn lao động nông thôn: Linh hoạt trong việc sử dụng nguồn nhân lực cho đào tạo lao động nông thôn. Tăng cường đầu tư nâng cấp các cơ sở dạy nghề, nghiên cứu kỹ nhu cầu học nghề của lao động nơng thơn, có chế độ ưu tiên đối với học sinh sinh viên các trường đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp và phát triển nông thơn, giúp lao động nơng thơn tự tin, có ý chí vươn lên khơng ỷ lại. (2) Giải quyết việc làm nhằm tăng thu nhập của hộ nông dân: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thơn theo hướng tồn diện và hợp lý; Cho nông dân vay vốn kết hợp với công tác khuyến nơng. Có kế hoạch sử dụng hợp lý các nguồn tài ngun có sẵn trong nơng thôn. Giới thiệu và quản lý chặt chẽ lao động trong các khu công nghiệp cũng như hoạt động xuất khẩu lao động. Đẩy mạnh việc xây dựng các hợp tác xã sản xuất và dịch vụ trong nông thôn. Từng bước thực hiện sự liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa doanh nghiệp và hộ nông dân. (3) Nhóm giải pháp riêng cho từng vùng: Đối với các
<i>huyện miền núi phía Bắc của tỉnh: Ưu tiên phát triển cây nông nghiệp lâu </i>
năm, các loại cây trồng vật nuôi đặc sản. Đối với vùng phía Nam ưu tiên phát triển cây hàng năm, chăn ni lợn, gia cầm và thủy sản. Vùng phía Nam từng bước phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
<i>Thực trạng công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động ở Tỉnh Thái Nguyên hiện nay, Nguyễn Thị Thu Phương, Ngô Thị Tân Hương </i>
(2018) [37]. Nghiên cứu đã khẳng định trong những năm qua, công tác đào tạo nghề và tạo việc làm ở tỉnh Thái Ngun có những chuyển biến tích cực: Các ngành chức năng trong tỉnh không ngừng đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động bằng các hình thức: tổ chức hội chợ việc làm, tư vấn giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động... nhằm cung cấp những thông tin về thị trường lao động cho người lao động và người sử dụng lao động; Tham vấn cho người lao động và người sử dụng lao động thực hiện được các hợp đồng, giao dịch một cách chính thống qua các trang tin điện tử của cơ quan Nhà nước hoặc có sự quản lí, giám sát của Nhà nước, tránh tình trạng người dân bị lừa đảo, mất niềm tin trong các giao dịch việc làm. Tỉnh Thái Nguyên cũng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích nhằm giải quyết việc làm cho
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><small>33 </small>
người lao động. Thông qua hệ thống các Ngân hàng Chính sách xã hội tại các địa phương, nhiều đối tượng được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, tạo ra hàng nghìn việc làm mới. Cùng với công tác giải quyết việc làm tại chỗ, tỉnh Thái Nguyên cũng rất chú trọng tới công tác xuất khẩu lao động. Tỉnh Thái Nguyên luôn đẩy mạnh tuyên truyền về xuất khẩu lao động bằng nhiều hình thức như phát tờ rơi, in những thông tin cần thiết về trình độ tay nghề, cơng việc làm, nước đến làm việc và thu nhập hàng tháng. Đặc biệt, chính quyền các địa phương cùng với ngành Lao động - Thương binh và xã hội theo dõi, nắm bắt thông tin thường xuyên của người lao động làm việc ở nước ngoài, cũng như liên lạc với gia đình, với đơn vị đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nhằm tạo sự gắn bó, trách nhiệm trong phối hợp giải quyết các vấn đề khó khăn về thủ tục pháp lí, cũng như những sự cố xảy ra ngoài ý muốn. Đặc biệt, để nâng cao chất lượng lao động, tăng dần tỉ lệ lao động đã qua đào tạo đi làm việc ở nước ngoài, nhiều doanh nghiệp tuyển lao động tại Thái Nguyên đã quan tâm đến việc chủ động hợp tác, đặt hàng các cơ sở dạy nghề để đào tạo lao động trước khi xuất cảnh sang nước ngoài làm việc… Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tế hiện nay, công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Cơ cấu ngành đào tạo chưa thật sự phù hợp với thị trường lao động, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nên nhiều lao động được đào tạo nghề nhưng vẫn khó tìm được việc làm; nhiều lao động phải làm việc không phù hợp với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo, tỉ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp còn khá cao...
Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động ở tỉnh Thái Nguyên: (1) Tiếp tục sửa đổi, bổ sung và ban hành các chính sách liên quan đến công tác đào tạo nghề theo hướng phù hợp với yêu cầu của thị trường. Tăng cường xã hội hóa công tác đào tạo nghề, đào tạo nghề gắn với việc làm; (2) Đổi mới cơ chế kế hoạch và tài chính đào tạo nghề từ ngân sách tỉnh theo hướng tập trung vào các cơ sở trọng điểm, ngành nghề trọng điểm, nhóm nhân lực trọng điểm; (3) Tăng cường quản lí Nhà nước thơng qua các chính sách, pháp luật đối với mọi hoạt động đào tạo nghề, tạo việc làm; kiểm định chặt chẽ chất lượng các cơ sở đào tạo nghề và chương trình đào tạo nghề trọng điểm trên địa bàn tỉnh; (4) Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của học nghề và việc làm, nắm vững pháp luật lao động. Cán bộ chuyên trách công tác đào tạo nghề - việc làm cần trau
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><small>34 </small>
dồi nâng cao năng lực quản lí dạy nghề; (5) Các cấp chính quyền cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình xúc tiến việc làm; tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của chương trình xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn cho lao động lập dự án vay vốn và sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả; hỗ trợ cho người thất nghiệp, người thiếu việc làm đến đăng kí tìm việc làm tại các trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ đẩy mạnh dịch vụ xuất khẩu lao động.
<i>Giải quyết việc làm cho lao động đã qua đào tạo ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay, Đào Thị Tân (2020), Tạp chí Chủ nghĩa Xã hội – Lý luận và Thực </i>
tiễn số 4 năm 2020 [41]. Nghiên cứu này tập trung vào nhóm người lao động đã qua đào tạo – là những người trong độ tuổi lao động đã tham gia các khóa học nghề ngắn hạn hoặc khóa đào tạo dài hạn, được cấp chứng chỉ nghề hoặc văn bằng từ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ trở lên. Báo cáo cũng chỉ ra một nghịch lý ở Thái Nguyên là, một bộ phận lao động đã qua đào tạo nhưng vẫn khơng tìm được việc làm hoặc phải làm những công việc không phù hợp với chuyên môn được đào tạo, gây lãng phí rất lớn về tài chính và cơng sức. Nghiên cứu cũng cho biết những năm gần đây, chính quyền tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều biện pháp giải quyết việc làm cho lao động đã qua đào tạo khá hiệu quả, song vẫn còn tồn tại một số bất cập sau: Mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo với các đơn vị sử dụng lao động, giữa các cơ sở đào tạo nghề với các trường phổ thông, giữa giảng dạy và nghiên cứu, phục vụ sản xuất chưa chặt chẽ; Công tác giải quyết việc làm cho lao động đã qua đào tạo thông qua chiến lược phát triển KT-XH và các chính sách phát triển kinh tế chưa gắn kết, chưa chặt chẽ nên hiệu quả thấp; Cơng tác điều tra, phân tích nhu cầu thực tế về đào tạo nguồn nhân lực, nhu cầu việc làm của doanh nghiệp, của xã hội chưa tốt; trình độ của một bộ phận giảng viên tham gia đào tạo nguồn nhân lực chưa đảm bảo chất lượng; Việc định hướng con đường phát triển sự nghiệp cho lao động đã qua đào tạo làm chưa tốt; Hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm, sàn giao dịch việc làm chưa phát huy hết hiệu quả… Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất 03 nhóm giải pháp căn bản nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động đã qua đào tạo ở tỉnh Thái Nguyên như sau: (1) Tiếp tục đầu tư cho các chương trình phát triển kinh tế trọng điểm thu hút nhiều lao động đã qua đào tạo; (2) Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo; (3) Tiếp tục phát triển thị trường lao
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35"><small>35 </small>
động và thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về tạo việc làm.
