Tải bản đầy đủ (.pdf) (247 trang)

Luận án tiến sĩ Lịch sử: Thực hiện chủ trương của Đảng về giáo dục phổ thông ở các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (70.56 MB, 247 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYEN THỊ GIANG

LUẬN AN TIEN SI LICH SU

HÀ NỘI - 2022

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYÊN THỊ GIANG

<small>Chuyên ngành: Lịch sử Dang Cộng san Việt Nam</small>

Mã số: 62 22 03 15

LUẬN ÁN TIỀN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS TRINH THỊ HONG HANH

HA NOI - 2022

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

LỜI CAM ĐOAN

<small>Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu cua</small>

riêng tơi. Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực,có ngn góc xuất xứ rõ ràng và chưa từng được ai công bốtrong bắt kỳ cơng trình khoa học nào.

<small>Tác giả luận án</small>

<small>Nguyễn Thị Giang</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

LOI CAM ON

<small>Tôi xin trân trọng cảm on Trường Dai học Khoa hoc Xã hội và Nhân văn, Dai</small>

học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất đề tôi thực hiện nghiên cứu luận án này.Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Khoa Lịch sử, Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện, nhiệt tìnhgiúp đỡ tơi đề tơi có thê hồn thiện luận án của mình.

Tơi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các nhà khoa học đã tham gia các Hộiđồng đã góp ý, chỉ bao dé tơi có thé bổ sung, hồn thiện luận án này

Đặc biệt, tận đáy lịng, tơi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TSTrịnh Thị Hồng Hạnh, người trực tiếp hướng dẫn, đồng hành cùng tôi trong suốtq trình gian khổ thực hiện đề tài.

Tơi vơ cùng biết ơn gia đình, những người thân u đã ln ủng hộ, chia sẻ,động viên, tiếp thêm nhiều động lực dé tơi có gắng.

<small>Tác giả luận án</small>

<small>Nguyễn Thị Giang</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>MỤC LỤC</small>

66710077 ...ÔÔÔÔỎ 61. Lý do chọn đề tài...- ¿- 2-2-2 2+EE+EE£EEEEEEEE2E122171711211211211 1111.21.11 1xx 6

<small>2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên CỨU...- -- c2 3221321133113 rrke 7</small>

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...---¿- ¿©+2+++x++£++£+++zx++rxerrxerkesree 8

<small>4. Co sở ly luận va phương pháp nghiên CUU... cc eecesseescceeeeeeeeeeeseeeeenseeeeeenens 9</small>

5. Nguồn tư LGU .oesceeceeccesesssessessesscessessessecsvcsuessessessessesssessessecsessscsucssessessessecsnesseeseeses 9

<small>6. Đóng góp của luận án... -- -- c1 1319911119111 9111 11 vn kg ng rry 10</small>

rô c a..:.:...Ơ. 10Chương 1. TONG QUAN CONG TRÌNH NGHIÊN CỨU CĨ LIEN QUAN DEN›)9uy 009.0) ... 11

1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến dé tài luận án...--- 111.1.1. Nhóm cơng trình nghiên cứu về giáo duc phổ thơng ở miễn Bắc Việt Nam

<small>7/8208 5L00167/08nnẺẺn8nhh... 11</small>

1.1.2. Nhóm cơng trình nghiên cứu về phát triển giáo duc pho thông ở các tinhbiên giới Đông Bắc thời kỳ 19544 - 1975... 5s Street 171.2. Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án vànhững van đề luận án tập trung giải quyết ...--- 22 s¿2c++cxesrxrzrxerresree 201.2.1. Khái qt kết quả của các cơng trình nghiên cứu liên quan đến luận án... 201.2.2. Những van dé luận án tập trung giải quyết ...----©cc©5e©cscccsccecxcres 21Tiểu kết chương Loeceeeceececsecsecsescessesesscssessesscssesecsessessessessesssstssesseseesesssestesesseeeeesees 22Chương 2. QUA TRÌNH THỰC HIỆN CHU TRUONG CUA DANG VE GIAODUC PHO THONG Ở CAC TINH BIEN GIỚI ĐƠNG BAC TỪ NAM 1954 DEN

2.1. Những yếu tơ tác động đến quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về giáodục phô thông ở các tỉnh biên giới Đông Bắc...--- 2-2 z+ce+xezxerxerxzes 242.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và tình hình kinh tế - xã hội ...--- 242.1.2. Tình hình giáo dục phổ thơng ở các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Namtrước năm 1954 và một số yêu COU MOI AGL VA RRRRRRRRHIa.... 272.1.3. Chủ trương của Dang Lao động Việt Nam về giáo dục pho thong ... 31

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

2.2. Quá trình thực hiện chủ trương của Dang ở các tỉnh biên giới Đông Bắc...392.2.1. Về đào tạo và bơi dưỡng giáo viÊn...---+©ce+ce+ce+ckect+rrreereereeee 392.2.2. Về đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo AUC ...---csecsz©cs<: 522.2.3. Vé quy mơ giáo dục và cơ sở vật CNL ...- 55-5 csccs+ccte+tertererssree 67Tidu két ChUONG 8P ẽẽa.o... 73Chuong 3. THUC HIEN CHU TRUONG CUA DANG VE GIAO DUCPHO THONG O CAC TINH BIEN GIOI DONG BAC TU NAM 1965 DENNAM 1975 cisssscscosssonssconssconsssonscssssccssccsnssconssscnssssnscssnsccsssssnsssensssensssonscssnsesssceensssensssensesensssonees 753.1. Những yếu tố mới tác động đến quá trình thực hiện chủ trương của Đảng vềgiáo dục phổ thông ở các tỉnh biên giới Đông Bac ...----¿- ¿5c scxccssez753.1.1. Tinh himh kinh té - XG NGI nangcẶ.Ầ.. 753.1.2. Thực trạng phát triển giáo duc pho thông ở các tinh biên giới Đông Bac

trước năm 1965 và một số yêu cầu mới đặt PA ...-- + + + cs+cs+c+ee+tertererssree 773.1.3. Chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về giáo dục phổ thông trong

<small>CUA With HHỚI... SG HH HH HH HH HH 793.2. Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng... -.c ccccsssirrrrirreree 89</small>

3.2.1. Về đào tạo và bơi dưỡng giáo viên...----+©-++ce+csececcxcsrcsreereereees 893.2.2. Về đảm bảo chất lượng giáo AUC .reeccesscsseessesssesssessssssesssessesssecssessisssessses 993.2.3. Vé quy mô giáo dục và cơ sở vật CAL ...----5s©5e+ccccscssesrerrrcee 114Tiểu kết chương 3...---2- 2 ©2222+2EE2EE22EE22312711221221127112712112111211 21.11. cre. 127Chương 4. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM...ss----ccccccssccssssseeevvvvvssss 129

<small>cam. ... 129</small>

<small>4.1.1. Thành công và nguyên NNGN ... Ăn 3k vn rey 129</small>

4.1.2. Hạn chế và nguy€n 'hHÂH...-- 52-52 5£*E‡EE‡EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEErrkrkerree 154

<small>4.2. S02 0n an... 162</small>

4.2.1. Nhận thức đúng và đây đủ về vị trí, vai trị của giáo dục phổ thông đốivới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở các tỉnh biên giới Đông Bắc... 1624.2.2. Quán triệt và vận dụng linh hoạt chủ trương của Đảng về giáo dục phổ

thông vào điều kiện đặc thù địa pưƠHg...- -- 55c SecEcEeEteEeEerrrrkred 166

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

4.2.3. Xây dựng nội dung đào tạo và bơi dưỡng giáo viên pho thơng có trọngtâm, trọng điỂHH...- + 5c 5s EtéEtEEEEEEEEE1211221211211211122101 re 1714.2.4. Phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp giáo dục phổ thông... 1754.2.5. Phân định rõ ràng và theo dõi kịp thời nhiệm vụ công tác của các cấp uy

<small>F2... ... 178</small>

Tiểu kết chương 4...--¿--:- + ©5£+ 22EE2EESEEEEE21121127171211211211 111111. 1.1E xe 181sen ~...Ơ 182DANH MỤC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIÁ LIÊN QUAN ĐÉN

LUẬN AN ...--- 1122222111111 tr... 187

DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO ...---©©©©©etttteeeeeeeeeeeeessse 188

<small>PHỤ LỤC</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

DANH MỤC TỪ VIET TAT

BCHTW | Ban Chấp hành Trung ương

NXB Nha xuat ban

<small>UBHC Uy ban hanh chinh</small>

UBKH Uy ban ké hoach

<small>XHCN Xã hội chủ nghĩa</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<small>DANH MUC CAC BANG</small>

Thống kê số liệu học sinh phô thông thi hết cấp, tốt nghiệp của tinh

Lang Sơn, Cao Bang và Hà Giang từ năm 1955 đến năm 1966 ... 652Thống kê số liệu học sinh phố thông: tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp tỉnh HảiNinh (Quảng Ninh) từ năm 1955 đến năm 1964...---- 5: 66

Tình hình phát triển dạy xen kẽ 2 thứ chữ Tày Nùng - Việt trong nămhọc 1971 - 1972 ở Khu tự trị Việt Bắc...----¿---¿cccccccccee 107

So sánh tỷ lệ kết quả học sinh thi hết cấp và tốt nghiệp năm học 1971 1972 ở Khu tự trị Việt Bắc... nhe 113So sánh tỷ lệ kết quả học sinh thi hết cấp và tốt nghiệp ở các tỉnh

-thuộc Khu tự trị Việt Bắc và Quảng Ninh năm học 1973 - 1974... 113Quy mô trường, lớp và số học sinh phô thông ở tỉnh Lạng Sơn năm

Một số tong hop so lược về số lượng lớp, học sinh đầu năm học của

tinh Quảng Ninh từ năm 1965 đến năm 1974...--- 5-52 122

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục phô thông (GDPT) là bậc học có tầm quan trọng đặc biệt trong hệthống giáo dục quốc dân Việt Nam. GDPT đặt những cơ sở ban đầu cho sự pháttriển tồn diện dé hình thành nhân cách con người, làm nền tảng cho học sinh tiếptục học lên những bậc cao hơn, đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc. Ở mọi quốc gia, GDPT được xem là “ngành học xương sống”trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhận thức được tầm quan trọng của GDPT, từnăm 1954 đến năm 1975, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, chúng ta

cần rất nhiều nhân lực để xây dựng và bảo vệ miền Bắc, chi viện cho tiền tuyến

miền Nam. Trong bối cảnh đó, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối, chủtrương phát triển GDPT. Trong 10 năm hịa bình (1954 — 1964), GDPT ở miền Bắc

<small>đạt được những thành tựu quan trọng. Cuộc cải cách giáo dục năm 1956 từng bước</small>

xóa bỏ ảnh hưởng tiêu cực của nền giáo dục cũ, đặt cơ sở cho việc xây dựng vàhoàn thiện nền giáo dục mới theo tính chất giáo dục xã hội chủ nghĩa (XHCN); quymơ giáo dục được mở rộng; chất lượng giáo dục được cải thiện [93, tr.240]. Tuy

<small>nhiên, cuộc cải cách giáo dục năm 1956 chưa kịp hồn thành thì Mỹ gây ra cuộc</small>

chiến tranh phá hoại, miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), vừa chốngchiến tranh phá hoại, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam. Giai đoạn 1965 -1975, mặc dù chiến tranh ác liệt, GDPT ở miền Bắc vẫn được duy trì và có nhữngchun biến lớn phủ hợp với tình hình thực tế.

