Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 144 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Tôi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi dưới sự hướng dẫn tận tình
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
<i>Thành phố Đà Nẵng, 2023 </i>
<i>Nguyễn Thủy Bảo Anh </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Trong nghiên cứu này, chúng tơi tập trung vào việc tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ học của các biểu thức danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt, phát hiện ra những nét tương đồng và dị biệt trong hai ngôn ngữ.
Chúng tôi thực hiện nhận diện các biểu thức danh hóa xuất hiện trong các tác phẩm văn học tiếng Nhật và tiếng Việt; thống kê và phân loại các yếu tố danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt; khảo sát và đối chiếu hai ngôn ngữ thông qua ngữ liệu nghiên cứu này.
Bằng cách áp dụng phương pháp nghiên cứu thu thập tài liệu, thống kê, chúng tôi xác định các đặc điểm ngôn ngữ học bao gồm đặc trưng cơ bản của phương thức danh hóa động từ và ngữ nghĩa của các biểu thức danh hóa trong hai ngơn ngữ. Phân tích và miêu tả phương thức danh hóa động từ và ngữ nghĩa-kết quả của phương thức danh hóa động từ của hai ngơn ngữ, đưa ra những nhận xét chung về đặc trưng loại hình của phương thức danh hóa động từ trong hai ngơn ngữ. So sánh đối chiếu để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt của phương thức danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
Nghiên cứu của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ phương thức danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt, phân biệt được những nét giống nhau và khác nhau của phương thức danh hóa động từ trong hai ngơn ngữ. Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo cho các người dạy và người học khi gặp hiện tượng danh hóa động từ trong tiếng Việt và tiếng Nhật, nâng cao hiệu quả về mặt dụng học trong nói và viết hai ngôn ngữ, giúp việc chuyển dịch văn bản giữa hai ngơn ngữ chính xác và tinh tế hơn.
<i><b>Từ khóa: Danh hóa động từ, Yếu tố danh hóa, chuyển loại động từ, Đối </b></i>
<i>chiếu ngơn ngữ. </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ... 4
<b>3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ... 4</b>
<b>4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ... 4</b>
<b>Chương 2.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ... 8</b>
<b>2.1.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DANH HÓA ĐỘNG TỪ ... 8</b>
2.1.1. Tình hình nghiên cứu về danh hóa động từ trong các ngôn ngữ trên thế giới và trong tiếng Nhật ... 8
2.1.2. Tình hình nghiên cứu về danh hóa động từ trong tiếng Việt... 11
<b>Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 32</b>
<b>3.1.PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU ... 32</b>
<b>3.2.XÁC ĐỊNH MẪU ... 32</b>
<b>3.3.THU THẬP DỮ LIỆU... 32</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>3.4.PHÂN TÍCH DỮ LIỆU ... 33</b>
3.4.1. Mơ tả định lượng và mơ tả định tính các dữ liệu thu thập được. ... 33
3.4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu ... 33
<b>3.5.ĐỘ TIN CẬY VÀ GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU ... 35</b>
3.5.1. Độ tin cậy của nghiên cứu này ... 35
3.5.2. Giá trị nghiên cứu ... 35
4.1.1. Phương thức danh hóa động từ bằng các yếu tố danh hóa ... 38
4.1.1. Phương thức danh hóa động từ khơng sử dụng yếu tố danh hóa ... 69
<b>4.2.ĐẶC ĐIỂM CÁC PHƯƠNG THỨC DANH HÓA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG VIỆT ... 74</b>
4.2.1. Danh hóa động từ bằng SỰ, VIỆC, CÁI, CUỘC, NỖI, NIỀM, CƠN, TRẬN, CHUYẾN ... 75
4.2.2. Danh hóa động từ với NỖI, NIỀM ... 85
4.2.3. Danh hóa động từ với CƠN, TRẬN, CHUYẾN ... 87
4.2.4. Danh hóa bằng lượng từ hoặc khơng cần kết hợp yếu tố danh hóa ... 89
<b>CHƯƠNG 5. ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC DANH HÓA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT ... 92</b>
<b>5.1.ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC DANH HÓA BẰNG YẾU TỐ DANH HÓA TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT ... 92</b>
<b>5.2.ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC DANH HÓA BẰNG LƯỢNG TỪ ... 95</b>
<b>5.3.ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC DANH HÓA KHƠNG SỬ DỤNG YẾU TỐ DANH HĨA ... 96</b>
<b>TIỂU KẾT CHƯƠNG 5... 97</b>
<b>Chương 6. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 1 </b>
<b>PHỤ LỤC 1 DANH HÓA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG VIỆT ... 6 </b>
<b>PHỤ LỤC 2 DANH HÓA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG NHẬT ... 35 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>-DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT </b>
<b>DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU </b>
Số hiệu bảng Tên bảng biểu Số trang
<i>Bảng 1. Danh mục các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại được khảo sát </i>
4
<i>Bảng 2. Thống kê biểu thức chứa yếu tố danh hóa xuất hiện trong ngữ liệu nghiên cứu </i>
36
<i>Bảng 3. Phân loại động từ kết hợp với yếu tố danh hóa KOTO </i> 49
<i>Bảng 4. Thống kê các yếu tố danh hóa trong tiếng Việt </i> 74
<i>Bảng 5. Đối chiếu nguồn gốc từ của yếu tố </i> 91
<i>Bảng 6. Đối chiếu số lượng yếu tố danh hóa trong ngữ liệu nghiên cứu </i>
91
<i>Bảng 7. Yếu tố danh hóa trong tiếng Việt và quy tắc kết hợp với động từ trước nó </i>
93
<i>Bảng 8. Đối chiếu chức năng của biểu thức danh hóa trong câu </i> 94
<i>Bảng 9. Yếu tố danh hóa trong tiếng Việt và quy tắc kết hợp với động từ trước nó </i>
95
<b>DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ </b>
<i>Hình 1. Tỉ lệ xuất hiện các phương thức danh hoá theo từng tác phẩm văn học Nhật Bản </i>
36
<i>Hình 2. Ý nghĩa điển dạng của yếu tố danh hóa NO </i> 48
<i>Hình 3. Ý nghĩa điển dạng của yếu tố danh hóa KOTO </i> 61
<i>Hình 4. Tỉ lệ xuất hiện các phương thức </i> 75
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b>1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI </b>
Ngôn ngữ ngồi tính kế thừa đồng thời cần phải được phát triển và biến đổi không ngừng. Sự phát triển này thể hiện rất rõ trong hệ thống từ vựng của mỗi ngơn ngữ, trong đó loại từ của từ khơng phải là bất di bất dịch mà ln có một bộ phận chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hoá giữa các loại từ là hiện tượng phổ biến trong các ngơn ngữ trong đó có tiếng Việt và tiếng Nhật. Hiện tượng này làm phong phú hơn, sinh động hơn hệ thống từ vựng sẵn có của ngơn ngữ đó. Hơn nữa, sự đa dạng của ngơn ngữ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu ngày càng phát triển theo hướng mở rộng và chuyên sâu hơn. Các nội dung nghiên cứu liên quan đến ngữ pháp, từ vựng,…cũng đã được nghiên cứu sâu sắc hơn về mặt lý luận và thực tiễn.
Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ nhận thấy sự tồn tại của hiện tượng danh hóa từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay, xuất hiện cả trong văn bản viết lẫn văn bản nói.
<i>Đinh Văn Đức (1986) khẳng định “mỗi động từ, tính từ có khả năng có một danh từ </i>
<i>tương ứng bằng cách kết hợp với yếu tố ngữ pháp chuyên dùng”. Nguyễn Thị Thuận </i>
<i>(2003) định nghĩa về danh hoá trong tiếng Việt: “Danh hoá là một phương thưc ngữ </i>
<i>pháp dùng để biến đổi một động từ, một tính từ hoặc một mệnh đề thành một tổ hợp danh từ bằng cách kết hợp động từ, tính từ, mệnh đề ấy với một yếu tố danh hoá nhất định”. </i>
<i><b>VD 1. Tôi vẫn nghĩ, sự xuất hiện của nước mắt chỉ có ý nghĩa khi người ta </b></i>
<i>khóc” </i>
<i>(Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, tr.41) Trong ví dụ 1, động từ xuất hiện được danh từ hoá bằng yếu tố ngữ pháp </i>
chuyên dùng sự trở thành sự xuất hiện. Cách sử dụng phương thức danh hóa động từ bằng yếu tố ngữ pháp chuyên dùng (yếu tố danh hố) giúp cho câu văn có sự chặt chẽ, mạch lạc, gói gọn thơng tin trong một cụm danh ngữ, thu hút sự chú ý của người
<i>đọc hơn. Đồng quan điểm, Đái Xuân Ninh (1978) cho rằng: “cái đẹp, cái hay, nỗi lo, </i>
<i>sự lãnh đạo là minh chứng cho phương pháp phái sinh từ vựng để biểu thị những </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><i>khái niệm trừu tượng, bằng cách kết hợp động từ, tính từ với những hình vị nhánh”. </i>
Trong tiếng Nhật cũng tồn tại hiện tượng danh hoá và sự danh hoá được thực hiện chủ yếu bằng việc kết hợp động từ, tính từ hay mệnh đề với các yếu tố ngữ pháp chuyên dùng (Ojima 1996, Kamada 1998, Tanaka 1997). Trong tiếng Nhật, yếu tố ngữ pháp chuyên dùng này cũng được gọi là yếu tố danh hóa. Tùy vào từng phương thức cấu tạo mà có tên gọi khác nhau, khi sau tính từ hoặc động từ để tạo ra từ phái
<i>sinh thì yếu tố danh hố được gọi là phụ tố, tiếp vĩ từ hoặc danh từ hình thức. </i>
VD 2. それは ちゃんと 考えて 決めた こと だ。
<i><b><small>Sore wa chanto kangaete kimeta koto da. Đó/chín chắn/suy nghĩ/quyết định/sự/là. </small></b></i>
<i><b>Đó là sự quyết định hồn tồn có suy nghĩ chín chắn </b></i>
<i>(Banana Yoshimoto, Kitchen, tr.56) Động từ kimeta (đã suy nghĩ) được chuyển loại bằng cách thêm yếu tố danh </i>
<i><b>hóa koto vào sau động từ nhằm nhấn mạnh dụng ý của tác giả, nâng cao khả năng </b></i>
diễn đạt, làm cho nó phong phú tinh tế hơn.