<i><b>1.1.3. Tình hình nghiên cứu quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thơn </b></i>
<i>a) Tình hình nghiên cứu quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nơng thơn nói chung </i>
Cho đến nay, NCS chưa tìm thấy cơng trình nghiên cứu nào được tiến hành một cách hệ thống, toàn diện về quản lý nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn. Về cơ bản, các nghiên cứu đã có mà nghiên cứu sinh tiếp cận được chỉ đề cập đến một/hoặc một vài khía cạnh trong số các nội dung của quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn như: các chính sách giải quyết việc làm như chính sách việc làm cơng; chính sách đào tạo nghề, chính sách xuất khẩu lao động, cũng như nghiên cứu về hệ thống văn bản pháp luật về lao động, việc làm… Dưới đây làm một số cơng trình tiêu biểu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này:
<i>Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Đinh Thị Nga Phượng (2011) [38]. Tác giả đã trình bày những vấn </i>
đề lý luận chung về việc làm, giải quyết việc làm, pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm. Đồng thời, nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động về trách nhiệm của Nhà nước, của người sử dụng lao động, của tổ chức dịch vụ việc làm, việc làm cho lao động đặc thù cũng như thực trạng pháp luật trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm. Ngoài ra, tác giả đã tổng quát bối cảnh hội nhập quốc tế, trong nước, cơ hội và thách thức cũng như thực trạng về việc làm, giải quyết việc làm ở Việt Nam, tồn tại và bất cập của pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập để làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Nghiên cứu cũng đã đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hồn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Tuy vậy, nghiên cứu này được thực hiện từ cách đây khá lâu, trước khi Bộ Luật Lao động 2012 và Luật Việc làm 2013 ra đời, do đó một số thơng tin và nội dung phân tích đã trở nên khơng cịn phù hợp, thiếu cập nhật.
<i> Chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn khu vực Tây Bắc, </i>
Phạm Hương Thảo (2019) [46]. Nghiên cứu tập trung vào ba nhóm chính sách hợp phần là (i) Hướng nghiệp và giới thiệu việc làm, (ii) đào tạo nghề, (iii) tín
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>36 </small>
dụng. Nghiên cứu này không đề cập đến chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động do khu vực miền núi Tây Bắc có rất ít lao động nông thôn, lao động là người dân tộc thiểu số đi xuất khẩu lao động... Việc đánh giá chính sách được tập trung vào 3 nội dung lớn, (i) kết quả thực hiện chính sách, (ii) tác động của chính sách đến biến đổi việc làm và đời sống lao động nông thôn, (iii) nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động Tây Bắc, trong đó hạn chế nội dung chính sách được phân tích lồng ghép trong yếu tố từ môi trường vĩ mô. Trên cơ sở rà sốt hệ thống các chính sách được ban hành của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương được thực hiện tại 6 tỉnh Tây Bắc, tác giả đã phân tích thực trạng về việc làm của lao động nông thôn ở khu vực này trên các khía cạnh thời gian làm việc, trình độ của người lao động, ngành nghề và vị thế làm việc của người lao động. Nghiên cứu tập trung đến 3 nhóm vấn đề của đánh giá chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nông thôn khu vực Tây Bắc, bao gồm: đánh giá kết quả thực hiện chính sách và đánh giá tác động của chính sách và đánh giá nguyên nhân ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nông thôn khu vực Tây Bắc. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nghiên cứu này đã chỉ ra một số vướng mắc hạn chế kết quả triển khai các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao
<i>động nông thôn Tây Bắc: Thứ nhất, vùng miền núi Tây Bắc, Việt Nam địa hình </i>
hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao, là địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng yếu kém, tỷ lệ hộ nghèo cao, mặt bằng dân trí thấp,
<i>thường bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt... Thứ hai, cơ cấu ngành đào tạo chưa </i>
phù hợp với thị trường lao động, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; nhiều người đã qua đào tạo nghề vẫn gặp nhiều khó khăn để tìm được việc làm; nhiều người phải làm việc không phù
<i>hợp với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo. Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập </i>
quốc tế, vùng miền núi phải đối mặt với các cú sốc bên trong và bên ngoài ngày càng lớn, khoảng cách giàu nghèo giữa vùng miền núi và vùng đồng bằng ngày một lớn; hàng hoá sản phẩm của vùng miền núi làm ra khó tiêu thụ hơn do quy mơ sản xuất nhỏ, phân tán, chất lượng sản phẩm chưa cao; văn hoá truyền thống dễ bị mai một dần nếu không được bảo tồn và phát triển; môi trường ngày càng suy thoái do áp lực phát triển kinh tế, người dân vùng miền núi khai thác tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và do các chất thải cơng nghiệp; tình trạng phạm tội và các tệ nạn xã hội nếu khơng kiểm sốt được sẽ đe doạ sự ổn định chính trị, xã hội và khối đại đoàn kết miền núi… Với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội này, tác giả đã khẳng định: Nhà nước cần có những quyết sách đúng đắn,
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><small>37 </small>
tạo mọi điều kiện cần thiết để vùng miền núi có thể tận dụng được cơ hội và vượt qua những thách thức trong điều kiện hội nhập. Hỗ trợ việc làm cho lao động khu vực Tây Bắc sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết vấn đề này.