Từ năm 1954 đến năm 1975, nền giáo dục XHCN được xây dựng với mụctiêu giáo dục toàn diện, gắn giáo dục với lao động sản xuất. Một nền giáo dục đạichúng, dé cao tính chính trị trong nhà trường phơ thơng, gan giáo dục với việc thực

<small>hiện các nhiệm vụ cách mạng đã tạo ra cho xã hội một đội ngũ hùng hậu những nhà</small>

<small>giáo, những lớp học sinh, sinh viên yêu nước, yêu CNXH, sẵn sàng lên đường, đi</small>

theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hy sinh cho sự nghiệp giáo dục cách mạng,sự nghiệp thống nhất đất nước.

Các tỉnh biên giới Đơng Bắc Việt Nam là địa bàn có vị trí chiến lược. Trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đây là nơi vận chuyền hàng hóa chỉ viện từcác nước XHCN, trước hết là Trung Quốc sang Việt Nam. Các tỉnh biên giới ĐôngBắc là vùng đa tộc người, có đặc điểm văn hóa đa dạng, phong phú nhưng trình độ

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

dân trí của đồng bào cịn hạn chế; thế lực thù địch thường xun tìm cách lợi dụng,

tun truyền, lơi kéo, kích động người dân, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc,

chống phá Đảng, Nhà nước. Trong tình hình đó, vấn đề xây dựng và phát triển giáodục, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bao các tỉnh biên giới Đông Bắc trở nên ratcấp thiết góp phần nâng cao nhận thức của người dân, chủ động chống lại những âmmưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, tăng cường khối đại đoàn kết, phát huy sứcmạnh toàn dân tộc. Đảng bộ các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam trên cơ sở tiếp

<small>thu nội dung chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam, sự chỉ đạo của Đảng bộ</small>

Liên Khu Việt Bắc, Đảng bộ Khu tự trị Việt Bắc đã vận dụng sáng tạo, đề ra chủtrương, biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của địa phương. Từ đó, q trìnhxây dựng và phát triển giáo dục phổ thơng ở các tỉnh biên giới Đông Bắc từng bướcđạt được những kết quả tích cực.

Nghiên cứu q trình thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT ở các tỉnhbiên giới Đông Bắc, đánh giá những thành công, hạn chế, từ đó rút ra những bài họckinh nghiệm lịch sử có ý nghĩa thực tiễn đối với ngày nay. Đó là lý do chính đểnghiên cứu sinh chọn “Thực hiện chú trương của Đảng về giáo dục phổ thông ở

các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” làm đề tàiluận án tiễn sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

<small>2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu2.1. Mục đích nghiên cứu</small>

Làm rõ q trình thực hiện chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam vềGDPT ở các tỉnh biên giới Đơng Bắc, qua đó đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc rútmột số kinh nghiệm cho sự nghiệp phát triển giáo dục ở Việt Nam, đặc biệt đối với

<small>các địa phương ở vùng sâu, vùng xa.</small>

<small>2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu</small>

- Lam rõ những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chủ trương của Dang Laođộng Việt Nam về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc từ năm 1954 đến năm 1975;

- Hệ thống hóa chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về GDPT trên cácnội dung chủ yếu sau: i) Dinh hướng giáo dục; ii) Đảm bảo và nâng cao chất lượnggiáo duc; iii) Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên; iv) Quy mô và cơ sở vật chat;

- Trình bày quá trình Đảng bộ các tỉnh biên giới Đông Bắc thực hiện chủtrương của Đảng Lao động Việt Nam về GDPT qua hai giai đoạn: 1954 - 1964 và

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<small>1965 - 1975;</small>

- Phân tích, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm từ quátrình thực hiện chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về GDPT ở các tỉnh biêngiới Đông Bắc trong những năm 1954 - 1975.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Đảng bộ các tỉnh biên giới Đông Bắc thựchiện chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về GDPT từ năm 1954 đến năm 1975.

<small>3.2. Pham vi nghiên cứu</small>

- Về nội dung: Theo Nghị định 596 - NPD ngày 30/8/1956 của Bộ trưởng BộGiáo dục, GDPT bao gồm cấp I, cấp II và cấp III [52, tr. 263]. Chủ trương củaĐảng Lao động Việt Nam về GDPT trong những năm 1954 đến năm 1975 thể hiệnở nhiều nội dung: xây dựng và hồn thiện chính sách về giáo dục, cải cách giáo dục,đổi mới quản lý giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, chất lượng giáo dục, quymô giáo dục, CSVC, hợp tác quốc tẾ... Tuy nhiên, dựa trên lịch sử phát triển GDPTở các tỉnh biên giới Đông Bắc và nguồn tư liệu khai thác, luận án chỉ tập trung làmrõ quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc

của các Đảng bộ địa phương trên ba nội dung: 1) Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; 2)

Đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục; 3) Quy mô và CSVC.

- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu từ năm 1954 đến năm 1975, 21năm miền Bắc xây dựng CNXH. Trong đó, từ năm 1954 đến năm 1964 là thời gianthực hiện chủ trương xây dựng hệ thống GDPT thống nhất trên toàn miền Bắc; từnăm 1965 đến năm 1975 là thời gian thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT trong

hoàn cảnh chống chiến tranh phá hoại của dé quốc Mỹ.

- Vé khơng gian: Căn cứ theo địa giới hành chính năm 1954, Việt Nam có 4tinh biên giới Đơng Bắc, giáp Trung Quốc là Hà Giang, Cao Bang, Lạng Sơn vàHải Ninh. Từ khi được giải phóng (25/4/1955), để phù hợp với tình hình xây dựngtrong điều kiện hịa bình, tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hồng Gai được hợp nhất lậpra khu Hồng Quảng. Ngày 30/10/1963, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòaquyết định hợp nhất 2 tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh vàtừ ngày 01/1/1964, tỉnh Quảng Ninh chính thức đi vào hoạt động, Ban Chấp hànhĐảng bộ tỉnh Quảng Ninh được thành lập và giữ vai trị lãnh đạo chính quyền và xã

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

hội ở địa phương. Vì vậy, từ năm 1964, 4 tỉnh biên giới Đông Bắc là: Hà Giang,

Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Do đó, luận án tập trung nghiên cứu trên địa

bàn các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn (1954 1975) và Hải Ninh (1954

<small>4.2. Phương pháp nghiên cứu</small>

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịchsử như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic và kết hợp hai phương pháp đó.Ngồi ra, một số phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối

chiếu, so sánh, thống kê... được sử dụng phù hợp với từng nội dung của luận án.

Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và chương 3, qtrình hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng; quá trình thực hiện chủtrương của Đảng về GDPT của Đảng bộ các tỉnh biên giới Đông Bắc qua các giai

<small>đoạn 1954 - 1964; 1965 - 1975.</small>

Phương pháp logic được sử dụng trong cả 4 chương của luận án: Ở chương 1thé hiện ở cách phân loại các nhóm cơng trình nghiên cứu và nội dung khái qt kếtquả của các cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; trong chương 2 vàchương 3 nhằm nêu bật các nội dung chủ yếu của quá trình thực hiện chủ trương củaĐảng về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc; chương 4 tông kết, khái quát thànhcông, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chủ trương củaĐảng về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc từ năm 1954 đến năm 1975.

Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh... đượckết hợp sử dụng ở các chương đề làm rõ quá trình thực hiện chủ trương của Đảng vềGDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc trong từng giai đoạn lịch sử; những thành tựu

đạt được, những hạn ché, nguyén nhan han ché va rut ra kinh nghiém.

5. Nguồn tư liệu

<small>- Các văn kiện của Đảng, Chính phủ; các văn kiện của Đảng bộ Liên khu Việt</small>

Bắc, Đảng bộ Khu tự trị Việt Bắc, Đảng bộ các tỉnh biên giới Đông Bắc về GDPT;

- Tài liệu của Ủy ban Hành chính (UBHC) ở các tỉnh biên giới Đông Bắc về

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

GDPT, như: Niên giám thống kê, báo cáo hàng năm; các đề án; kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội các tỉnh biên giới Đông Bắc; kế hoạch GDPT; các tài liệu, biên bản

<small>cuộc họp, hội nghị, hội thảo khoa học...</small>

- Các sách chuyên khảo, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học đã công bố liênquan đến GDPT là nguồn tư liệu tham khảo của luận án.

- Đóng góp về tư liệu:

Luận án cung cấp những tư liệu lịch sử về sự nghiệp GDPT của Đảng bộ cáctỉnh biên giới Đông Bắc từ năm 1954 đến năm 1975.

Luận án có thé được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng

<small>dạy Lịch sử Đảng, Lịch sử địa phương.</small>

7. Kết cầu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nộidung luận án gồm 4 chương, 10 tiết.

Chương 1: Tổng quan cơng trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận ánChương 2: Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT ở các tỉnhbiên giới Đông Bắc từ năm 1954 đến năm 1964

Chương 3: Thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT ở các tỉnh biên giớiĐông Bắc từ năm 1965 đến năm 1975

<small>Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm</small>

<small>10</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

sách chuyên khảo, các luận án, các bài báo và các đề tài nghiên cứu khoa học đượccơng bố. Khảo cứu các cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án có thê

<small>chia theo các nhóm sau:</small>

1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. Nhóm cơng trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông ở miền Bắc Việt Nam

<small>thời kỳ 1954 - 1975</small>

1.1.1.1. Nhóm cơng trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông ở miễn Bắc Việt Nam

<small>nói chung</small>

<small>Cơng trình Hai mươi năm xây dựng giáo dục của tác giả Nguyễn Khánh</small>

Toàn (Bộ Quốc gia Giáo dục, Hà Nội, 1965) [186] tom tắt quá trình phát triển củanền giáo dục Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1965; làmrõ những yếu tố tác động đến sự phát triển giáo dục của nước Việt Nam Dân chủCộng hịa, thời kỳ tồn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 -1954) và giai đoạn 10 năm đầu chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1965), đánh giá những

<small>khó khăn, thuận lợi của ngành giáo dục; chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà</small>

nước về giáo dục; nội dung và tác dụng của hai cuộc cải cách giáo dục năm 1950 vànăm 1956; sự chuyền biến mới của giáo dục, trong đó có GDPT từ sau Đại hội đạibiểu toản quốc lần thứ II của Đảng (1960).