Trong giao tiếp bằng tiếng Nhật, vai trò quan trọng của danh hóa cịn được thể hiện qua các ví dụ sau:
VD 3. 音楽が 趣味です。
<i><b><small>Ongaku ga shumi desu </small></b></i> <small>Âm nhạc/sở thích/là </small>
<i>Âm nhạc là sở thích của tơi </i>
Xét ví dụ trên, ta thấy chức năng cơ bản của danh từ là chỉ sự vật đã được thể hiện đầy đủ nhưng ý nghĩa cụ thể của danh từ vẫn chưa được rõ ràng. Với cách thể hiện này, ta có thể lý giải rằng “sở thích của tơi là = nghe nhạc” cũng có thể hiểu rằng “sở thích của tơi là = chơi nhạc”, thậm chí cũng có thể hiểu là “sở thích của tơi là = viết nhạc”. Do đó, để truyền tải rõ ràng hơn điều muốn nói, cần phải diễn đạt lại như sau:
VD 4. 音楽を聴くのが 趣味です。
<i><small>Ongaku wo kiku no ga shumidesu </small></i> <small>Âm nhạc/nghe/sở thích/là </small>
<i>Nghe nhạc là sở thích của tơi </i>
VD 5. 音楽を演奏することが 趣味です。
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><i><b><small>Ongaku wo ensousuru koto ga shumi desu </small></b></i> <small>Âm nhạc/chơi/sở thích/là </small>
<i>Chơi nhạc là sở thích của tơi </i>
<i>Trong hai ví dụ trên, động từ kiku (nghe) và ensousuru (chơi) cũng được </i>
<i><b>chuyển loại bằng cách thêm yếu tố danh hóa no, koto vào sau động từ (nghĩa của yếu </b></i>
tố danh hóa trong tiếng Nhật đã được lược bỏ khi chuyển dịch). Điều này cho thấy danh hóa là chiến lược được dùng trong giao tiếp, trong việc truyền đạt, thể hiện nội dung thông tin tạo ra hiệu quả giao tiếp, tạo khả năng diễn đạt phong phú sinh động hơn.
Như vậy, danh hóa là hiện tượng khách quan trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu dựa vào loại từ của từ gốc để chia thành ba loại: a) danh hóa động từ, b) danh hóa tính từ và c) danh hóa mệnh đề.Trong đó, danh hóa động từ được đặc biệt quan tâm và đã có nhiều cơng trình nghiên cứu liên quan. Nhiều nhà ngôn ngữ học đã khẳng định: danh từ được phái sinh từ các loại từ khác trong đó chủ yếu là từ động từ. Danh hóa động từ được thực hiện thơng qua sự kết hợp giữa yếu tố danh hóa với động từ, là phương thức danh hóa phổ biến nhất so với danh hóa tính từ và danh hóa mệnh đề. Nguyễn Thị Thuận (2003), chỉ ra rằng trong các ngôn ngữ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa động từ và danh từ là sự chuyển hóa đa dạng và phức tạp nhất.
Tuy nhiên, việc sử dụng yếu tố danh hóa nào cho động từ để tạo lập danh từ phái sinh giữa hai ngôn ngữ sẽ tồn tại nhiều nét tương đồng và dị biệt. Dẫu vậy, trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, hiện chưa có cơng trình nghiên cứu nào tiến hành đối chiếu một cách có hệ thống danh hóa động từ trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu, phát hiện ra những nét tương đồng và dị biệt của hiện tượng danh hóa động từ trong tiếng Việt và tiếng Nhật, chúng tôi đã chọn đề tài
<b>của Luận văn này là “Đặc điểm ngôn ngữ học của các biểu thức danh hóa động </b>
<b>từ trong tiếng Nhật đối chiếu với tiếng Việt”. </b>
<b>2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1. Mục đích nghiên cứu </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Luận văn này tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ học thông qua các biểu thức danh hóa động từ, cụ thể:
- Tìm hiểu các phương thức danh hóa động từ, đặc điểm ngữ nghĩa của biểu thức danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt của hai ngôn ngữ.
- Giúp cho người học ở cả hai ngôn ngữ lựa chọn yếu tố danh hố thích hợp, nâng cao hiệu quả về mặt dụng học trong nói và viết hai ngôn ngữ, giúp việc chuyển dịch văn bản giữa hai ngơn ngữ chính xác và tinh tế hơn.
<b>2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu </b>
Căn cứ vào mục đích nêu trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
- Nhận diện các phương danh hóa xuất hiện trong các tác phẩm truyện ngắn tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Thống kê và phân loại các yếu tố danh hoá động từ xuất hiện trong các tác phẩm truyện ngắn tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Khảo sát và đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt của phương thức danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Đề xuất một số lưu ý về phương thức danh hóa động từ và cách chuyển dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt và ngược lại. Đồng thời đưa ra một số lưu ý về phương thức phù hợp trong cách dạy và học cho giáo viên và học viên.
<b>3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU </b>
- Đặc điểm ngôn ngữ học của các biểu thức danh hóa động từ trong tiếng Nhật là gì?
- Đặc điểm ngơn ngữ học của các biểu thức danh hóa động từ trong tiếng Việt là gì?
- Những điểm tương đồng và dị biệt của phương thức danh hoá động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt là gì?
<b>4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Các biểu thức danh hoá động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt
<b>5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU </b>
Luận văn sẽ phân tích khảo sát ngữ liệu trong các tác phẩm văn học Nhật Bản và Việt Nam, cụ thể như sau:
<b>Bảng 1. </b>
<i>Danh mục các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại được khảo sát </i>
<b>TT Tên tác phẩm Tác giả Năm/ Nhà xuất bản </b>
1 Kitchen- Nhà bếp (キッチン)
Yoshimoto Banana
1998/ Kadokawa Bunko 2 Tottochan bên cửa sổ
(窓ぎわのトットちゃん)
Kuroyanagi Tetsuko
2009/ Kodansa 3 Nếu gặp người ấy cho tôi
gửi lời chào
NXB Văn hóa thơng tin
<b>6.2. Thực tiễn </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Luận văn là tài liệu tham khảo cho các người dạy và người học khi gặp biểu thức danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt, nâng cao hiệu quả về mặt dụng học trong nói và viết hai ngôn ngữ, giúp việc chuyển dịch văn bản giữa hai ngơn ngữ chính xác và tinh tế hơn. Kết quả của Luận văn có thể áp dụng vào việc biên soạn sách/ giáo trình tham khảo cho ngành Ngôn ngữ Nhật hoặc Tiếng Việt cho người nước ngoài.
<b>7. BỐ CỤC LUẬN VĂN </b>
Luận văn này có bố cục gồm 06 chương:
<i><b>Chương 1: Mở đầu </b></i>
<i><b>Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết </b></i>
Luận văn trình bày tổng quan về những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài của Luận văn thông qua việc tổng kết các cơng trình nghiên cứu đi trước, làm rõ dư địa, vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra, Luận văn cũng giới thiệu những cơ sở lý thuyết được lựa chọn làm định hướng nghiên cứu cho đề tài như loại từ, hiện tượng chuyển loại, hiện tượng danh hóa và các phương thức danh hóa phổ biến trong tiếng Nhật và tiếng Việt
<i><b>Chương 3: Phương pháp nghiên cứu </b></i>
Ở chương này, luận văn trình bày các vấn đề có liên quan, phục vụ trực tiếp cho quá trình chọn lọc và xử lý cứ liệu, phương pháp xác lập và lý giải các biểu thức chứa từ ngữ chỉ xuất trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Cụ thể, gồm có phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh đối chiếu.
<i><b>Chương 4: Đặc điểm các phương thức danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt </b></i>
Luận văn tập trung thống kê và phân tích đặc điểm các phương thức danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt căn cứ trên cứ liệu thu thập được từ các tác phẩm văn học đã khảo sát.
<i><b>Chương 5: Đối chiếu phương thức danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt </b></i>
Thông qua việc so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và dị biệt của từ ngữ
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">chỉ xuất trong tiếng Việt và tiếng Nhật, Luận văn chỉ ra một số vấn đề cách tiếp cận khái niệm và ứng dụng của từ ngữ chỉ xuất trong tiếng Việt và tiếng Nhật trong thực tế giao tiếp, đồng thời đưa ra một số đề xuất trong dạy và học từ ngữ chỉ xuất cho người học hai ngôn ngữ này.
<i><b>Chương 6: Kết luận và kiến nghị </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><b>2.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DANH HĨA ĐỘNG TỪ </b>
<b>2.1.1. Tình hình nghiên cứu về danh hóa động từ trong các ngơn ngữ trên thế giới và trong tiếng Nhật </b>
Hiện tượng danh hóa được quan tâm nghiên cứu trong nhiều ngôn ngữ, các nghiên cứu này có thể xuất phát từ việc miêu tả, lý giải hiện tượng danh hóa về cấu trúc ngữ pháp, về bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng hay trên các quan điểm ngôn ngữ học tri nhận.
Trong tiếng Anh, hiện tượng danh hóa đã được các nhà ngơn ngữ quan tâm và phân tích, tiêu biểu như Lees (1960), Vendler (1967), Chomsky (1970), Bruce Fraser (1970)… Lees cho rằng đây là hiện tượng phái sinh cú pháp, còn Chomsky lại cho rằng đây là hiện tượng phái sinh từ vựng. Danh hóa được nghiên cứu như một hiện tượng của hình thái học và cú pháp học trong ngơn ngữ biến hình như tiếng Anh.
Theo Vendler (1967), khi nghiên cứu về hiện tượng danh hóa từ động từ, tác giả đã đưa ra bốn kiểu phân loại động từ đó là: trạng thái (states): see, know, believe, have, resemble; hoạt động (activities): recognize, find, lose, reach, die; hoàn thành (achievements): run, swim, push a cart, drive a car; thực hiện (accomplishments): paint a picture, make a chair, push a cart to the supermarket, run a mile. Các nhà ngôn ngữ Nhật như Kageyama (1996) cũng nghiên cứu dựa theo cách phân loại động từ của Vendler.