Có thể nói, đây là một cơng trình nghiên cứu có giá trị tham khảo rất lớn cho Luận án của tác giả bởi vùng nông thơn khu vực Thái Ngun có nhiều điểm tương đồng về địa hình, về điều kiện tự nhiên và xã hội như các tỉnh Tây Bắc. Tuy vậy, Thái Nguyên có đặc trưng riêng về điều kiện và tiềm năng phát triển kinh tế, trình độ và năng lực của người lao động… chính vì vậy, vai trị quản lý của chính quyền địa phương về giải quyết việc làm sẽ có nhiều khác biệt.
<i>“Tóm lược chính sách: Nghiên cứu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn” (2021) [62]. Báo cáo được thực hiện bởi Viện Chính sách và </i>
Chiến lược Phát triển nơng nghiệp nơng thơn trong khn khổ Chương trình “Ốtxtrây-li-a hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam” do Chính phủ Ốt-xtrây-li-a tài
<i>trợ. Nội dung báo cáo bao gồm 6 chương, trong đó Chương 2: tập trung điểm </i>
lại các nội dung chính về quan điểm, chính sách và chương trình lớn của Việt Nam đối với vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn thời
<i>gian qua. Chương 4: Đánh giá chung thực trạng lao động nông nghiệp, kết quả </i>
của việc triển khai chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông
<i>thôn trong giai đoạn 10 năm qua. Chương 6: Báo cáo trình bày các đề xuất, </i>
kiến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả của cơng tác đào tạo nghề nông nghiệp trong thời gian tới. Báo cáo đã tổng hợp các chính sách về đào tạo nghề nông nghiệp thông qua Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 về việc sửa đổi bổ sung của Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009; Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng. Ngồi ra, cịn có các Quyết định, Thông tư, văn bản hướng dẫn của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính về cách thức tổ chức, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bao gồm cả lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp; Chỉ thị 5719/CT-BNN-KTHT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc nâng cao hiệu quả đào tạo nghề nông nghiệp gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thơn mới. Báo cáo khẳng định, rất nhiều các chính sách, văn bản đã được ban hành nhằm kịp thời chỉ đạo, điều chỉnh công tác
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><small>38 </small>
đào tạo nghề phù hợp với bối cảnh mới, tập trung hỗ trợ qua các nội dung: (1) Chính sách hỗ trợ người học: hỗ trợ chi phí đào tạo, hỗ trợ tiền ăn, đi lại; được vay vốn để tự tạo việc làm; (2) Chính sách đối với giảng viên, giáo viên: hỗ trợ phụ cấp, nhà công vụ với một số địa bàn; đào tạo nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho các giảng viên, giáo viên. Người dạy nghề ngoài các cơ sở dạy nghề được chi trả tiền công giảng dạy; (3) Chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề (trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề) được hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ điều kiện dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia dạy nghề cho lao động nơng thơn bằng nguồn kinh phí trong các Chương trình, Đề án được phê duyệt và được cung cấp chương trình, giáo trình, học liệu và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề; (4) Chính sách phát triển giáo trình, bài giảng, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề.
Báo cáo đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho lao động nơng nghiệp trên các khía cạnh sau: (i) Hồn thiện, đổi mới các chính sách hỗ trợ cho lao động nông thôn học nghề nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 theo hướng tăng kinh phí hỗ trợ đào tạo để phục vụ đào tạo nghề trong giai đoạn mới; (ii) Xây dựng chính sách hỗ trợ bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm cho người dạy (cán bộ của cơ sở đào tạo nghề, cán bộ của Trung tâm khuyến nông tỉnh, nghệ nhân…), xây dựng cơ chế để hàng năm người dạy nghề có thời gian thực tập tại các doanh nghiệp, HTX có cơng nghệ, máy móc mới nhằm hồn thiện các kỹ năng dạy, thực hành. (iii) Xây dựng, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp: Cung cấp, hỗ trợ xây dựng bài giảng, giáo trình đào tạo; Hỗ trợ ngân sách cho hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp thông qua đặt hàng chỉ tiêu đào tạo. Hỗ trợ kinh phí mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo nghề nơng nghiệp; (iv) Hồn thiện, bổ sung chính sách, quy định về các điều kiện đảm bảo chất lượng, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề nông nghiệp, tăng cường và khuyến khích chuẩn hóa lao động nơng nghiệp theo khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia nhằm tăng khả năng tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế của người được đào tạo; (v) Xây dựng cơ chế, chính sách để gắn kết chặt chẽ giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động, trên cơ sở trách nhiệm xã hội và lợi ích giữa các bên liên quan.