Các cơng trình của Phạm Minh Hạc như Bốn mươi lăm năm phát triển nên

<small>giáo dục Việt Nam (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990) [91] và Sơ thảo lịch sử giáo dụcViệt Nam (1945 - 1990) (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1992) [92]... làm rõ những thành</small>

tựu của nền giáo dục Việt Nam từ bậc mam non đến sau đại học, dưới sự lãnh đạocủa Đảng; đề cập đến những hạn chế của nền giáo dục như: lý thuyết phát triển giáodục chưa vững chắc; chủ yếu thiên về truyền đạt kiến thức, thiếu sự tư duy, logic,

<small>II</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

thiếu yếu tô sáng tạo... Đồng thời đúc rút một số giải pháp như: giáo dục phải gắnliền với yêu cầu của thực tiễn; thực hiện tốt quyền công dân về quyên, nghĩa vụ va

<small>trách nhiệm trong giáo dục; chú trọng tính sáng tạo, chủ động, tự học trong giáo dục</small>

nhằm bồi dưỡng nhân lực, phát triển nhân tài...

Cuốn sách Năm mươi năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945 1995) do Trần Hồng Quân chủ biên (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995) [157], khái quátnhững giai đoạn phát triển của nền giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1995,trình bày một số sự kiện quan trọng về giáo dục; đưa ra những thành tựu và hạn chếcủa sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, từ đó tác giả rút ra một số kinhnghiệm trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo. Đề cập đến GDPT trongnhững năm 1965 - 1975, tác giả làm rõ sự chuyên hướng chiến lược giáo dục tronghồn cảnh cả nước có chiến tranh với tinh thần “chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụthiêng liêng, công tác giáo dục phải chuyên hướng dé phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị

<small>-nói trên theo chức năng, nhiệm vụ của mình, phù hợp với tình hình mới” [157, tr. 88].</small>

Cuốn sách Lịch sử giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Gia Phu (NXB ĐàLạt, 1999) [148] khái quát sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam qua thời kỳphong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

(nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nền giáo dục Quốc gia Việt Nam);thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộnghịa, giáo dục của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ cách mạnglâm thời Cộng hịa miền Nam Việt Nam và nền giáo dục của Việt Nam Cộng hòa)và thời kỳ thống nhất đất nước. Trong mỗi thời kỳ, tác giả làm rõ sự phát triển củagiáo dục, nhất là GDPT thông qua các cuộc cải cách giáo dục, các loại hình giáo

<small>dục, chú trọng làm rõ các mặt cơ bản của giáo dục.</small>

Cuốn sách Giáo duc Việt Nam 1945 - 2005 của Nguyễn Quang Kính (NXBChính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) [126] khái quát chặng đường phát triển của giáodục Việt Nam qua các nội dung: Tổng quan lịch sử phát triển giáo dục; thành tựu, hạnchế của giáo dục thời kỳ 1945 - 1985 và thời kỳ đổi mới. Cuốn sách phân tích tìnhhình giáo dục các tỉnh, thành phố trong cả nước về các khía cạnh của GDPT như quymơ trường lớp, học sinh, giáo viên với những số liệu phong phú, có chọn lọc.

Cuốn sách Lịch sử giáo dục miễn Bắc Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975

<small>do Dinh Quang Hải làm chủ biên (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2020) [93] phục</small>

<small>12</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

dựng toàn diện và khách quan về lịch sử giáo dục miền Bắc Việt Nam từ năm 1945đến năm 1975. Làm rõ quan điểm, đường lối xây dựng nền giáo dục của Dang vàchính sách giáo dục của Nhà nước; sự phát triển giáo dục miền Bắc Việt Nam từ xâydựng nền giáo dục (với trọng tâm là xóa nạn mù chữ, phát động phong trào Bình dânhọc vụ, mở lại và cải tạo bước đầu hệ thống các trường phổ thông tiêu học, trung họcvà đại học trong những năm 1945 - 1946) đến phát triển nền giáo dục (với trọng tâmlà phát triển giáo dục mẫu giáo - vỡ lòng, GDPT, bồ túc văn hóa (BTVH), giáo dục ởcác tỉnh miền núi, giáo dục đại học và Trung cấp chuyên nghiệp). Cuốn sách đánh giátác dụng của hai cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950) và lần thứ hai (1956) đốivới sự phát triển giáo dục miền Bắc; làm rõ vai trò của GDPT miền Bắc thời kỳ 1954- 1975 đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở miền Bắc.

Chủ đề GDPT là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt độngnghiên cứu, được nhiều nhà nghiên cứu chọn lựa, thực hiện đề tài luận án tiễn SI, détài khoa học các cấp.

Tác giả Nguyễn Thúy Quynh năm 2015 đã thực hiện luận án về dé tài Giáoduc pho thông miên Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 [160], phục dung hoàncảnh lịch sử dẫn đến sự phát triển giáo dục ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975;làm rõ một số đặc trưng cơ bản, các đóng góp nồi bật của GDPT trong sự nghiệp xâydựng, bảo vệ miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam; đồng thời,bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn trong sự nghiệp

xây dựng và phát triển giáo dục nói chung, GDPT nói riêng.

Luận án chuyên ngành lich sử Quá trinh xây dựng và phát triển nén giáo dụcViệt Nam mới từ tháng 9 năm 1945 đến thang 7 năm 1954 của tac giả Đỗ Thị Nguyệt

<small>Quang (bảo vệ tại Viện Sử học, Hà Nội, 1996) [156] làm rõ quá trình xây dựng va</small>

phát triển nền giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, trong đó có đề cập đếnGDPT và cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950; làm rõ hai hệ thống GDPTởvùng tự do và GDPT trong vùng tạm chiếm trong những năm 1954 - 1956.

Luận án Giáo dục ở các tỉnh miễn núi phía Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến

<small>năm 1965 của Duy Thị Hải Hường (Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014)</small>

[104] làm rõ những yếu tổ tác động đến quá trình xây dựng và phát triển giáo dục ởcác tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm 1954 - 1965; làm rõ vị trí, vai trị to

<small>lớn của giáo dục đôi với việc xây dựng và phát triên kinh tê miên núi nói riêng và</small>

<small>13</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

miền Bắc nói chung; khái quát một số chủ trương quan trọng của Đảng, Nhà nướcnhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc pháttriển; làm rõ sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của chính quyền đối với phát triểngiáo dục; so sánh nền giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong hai giai đoạn1954 - 1960 và 1961 - 1965; đánh giá nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm về côngtác giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1954 đến năm 1965.

Chủ đề về GDPT còn được nhiều nhà nghiên cứu đề cập trên các báo, tạp chíchuyên ngành. Bài viết Đẩy mạnh phong trào thi dua hai tốt của tác giả NguyễnVăn Huyên (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 17, 1971) [101]... làm rõ vai trị, vị trícủa giáo dục; làm rõ mục đích, nguyên lý, phương châm giáo dục; đề cập đến thànhtích và kinh nghiệm của phong trào“hai tốt” ở trường phổ thông cấp II Bắc Lýnhững năm 60 (thé kỷ XX); bài học về xây dựng và phát trién GDPT...

Bài viết Vai nét về giáo duc phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bac (1965

<small>-1975) qua tải liệu lưu trữ cua tác giả Duy Thị Hải Hường [102]. Thông qua các tài</small>

liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tác giả làm rõ sự phát trién của GDPT,đánh giá: Trong mười năm, ngành GDPT ở các tỉnh miền núi phía Bắc vượt qua

những khó khăn để học tốt, dạy tốt, duy trì và thúc đây sự phát triển giáo dục địa

phương. Đến năm 1975, hệ thống GDPT được hoàn chỉnh và phát triển rộng khắp.

Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh có các bài viết: Về cải cách hệ thống giáo dụcpho thông năm 1956 ở miễn Bắc Việt Nam (Tạp chí Nghiên cứu Lich sử, số 7,

2013) [158], Chính sách “tận lực phát triển giáo đục phổ thông” ở miễn Bắc ViệtNam thời kỳ 1959 - 1965 (Tạp chí Nghiên cứu Đơng Nam A, số 9, 2014) [159], Swchuyển hướng của ngành giáo dục pho thông trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lanthứ nhất của dé quốc Mỹ (1965 - 1968) (Tap chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12, 2016)[161]... làm rõ hoàn cảnh ra đời của chính sách tận lực phát trién GDPT, nội dungchính sách tận lực phát triển GDPT thơng qua ba cấp học (cấp I, cấp II và cap IID);đánh giá một số thành công và hạn chế của việc thực hiện chính sách tận lực pháttriển GDPT; rút ra một số bài học kinh nghiệm về huy động các nguồn lực cho pháttriển giáo dục, thực hiện chính sách của Nhà nước và nhân dân cùng làm; VỀ su pháttriển bền vững trong giáo dục; về phát triển đội ngũ giáo viên gắn liền với sự pháttriển giáo dục trong việc trong việc thực hiện chính sách tận lực phát triển GDPT.Phân tích sự chuyền hướng trên đảm bảo an toàn cho việc dạy và học; điều chỉnh

<small>14</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<small>nội dung chương trình và phương pháp dạy học, thi cử; tăng cường công tác giáo</small>

dục tư tưởng, chính tri và đạo đức trong nhà trường va đây mạnh phong trao thi dua,xây dựng các điển hình tiên tiến; phát triển đội ngũ giáo viên.

1.1.1.2. Nhóm cơng trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triểngiáo dục pho thơng

Cơng trình Ba mươi lăm năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông của tácgiả Võ Thuần Nho (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1980) [145] khái quát chủ trương vàquá trình thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT từ sau Cách mạng tháng Támnăm 1945 đến năm 1980, qua các giai đoạn 1945 - 1954, 1954 - 1965, 1965 - 1975

<small>và 1975 - 1980. Tác giả làm rõ chủ trương lớn của Đảng và chính sách của Nhà nước</small>

về GDPT; sự phát triển của ngành GDPT, SỐ lượng học sinh, sinh viên, loại hìnhtrường lớp; đánh giá những ưu điểm, hạn chế; làm rõ những nét độc đáo, đặc trưng

<small>của mỗi giai đoạn lịch sử. Nghiên cứu thời kỳ 1954 - 1975, tác giả làm rõ quá trình</small>

thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT ở vùng miễn núi, công tác học sinh miềnNam tập kết ra miền Bắc.

Cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo dục và đảo tạo do

<small>Phan Ngọc Liên chủ biên (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008) [127] làm rõ quan</small>

điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, quy định của Nhà nước về phát triển giáodục và dao tao từ năm 1945 đến năm 2005; những thành tựu, hạn chế trong qua

<small>trình Dang lãnh đạo sự nghiệp giáo dục va đảo tao...</small>

Tác giả Nguyễn Danh Tiên và Trần Thị Kim Ninh có bài viết Đảng lãnh đạothực hiện chính sách văn hóa - xã hội (1961 - 1965) (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 4,2015) [176] phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng và quá trình chỉ đạo thựchiện chủ trương của Đảng về kinh tế và xã hội trong những năm thực hiện kế hoạch5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Trong lĩnh vực giáo dục, các tác giả trình bàynhững thành tích và hạn chế một số mặt về giáo dục (quy mô giáo dục, cơ sở vậtchất - kỹ thuật, chất lượng giáo dục, đãi ngộ giáo viên...).

Bài viết Vài nét về giáo dục pho thông giai đoạn 1976 - 1985 của Duy ThiHải Hường (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 2015) [105] tóm lược những chủ trươngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển GDPT; chủ trương của Đảng được cụthé hóa bằng những chính sách của Nhà nước về phát triển GDPT từ năm 1976đến năm 1985; quá trình thực hiện chủ trương cải cách giáo dục của Đảng và Nhà

<small>15</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

nước ở các địa phương, thành lập Hội đồng giáo dục, hợp nhất các trường cap I,cấp II thành trường phổ thông cơ sở, trường cấp III đổi thành trường phổ thôngtrung học; GDPT chuyên từ hệ 10 năm sang hệ 12 năm.

Trong bài viết Quan điểm của Đảng về dựa vào dân phát triển giáo duc phổthông ở miễn Bắc thời kỳ 1954 - 1975 (Tap chi Lich sử Đảng, số 6, 2016) [154], tácgiả Phạm Nguyên Phương đã hệ thống hóa chủ trương của Đảng về GDPT, mơ tảq trình thực hiện chủ trương của Đảng, đánh giá ưu điểm và hạn chế của quá trìnhlãnh đạo GDPT ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975. Tác giả rút ra một số kinhnghiệm lịch sử từ sự lãnh đạo của Đảng đối với GDPT ở miền Bắc thời kỳ 1954 -1975. Một là, luôn gắn chủ trương của Đảng với sức mạnh của nhân dân trong quátrình xây dựng và phát triển GDPT. Hai là, dựa vào dân một cách linh hoạt, cótrọng điểm trong q trình phát triển GDPT. Ba là, xuất phát từ nhu cầu học tập,quyền học tập căn ban của nhân dân trong quá trình xây dựng và phát triển GDPT.

Bài viết Đảng lãnh dao phát triển sự nghiệp giáo dục pho thông ở miễn Bắc,

<small>Việt Nam giai đoạn 1954 - 1965 của Phạm Nguyên Phuong (Tạp chí Giáo duc ly</small>

luận, số 6, 2016) [153] làm rõ chủ trương của Đảng về phát triển GDPT từ năm1954 đến năm 1965, xác định phương châm, nội dung và chương trình giáo dụcthơng qua các văn kiện của Đảng; kết quả phát triển GDPT ở miền Bắc từ năm 1954đến năm 1965; đưa ra một số bài học kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo pháttriển GDPT ở miền Bắc. Một là, sự lãnh đạo trực tiếp, liên tục của Đảng trong sựnghiệp phát triển GDPT. Hai là, Đảng luôn coi trọng GDPT là bậc giáo dục nềntảng. Ba là, phát huy sức mạnh của nhân dân trong phát triển GDPT. Bồn là, dé caoquyền con người trong lĩnh vực học tập, coi trọng yếu t6 con người trong phát triểnGDPT. Năm là, phát triển một nền GDPT thực chất, toàn diện, chú trọng cải cách,đôi mới, gan mục tiêu giáo dục với nhu cầu của xã hội.

Luận án Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông miễn Bắc (1954

<small>-1975) của Phạm Nguyên Phương (bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và</small>

Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017) [155] trình bày hệ thống quan điểm, chủtrương của Đảng về xây dựng và phát triển GDPT ở miền Bắc Việt Nam; làm rõq trình chỉ đạo, tơ chức thực hiện xây dựng và phát triển GDPT; nhận xét về ưuđiểm, hạn chế, phân tích nguyên nhân; rút ra một số kinh nghiệm lịch sử từ quátrình lãnh đạo của Dang trong phát trién GDPT ở miền Bắc (1954 - 1975).

<small>16</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

Mỗi cơng trình nghiên cứu trên khái quát đi sâu vào một lĩnh vực, một khía

cạnh về một số vấn đề liên quan đến lý luận giáo dục như: nguyên lý, tính chất, nộidung giáo dục; về sự lãnh đạo của Đảng về phát triển GDPT ở miền Bắc từ năm1954 đến năm 1975, làm rõ quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách của Nhànước về GDPT: làm rõ một số chỉ đạo nồi bật của Đảng trong phát triển GDPT,những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng vềGDPT; về sự phát triển của ngành GDPT từ năm 1954 - 1975 trên các vấn đề: quymô trường lớp và học sinh, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; quản lý giáo dục và chatlượng giáo dục gắn với từng cấp học; về những đóng góp và hạn chế của GDPT từnăm 1954 đến năm 1975...

1.1.2. Nhóm cơng trình nghiên cứu về phát triển giáo dục phổ thông ở các tinhbiên giới Đông Bắc thời kỳ 1954 - 1975

Cuốn sách Dia chí Lạng Sơn của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (NXBChính trị quốc gia, Hà Nội, 1999) [195] trình bày hệ thống và tương đối tồn điệnvề vùng đất, con người Lạng Sơn trong các giai đoạn lịch sử. Cuốn sách đề cập về

<small>giáo dục của tỉnh trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945; giáo dục thời kỳ sauCách mạng tháng Tám. “Giáo dục ở tỉnh Lạng Sơn dưới thời Pháp cai trị khá phát</small>

triển, không kém các trung tâm giáo dục ở các tỉnh Bắc kỳ thời đó, như Bắc Ninh,Nam Định, Hải Phịng” [195, tr.267]. Cơng trình đề cập khá tồn diện các hoạt

động giáo dục của địa phương như sỐ trường, lớp, tiểu học, học sinh cao đăng,

việc biên soạn sách giáo khoa miền núi, công tác đào tạo giáo viên và việc dạychữ của người dân tộc thiểu số...

<small>Những sự kiện lịch sử Dang tinh Quang Ninh 1955 - 1965 (NXB Quảng</small>

Ninh, Quảng Ninh, 1984) [7] tom tắt những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh QuảngNinh lãnh đạo phát triển kinh tế - văn hóa từ năm 1955 đến năm 1965. Trong lĩnhvực giáo dục, cuốn sách đề cập “Tính đến năm 1963, hơn 2 vạn người lao động đãbiết đọc biết viết, nạn mù chữ cơ bản bị xóa bỏ ở đồng bào Việt, Tày và thanhniên các dân tộc thiêu số. Các trường phố thơng, các lớp bé túc văn hóa được mởkhắp nơi” [7, tr.189].

Chương VI của cuốn sách Ha Giang 110 năm đấu tranh, xây dựng và pháttriển (1891 - 2001) (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) [129] có tiêu đề “TỉnhHà Giang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền

<small>17</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

Nam, thống nhất Tổ quốc (1954 - 1975)” làm rõ các chủ trương, chính sách của Đảngbộ và chính quyền tỉnh Hà Giang về giáo duc và khái quát những bước phát triển

GDPT của Hà Giang về quy mô trường, lớp và học sinh từ năm 1954 đến năm 1975.Cuốn sách Dia chi Quảng Ninh, tập 3 (NXB Thế giới, Hà Nội, 2003) [184],phần Chương V (Giáo dục) trình bày những nét cơ bản sự phát triển của nền giáodục tỉnh nhà từ thời phong kiến đến năm 2000. Trong giai đoạn 1954 - 1975, “bảnthân ngành giáo dục - đào tạo tỉnh Quảng Ninh cũng có nhiều chuyền biến nội tại

<small>trong định hướng mục tiêu, cải cách nội dung và phương pháp giáo dục” [184,</small>

<small>tr.384]. Trong đó, giai đoạn 1954 - 1964 là giai đoạn giáo dục Quang Ninh phát</small>

triển mạnh mẽ, hình thành mạng lưới trường, lớp, củng cố đội ngũ giáo viên, giải

quyết được các nhiệm vụ diệt giặc dốt, nâng cao dân trí. Giai đoạn 1965 - 1975 là

thời gian Quang Ninh phát triển sự nghiệp giáo dục với tinh thần chuyền hướng “từthời bình sang thời chiến” trong điều kiện cả nước có chiến tranh.

Bài viết Vé cơng tác giáo duc ở Khu tự trị Việt Bắc trong những năm dau xây

<small>dựng chủ nghĩa xã hội (1956 - 1965) của tác giả Duy Thị Hải Hường (Tạp chí</small>

Nghiên cứu Lịch sử, sô 4, 2009) [103] làm rõ: Trong gần 10 năm đầu xây dựng và

phát triển (1956 - 1965), dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Đảng ủy,UBHC và Sở Giáo dục Khu tự trị Việt Bắc, cơng tác giáo dục của Khu có bước phát

triển nhanh chóng và tồn diện, về ngành học, SỐ lượng học sinh cũng như về đội ngũgiáo viên. Văn hóa của Khu thay đổi rõ rệt về cả chất lượng và số lượng. Tuy nhiên,công tác giáo duc phát triển không đồng đều, mới chi tập trung ở các tinh vùng thấp,tỉnh có truyền thống giáo dục. Chất lượng giáo dục chưa cao, hiện tượng người dânbỏ học, tái mù chữ vẫn còn nhiều [103, tr.57]. Một nguyên nhân quan trọng được tácgiả xác định là “do đặc điểm dân cư sống trong Khu là người dân tộc thiểu số chiếmđại đa số, nền kinh tế còn chậm phát triển” [103, tr.57].