Trong tiếng Nhật, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định sự tồn tại hiện tượng danh hoá và cho rằng sự danh hoá được thực hiện chủ yếu bằng việc kết hợp động từ, tính từ hay mệnh đề với các yếu tố ngữ phápchuyên dùng. yếu tố ngữ pháp chuyên
<i>dùng này thường được gọi là “yếu tố danh hóa”. Trong đó có nghiên cứu của Ojima </i>
(1996), Kamada (1998), Tanaka (1997), Okuda (2011), cụ thể như sau:
Ojima (1996) tập trung nghiên cứu sâu hơn về các qui tắc sử dụng yếu tố danh
<i>hóa no, koto trong thực tế khách quan và nguyên nhân xuất hiện các qui tắc đó. Ojima </i>
chỉ ra rằng trong tiếng Nhật thành phần vị ngữ có vai trị quyết định cho việc dùng
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><i><b>yếu tố danh hóa no hay koto. Nói cách khác, tùy theo đặc điểm của thành phần vị ngữ kết hợp là như thế nào sẽ quyết định việc sử dụng yếu tố danh hóa no hay koto. Trong </b></i>
nghiên cứu này, Kudo (1985) đã đưa ra bảng phân loại nhóm động từ được dùng trong
<i><b>câu có vị ngữ là động từ có sử dụng koto như sau: </b></i>
<i>- Nhóm động từ chỉ các hoạt động liên quan đến tri giác, giác quan: miru (nhìn xem); kiku (nghe)... </i>
<i>- Nhóm động từ chỉ các hoạt động có tính tác động của con người: suru (làm), </i>
<i>shiraberu (điều tra)… </i>
<i>- Nhóm động từ liên quan đến hoạt động tư duy của con người: wakaru (hiểu), </i>
<i>kangaeru (nghĩ)… </i>
- Nhóm động từ biểu thị các hoạt động liên quan đến hoạt động truyền đạt
<i>thông tin: iu (nói), shiraseru (thơng báo)… </i>
<i>- Nhóm động từ thể hiện các hoạt động biểu thị ý chí: kimeru (quyết định)… - Nhóm động từ thể hiện hoạt động tâm lý, yêu ghét… của con người: iyagaru (ghét), aisuru (yêu)… </i>
<i>- Nhóm động từ biểu thị sự tồn tại, xuất hiện, tiêu biến: aru, iru (có, ở)… - Nhóm động từ biểu thị sự biến đổi, thay đổi: naru (trở nên), kawaru (thay </i>
đổi)…
<i>- Nhóm động từ biểu thị hoạt động tri nhận: kiduku (nhận ra)… - Nhóm động từ biểu thị hoạt động đánh giá: odoroku (ngạc nhiên)… - Nhóm động từ biểu thị khả năng: arieru (có thể)… </i>
<b>Kamada (1998) chỉ ra các quy tắc trong việc lựa chọn NO, KOTO. Kamada cho rằng việc lựa chọn NO, KOTO dựa theo việc phân loại động từ, chẳng hạn đối </b>
với nhóm động từ chỉ các hoạt động liên quan đến tri giác, giác quan sẽ sử dụng yếu
<b>tố danh hóa NO, nhóm động từ biểu thị các hoạt động liên quan đến hoạt động truyền </b>
đạt thơng tin/ nhóm động từ liên quan đến hoạt động tư duy của con người/ nhóm
<b>động từ biểu thị hoạt động tri nhận có thể dùng được cả hai yếu tố danh hóa là NO, </b>
<b>KOTO. </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">Theo Okuda (2011), danh từ hình thức (yếu tố danh hóa) là một trong những loại danh từ đặc trưng có ý nghĩa mang tính hình hình thức, trừu tượng. Danh từ hình thức khơng sử dụng độc lập mà được dùng kèm theo bổ ngữ bổ sung ý nghĩa cụ thể cho câu văn. Trong nghiên cứu này, Okuda đã đề cập đến các chức năng biểu hiện
<i><b>của danh từ hình thức NO, KOTO, TOKORO, MONO. </b></i>
Từ nghiên cứu đi trước, có thể nói danh hóa động từ trong tiếng Nhật được biểu thị bằng nhiều phương thức danh hoá khác nhau, nhưng phương thức kết hợp
<i><b>với các yếu tố danh hóa NO, KOTO, TOKORO, MONO là phổ biến trong tiếng </b></i>
Nhật.
<b>Dưới góc độ giáo dục tiếng Nhật, danh hoá động từ bằng yếu tố danh hóa NO, </b>
<b>KOTO, TOKORO, MONO thường khiến người học tiếng Nhật gặp khó khăn và </b>
nhầm lẫn trong vận dụng để nói hoặc viết. Để giúp cho người học có thể vận dụng hiệu quả các yếu tố danh hoá động từ, đồng thời giảm thiểu những lỗi do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, Trần Thị Minh Phương đã có hai cơng trình cơng bố tại Việt Nam gồm: (1) Cách chuyển dịch các yếu tố danh hóa động từ trong tiếng Nhật sang tiếng
<b>Việt, 2017; (2) Khảo sát cách dùng của NO, KOTO trong các giáo trình tiếng Nhật </b>
sơ cấp – Hướng đến việc biên soạn lại nội dung giáo trình, 2011.
<b>Jonson (2007) khẳng định rằng NO và KOTO là một danh từ hình thức, tác </b>
giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống dưới một góc độ khác so với nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung vào chức năng ngữ nghĩa và chức năng cú pháp của hai
<i>từ. Dưới góc độ giảng dạy tiếng Nhật, Hidemi (Cách sử dụng koto và no của người </i>
<i>học tiếng Nhật, có liên hệ với mono, 2016) chỉ ra rằng trong các sách giáo trình giảng </i>
<i><b>dạy tiếng Nhật sơ cấp và trung cấp ở các nước, NO được biết đến với chức năng là </b></i>
trợ từ nối danh từ với danh từ, là đại từ có chức năng danh hóa cho động từ . Mặt
<b>khác, NO và KOTO cịn là biểu thức ngơn ngữ gắn với những mẫu câu cố định. </b>
<i><b>Chẳng hạn, KOTO được dùng cố định trong một cấu trúc ngữ pháp cố định để diễn </b></i>
<i>tả một trải nghiệm (đã từng): V</i>たことがある<i>(-ta koto ga aru), quyết định: V</i>ることにする<i><b> (ru koto ni suru), hay MONO được sử dụng trong mẫu câu cố định như </b></i>
<i>hồi tưởng V</i>たものだ<i> (ta mono da), đương nhiên, thường thức: V</i>るものだ<i><b> (ru mono </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><i><b>da). No thể hiện tình thái (modality) gồm thái độ, tình cảm của người nói. Trong khi </b></i>
<b>đó, KOTO khi danh hóa sẽ tạo ra biểu thức danh hóa động từ với sắc thái bắt buộc, </b>
nghĩa vụ. Dưới quan điểm hành vi ngôn ngữ, Himeno Masako (2003) đã chỉ ra rằng
<i><b>koto biểu thị chức năng ngôn ngữ hướng đến người nghe như khuyên bảo, hỏi xin ý </b></i>
kiến, … hoặc thể hiện phán đốn, nhận định mang tính giải thích, lý giải, thể hiện chủ
<i><b>ý của người nói gồm khuyến cáo/ bảo ban/ yêu cầu/ ép buộc. Tóm lại, KOTO + da </b></i>
<i>- trợ động từ phán đoán sẽ mang chức năng biểu đạt nhận thức (epistemic modality) </i>
<b>và nghĩa vụ (deontic modality). Yoshida (2006) cũng cho rằng KOTO trường hợp </b>
này mang ý nghĩa cấm đoán hành động của người nghe, người nghe cảm giác nghĩa vụ phải làm.
Tuy nhiên, trên bình diện nghiên cứu so sánh đối chiếu, hiện vẫn chưa có cơng trình nghiên cứu nào tiến hành đối chiếu cụ thể hiện tượng danh hóa động từ trong
<b>tiếng Việt và tiếng Nhật. Qua cơng trình nghiên cứu này, chúng tơi cũng muốn tìm ra </b>
những điểm giống và khác nhau của hiện tượng danh hóa, đặc biệt là danh hóa động từ trong cả hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật.
<b>2.1.2. Tình hình nghiên cứu về danh hóa động từ trong tiếng Việt </b>
Hiện tượng danh hóa được các nhà ngơn ngữ học ở Việt Nam quan tâm khi nghiên cứu ngôn ngữ trên các bình diện cú pháp, ngữ nghĩa, chức năng và đặc biệt là trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy.
<i>Theo nghiên cứu về Động từ tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1997), trong </i>
tiếng Việt, danh hóa động từ được thực hiện thơng qua sự kết hợp giữa yếu tố danh hóa với động từ, hầu hết các yếu tố danh hóa của tiếng Việt cịn có thể dùng độc lập như những danh từ khái quát. Vì vậy, việc phân biệt trường hợp sử dụng chúng như một yếu tố danh hóa với trường hợp được dùng như một danh từ khái quát khá là phức tạp. Trong các ngôn ngữ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa động từ và danh từ là sự
<i>chuyển hóa đa dạng và phức tạp nhất. Nhiều nhà ngôn ngữ học khẳng định: danh từ </i>
<i>được phát sinh từ các từ loại khác trong đó chủ yếu là động từ. Trong tiếng Việt, mỗi </i>
tiểu loại hoặc một vài tiểu loại động từ có thể danh hóa bằng một hay vài yếu tố danh
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">hóa nhất định. Vì thể mơ tả hiện tượng danh hóa động từ cũng chính là mơ tả hoạt động của các yếu tố danh hóa trong các tiểu loại động từ khác nhau.
Ngoài ra, hầu như các nhà Việt ngữ học đều nhận thấy sự tồn tại của hiện tượng danh hố, trong đó có hiện tượng danh hóa động từ, thừa nhận đặc tính danh từ của tổ hợp: yếu tố ngữ pháp chuyên dùng + động từ, nhưng nhìn chung quan niệm của các nhà Việt ngữ học vẫn chưa thống nhất. Tác giả Nguyễn Thị Thuận (Danh hóa
<i>trong tiếng Việt hiện đại, 2003), đã khái quát hóa phương thức danh hóa, nêu lên </i>
<i>được các yếu tố danh hóa và ngữ nghĩa của các yếu tố đó khi kết hợp với động từ hoặc tính từ cũng như mệnh đề trong tiếng Việt hiện đại. Theo Phan Khôi (Việt ngữ nghiên cứu, 1997, tr.151): “Khi muốn có một danh từ chỉ về động tác, trạng thái phải mượn động từ hay hình dung từ và đặt lên trên đó chữ “cái đẹp” hay “ sự học” chẳng </i>
<i><b>hạn. Ơng cịn cho rằng những cách nói như cái chết, cuộc đi chơi… là nói theo lối </b></i>
<i>Pháp. Nguyễn Văn Tu (Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, 1998 tr. 131-132) khi bàn về </i>
<i>mối quan hệ về nghĩa của từ khi chuyển loại có đưa ra 2 ví dụ về danh hoá như một </i>
<i>phần của chuyển loại; Hồ Lê (Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại,1992, tr. 340) thì miêu tả từ ghép chính phụ là danh từ, ơng đã đưa một vài ví dụ là sản phẩm các tổ hợp của cái, nỗi, sự với động từ, tính từ song hồn tồn khơng nhằm mục đích minh hoạ cho phương thức danh hoá; Đái xuân Ninh (Hoạt động của từ tiếng Việt, </i>
<i><b>337-1978, tr.102) đã dẫn những tổ hợp định danh như: cái đẹp, cái hay, nỗi lo, sự lãnh </b></i>
<i>đạo nhằm minh chứng cho phương pháp phái sinh từ vựng để biểu thị những khái </i>
niệm trừu tượng, bằng cách kết hợp động từ, tính từ với những hình vị nhánh. Kết quả của phương thức danh hóa được dùng để thể hiện một phương thức cấu tạo từ chứ không được mô tả.