<i>“Chính sách dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Nguyễn Đăng Núi (2022) [34]. Nội dung cuốn sách </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>39 </small>
chuyên khảo đưa ra khung lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số; phân tích thực trạng dạy nghề, giải quyết việc làm và chính sách dạy nghề cho đối tượng lao động này từ đổi mới đến nay; trên cơ sở đó, kết hợp với phương pháp dự báo nhu cầu, tác giả nêu quan điểm, định hướng và giải pháp hồn thiện chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.
<i>“Chính sách đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài – Những dấu ấn và vấn đề đặt ra trong tình hình mới”, Phạm Anh Thắng, Tạp chí Cộng </i>
sản số tháng 5/2023 [42]. Bài viết đã chỉ ra trong quá trình hội nhập quốc tế, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách tạo việc làm cho người lao động trong nước, trong đó chính sách đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận nhằm thực hiện chủ trương giải quyết vấn đề an sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ lao động, tác phong làm việc... Tác giả Phạm Anh Thắng đã hệ thống hóa các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất khẩu tương đối đầy đủ. Theo đó, năm 2006, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ra đời, là dấu mốc quan trọng của việc hoàn thiện thể chế, hành lang pháp lý về nội dung có liên quan. Để tháo gỡ những bất cập và các vấn đề nảy sinh trước yêu cầu phát triển mới, ngày 13-11-2020, Quốc hội khóa XIV ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên cơ sở điều chỉnh phù hợp với những thỏa thuận, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để thay thế Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006. Cùng với đó, trên cơ sở tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 16-CT/TW, ngày 12-12-2022, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngồi trong tình hình mới”… Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số bất cập trong công tác này: (1) Chính sách hỗ trợ, khai thác, phát huy nguồn lực lao động này sau khi về nước vẫn chưa thực sự hiệu quả, đã, đang là bài toán đặt ra đối với các bộ, ngành và địa phương; (2) Cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động chưa đủ mạnh để khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp tích cực tham gia vào xúc tiến mở rộng thị trường tiếp nhận lao động, đa dạng hóa điểm đến cho lao động Việt Nam; việc xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về người
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40"><small>40 </small>
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thiếu sự cập nhật thường xuyên, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của lao động, doanh nghiệp và của các cơ quan, tổ chức; (3) Tình trạng người lao động đi làm việc ở nước ngoài trái phép, vi phạm pháp luật của nước sở tại, bỏ hợp đồng hoặc khi hết hạn hợp đồng không về nước vẫn xảy ra, chậm được khắc phục. Năng lực của một số tổ chức doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngồi cịn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, cạnh tranh không lành mạnh, thiếu tính chuyên nghiệp; (4) Công tác đào tạo nghề, bồi dưỡng ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động thiếu chặt chẽ, chưa có sự gắn kết giữa hệ thống các cơ sở đào tạo nghề với tạo nguồn đi làm việc ở nước ngoài, dẫn đến tỷ lệ lao động có tay nghề cao cịn thấp, làm giảm năng lực cạnh tranh cũng như ảnh hưởng đến vị thế của người lao động Việt Nam…
<i>b) Tình hình nghiên cứu quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên </i>
<i>Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu lao động ở tỉnh Thái Nguyên – LATS </i>
Đại học Thái Nguyên, Bùi Sỹ Tú (2017) [52]. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng xuất khẩu lao động của Tỉnh Thái Nguyên trong 3 năm (2014-2016) và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động nhằm giúp giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội ở tỉnh Thái Nguyên. Để thực hiện mục tiêu đó, nghiên cứu đã hệ thống hóa về cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về xuất khẩu lao động. Đánh giá, phân tích thực trạng xuất khẩu lao động trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên. Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên. Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu lao động trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào một trong nhiều chính sách để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Thái Nguyên.
<i>“Kết quả thực hiện chính sách đẩy mạnh xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”, Nguyễn Minh Hạnh, Tạp chí Lao động (Tháng </i>
5/2023) [26]. Bài viết đã cung cấp số liệu thống kê của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Thái Nguyên, từ năm 2012 - 2022, tồn tỉnh Thái Ngun có trên 11.700 lượt người đi làm việc ở nước ngồi có hợp đồng lao động. Cụ thể: Đài Loan (Trung Quốc) hơn 5.400 người; Nhật Bản hơn 2.500 người; Malaysia hơn 900 người, số còn lại là thị trường khác. Tính bình qn, mỗi tháng người lao động ở nước ngoài gửi về nước trung bình khoảng 1.000 USD/ người/ tháng. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao
</div>