Bài viết 70 năm ngành Giáo dục tỉnh Cao Bang không ngừng nỗ lực dé từngbước phát triển của Sở Giáo dục và Đào tạo Cao Bằng [50, tr.563 - 579] làm rõ lịchsử hình thành và phát triển của ngành giáo dục tỉnh Cao Băng, những thành tựu đạtđược của ngành giáo dục qua 70 năm và xác định nhiệm vụ, mục tiêu phát triểngiáo dục của tỉnh Cao Bằng từ sau năm 2017. Bài viết xác định quá trình hình thành

<small>' Từ khi thành lập đến khoảng năm 1954-1956, gọi là Khu Giáo dục Việt Bắc (thuộc Liên khu Việt Bắc); từ</small>

<small>năm 1956, gọi là Sở Giáo đục Khu tự trị Việt Bắc (thuộc Khu tự trị Việt Bắc).</small>

<small>18</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

và phát triển ngành giáo dục tỉnh Cao Bang qua các thời kỳ: 1) Thời kỳ 1945 - 1975với hai lần cải cách để xóa mù, diệt đốt; 2) Thời kỳ 1976 - 2010 gắn liền với việctiếp tục cai cách để đổi mới và phổ biến giáo dục. Trên cơ sở làm rõ thời kỳ pháttriển của ngành giáo dục từ năm 1945 đến năm 1954, bài viết làm rõ sự phát triển

<small>của GDPT hình thành sớm từ ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành</small>

cơng, phát triển phong trào BTVH, bình dân học vụ (BDHV) và xóa nạn mù chữtrong nhân dân. Về GDPT trong thời kỳ 1954 - 1975, bài viết làm rõ sự phát triểncủa GDPT về mạng lưới trường lớp, học sinh, công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo

<small>viên qua hai giai đoạn 1954 - 1964 và 1965 - 1975.</small>

Bài viết Phát triển giáo dục toàn diện nơi địa dau Tổ quốc [50, tr.702 - 718]làm rõ quá hình hình thành và phát triển của ngành giáo dục tỉnh Hà Giang với banội dung trọng tâm: 1) Giáo dục Hà Giang vượt khó đi lên, đồng hành cùng giáodục cả nước; 2) Phát huy nội lực, nâng cao dân trí ở một tỉnh miền núi đa dân tộc;3) Giáo dục Hà Giang tích cực học tập và làm theo tắm gương đạo đức Hồ Chí

Minh. Mặc dù đời sống, CSVC cịn nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng cao, vùng sâu,

vùng xa như huyện Đồng Văn, nhưng nhờ sự nỗ lực cố gắng của địa phương và sựgiúp đỡ của Nhà nước, trong những năm 1954 - 1975, GDPT Hà Giang phát triểntương đối khá về mạng lưới trường lớp, học sinh.

Trong cuốn sách Giáo dục Việt Nam - Các tỉnh, thành phố và một số trườngđại học (1945 - 2017) do Bộ Giáo dục và Hội Cựu giáo chức thực hiện gồm 2 tập,trong đó, tập 2 có bài viết “Vuon mình phát triển cùng đất nước” [51, tr.197 - 209]làm rõ sự phát triển của giáo duc Lạng Sơn từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945đến năm 2010, với bốn giai đoạn: 1) Trước năm 1945: Giáo dục thực dân, nô dịch; 2)1945 - 1975 với hai thành tích nổi bật (tổ chức kỳ thi tốt nghiệp tiểu học đầu tiêntrong 1945 - 1954, căn bản thanh toán được mù chữ ở vùng thấp trong 1954 - 1975);3) Thời kỳ 1975 - 1985 là thời kỳ khôi phục sự học sau chiến tranh biên giới; 4) Thờikỳ sau năm 1985 là thời kỳ giáo dục vươn mình phát triển. Về GDPT 1954 - 1975,bài viết làm rõ hai giai đoạn phát triển. Trong 10 năm đầu sau khi lập lại hịa bình(1954 - 1964), GDPT có bước phát triển về quy mô trường lớp và học sinh, bước đầu

<small>chuyên dịch cơ câu học sinh. Trong gân 10 năm chiên tranh phá hoại miên Bắc của</small>

<small>19</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

dé quốc Mỹ (1965 - 1973), GDPT thực hiện cơng tác sơ tán và chun hướng giáodục, có những bước đi phát triển vững vàng nhờ sự giúp đỡ của nhân dân và sự chỉđạo của chính quyền địa phương.

Những cơng trình trên đề cập đến sự phát triển kinh tế - văn hóa ở các tỉnh

biên giới Đơng Bắc, trong đó có đề cập đến lĩnh vực giáo dục, GDPT; hoặc đi sâu

nghiên cứu về những thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục ở các tỉnh biêngiới Đông Bac; hay đi sâu vào làm rõ sự phát triển ngành giáo dục, GDPT trong các

<small>giai đoạn 1954 - 1964, 1965 - 1975, những thành tích và khó khăn của ngành giáo</small>

dục ở từng tỉnh biên giới Đông Bắc từ năm 1954 đến năm 1975.

1.2. Khái qt kết quả của các cơng trình nghiên cứu liên quan đến luận án vànhững vấn đề luận án tập trung giải quyết

1.2.1. Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

Qua tìm hiểu những van đề nghiên cứu, từ kết quả của các nhóm cơng trìnhnghiên cứu kê trên, luận án có thê kế thừa ba phương diện sau:

Về nội dung: Những công trình nói trên góp phan làm rõ tầm quan trọng hàngđầu của giáo duc và dao tạo, trong đó có GDPT đối với sự phát triển đất nước.Nghiên cứu sự phát triển của GDPT: về cải cách giáo dục, về xây dựng và đơi mớichương trình GDPT, về dao tạo và bồi dưỡng cán bộ, giáo viên, về phát triển quymô trường lớp, học sinh, về xây dựng CSVC và thiết bị dạy và học, về phương phápgiảng dạy, về chất lượng giáo dục tồn diện (đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục vảgiáo dục lao động), về học tập các điển hình tiên tiến về giáo dục... Làm rõ một sévai trò, thành tựu, han chế của ngảnh giáo dục nói chung, GDPT nói riêng ở miềnBắc từ năm 1954 đến năm 1975; rút ra một số giải pháp, phương hướng để pháttriển ngành giáo dục, GDPT ở miền Bắc sau năm 1975... Các nghiên cứu đều khăng

<small>định, thành quả đạt được của GDPT trở thành động lực giúp Việt Nam vượt qua khó</small>

khăn, chiến tranh, tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Đề cập đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về GDPT, sự chỉđạo của Đảng về GDPT từ năm 1954 đến năm 1975 trên phạm vi miền Bắc; hệthống hóa chủ trương của Đảng về GDPT; làm rõ một số chỉ đạo nỏi bật, điển hìnhcủa Dang trong phát triển GDPT; van đề tổ chức dạy và học cho học sinh miền

<small>20</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Nam ra tập kết ở miền Bắc; đánh giá một số thành công, hạn chế trong công táclãnh đạo phát triển GDPT; rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa khoa học và thựctiễn trong q trình lãnh đạo của Đảng về GDPT ở miền Bắc Việt Nam.

Nghiên cứu khái quát lịch sử phát triển GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắctừ năm 1954 đến năm 1975: các giai đoạn phát triển của ngành giáo dục nói chung,GDPT nói riêng ở các tỉnh biên giới Đơng Bắc; một số thành tích nổi bật của ngànhGDPT; đánh giá một số thành công trong việc lãnh đạo phát triển GDPT của Đảngbộ các tỉnh biên giới Đông Bắc; chỉ ra hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm khắcphục những hạn chế, yêu kém trong việc phát triển GDPT ở các tỉnh biên giới Đông

Bắc trong thời kỳ 1954 - 1975.Về tư liệu

Các nhà nghiên cứu khai thác một hệ thống tư liệu có giá trị, liên quan đếnGDPT. Danh mục tài liệu tham khảo của các cơng trình là những gợi ý tìm kiếmthiết thực cho tác giả thực hiện đề tài luận án.

Về phương pháp nghiên cứu

Với nhiều góc độ tiếp cận, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã sử dụngnhiều phương pháp nghiên cứu như lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, điền dã, liênngành, phỏng van chuyên gia..., đây là những gợi ý quan trọng giúp nghiên cứu sinhlựa chọn kế thừa và sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp để việc giải quyết

<small>mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.</small>

1.2.2. Những vẫn đề luận án tập trung giải quyết

Thứ nhất, những yêu tô tác động đến quá trình thực hiện chủ trương củaĐảng về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội, tình hình phát triển GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc trước năm 1954 vàyêu cầu về phát triển GDPT trong thời kỳ 1954 - 1975.

Thứ hai, những chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về GDPT từ năm1954 đến năm 1975. Đó là những định hướng lớn về mục đích giáo dục, nhiệm vụ

giáo dục, về chương trình GDPT, về cơng tác dao tạo va bồi dưỡng giáo viên, về xây

<small>dựng quy mơ trường lớp và CSVC...</small>

Thứ ba, q trình Đảng bộ các tỉnh biên giới Đông Bắc: Cao Bằng, Hà Giang,

<small>Lạng Sơn, Hải Ninh (1954 - 1963), Quảng Ninh (1964 - 1975) thực hiện chủ trương</small>

của Đảng về GDPT từ năm 1954 đến năm 1975 từ điều kiện thực tiễn của địa phương

<small>21</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

trên các nội dung: Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, mở

<small>rộng quy mô giáo dục và xây dựng CSVC.</small>

Thứ tu, thành công, hạn chế và chỉ ra ngun nhân thành cơng, hạn chế trongq trình thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc

<small>trong những năm 1954 - 1975.</small>

Thứ năm, một số kinh nghiệm lịch sử từ quá trình thực hiện chủ trương củaĐảng về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc trong những năm 1954 - 1975.

Tiểu kết chương 1

<small>Giáo dục nói chung, GDPT nói riêng đóng vai trị quan trọng trong công</small>

cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Muốn tạo ra sức mạnh tổng hợp, cần phát triểnmột cách toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội; trong đó, GDPT ln được cácquốc gia đặt lên thành ưu tiên hàng đầu. Thấy rõ vai trò, vị trí của giáo dục, trongđó có GDPT trong q trình xây dựng và phát triển đất nước, từ năm 1954 đến năm1975, Đảng Lao động Việt Nam luôn dé cao vai trò của giáo dục và GDPT, đặc biệtlà ở các tỉnh biên giới, vùng sâu, vùng xa. Chính vì vậy, nghiên cứu về giáo dục vàGDPT luôn là van dé được các nhà khoa học quan tâm.

Qua khảo cứu tơng quan, có khơng ít những cơng trình nghiên cứu về GDPTở miền Bắc Việt Nam và ở các tỉnh biên giới Đông Bắc từ năm 1954 đến năm 1975được cơng bố. Mỗi cơng trình có góc độ tiếp cận khác nhau, thé hiện cách nhìn, sựlựa chọn van đề nghiên cứu của tác giả và về cơ bản đều là những nguồn tài liệuđáng quý, cung cấp tư liệu lịch sử chân thực, tin cậy, giúp ích rất lớn cho nghiêncứu sinh trong quá trình thực hiện dé tài. Những cơng trình đó góp phần bổ sungmột số khoảng trống nghiên cứu phủ hợp với dé tài của luận án, được tiếp cận dướigóc độ tìm hiểu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Một số cơng trình nghiên cứuvề GDPT dưới góc độ lịch sử giáo dục, giáo dục học, văn hóa học..., khái quátnhững bước phát triển GDPT, thành tựu và hạn chế; thực trạng và giải pháp pháttriển GDPT... Một số cơng trình đề cập đến chủ trương của Dang Lao động ViệtNam lãnh đạo phát triển GDPT ở một số lĩnh vực nhất định (đánh giá thực trạngGDPT các tỉnh biên giới Đông Bắc; một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chấtlượng chuyên môn đội ngũ giáo viên; quy hoạch phát triển giáo dục của các tỉnhbiên giới Đông Bắc).