<i>Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, 2001, tr.118-119) cũng đã đưa </i>
<i><b>ra một số từ như sự, việc, cuộc, nỗi, niềm, cơn, trận nhưng không phải để mơ tả </b></i>
chúng trong vai trị làm cơng cụ danh hố động từ, tính từ mà là để làm sáng tỏ khái niệm từ hư – từ loại. Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban đều có đề cập đến một vài sản phẩm của phương thức danh hoá nhưng chỉ dùng chúng như những ví dụ miêu tả
<i>một tiểu loại trong từ loại danh từ; Đinh văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt, Từ loại, 1986, </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><i>tr..46) khẳng định trong tiếng Việt “mỗi động từ, tính từ có khả năng có một danh từ </i>
<i>tương ứng bằng cách kết hợp với yếu tố ngữ pháp chuyên dùng” song ông cũng không </i>
mô tả, khảo sát phương thức này. Nhiều nhà Việt ngữ học xếp các yếu tố ngữ pháp chuyên dùng (để danh hóa) vào nhóm các từ chỉ đơn vị hay loại từ hành động nên các cơng trình nghiên cứu về loại từ, từ chỉ đơn vị cũng có nhắc đến những yếu tố này song cũng chỉ dừng lại ở mức đề cập mà không mô tả.
Qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi sẽ nghiên cứu sâu hơn về phương thức cũng như là ngữ nghĩa của các yếu tố danh hóa, khảo sát dữ liệu để làm rõ hơn cách sử dụng, những điểm tương đồng và dị biệt về mặt ngữ nghĩa của một vài yếu tố danh hóa khi thay thế cho nhau trong cùng ngữ cảnh. Nhiệm vụ chính của luận văn tập trung vào đối chiếu hiện tượng danh hóa giữa tiếng Việt và tiếng Nhật ở cấp độ từ là hiện tượng danh hóa động từ.
Luận văn chỉ ra phạm vi khả năng danh hoá và sự khác biệt ý nghĩa giữa các yếu tố danh hoá và đưa ra những tiêu chí giúp cho người học có thể sử dụng chính xác yếu tố danh hố và hiểu sâu hơn, từ đó có thể tạo ra những tổ hợp danh từ thể hiện những sắc thái ý nghĩa khác nhau. Kết quả của luận văn có thể góp phần làm cho người học hiểu rõ những đặc điểm ngữ nghĩa khác nhau của các biện pháp danh hố, để có thể diễn đạt phong phú hơn, sinh động hơn.
<b>2.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN </b>
<b>2.2.1. Khái quát về động từ/ danh từ/ danh ngữ trong tiếng Nhật và tiếng Việt </b>
<i><b>2.2.1.1. Khái quát về động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt </b></i>
Theo quan điểm các nhà Nhật ngữ học, đặc trưng cơ bản của động từ trong tiếng Nhật là làm vị ngữ trong câu và hoạt động trong câu với nhiều chức năng khác nhau. Dựa theo cách sử dụng, hình thức của động từ được chia làm ba nhóm:
- Động từ nhóm 1, U-Verb (kết thúc bằng đi U): kaku (viết), iku (đi),… - Động từ nhóm 2, RU-Verb (kết thúc bằng đuôi i-RU và e-RU): miru (xem), neru (ngủ),…
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">- Động từ nhóm 3 (động từ sử dụng bất quy tắc): kuru (đến), suru (làm), benkyousuru (học)-danh từ+suru,…
Trong tiếng Việt, động từ là một loại từ được sử dụng rộng rãi nhất, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong hệ thống các loại từ của các ngôn ngữ. Câu trong tiếng
<i>Việt có vị ngữ chiếm gần 90% là động từ, “những ý nghĩa ngữ pháp phụ theo động </i>
<i>từ ở trong động từ và các phương tiện biểu thị các ý nghĩa ấy nhiều và đa dạng hơn cả” (Nguyễn Kim Thản, Động từ trong tiếng Việt, 1997, tr.9). Ngoài ra, động từ trong </i>
tiếng Việt có thể đảm nhận nhiều chức năng khác ở trong câu.
<i>Cùng quan điểm, theo Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt tập 1, 1996, tr.91, “cũng như danh từ, động từ có khả năng đảm nhiệm nhiều chức năng cú pháp khác </i>
<i>nhau, nhưng chức năng phổ biến và quan trọng nhất là làm vị ngữ cấu tạo câu, có vị trí trực tiếp đứng sau chủ ngữ. Do đó, chức năng vị ngữ của động từ làm thành một tiêu chuẩn đối lập động từ và danh từ trong tiếng Việt.” Đặc trưng của tiếng Việt là </i>
một ngơn ngữ phân tích tính điển hình nên từ của tiếng Việt giữ nguyên một hình thức ở những vị trí khác nhau trong câu, điều này gây khó khăn trong việc xác định ranh giới giữa hai từ loại động từ và tính từ (hiện nay có ý kiến cho rằng nên xếp chung hai loại từ này vào cùng một loại, đó là vị từ).
<i>Nguyễn Kim Thản (Động từ trong tiếng Việt, 1997, tr23-24): “Về mặt ý nghĩa, </i>
<i><b>biểu thị quá trình, cũng tức là biểu thị hoạt động hay trạng thái nhất định của sự vật </b></i>
<i>trong quá trình”. </i>
<i>Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt tập 1, 1996, tr.90): “Động từ là những </i>
<i>biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình. Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể. Đó là ý nghĩa hành động. Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian”. Về </i>
khả năng kết hợp, động từ thường có các phụ từ đi kèm, để biểu thị các ý nghĩa quan hệ tình thái giữa quá trình với cách thức và với đặc trưng vận động của q trình trong khơng gian, trong thời gian hiện thực. Động từ còn kết hợp với thực từ (danh từ) nhằm phản ánh các quan hệ trong nội dung vận động của quá trình.
<b>Phân loại động từ </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">Trong các ngơn ngữ nói chung và tiếng Nhật, tiếng Việt nói riêng, việc phân loại động từ tương đối phức tạp.
Trong tiếng Nhật, các nhà ngơn ngữ có nhiều quan điểm về cách phân loại động
<i>từ. Trên quan điểm giáo dục tiếng Nhật, Masuoka Takashi, Takubo Yukinori (Ngữ </i>
<i>pháp tiếng Nhật cơ bản, 1992, tr.33-36) chỉ ra rằng nhìn chung dựa theo ý nghĩa biểu </i>
thị, động từ trong tiếng Nhật được phân chia thành ba nhóm: động từ chuyển động/ động từ trạng thái; nội động từ/ ngoại động từ; động từ ý chí/ động từ vơ ý chí, cụ thể như sau:
- Động từ chuyển động: あるく (đi), かく (viết), はなす (nói),… - Động từ trạng thái: ある (có), できる (có thể),…
- Nội động từ: 人があつまる (mọi người tụ tập), 車がとまる(xe dừng), 木がたおれる (cây ngã), ドアが開く(cửa mở),…
- Ngoại động từ:人をあつめる(tập hợp mọi người), 車をとめる(dừng xe), 木を倒す (làm ngã cây), ドアをあける(mở cửa), 本 を読む(đọc sách),…
- Động từ ý chí: 歩く (đi), 読む (đọc), 食べる (ăn),… - Động từ vơ ý chí:咲く (nở), 失う(mất), 老いる (già),…
Dưới góc độ ngữ pháp học chức năng, Kudo (1985), đưa ra cách phân loại các nhóm động từ như sau:
- Nhóm động từ biểu thị các hoạt động liên quan đến hoạt động truyền đạt (liên quan đến các hoạt động truyền đạt thơng tin): 言う (nói)、伝える (nhắn lại)…
- Nhóm động từ thể hiện các hoạt động biểu thị ý chí: 要求 (u cầu)、禁止 (cấm đốn)、許可 (cho phép)、願望 (nguyện vọng)、決心 (quyết tâm)…
- Nhóm động từ biểu thị hoạt động tư duy của con người: 思う (nghĩ)、信じる (tin tưởng)…
- Nhóm động từ chỉ các hoạt động biểu thị: 示す (chỉ ra)、さす (chỉ ra)、証明する (chứng minh)、意味する (ý nghĩa)、ふれる (tiếp xúc)、判明する (phân biệt)…
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Dựa theo quan điểm Kudo như trên, Kawagoe Nahoko (2006) tổng hợp các loại động từ kèm theo như sau:
- Động từ biểu thị hoạt động tuyền đạt thông tin: いう (nói)、しゃべる (nói chuyện)、つたえる (nhắn lại)、述べる (bày tỏ)、書く (viết)、知らせる (thông báo)…
- Động từ biểu thị thực hiện tình huống thơng qua lời nói, văn bản: 命じる (ra lệnh)、禁じる (cấm)、望む (hy vọng)、許す (cho phép)、約束する (hứa hẹn)、決める (quyết định)…
- Động từ biểu thị hoạt động tư duy: 思う (nghĩ)、信じる (tin tưởng)、疑う (nghi ngờ)、理解する (hiểu)…
- Động từ khái quát tình huống: ことが+ある、ない、できる (đã từng, chưa từng, có thể)/ことに+きまる、する (quyết định)、よる (tùy thuộc vào)… Trong tiếng Việt, xuất phát từ những quan niệm khác nhau, từ đặc trưng của loại hình ngơn ngữ đã có những cách chia từ loại động từ thành các tiểu loại khác nhau.
Trước đây, do ảnh hưởng của ngơn ngữ nước ngồi nên trong một thời gian dài người ta cũng chia động từ tiếng Việt thành hai tiểu loại là động từ nội động và động
<i>từ ngoại động. Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt, Từ loại, 1986, tr.115) cho rằng: “Hiểu theo nghĩa rộng: Bất kỳ một động từ nào, hễ đòi hỏi bắt buộc có bổ ngữ thi </i>
<i>được gọi là ngoại động. Hiểu theo nghĩa hẹp: phạm trù ngoại động chỉ gắn với khái niệm bổ ngữ trực tiếp của động từ”. </i>
VD 6.
<i>- Nó học (nội động từ) </i>
<i>- Nó học Tốn (ngoại động từ) - Cơ ta khóc (nội động từ) </i>
<i>- Cơ ta khóc bạn (ngoại động từ) </i>
<i>(Lê Biên, Từ loại tiếng Việt hiện đại, 1999, tr.75) </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Vì vậy, trong thực tế khi khảo sát tiếng Việt, sự phân biệt nội động và ngoại động trong động từ tiếng Việt không rõ ràng và chưa xác định. Xuất phát từ lý do đó,
<i>Đinh Văn Đức đã cho rằng: “Bổ ngữ là thành tố phụ giới hạn của một số động từ </i>
<i>nhất định, còn trạng ngữ là thành tố phụ của động từ nói chung. Lúc đó, bổ ngữ là tiêu chí của động từ ngoại động”. </i>
Ngồi ra, Nguyễn Thị Thuận (2003) đã tổng hợp, kết luận về việc phân loại động từ thành ba nhóm chính như sau:
<i>Trong Ngữ pháp tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2002, tr.125-127), </i>
có thể phân loại động từ thành một số tiểu loại sau đây:
- Động từ ngoại động, đó là những hoạt động như ăn, viết, đọc, xây dựng, cải
<i><b>tiến…Ví dụ như ăn bánh, viết thư (đối tượng nói đây là sự vật chịu tác động của hoạt </b></i>
động)
<i>- Động từ nội động, đó là những hoạt động như: ngủ, tắm, cười, chạy, bay, làm </i>
<i>lụng, nghỉ ngơi…Ví dụ, em bé đang ngủ, mọi người đang làm lụng ngoài đồng (Khi </i>
dùng loại động từ này làm phần thuyết trong nòng cốt câu là đã đủ nghĩa)
- Động từ cảm nghĩ, đó là những hoạt động tâm lý như: nghe, biết tin, yêu, nhớ,
<i><b>nghi ngờ…Khi dùng nó làm chính tố thì sau nó có phụ tố chỉ sự vật đã có tác động </b></i>
<i>tới hoạt động, mới đầy đủ ý nghĩa. Ví dụ: nghe nhạc, tin người, nhớ quê hương... </i>
<i>- Động từ phương hướng như: ra, vào, lên, xuống…Khi dùng những động từ </i>
này làm chính tố của một ngữ đảm nhiệm phần thuyết trong nòng cốt thì có thể khơng
<i>cần phụ tố mà vẫn chứa đầy đủ ý nghĩa của câu. Ví dụ: khách vào, máy bay xuống… </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><i><b>- Động từ tồn tại, chỉ trạng thái tồn tại của sự vật như: có, cịn, hết, mất…. Khi </b></i>
<i><b>dùng những động từ này làm chính tố, thì sau chính tố, có phụ tố chỉ sự vật tồn tại. </b></i>
<i><b>2.2.1.2. Khái quát về danh từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt </b></i>
Cho đến nay, trong các ngôn ngữ các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm cách trình bày khác nhau về đặc điểm khác nhau của danh từ nhưng chưa có được một định nghĩa danh từ nào có khả năng tổng hợp một cách đầy đủ nhất.
<i>Trong tiếng Nhật, theo Masuoka Takashi, Takubo Yukinori (Ngữ pháp tiếng </i>
<i>Nhật cơ bản, 1992, tr.33-36), vai trò của danh từ là chủ ngữ trong câu khi được gắn </i>
với trợ từ chủ đề/ chủ điểm(wa, nara…), danh từ là bổ ngữ của câu khi đi kèm trợ từ cách và trở thành vị ngữ khi kèm theo từ nhận diện/ phán đoán (da, dearu, desu,)…
<i>Trong tiếng Việt, Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, 1986, tr.454) định nghĩa: “Danh từ là từ loại quan trọng bậc nhất trong số các từ của một ngơn </i>
<i>ngữ nói chung và của tiếng Việt nói riêng. Danh từ có một số lượng rất lớn trong vốn từ vựng và có một chất lượng hết sức quan trọng trong cơ cấu ngữ pháp”. </i>
<i>Hồ Lê (Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, 1992, tr.37) lại định nghĩa </i>
danh từ về mặt ý nghĩa. Hồ Lê cho rằng danh từ là những từ có ý nghĩa khái quát chỉ
<i><b>sự vật và các khái niệm trừu tượng. Về mặt ngữ pháp, danh từ là những từ có khả </b></i>
<i>năng kết hợp với đại từ chỉ định: này, kia, ấy, đó, nọ,...(nhà kia, thắng lợi này, việc </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">nọ, cuốn ấy,...). Danh từ cịn có khả năng kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với số từ
<i>(hay những phụ từ chỉ lượng: những, các, mọi, mỗi, mấy; hay những đại từ chỉ lượng: </i>
<i>bao nhiêu, bấy nhiêu,...) để tạo ra cấu trúc danh ngữ. </i>
<i>Quan điểm của Cao Xuân Hạo (Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ </i>
<i>nghĩa, 1994, tr.11-16) về danh từ như sau: “Từ loại có thể tự mình làm thành ngữ </i>
<i><b>đoạn dùng để chỉ (những) sự vật, hay (những) thực thể được xử lý như sự vật (hành </b></i>
<i>động, biến cố, trạng thái, tình cảm, tính chất...), tức danh từ, một trong những bộ phận của câu chuyên biểu thị các tham tố của sự tình”. </i>
Như vậy, về cơ bản các nhà Việt ngữ học đều đồng ý rằng danh từ thường dựa trên ba tiêu chí để phân loại từ nói chung và xác định danh từ nói riêng: ngữ nghĩa,
<i>khả năng kết hợp và chức năng cú pháp (Đinh Văn Đức, Về một kiểu ý nghĩa ngữ </i>
<i>pháp gặp ở thực từ tiếng Việt, 1985). Chúng tôi nhận thấy việc dựa trên cả ba tiêu chí </i>
như vậy là cách làm hợp lý và khoa học.
<b>Phân loại danh từ </b>
Trong tiếng Nhật, danh từ được phân loại dựa theo các lớp nghĩa cơ bản như sau:
- Danh từ chỉ người, danh từ chỉ sự vật, danh từ chỉ tình huống/sự tình (事態名詞), danh từ chỉ nơi chốn, danh từ chỉ phương hướng, danh từ chỉ thời gian.
<i><b>Những danh từ đại diện cho phạm trù ngữ nghĩa này là: hito, mono, koto, tokoro, </b></i>
<i><b>hou, toki. </b></i>
- Danh từ nghi vấn: diễn đạt các câu hỏi khác nhau tùy thuộc vào danh từ được đề cập đến. Về từ hỏi của các danh từ, đối với danh từ chỉ người, từ hỏi là dare (ai), danh từ chỉ vật và danh từ chỉ tình huống, từ hỏi là dore (cái nào), nani (cái gì), từ hỏi của danh từ chỉ nơi chốn từ là doko (ở đâu), từ hỏi của danh từ phương hướng là dochira (nơi nào, cái nào)) và từ hỏi của danh từ chỉ thời gian là itsu (khi nào).
- Danh từ chỉ định: konohito (người này), sonohito (người đó), anohito (người kia)…
- Danh từ chỉ số lượng: ichijikan (1 tiếng), sannen (3 năm), daitai (đại khái), ooyoso (khoảng chừng), tasuu (đa số), shosu (thiểu số)…
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><i><b>- Danh từ hình thức: koko (sự), mono (vật), no (việc), wake (sự tình), tokoro </b></i>
<i><b>(nơi)… </b></i>
Trong nghiên cứu của Takahashi (1994) và Suzuki (1972), cùng quan điểm chỉ ra rằng sự phân loại của danh từ và động từ đều dựa vào đặc trưng của ý nghĩa từ vựng và ngữ pháp được phân hóa rõ.
Dựa theo sự đa dạng của phân định từ loại của các nhà Nhật ngữ, Trần Thị
<i>Chung Toàn (Bàn về việc phân định từ loại trong tiếng Nhật hiện đại, 2014) đã đưa </i>
ra bảng kết quả phân loại từ loại trong đó có danh từ (bao gồm các tiểu loại trong thể từ), cụ thể như sau:
<i>- Danh từ hình thức: koko (sự), mono (vật), wake (sự tình), tokoro (nơi)… - Đại từ nhân xưng: kare (anh ấy), kanojo (cô ấy), watashi (tôi)… </i>
<i>- Đại từ chỉ định: kore (cái này), sore (cái đó), are (cái kia)… - Số từ (chính): ichi (1), ni (2), san (3)… </i>
<i>- Trợ số từ (loại từ, đơn vị từ): sannin (ba người), nidai (hai cái), sanbon(ba </i>
<i>bông, ba viên)… </i>
<i>- Số từ/ từ chỉ số lượng: ichimai (một cái áo ), ikko (một quả táo), ippon (một </i>
<i>điếu thuốc), ichidai (một chiếc tivi)… </i>
Trong tiếng Việt, việc phân định từ loại cũng như việc định nghĩa các khái niệm về danh từ, động từ, tính từ cần phải dựa trên cơ sở ý nghĩa khái quát của các lớp từ, bởi vì chính ý nghĩa từ vựng của từ quyết định khả năng kết hợp của nó cũng như khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định trong câu.
Các tác giả như Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Văn Thung phân loại danh từ thành danh từ chung và danh từ riêng. Đây là cách phân loại phổ biến thường được sử dụng. Ngoài ra, về cơ bản các nhà Việt ngữ học còn dựa vào ba tiêu chí sau để phân loại từ nói chung và xác định danh từ nói riêng:
- Ngữ nghĩa: danh từ tiếng Việt có ý nghĩa khái quát là ý nghĩa thực thể, trong đó căn bản là ý nghĩa sự vật;
- Khả năng kết hợp: thể hiện qua sự kết hợp của danh từ với các thành tố phụ của danh ngữ mà danh từ làm trung tâm;
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">- Chức năng cú pháp: danh từ có khả năng làm chủ ngữ, bổ ngữ hoặc cùng với
<i>là làm vị ngữ, cũng có thể làm định ngữ cho danh từ khác. </i>
Những đặc điểm và chức năng này của danh từ sẽ giúp chúng tôi vận dụng để
<i><b>khảo sát kết quả của phương thức danh hóa để có thể thấy sự khác nhau và giống </b></i>
nhau so với danh từ gốc.