<small>22</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Tuy nhiên, chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách tồn diện, hệ thốngvề q trình thực hiện chủ trương của Đảng về GDPT ở các tỉnh biên giới Đông BắcViệt Nam từ năm 1954 đến năm 1975. Vì thế, đề tài Thực hiện chủ trương củaĐảng về giáo dục phổ thông ở các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam từ năm 1954đến năm 1975, dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là một đề tài có đốitượng, phạm vi, yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với những

<small>công trình nghiên cứu đã được cơng bơ.</small>

<small>23</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<small>Chương 2</small>

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỦ TRUONG CUA DANG

VE GIÁO DUC PHO THONG Ở CÁC TỈNH BIEN GIỚI DONG BẮCTỪ NĂM 1954 DEN NAM 1964

2.1. Những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chủ trương của Dang vềgiáo dục pho thông ở các tỉnh biên giới Đông Bắc

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và tình hình kinh tế - xã hộiĐiều kiện tự nhiên

Về khí hậu: Các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu

<small>nhiệt đới, gió mùa với hai mùa cơ bản: mùa đơng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đơng</small>

Bắc (thường kéo dài từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau) và mùa hè chịuảnh hưởng của gió mùa Đông Nam (thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10), thườngcó mưa kèm giơng bão, nhiều trận mưa lớn kéo dài gây lũ, lụt... ảnh hưởng lớn đếnđời sống của nhân dân, gây ách tắc giao thông cục bộ trong vùng. Do địa hình cónhiều núi cao và nhiều dãy núi uốn theo hình cánh cung tạo đường cho gió mùa Đơng

Bắc xâm nhập sâu vào vùng này, tạo nên nhiệt độ trung bình hàng năm thấp, CĨ nol

thấp từ 5°C đến 10°C. Một số năm xuất hiện băng tuyết phủ trên những đỉnh núi nhưMẫu Sơn (Lạng Sơn), cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang)... Ở một số vùng cao thuộctỉnh Hà Giang như Mèo Vac, Yên Minh, Đồng Văn... trừ 3 tháng (6, 7, 8) có nhiệt độtrung bình 20 - 22°C, các tháng cịn lại đưới 20°C, tháng lạnh nhất 7 - 9°C (điểmnhiệt độ thấp nhất có năm - 4°C) [150, tr. I].

Về địa hình: Các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam là các tỉnh miền núi,năm ở độ cao từ hàng trăm mét trở lên so với mặt nước biển, có sự đa dạng về địahình, có cả đổi núi, đồng bang và bờ biển. Địa hình của vùng thấp dan theo chiều từBắc xuống Nam, từ Tây sang Đơng. Phần phía Bắc, sát biên giới Việt - Trung là cáccao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ Tây sang Đông gồm: Cao nguyên Bắc Hà, caonguyên Quản Bạ (độ cao trung bình từ 1000 - 1200m), cao nguyên Đồng Văn (độcao trung bình khoảng 1600m). Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻmnúi đài và sâu [168, tr.37]. Sự đa dạng về địa hình dan đến su phân bố dân cư khơngđều, gây khó khăn trong việc xây dựng trường, lớp bảo đảm cho con em các dân tộc

<small>đên tuôi đi học được đên trường.</small>

<small>24</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

<small>Dân cư</small>

Các tỉnh biên giới Đơng Bắc là vùng có nhiều dân tộc cư trú lâu đời như: Tày,Ning, Kinh, Dao, H°Mông, San Chay, Thái, Giay, Bồ Y, Pa Thén, Hà Nhì, Phù Lá,Lơ Lơ, La Chí,.... Mỗi dân tộc có tiếng nói, văn hóa, phong tục tập qn và trình độxã hội khác nhau nhưng đều có tinh thần yêu nước, đồn kết và truyền thống cáchmạng, có tĩnh thần lao động cần cù, chịu khó. Những phong tục tập quán lạc hậu vacác tệ nạn xã hội đã kìm hãm sự phát triển, khiến cho trình độ phát triển kinh tế, vănhóa của người dân nơi đây cịn lạc hậu so với miền xuôi.

Các dân tộc thiêu số cư trú theo hình thái xen cài, khơng phân khu thành lãnhthé tộc người. Da số các tỉnh có trên 10 tộc người cư trú. Phần lớn các huyện miềnnúi có 10 tộc người cư trú như: Ha Giang có 9 huyện, Lang Sơn có 5 huyện. Một sétỉnh cịn có vùng cu trú của số đông thuộc về một dân tộc như: vùng đồng bao Ningở Cao Bang, Lang Son, vùng đồng bào HˆMông ở các huyện vùng cao Hà Giang,vùng đồng bào Cao Lan - San Chí ở tinh Lạng Sơn, vùng đồng bao Hán (theo cáchgọi thời kỳ 1954 - 1975, hiện nay là đồng bao Hoa) ở tỉnh Hải Ninh có số lượngnhiều nhất trong dân số. Sự phân bố dân cư không tập trung làm cho việc quản lýGDPT khó khăn hon, và mat nhiều thời gian hon so với địa ban khác.

Tình hình kinh tế - xã hội

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi đưa cách mạngViệt Nam bước vào thời kỳ mới, thời kỳ cả nước tiễn hành đồng thời hai chiến lượccách mạng khác nhau (cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủnhân dân ở miền Nam). Đây là đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt

<small>Nam trong thời kỳ 1954 - 1975.</small>

Về kinh tế: các tỉnh biên giới Đơng Bắc có những thuận lợi căn bản dé phụchồi va phát triển sản xuất nông nghiệp như: ruộng đất tập trung nhiều ở những vùngmới giải phóng (chủ yếu là vùng thấp) song cũng gặp khơng ít khó khăn: nền kinhtế kiệt quệ trên tất cả các lĩnh vực do chiến tranh tàn phá nặng nề; phương thức canh

tác nông nghiệp, lâm nghiệp cịn lạc hậu, dựa vào tự nhiên là chính, sản xuất mang

tính tự cấp, tự túc; các cơng trình thủy nông, đê điều chưa được củng cô vững chắc;công nghiệp, thương nghiệp kém phát triển. Nạn đói kéo dài từ cuối năm 1954 vàngày càng mở rộng với mức độ nghiêm trọng, nhất là nơi “ven đai”, nơi bị hạn, lụt.

Tình hình an ninh, chính trị ở một số nơi còn phúc tạp. Từ năm 1954 đến năm

<small>25</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

1956, địch tiến hành những hành động vi phạm Hiệp định Giơnevơ, tuyên truyềnxuyên tạc chính sách của cách mạng, cài gián điệp, vũ trang khủng bố nhân dân vàcán bộ, bắt thanh niên và cưỡng ép dân di cư vào Nam, phá tài sản công cộng,chuyển máy móc trái phép. Bên cạnh đó, các tỉnh biên giới phía Bắc cịn xuất hiệnnhiều “điểm nóng” như: Hoạt động của các thế lực phản động, bọn đặc vụ của TưởngGiới Thạch, thé phi, tay chân của Pháp - Mỹ tập hợp lực lượng chống lại chính quyềnnhân dân ở Đồng Văn (1955 - 1960), Hồng Su Phì (1955 - 1961), sự cấu kết giữa tổchức phan động “Hòa hợp tiến” với phản động bên Trung Quốc và Thái Nguyên, BắcGiang chống phá cách mạng ở Lạng Sơn (1961) [4, tr.202], hoạt động chống phácách mang của tô chức “Đảng Việt Nam dân tộc tự do” ở Lang Son (1961) [4,tr.213], tan dư của các tổ chức phan động ở xã Đức Hanh (Bảo Lạc), Lương Thông,Ngoại Trung (Hà Quảng) [2, tr.302], các hoạt động chống phá chính quyền, quấy rốitrật tự an tồn xã hội của các tơ chức gián điệp, phản động địa phương, kích độngngười Hoa gây bạo loạn ở Hà Cối (1956), Móng Cái (1957), hoạt động của phi cầukết với gián điệp Mỹ, Tưởng Giới Thạch ở miền rừng Hà Cối (1958), âm mưu bạoloạn cướp chính quyền nhân dân ở ba xã dân tộc thiêu số ở Hà Cối (1961), hoạt độngbiệt kích, thám báo Mỹ - Tưởng xâm nhập Hà Cối (1963) [183, tr.612 - 614]... đã tácđộng lớn đến sự phát trién GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc.

Trong lĩnh vực giáo dục, phần lớn các địa phương đều thiếu giáo viên, thiếutrường, lớp, thiếu cán bộ BDHV, nhất là ở các xã miền núi. Tư tưởng giáo viênchưa 6n định. Hệ thống GDPT không thống nhất giữa vùng tự do (cũ) và vùng mớigiải phóng. Ở vùng mới giải phóng, học sinh cấp I, cấp II tăng nhưng thiếu giáoviên và trường lớp để dạy học. Chất lượng giáo dục chưa được chú ý đúng mức.Phong trào BDHV ở nhiều xã, cơng trường, miền núi và vùng mới giải phóng pháttriển. Từ năm học 1956 - 1957, các tỉnh biên giới Đông Bắc cũng như các tỉnh miềnBắc khác thực hiện Nghị định số 1027 - TTg ngày 27/8/1956 của Thủ tướng Chínhphủ về chính sách GDPT 10 năm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa [52].

Tổ chức y tế ở nhiều nơi còn yếu; việc truyên truyền phòng ngừa bệnh choquần chúng không được làm thường xuyên và liên tục. Tình hình dịch bệnh xảy ra ởnhiều nơi. Bệnh sởi, thủy đậu, nhiều nhất là bệnh cúm, sưng phổi xảy ra ở các tỉnhmiền núi Hà Giang, Cao Băng.

Van đề dân tộc cịn nhiều khó khăn, phức tạp. Cán bộ, đảng viên chưa thật sự

<small>26</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

năm chắc được tình hình đặc điểm của các dân tộc, nhất là Dao, HMơng, Ngái décó kế hoạch cơng tác cụ thé với dia phương. Công tác vận động người Hoa cịnnhiều lúng túng. Việc sinh hoạt chính trị ở các địa phương chưa làm đầy đủ. “Mộtsố phần tử phản động lợi dụng sơ hở, đưa đặc vụ vao một số cơ sở Hoa Kiều ở cáctỉnh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn gây khó khăn và chia rẽ dân tộc giữa Hoa Kiềuvới dân tộc thiêu số và người Kinh” [8, tr.93].