<i><b>2.2.1.3. Khái quát về danh ngữ trong tiếng Nhật và tiếng Việt </b></i>
Trong tiếng Nhật, danh ngữ còn được gọi là cụm danh từ, gồm một danh từ chính và danh từ chính này được bổ nghĩa bằng những từ bổ nghĩa (modifiers), bổ sung ý nghĩa cho danh từ đó hoặc nêu các thuộc tính của đối tượng mà danh từ đó đề cập đến. Theo Masuoka Takashi, Takubo Yukinori (Ngữ pháp tiếng Nhật cơ bản, 1992, tr.157-159) từ bổ nghĩa có thể bao gồm:
<i> - Từ liên thể (連体詞): honno kimochi (chỉ là chút lịng thành); aru hi (hơm </i>
<i><b> - Danh từ + trợ từ cách + NO: Canada kara no tegami (lá thư từ Canada), </b></i>
<i><b>Tokyo made no kippu (vé đến Tokyo),… </b></i>
<i><b> - Danh từ + cụm từ tương đương trợ từ cách + NO: nihongo nitsuite no kenkyuu </b></i>
<i>(nghiên cứu về Nhật Bản), ningen toshite no seikatsu (cuộc sống như một con </i>
<i><b>người),… </b></i>
<i><b> - Phó từ + NO: takusan no hito (nhiều người)</b></i>、<i><sub>katsute no koibito (người yêu </sub></i>
<i><b>cũ),... </b></i>
<i><b> - Danh từ + TOIU: Yamada toiu hito (người là Yamada), kyoiku toiu shigoto </b></i>
<i><b>(công việc là giáo dục),… </b></i>
<i><b> - Danh từ + TOITTA: Taiwan, Kankoku toitta shokoku (các nước như Hàn </b></i>
<i><b>Quốc, Đài Loan,…, dùng để đưa ra ví dụ. </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><i><b> - Danh từ + NOYOUNA/MITAINA: ringo noyouna hoo (cái má giống như </b></i>
<i><b>quả táo), okaasan mitaina hanashikata (cách nói giống như mẹ bạn),… </b></i>
Trong tiếng Việt, nhiều nhà ngôn ngữ học đã đưa ra cơ sở để xác định từ loại danh từ cũng như phân loại danh từ thành các tiểu loại nhỏ dựa trên khả năng kết hợp của danh từ trung tâm với các thành tố phụ đứng trước và sau nó khi sử dụng danh ngữ.
<i>Nguyễn Lân Trung (Về danh ngữ tiếng Việt, 2013), đã khái quát về danh ngữ: </i>
<i>Danh ngữ là cụm từ tự do có quan hệ chính phụ và có danh từ làm thành tố trung tâm. Ở dạng đầy đủ, danh ngữ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau. Phần trung tâm danh ngữ do các danh từ đảm nhiệm, có thể đó là các danh từ riêng hay các danh từ chung. Phần trước trung tâm danh ngữ chủ yếu do các định tố là số từ đảm nhiệm. So với phần trước trung tâm danh ngữ, phần sau trung tâm danh ngữ có tổ chức phức tạp hơn nhiều, đa dạng về cấu tạo, linh hoạt về vị trí, phong phú về ý nghĩa. </i>
<i>Trong Ngữ pháp tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2002, tr.125-127), </i>
các tác giả đã định nghĩa danh ngữ là một ngữ mà danh từ làm chính tố. Về cấu tạo của danh ngữ, bao gồm ba yếu tố: chính tố, khu vực trước và khu vực sau. Trong các trường hợp bình thường, chính tố của danh ngữ là danh từ đơn thể, danh từ tổng thể, danh từ trừu tượng hay danh từ vị trí.
- Khi chính tố là danh từ đơn thể, thì có thể có đủ các loại phụ tố trước và sau.
<i>VD 7. Chiếc bàn gỗ này; hai con gà rất béo ấy; tất cả những cuốn sách mượn </i>
<i>kia. </i>
- Khi chính tố là danh từ tổng thể, danh từ trừu tượng , thì khơng có đủ các loại phụ tố ở khu vực trước.
<i>VD 8. Toàn thể nhân loại tiến bộ; tất cả những ý kiến đúng đắn ấy. </i>
Hơn nữa, một danh ngữ chỉ ra một sự vật trong thực tại, nghĩa là một sự vật được xác định theo những điều kiện tồn tại của nó trong thực tại. Khi sử dụng, giá trị ngữ pháp về tính xác định của các kiểu danh ngữ được thể hiện rõ, với chính tố và những phụ tố có thể có để giữ vai trị ngữ pháp nhất định, đơi khi vai trò ngữ pháp
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">này lại chỉ do danh từ làm chính tố đảm nhận. Chẳng hạn, trong một hồn cảnh nhất
<i>định, có thể nói: những bơng hoa này rất đẹp, hoặc cũng có thể nói: hoa rất đẹp với phần đề chỉ do từ hoa đảm nhiệm. </i>
Có thể khái quát là về nguyên tắc danh từ không trực tiếp làm yếu tố cấu tạo của câu, mà chỉ danh ngữ có tính xác định mới đóng vai trị đó.Trong danh ngữ, danh
<i>từ đứng ở trung tâm là từ quan trọng nhất, Nguyễn Tài Cẩn (Từ loại danh từ trong </i>
<i>tiếng Việt hiện đại, 1975, tr. 36-37) cũng chỉ ra rằng ngoài trung tâm ra, trong danh </i>
ngữ cịn có những thành tố phụ. Mơ hình danh ngữ trong tiếng Việt theo Nguyễn Tài Cẩn (1975), Nguyễn Kim Thản (1997) như sau:
<i>Theo quan điểm của Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt – Tập 2, 1992), </i>
cụm Danh từ cũng có cấu tạo chung gồm 3 phần: - Phần phụ trước
- Phần trung tâm - Phần phụ sau
Phần phụ trước thì có các yếu tố bổ sung nghĩa về mặt số lượng và tăng dần tính khái quát đối với phần trung tâm. Phần phụ sau thì có các yếu tố bổ sung nghĩa về mặt chất lượng và tăng dần tính cụ thể hố đối với phần trung tâm. Phần trung tâm của danh ngữ thường là một danh từ hoặc một ngữ danh từ đảm nhận. Trong đó ngữ
<i><b>danh từ gồm một danh từ chỉ loại đứng trước và một danh từ chỉ sự vật hay một động </b></i>
tr. 6).
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Nguyễn Tài Cẩn cũng đưa ra những đặc điểm của danh ngữ, cũng đã chỉ ra rằng ngoài cách nhận diện những tổ hợp được xem là danh ngữ dựa theo các yếu tố như sau:
- Trong danh ngữ chỉ có thể có một trung tâm. Nếu có hai trung tâm thì khơng phải danh ngữ.
- Cả danh ngữ phải có vai trị ở trong câu tương đương như một danh từ: danh ngữ là dạng triển khai của danh từ.
- Danh ngữ là một tổ hợp từ mà cấu tạo không liên quan đến một chức vụ cú pháp nhất định nào: có thể tách danh ngữ ra khỏi câu để khảo sát.
<i>Tóm lại theo quan điểm các nhà Việt ngữ học, đều thống nhất rằng: “Danh </i>
<i>ngữ là một kết cấu ngữ pháp, một tổ hợp tự do có danh từ làm trung tâm” (Đinh Văn </i>
<i>Đức, Về một kiểu ý nghĩa ngữ pháp gặp ở thực từ tiếng Việt, Tạp chí ngơn ngữ số 4, </i>
tr.56) và chúng tôi nhận thấy tổng hợp trong nghiên cứu Nguyễn Thị Thuận (2003) về đặc điểm của danh ngữ rất hợp lý và đầy đủ như sau:
- Danh ngữ cấu trúc theo nguyên tắc bao gồm thành tố chính và các thành tố phụ xung quanh nó thành các vị trí.
- Quan hệ giữa các thành tố chính và thành tố phụ là quan hệ chính phụ, số lượng vị trí thành tố phụ là có giới hạn, trật tự của các thành tố trong cấu trúc cố định. - Cấu trúc danh ngữ phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ bao quát hơn danh từ và bị chi phối bởi đặc điểm ý nghĩa của từ trung tâm.
<b>2.2.2. Khái niệm chuyển loại </b>
Chuyển loại là hiện tượng khá phổ biến trong nhiều ngơn ngữ và đó cũng chính là một trong những phương thức danh hóa bao gồm động từ và tính từ, đặc biệt là danh hóa động từ được chúng tôi nghiên cứu trong luận văn này.
Khi khảo sát về từ loại, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, chẳng hạn như
<i>theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (Ngữ pháp tiếng Việt tập 1, 1996, 155): “chuyển di từ loại – chuyển loại là hiện tượng một từ khi thì được dùng với ý </i>
<i>tr.153-nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý tr.153-nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác”. </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Hiện tượng chuyển loại có cơ sở là sự chuyển biến ý nghĩa của từ - một phương thức tạo từ mới của ngôn ngữ. Nhưng chỉ trường hợp nào chuyển nghĩa làm cho từ có đặc điểm và chức năng ngữ pháp của từ loại khác mới được coi là hiện tượng chuyển loại. Đặc điểm của từ chuyển loại như sau:
- Từ chuyển loại có hình thức đồng âm. Một từ thuộc từ loại này khi chuyển thành một từ thuộc từ loại khác vẫn giữ nguyên vỏ ngữ âm, đó là hai từ đồng âm khác từ loại.
- Từ chuyển loại có yếu tố nghĩa từ vựng chung. Đây là cơ sở của ý nghĩa từ loại, là thành phần trong ý nghĩa khái quát của từ. Khi một từ chuyển loại (thành một từ khác, đồng âm), yếu tố nghĩa từ vựng chung sẽ được giữ lại trong cả hai từ, do đối tượng phản ánh (thực thể, quá trình, đặc trung, quan hệ) trong từ khơng thay đổi. Vì vậy, xét về mặt ý nghĩa, thì từ ban đầu và từ chuyển loại có cơ sở đồng nhất về yếu tố ngữ nghĩa từ vựng chung, chỉ thay đổi ở ý nghĩa ngữ pháp.
- Từ ban đầu có khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp với từ chuyển loại, dù không phải lúc nào cũng xác định hoặc phân biệt được một cách dứt khốt. Vì vậy, có thể cho rằng đây là hiện tượng “nhất từ đa loại”. Tình hình này dẫn đến phủ nhận từ loại trong tiếng Việt, hoặc mở rộng phạm vi chuyển loại, không phân biệt dạng thức cấu tạo từ và tổ hợp tự do với từ chuyển loại. Ví dụ tổ hợp tự do có danh từ trung
<i><b>tâm NỖI, NIỀM, SỰ, CUỘC…kết hợp với động từ, tính từ, cách kết hợp niềm + vui, </b></i>
<i><b>cuộc + đấu tranh, trong đó động từ và tính từ khơng chuyển loại thành danh từ, vẫn </b></i>
<i>giữ bản chất từ loại là động từ (đấu tranh), tính từ (vui). </i>
Cùng với quan điểm Diệp Quang Ban, trong sách Ngữ pháp tiếng Việt (2002,
<i>tr.115) dẫn ra rằng, chuyển loại là hiện tượng về những từ có thể được dùng theo </i>
<i>nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này trong một trường hợp nhất định, mà cũng có thể dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác trong một trường hợp khác. </i>
<i><b>VD 9. Chúng tơi suy nghĩ chưa thật chín chắn (động từ) </b></i>
<i><b> Những suy nghĩ chưa thật chín chắn của chúng tơi (danh từ) </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><i>Qua câu ví dụ trên ,“chuyển loại”có thể hiểu rằng có những từ vốn thuộc từ loại </i>
này rồi sau chuyển sang từ loại khác và được dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này hay từ loại kia.
Có thể nhận thấy sự chuyển loại của khá nhiều động từ cảm nghĩ thành danh từ.
<i>Phần lớn, là những từ hai tiếng như: cảm nghĩ, đắn đo, tính tốn, suy bì, dằn vặt, lo </i>
<i>lắng, ngẫm nghĩ… </i>
<i><b>VD 10. Chúng tôi đang băn khoăn (động từ) </b></i>
<i><b> Những băn khoăn của chúng tôi (danh từ) </b></i>
Trong cách dùng động từ thành danh từ cịn có cách đặt trước nó một danh từ
<i><b>loại thể như cái, sự, niềm…. Như vậy tư cách danh từ lại càng hiện rõ. VD 11. cái lo, cái buồn, cái do dự </b></i>
<i><b>sự ăn, sự mặc, sự học hành </b></i>
<i><b>niềm tin, niềm hi vọng, niềm thương nhớ </b></i>
<i>Ngồi ra, cịn có một số tính từ có thể dùng thành danh từ trừu tượng như: vất </i>
<i>vả, khó khăn, gian khổ, sung sướng, vui mừng, đau đớn… </i>
<i><b>VD 12. Chuyến công tác vừa qua khá vất vả (tính từ) </b></i>
<i> <b> Những vất vả trong chuyến công tác vừa qua (danh từ) </b></i>
Đối với những tính từ dùng thành danh từ như vậy, cũng có cách đặt trước nó
<i><b>những danh từ loại thể như: cái, sự, niềm…Chẳng hạn, những cái khó khăn, những </b></i>
<i><b>sự bực tức, những niềm vui… </b></i>
Ngoài ra, theo Võ Thị Ngọc Ân (Hiện tượng chuyển loại trong tiếng Việt và
<i>tiếng Anh dưới góc độ dạy tiếng, Luận văn Thạc sỹ, 2014), trong tiếng Anh hiện tượng chuyển loại có nhiều tên gọi khác nhau như conversion (chuyển loại), zero </i>
<i>derivation (phái sinh zero), foot formation (cấu tạo từ căn), transposition (hoán vị), functional change (thay đổi chức năng). Có hai cách tiếp cận khác nhau về hiện tượng </i>
chuyển loại: cách tiếp cận truyền thống theo lí thuyết phái sinh zero thuộc quan điểm ngôn ngữ học hình thức và chuyển loại hốn dụ theo ngơn ngữ học tri nhận.
Đối với quan điểm ngôn ngữ học hình thức thì hậu tố có thể dùng để phái sinh cấu tạo từ hoặc phương thức biến hình cũng là một hình thức khác của chuyển loại
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><i>theo ngơn ngữ học hình thức. Kết quả của quá trình phái sinh là một từ mới (sad – </i>
<i>sadness) cịn kết quả của q trình biến hình lại là hình thức khác của một từ, nation – nations). Cịn hốn dụ dùng để chỉ một hình ảnh tu từ mà ở đó tên gọi của một thực </i>
<i>thể được sử dụng, chẳng hạn như từ bottle trong He drank the whole bottle, là vật chứa thay cho chất được chứa đựng bên trong (chẳng hạn như wine or water…). </i>
Ngồi ra cịn có một loại khá khác biệt của phép hốn dụ, đó là một vật có thể dùng
<i>để chỉ hành động chẳng hạn như danh từ có thể sử dụng để chỉ hành động (shampoo </i>
<i>my hair); hoặc tính từ có thể được dùng chỉ hành động (vd: clean the table); và động </i>
<i>từ chỉ hành động có thể dùng để chỉ kết quả (vd: he gave the ball a kick). </i>
Vì thế, để có cái nhìn bao qt, đầy đủ khi xác định hiện tượng chuyển loại, cần
<i>dựa trên ba tiêu chí quan trọng: 1. ý nghĩa khái quát của từ, 2. khả năng kết hợp và 3. </i>
<i>chức năng cú pháp của từ, theo quan điểm của Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, </i>
<i>Nguyễn Văn Khang (Từ tiếng Việt, hình thái, cấu trúc, từ láy, chuyển loại, 1998, </i>
tr.143-184) là hợp lý nhất.
Theo chúng tôi, hiện tượng chuyển loại có nghĩa là có những từ vốn thuộc từ loại này rồi sau chuyển sang từ loại khác và được dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này hay từ loại kia. Hiện tượng chuyển loại là một trong những xu hướng vận động, biến đổi của từ. Sự vận động, biến đổi này có thể xảy ra trong sự phát triển nghĩa của một từ cũng như trong sự chuyển hóa của từ từ loại này sang từ loại khác. Đồng thời chứng tỏ một nhu cầu quan trọng của tư duy và của ngơn ngữ, đó là nhu cầu về danh từ để gọi tên những khái niệm, những sự vật trừu tượng.
<b>2.2.3. Hiện tượng/ Phương thức danh hóa </b>
<i><b>2.2.3.1. Định nghĩa danh hóa </b></i>
<i>Theo Từ điển ngơn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng (1998, tr.246): Danh hóa là </i>
<i>một qui trình ngữ pháp để tạo lập danh từ từ những phần khác của lời nói thường là động từ và tính từ. </i>
Hiện tượng danh hóa được nghiên cứu ở hai cấp độ: danh hóa ở cấp độ từ vựng (danh hóa động từ, tính từ) và danh hóa ở cấp độ trên từ hay cịn gọi là danh hóa cú
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">pháp (danh hóa mệnh đề). Trong danh hóa ở cấp độ từ vựng, danh hóa động từ là hiện tượng được quan tâm nghiên cứu nhiều.
Trong ngơn ngữ biến hình như tiếng Anh, ý nghĩa ngữ pháp của từ được biểu thị bằng sự biến đổi hình thái của từ, việc danh hóa động từ, tính từ hay mệnh đề cũng được thực hiện bằng sự biến đổi hình thái động từ hay tính từ. Theo các nhà Nhật ngữ học, chẳng hạn như Ojima (1996); Kamada (1998); Tanaka (1997), hiện tượng danh hóa được thực hiện chủ yếu bằng việc kết hợp động từ, tính từ hay mệnh đề với các yếu tố ngữ pháp chuyên dùng, yếu tố ngữ pháp chuyên dùng này thường được gọi là
<i>“yếu tố danh hóa”. Tùy vào từng phương thức cấu tạo mà có tên gọi khác nhau “phụ </i>
<i>tố”, “tiếp vĩ từ” hay “danh từ hình thức”. Các yếu tố danh hóa động từ phổ biến </i>
<i><b>trong tiếng Nhật như: NO, KOTO, MONO, TOKORO…) </b></i>
Tương tự như vậy, trong tiếng Việt, là một ngơn ngữ phân tích tính, theo Đinh
<i>Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt, Từ loại, 1986), danh hóa được thực hiện chủ yếu </i>
<i>bằng việc kết hợp động từ, tính từ hay mệnh đề với các yếu tố ngữ pháp chun dùng. </i>
<i>Chúng tơi cũng đồng tình với cách gọi trên. “Yếu tố ngữ pháp chuyên dùng” được kết </i>
<b>hợp với động từ, tính từ để tạo ra danh từ tương ứng, ví dụ như: SỰ, VIỆC, CÁI, </b>
<b>NỖI, NIỀM…. Những từ trên theo quan điểm một số nhà ngơn ngữ học, chính là </b>
những danh từ có nội hàm hẹp nhưng ngoại diện rộng. Trong luận văn này chúng tôi
<i>không xét về từ loại của các từ này, mà xem xét chúng như những “yếu tố danh hóa” dùng để kết hợp để chuyển di từ loại từ động từ, tính từ sang danh từ. Tóm lại “yếu </i>
<i>tố danh hóa” là yếu tố có chức năng khi chúng kết hợp với động từ, tính từ, mệnh đề </i>
có thể biến những động từ, tính từ, mệnh đề này thành những danh ngữ (Trong tiếng
<b>Việt có các yếu tố danh hóa như: SỰ, VIỆC, CÁI, NỖI, NIỀM, CƠN, TRẬN, </b>
<b>CHUYẾN, NHỮNG, MỌI…) </b>
Về các yếu tố danh hóa này, trước đây, một số nhà nghiên cứu Việt ngữ học đã gọi nó bằng những tên gọi khác nhau: loại từ hành động, danh từ thuộc loại đếm được…Điểm khá thống nhất giữa các nhà nghiên cứu này khi họ đề cập đến các yếu tố này là tính chất khá trống nghĩa của chúng.
Theo Đinh Văn Đức (2021, tr.55) về hiện tượng danh hóa hay nói theo Halliday
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">là ẩn dụ ngữ pháp vốn khơng có trong ngữ pháp tiếng Việt cho đến khi tiếng Việt tiếp xúc với ngôn ngữ phương Tây. Trong tư duy của người Việt, ngữ pháp bị chi phối bởi đặc điểm phân tiết, phân âm. Trong khi đó, từ Châu Âu là một khối gắn kết với nhau, hòa kết giữa căn tố và phụ tố để tạo ra theo cách phái sinh. Trong tiếng Việt, do sự tiếp xúc, một số thực từ bắt đầu chuyển thành bán hư từ rồi thành hư từ. Từ sự là điển hình nhất của hiện tượng chuyển đổi. Sự có nghĩa là việc, là một từ Hán và
<i><b>được người Việt trước thế kỷ XX sử dụng như một danh từ (cái sự ấy tức là cái việc </b></i>
<i><b>ấy). Dần dần SỰ bắt đầu được dùng như là bán phụ tố . Người ta bắt đầu nói sự học, </b></i>
<i><b>sự nói và sau đó nữa đã mở rộng ra thành một cấu trúc phức hợp SỰ +vị từ (sự học </b></i>
<i><b>tập, sự nói năng, sự gặp gỡ,…). Có lúc SỰ còn gần như biến thành liên từ nữa. Kiểu </b></i>
tổ hợp rất mới này cho phép hầu như các động từ đều có thể chuyển thành danh từ (động từ được danh từ hóa). Nếu như ở tiếng Châu Âu, trong từ điển , các danh từ danh hóa được ghi thành một mục riêng bên cạnh động từ thì trong tiếng Việt, một
<i><b>loạt cấu trúc kiểu như vậy cũng được từ hóa như sự tranh đấu, sự cân bằng, sự cho </b></i>
<i>phép,…Tất cả các trường hợp đó ngày nay đã trở thành hiện tượng ngữ pháp bình </i>
<i><b>thường. Cùng với SỰ, từ CÁI cũng được dùng như một phụ tố đứng trước thực từ. </b></i>
<i><b>Cái có khả năng rời khỏi cấu trúc danh ngữ để đi với tính từ; chẳng hạn: cái anh hùng, cái trung hậu, cái đám tang, cái đẹp, cái tốt, cái may mắn. </b></i>
<i>Ngồi ra, có thể nói các sản phẩm của hiện tượng danh hóa là Tổ hợp danh từ, </i>
<i><b>chẳng hạn như cái đẹp, nỗi buồn, sự cao đẹp…Đây là tổ hợp được tạo thành bởi các </b></i>
yếu tố vốn có thể dùng độc lập (yếu tố danh hóa, các động từ, tính từ hay mệnh đề) được kết hợp với nhau thành một theo nhưng quy tắc nhất định.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn định nghĩa về hiện tượng danh hóa như sau: Danh hóa là một phương thức ngữ pháp dùng đề biến đổi một động từ, một tính từ hoặc một mệnh đề thành một danh từ hoặc một tổ hợp danh từ bằng cách kết hợp động từ, tính từ hay mệnh đề ấy với một yếu tố danh hóa nhất định.