Đồng bào Hoa là một trong những dân tộc thiểu số sống ở các tỉnh biên giớiĐông Bắc, đặc biệt là Hải Ninh va Cao Bằng. Việc tô chức hệ thống GDPT chođồng bào Hoa hết sức phức tạp, bởi nó khơng chỉ quan hệ mật thiết với vấn đề dân

tộc, mà cịn có liên quan chặt chẽ đến việc xử lý mối quan hệ giữa hai nước ViỆt

-Trung. Do đó, việc xây dựng và triển khai chương trình, nội dung GDPT cho đồngbào Hoa đã đặt ra cho Đảng bộ, chính quyền ở các tỉnh biên giới Đơng Bắc ViệtNam một bài tốn lớn cần phải giải quyết để không làm căng thắng mối quan hệ

giữa hai dân tộc Kinh và Hoa, giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Điều kiện tự nhiên, dân cư và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở các tỉnhbiên giới Đơng Bắc đặt ra những khó khăn thách thức đối với phát triển GDPT vềvan đề phân bé trường, lớp, quy mô học sinh, về thời gian va cách thức tô chức dayhọc, về ngôn ngữ dạy học, về CSVC dạy và học. Điều đó yêu cầu Đảng bộ các tỉnhbiên giới Đơng Bắc cần phải có chủ trương phát triển GDPT phù hợp với điều kiện

thực tiễn của địa phương nhằm phát huy tốt mọi nguồn lực phát triển.

2.1.2. Tình hình giáo dục phổ thơng ở các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Namtrước năm 1954 và một số yêu cầu mới đặt ra

<small>Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</small>

phải đối mặt với nhiều khó khăn. Nền giáo dục hết sức lạc hậu với hơn 90% dân sốmù chữ. Ở các tỉnh biên giới Đơng Bắc, một vài huyện có trường tiêu học. Chínhquyền cách mạng ở miền núi rất thiếu cán bộ biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ cũngnhư các ngôn ngữ dân tộc dé quản lý kinh tế, xã hội. Trước tình hình đó, Đảng xácđịnh: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta.

<small>Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước,yêu lao động, một dân tộc xứng dang với nước Việt Nam độc lập” [71, tr.3].</small>

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Loi kêu gọi tồn quốc khángchiến. Dé công tác giáo dục không bi xáo trộn, ngành GDPT có những thay đổi về

<small>27</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

thời gian, nội dung học tập. Nhiều trường phổ thông được duy trì và được xây dựngmới. Tháng 4/1947, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ IV họp, chủ trương chuyênhướng giáo dục nhằm giải quyết vấn đề dạy chữ cho đồng bào. Hội nghị xác định:“Chương trình học phải thiết thực, nhằm mục đích đảo tạo nhân tai cần dùng chokháng chiến, phương pháp học là học sinh phải vừa học vừa tham gia sản xuất. Tiếptục phát triển bình dân học vụ. Chủ yêu mở các trường ở vùng dân tộc thiểu số” [71,tr.188]. Thực hiện chủ trương trên, ngành GDPT các tỉnh biên giới Đơng Bắc nhanhchóng chuyên hướng. Phong trào BDHV tiếp tục được mở rộng và phát triển vớitỉnh thần “có biết chữ kháng chiến mới thăng lợi”, “vừa kháng chiến vừa học tập”,“đi học là kháng chiến”, v.v..

Hội nghị toàn quốc lần thứ III của Dang (1/1950) nhắn mạnh: “Về giáo dục,thầy dạy, nhà trường, sách giáo khoa rất thiếu, chương trình giáo dục cịn nhiều vếttích của thời Pháp - Nhật thuộc, cần sửa đổi ngay” [71, tr. 35] và xác định “Chanchỉnh và phát triển giáo dục: đào tạo cán bộ cung cấp cho nhu cầu kháng chiến. Đặtcơ sở cho nền giáo duc dân chủ nhân dân Việt Nam” [71, tr. 196]. Thực hiện chủtrương của Đảng, Nhà nước tiến hành cuộc Cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950để xây dựng nền giáo dục mới, xóa bỏ triệt dé những quan diém, chương trình, nộidung giáo dục lạc hậu của nền giáo dục cũ. Tính chất của nền giáo dục được xác địnhlà nền giáo dục của dân, do dân, vì dân và xây dựng trên nguyên tắc cơ bản “dân tộc,

khoa học và đại chúng”. Hệ thống GDPT 9 năm được quy định gồm 3 cấp, đảm bảo

tính chất liên tục: cấp I - 4 năm (từ lớp 1 đến lớp 4), cấp II - 3 năm (từ lớp 5 đến lớp7) va cấp III - 2 năm (lớp 8 và lớp 9). Mục tiêu là giáo duc và bồi dưỡng thé hệ trẻ trởthành những người “công dân lao động tương lai”, trung thành với chế độ nhân dân,có đủ năng lực và phẩm chất phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến và kiến quốc.Nội dung giáo dục nhằm bồi dưỡng người học có tinh thần dân tộc, yêu nước, tinh

thần yêu lao động, tôn trọng của cơng và tinh than tập thé, có phương pháp suy luận

<small>và thói quen làm việc khoa học. Phuong châm giáo dục là học di đôi với hành, lý</small>

luận gắn liền với thực tiễn [93, tr.98 - 100].

Từ sau cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950, ngành giáo dục các tỉnhbiên giới Đông Bắc phát động “rèn cán, chỉnh cơ” nhằm phê phán mạnh mẽ quan

<small>28</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

điểm chuyên môn thuần túy, tách rời nhà trường với cuộc sống, xác định vai trò vàtrách nhiệm của người giáo viên dưới chế độ mới, thực hiện phương châm: Giáodục phục vụ kháng chiến, phục vụ sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh việc tổ chức, xây dựng trường, lớp, ngành GDPT các tỉnh biên giớiĐông Bắc đặc biệt quan tâm đến chat lượng và nội dung giáo dục. Trong hoàn cảnhkháng chiến, nhà trường phổ thông được coi là công cụ làm nhiệm vụ giáo dục lịngu nước, ý chí đấu tranh, đồn kết các dân tộc cùng chiến đấu chống thực dânPháp xâm lược. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên hướng nội dung học tập gắnliền với cuộc kháng chiến của dân tộc. Ở nhiều trường, bên cạnh việc tham gia tích

<small>cực vào sự nghiệp giáo dục, giáo viên và học sinh cịn tham gia dân cơng phục vụ</small>

các chiến dịch.

Về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, ngành GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắcthường xuyên tô chức các lớp sư phạm cấp tốc, lớp tập huấn; tô chức Hội nghị suphạm giữa các địa phương dé giáo viên trao đối chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm.

Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết. Cuộckháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng. Từnăm 1946 đến năm 1954, ngành giáo dục ở các tỉnh biên giới Đơng Bắc khẩn trương

khắc phục khó khăn, xây dựng các ngành học, cấp học và đạt được một số kết quả

bước đầu. Ở vùng tự do, các trường phổ thơng giảng day bằng tiếng Việt.

Tình hình phát triển GDPT ở các tỉnh biên giới Đông Bắc trước năm 1954 dùđã đạt được một số thành tựu song vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Mot la,thiếu cán bộ, giáo viên chuyên môn dạy học, đặc biệt là cán bộ quản lý, giáo sinhđịa phương, người dân tộc. Học sinh cấp II, cấp III tăng nhiều nhưng thiếu giáo viênvà nhà trường. Hai là, ở vùng mới giải phóng, số học sinh đơng, nguyện vọng theohọc chương trình giáo dục mới, nhưng các tỉnh chưa giải quyết được, chỉ mới sửađổi một vài môn trong chương trình như Nghĩa vụ cơng dân. Hai hệ thống giáo dụccũ và mới tổn tại song song với những khác biệt về chương trình và thời gian, gây

<small>trở ngại cho việc sử dụng, quản lý cán bộ, giáo viên và hoạt động dạy học. Ba là,</small>

việc đề cao chất lượng giáo dục làm được rất it. Trình độ học sinh cịn rất hạn chế,tư tưởng giáo viên số đơng cịn vướng mắc như: muốn về xuôi, chế độ công tác,sinh hoạt chưa được nâng cao, tô chức chưa được chặt chẽ. Chất lượng giáo viênchưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục, khả năng truyền tải kiến thức đến học sinh còn

<small>29</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

nhiều hạn chế. Bon /à, nhiều nơi quan niệm về ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dụccịn lệch lạc, khơng sát với khả năng và nhu cầu của nhân dân, phong trào BDHV vàGDPT thiếu liên tục, sâu rộng. Nam Id, tỷ lệ học sinh so với dân số còn thấp, tỷ lệhọc sinh dân tộc chưa tương xứng với tỷ lệ dân số của dân tộc đó.

Ngồi ra, mỗi tỉnh biên giới Đơng Bắc cịn có những khó khăn riêng. ỞLạng Son, UBHC, đoàn thé tỉnh và các huyện chú ý đến van dé giáo dục nhưng số

cán bộ Ty, Phòng Giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu. Ở Cao Bang, UBHC tỉnh cấpkinh phí mở lớp tập trung cho cán bộ xã, nhưng lại không được dam bảo. Ở HaGiang, tài liệu giảng dạy và học tập thiếu thốn, nhất là Quốc văn. Ở Hải Ninh,nhiều giáo viên chưa có kinh nghiệm và hiểu biết thực tế. Tình trạng thiếu giáoviên rất trầm trọng; phong trào GDPT phát triển không đều, chỉ tập trung ở hai

ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng ở miền Bắc nói chung, của các tỉnh biên giới

Đơng Bắc nói riêng trong giai đoạn mới.

Về u cầu cụ thé của mỗi địa phương, Đảng bộ tỉnh Lang Son cần quan tâmđến chất lượng quản lý giáo dục và giáo viên giảng dạy, tránh đưa các cán bộ

<small>không có kinh nghiệm giáo dục từ hoạt động hành chính sang giảng dạy. Đảng bộtỉnh Cao Băng: cân dựa vào dân, huy động mọi ngn lực của nhân dân, tích cực</small>

<small>30</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

đề xuất và xin kinh phi từ Trung ương và Liên khu Việt Bắc dé bảo đảm hoạt độngxây dựng trường lớp dao tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên và bảo đảm hoạt độngday hoc của giáo viên và học sinh. Đảng bộ tỉnh Ha Giang: cần đề xuất lên Đảngủy Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đảng ủy Bộ Tài chínhbảo đảm tài chính, cung cấp tài liệu giảng dạy cho giáo viên và tài liệu học tập chohọc sinh. Đảng bộ tỉnh Hải Ninh: cần tăng cường chỉ đạo công tác đào tạo và bồidưỡng giáo viên về kinh nghiệm giảng dạy và hiểu biết thực tiễn, đồng thời giảiquyết tình trạng phát triển khơng điều giữa vùng thấp và vùng cao.