<i><b>2.2.3.2. Phân loại phương thức danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt </b></i>
Danh hóa là hiện tượng phản ánh cách tri nhận, cách cấu trúc hóa thực tại khách quan, cụ thể là cách thực thể hóa những đặc trưng, thực thể hóa những hành động. Vì
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">vậy hiện tượng này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học theo lý thuyết tri nhận. Vấn đề danh hóa thuộc lĩnh vực từ vựng hay ngữ pháp là một vấn đề được bàn cãi rất sôi nổi.
Tuy nhiên, dưới cách nhìn của ngữ pháp tri nhận, vấn đề này khơng có ý nghĩa gì, bởi vì theo họ tranh cãi về vấn đề này có nghĩa là đã giả định một sự chia cắt cấu trúc ngôn ngữ học thành những thành phần riêng lẻ. Ngữ pháp tri nhận cho rằng ngữ pháp và ý nghĩa có một cơ sở trong hoạt động ý niệm hóa cũng như trong quá trình tri nhận. Khi nghiên cứu phương thức danh hóa, cụ thể là danh hóa động từ, các nhà ngôn ngữ học tri nhận đã phân biệt hai loại danh hóa đó là danh hóa hành động (action nominalization) và danh hóa thực hữu (factive nominalization).
<i>- Danh hóa hành động: Loại danh hóa này được áp dụng trong trường hợp </i>
danh hóa ở cấp độ từ, cụ thể là động từ, ở loại này, các danh từ phái sinh từ các danh từ định danh cho loại thực thể định danh cho quá trình hành động. Danh hóa hành động được các nhà ngơn ngữ học quan tâm.
<b>VD 13. それ以来、落 語を 聞くのは、ババとママが留守のとき、秘密</b>
に、ということになった.
<i>(Totto-chan bên cửa sổ, tr.70) </i>
<i><b>Từ đó, việc nghe tấu hài buộc phải thực hiện một cách bí mật khi bố mẹ khơng </b></i>
có nhà.
Trong tiếng Việt:
<i><b>VD 14. Việc học của nó bắt đầu sa sút. </b></i>
<i>- Danh hóa thực hữu: loại danh hóa này áp dụng khi người nói muốn ngầm </i>
thể hiện rằng cái hoạt động, đặc trưng, sự kiện… được thể hiện trong tổ hợp danh từ quả thực đã xảy ra.
VD 15. そして昨日まては、ママも、トットちゃんが落語を聞くことについて、何もいわなかった。.
<i>(Kuroyanagi Tetsuko, Totto-chan bên cửa sổ, tr.70) </i>
<i><b>Cho đến ngày hôm qua, mẹ chẳng bao giờ có ý kiến gì về việc nghe tấu hài </b></i>
của Totto-chan cả.
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">Trong tiếng Việt:
<i><b>VD 16. Cha mẹ anh ta rất hài lòng về việc anh ta đậu đại học. </b></i>
<b>TIỂU KẾT </b>
Trong chương hai, chúng tôi đã khái quát một số đặc điểm về động từ, danh từ, danh ngữ trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Ngoài ra, hiện tượng chuyển loại cũng được đề cập đến, hiện tượng chuyển loại có hai khuynh hướng chính: hiện tượng chuyển loại theo quan điểm ngơn ngữ học hình thức và hiện tượng chuyển loại hốn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận. Theo chúng tơi, hiện tượng chuyển loại có nghĩa là có những từ vốn thuộc từ loại này rồi sau chuyển sang từ loại khác và được dùng theo nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này hay từ loại kia và khi xác định hiện tượng chuyển loại, cần dựa trên ba tiêu chí quan trọng: ý nghĩa khái quát của từ, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp của từ.
Có nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau của các nhà ngôn ngữ học về hiện tượng danh hóa và được nghiên cứu ở hai cấp độ: danh hóa ở cấp độ từ vựng (danh hóa động từ, tính từ) và danh hóa ở cấp độ trên từ hay cịn gọi là danh hóa cú pháp (danh hóa mệnh đề), đặc biệt là danh hóa động từ được quan tâm nghiên cứu nhiều. Nhưng tóm lại có hai hướng chính để tiến hành nhận diện phân tích phương thức danh hóa đó là hướng ngữ pháp chức năng và ngữ pháp hình thức (dựa vào yếu tố kết hợp/ yếu tố danh hóa). Trong luận án này chúng tôi sẽ nghiên cứu theo hướng ngữ pháp hình thức để đối chiếu đặc điểm ngơn ngữ học bao gồm phương thức danh hóa và đặc điểm ngữ nghĩa của biểu thức danh hóa động từ trong hai ngôn ngữ Nhật - Việt.
Trong tiếng Nhật, việc danh hóa động từ được thực hiện thơng qua biểu thức (tổ
<i><b>hợp) “Động từ + yếu tố danh hóa”, đó là NO, KOTO, MONO, ngồi ra việc danh hóa động từ cịn được thực hiện bằng sự biến đổi hình thái của động từ. Trong tiếng </b></i>
Việt thì việc danh hóa động từ chủ yếu thực hiện bằng việc kết hợp động từ bằng các
<b>“ yếu tố danh hóa” chẳng hạn như: SỰ, VIỆC, CÁI, CUỘC, NỖI, NIỀM, NHỮNG, </b>
<b>MỌI, VỤ… có nhiều cách gọi các từ trên, và chúng tôi xem chúng là “yếu tố danh </b>
hóa” để chuyển động từ thành danh từ.
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><b>3.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU </b>
Nghiên cứu được thực hiện với các phương pháp tiếp cận định tính và định lượng để đáp ứng các mục đích và mục tiêu của nó. Phương pháp nghiên cứu định tính này được hiểu là cách thức nghiên cứu thông qua ý nghĩa hay sự hiểu về bản chất của đối tượng nghiên cứu. Dữ liệu thu thập được mang tính cảm tính, thơng qua câu từ, hình ảnh, quan sát. Vì thế, thiết kế nghiên cứu được lập kế hoạch để thực hiện những điều quan trọng như:
Mô tả và so sánh dữ liệu thu thập được nhằm tìm ra các yếu tố danh hóa trong các biểu thức danh hóa động từ. Thơng qua đó, xác định được yếu tố danh hóa, phương thức danh hóa, so sánh đối chiếu về mặt ý nghĩa các biểu thức danh hóa.
Tìm ra những điểm giống và khác nhau về đặc điểm ngôn ngữ học của các biểu thức danh hóa động từ trong hai ngơn ngữ. Điều này sẽ giải thích được vì sao lý thuyết và phương pháp nghiên cứu được lựa chọn lại có thể giúp đạt được mục tiêu nghiên cứu
Với những tiêu chí trên, tơi đã tiến hành tổng hợp để xây dựng khối dữ liệu tiếng Nhật và tiếng Việt phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài.
<b>3.3. THU THẬP DỮ LIỆU </b>
- Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát một số tác phẩm văn học tiếng Nhật và tiếng Việt để tìm hiểu các biểu thức có chứa yếu tố danh hóa động từ.
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">- Việc thống kê tần số, tần suất sử dụng các yếu tố danh hóa trong tiếng Việt và tiếng Nhật chủ yếu dựa vào các tác phẩm văn học tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Một số ví dụ dẫn lại từ các cơng trình nghiên cứu đi trước hoặc những câu thông dụng trong cuộc sống hàng ngày.<small> </small>
<b>3.4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU </b>
Phân tích dữ liệu bao gồm các bước sau:
<b>3.4.1. Mơ tả định lượng và mơ tả định tính các dữ liệu thu thập được. </b>
<i><b>Thu thập tài liệu </b></i>
Tìm kiếm và thu thập các tài liệu liên quan đến cơ sở khoa học, tình hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, tài liệu tham khảo.
<i><b>Phương pháp miêu tả, phân tích </b></i>
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả, phân tích đặc điểm ngơn ngữ học của các biểu thức danh hóa động từ trong đó bao gồm phương thức danh hóa và ngữ nghĩa-kết quả của phương thức danh hóa trong hai ngơn ngữ Nhật-Việt, rút ra những nhận xét chung về đặc trưng loại hình của phương thức danh hóa trong hai ngơn ngữ.
<i><b>Phương pháp thống kê </b></i>
Phương pháp này sử dụng để thống kê tần số, tần suất sử dụng các yếu tố danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Trong luận văn, chúng tôi thống kê thủ công để khảo sát tần số xuất hiện của các yếu tố danh hóa động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt, cụ thể là khảo sát các truyện tiếng Nhật và tiếng Việt. Kết quả thống kê được tổng hợp thành bảng biểu, nhằm cho thấy yếu tố danh hóa nào xuất hiện nhiều nhất trong hai ngơn ngữ, từ đó cho phép chúng ta đánh giá đại lượng đã thu được từ góc độ ngẫu nhiên hay có tính quy luật, xác định các đặc trưng cơ bản của phương thức danh hóa động từ và ngữ nghĩa của các biểu thức danh hóa trong hai ngôn ngữ Nhật và Việt.
<b>3.4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu </b>
Phương pháp này được sử dụng để so sánh, đối chiếu phương thức và ngữ nghĩa của hiện tượng danh hóa trong hai ngơn ngữ, từ đó rút ra những đặc trưng, đặc thù có
</div>