2.1.3. Chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về giáo dục phổ thông

Những năm 1954 - 1964 là thời gian hịa bình, miền Bắc hàn gắn vết thươngchiến tranh sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; đồng thời là thờigian miền Bắc từng bước xây dựng CNXH, ra sức chi viện sức người, sức của cho

tiền tuyến miền Nam. Để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trên, phát triển giáo dục,

nhất là GDPT được xem là định hướng quan trọng, chủ trương lớn của Đảng Laođộng Việt Nam, nhằm tạo ra “con người mới xã hội chủ nghĩa” cho sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về GDPT trongnhững năm 1954 - 1964 được thé hiện chủ yếu ở những nội dung sau:

Về định hướng giáo dục

Đề ồn định tình hình vùng mới giải phóng, ngày 3/7/1954, Ban Bí thư ra Chỉ thịvề việc bảo hộ các thành phố mới giải phóng, xác định: “Tạm thời chưa thay đơi chế độgiáo dục và chương trình giáo dục” [72, tr.150]. “Sau khi mở lại trường học, chế độgiáo dục, chương trình, tài liệu giáo khoa tạm thời khơng thay đổi, chỉ xóa bỏ nhữngbài mục phản động. Có thé đem tám chính sách đối với thành phố mới giải phóng màgiải thích cho học sinh trình độ từ lớp 5 trở lên” [72, tr.150]. Đến tháng 3/1955, Hộinghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng khóa II (mở rộng) chủtrương “chan chỉnh và củng cô giáo dục phô thông dé thống nhất hai chế độ giáo dục(chế độ giáo dục dân chủ mới và chế độ giáo dục cũ cịn ton tại ở vùng mới giải

<small>phóng)” [73, tr.213]. Nhiệm vụ giáo dục được xác định là “đảm bảo dạy văn hóa cho</small>

con em của nhân dân và cho nhân dân, đào tạo cán bộ sơ cấp và trung cấp cần thiết choviệc khôi phục kinh tế quốc dân và chuẩn bị kiến thiết nước nhà” [73, tr.144].

<small>Tháng 3/1957, Hội nghị Trung ương 12 BCHTW Đảng khóa II (mở rộng)</small>

xác định phương hướng phát triển giáo dục nói chung là “phải dựa trên cơ sở phát

<small>31</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

triển sản xuất, dựa vào khả năng tài chính của Nhà nước và nhân dân và phải nhằmnhững công tác thiết thực nhất”; “chú ý nâng cao nội dung, sát với tình hình vàđường lối của ta hiện nay, lấy việc củng cố, nâng cao chất lượng làm chính; phải kết

hợp và phục vụ sản xuất, phục vụ việc xây dựng kinh tế quốc dân. Chú ý dựa vao

dân mà phát huy cơng tác văn hóa, giáo dục; kiên quyết hỗn hoặc bỏ những việcchưa thật cần thiết” [74, tr.272].

Tại Hội nghị lần thứ 14 BCHTW Đảng (khóa II, tháng 11/1958, Bộ Chính trịdé ra nhiệm vụ giáo duc trong thời kỳ quá độ đi lên CHXH là “xóa bỏ dan những ảnhhưởng cịn lại của nền văn hóa thực dân và phong kiến, xây dựng nền văn hóa mới,

<small>văn hóa xã hội chủ nghĩa” [75, tr.506].</small>

<small>Tháng 9/1960, trên cơ sở xác định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam</small>

và nhiệm vụ của cách mạng miền Bắc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III củaĐảng xác định một trong những công tác giáo dục là: “phát triển mạnh mẽ và vữngchắc nền giáo dục phổ thông” [77, tr.553], với nhiệm vu cơ ban là: 1) Bồi dưỡng thếhệ trẻ thành những người lao động làm chủ đất nước, có giác ngộ XHCN, có văn hóavà kỹ thuật, có sức khỏe, những người phát triển toàn diện dé xây dựng xã hội mới;2) Phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ xây dựng kinh tế và văn hóa XHCN vàviệc nâng cao khơng ngừng trình độ văn hóa của nhân dân lao động [77, tr.552]. Đểđạt mục tiêu ấy, Đại hội xác định: “chúng ta phải năm vững nguyên lý giáo dục kếthợp với lao động sản xuất và các phương châm: lý luận gắn liền với thực tế, học điđôi với hành, giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục của xã hội” [77, tr.552].Bên cạnh đó, Đại hội cịn chỉ rõ các giải pháp, phương hướng phát triển GDPT sau:

Một là, phát triển vừa nhiều vừa nhanh sự nghiệp giáo dục đồng thời coi trọng

việc nâng cao chất lượng của giáo dục; kết hợp lực lượng của Nhà nước và lực lượng

của nhân dân dé thực hiện một cách tích cực và theo từng bước vững chắc sự nghiệpphô cập giáo dục cho thế hệ trẻ và cho các tầng lớp nhân dân lao động;

<small>Hai là, di đơi với giáo dục văn hóa, phải thực hiện việc giáo dục kỹ thuật;</small>

<small>Ba là, không ngừng mở rộng cửa nhà trường xã hội chủ nghĩa cho công nông</small>

và đồng bào dân tộc thiểu số, nam cũng như nữ và phải tạo mọi điều kiện thuận lợicho họ học tập được tốt.

Tháng 3/1963, tại Hội nghị lần thứ 8, BCHTW Đảng đề ra chủ trương đối vớimiền núi: “Tiếp tục phát triển GDPT, chú trọng phát triển mạnh cấp II, cấp III. Ra sức

<small>32</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

phát triển chữ dân tộc thiểu số và hoàn thành kế hoạch chuyên tiếp từ học chữ dân tộcsang học chữ phô thông ở cap I, II và bổ túc văn hóa cho thích hợp với năng khiếu họcsinh va kip thời phục vụ cho công tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số” [79, tr.402].

Quan điểm của Đảng Lao động Việt Nam về định hướng giáo dục nói chung,GDPT nói riêng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn liền với côngcuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miềnNam. Phương châm nền giáo dục của chế độ mới được xác định là “dân tộc, khoa

học và đại chúng”, gắn kết với việc phục vụ sản xuất, xây dựng kinh tế quốc dân,

dựa vào dân mà phát huy, gắn lý luận với thực tế, học với hành, kết hợp giáo dụccủa nhà trường với giáo dục của xã hội. Phát triển GDPT dựa vào khả năng tài chínhcủa nhà nước và nhân dân; phát triển số lượng đi đôi với đảm bảo về chất lượng;phát triển GDPT phải có kế hoạch, có trọng điểm, lãnh đạo vững chắc; quan tâm

đến GDPT miền núi, chú trọng đến chương trình GDPT ở miền núi.Về đào tạo và bôi dưỡng giáo viên

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng khóa II mở rộng (3/1955) đãxác định giải pháp chủ yếu về GDPT là “bồi dưỡng cán bộ giáo dục về tư tưởng,chính trị và chiếu cố sinh hoạt vật chất của ho” [73, tr.213].

Hội nghị lần thứ 12 BCHTW Đảng (khóa ID) mở rộng (3/1957) xác định:“Dé phát triển công tác giáo dục phải chú ý đào tạo bồi dưỡng cán bộ địa phương,phải tuyên truyền giải thích để nhân dân tự giác, tự nguyện hoc tập” [74, tr.180].Hội nghị nhấn mạnh đến đời sống của giáo viên dân lập và chỉ đạo Nha nước “cầnban hành các chính sách cụ thé đối với giáo viên dân lập” [74, tr.178]. Việc chophép va tạo điều kiện dé các trường phố thông dân lập tồn tại ở miền Bắc trong thờigian này là sự vận dụng linh hoạt của Dang theo nguyên tắc: dựa vào dân dé xâydựng và phát triển cơng tác giáo dục.

Nhận thấy tình trạng thiếu một đội ngũ giáo viên chuyên trách giảng dạychính trị, trong Chi thị số 125 - CT/TW ngày 30/1/1959 “Về việc chan chỉnh cơngtác giáo dục chính trị trong nhà trường phổ thông (cấp II và cấp II)”, Ban Bí thưnhấn mạnh:

Giáo viên chính trị phải thấy rõ trách nhiệm của mình, phải thấy rõtầm quan trọng và mục đích, u cầu của mơn mình phu trách, giáo

<small>viên các bộ môn khác cũng phải cô găng thê hiện việc giáo dục tư</small>

<small>33</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

tưởng chính trị trong bộ mơn của mình và phải có ý thức phối hợp

<small>chặt chẽ với giáo viên chính trị trong việc giáo dục tư tưởng cho học</small>

<small>chính vẫn là dựa vào lực lượng văn hóa sẵn có ở cơ quan, xí nghiệp, nơng thơn,</small>

nhất là cán bộ có văn hóa, giáo viên, học sinh lớn tuổi các trường phô thông, học

<small>sinh và sinh viên các trường chuyên nghiệp, đại học” [76, tr.945]. Việc thực hiện</small>

phương châm này góp phan giải quyết bớt khó khăn về tinh trạng thiếu giáo viên.Rất nhiều cán bộ, công nhân viên đã hăng hái tham gia giảng dạy lớp học BTVH ởcác xí nghiệp, nhà máy, nơng trường, khu phó... Một số học sinh tốt nghiệp lớp 7,lớp 10 tham gia các khóa học dé trở thành giáo viên theo công thức: 7+2 dạy học

sinh cấp I, 10+3 day học sinh cấp II...

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Dang (9/1960) chỉ rõ: “Thay giáo làlực lượng cốt cán cho sự nghiệp phát triển giáo dục văn hóa” [77, tr.553]. Trên cơ sở đó,Đại hội thống nhất chủ trương: “coi trọng việc dao tạo va bồi dưỡng thầy giáo về cácmặt chính trị và tư tưởng cũng như về mặt nghiệp vụ và văn hóa” [77, tr.553].

<small>Ban Bí thư chỉ rõ mục tiêu của ngành GDPT trong năm 1960 và trong năm</small>

học 1960 - 1961 là: “Phục vụ cho việc bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, tạo điều kiện cho

phong trào cách mang của quan chúng lao động tiến quân vào khoa học và kỹ thuật,đồng thời nâng cao dần trình độ văn hóa của thanh niên, thiếu nhi” [77, tr.260].

Chỉ thị số 203 - CT/TW của Ban Bí thư (7/4/1960) xác định: “Sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc đòi hỏi ngànhgiáo duc cung cấp cán bộ làm công tác giáo dục ngày càng nhiều với chất lượng ngàycàng cao” [77, tr.262]. Từ đó, đưa ra chỉ đạo: “Ngành giáo dục phải hết sức coi trọng

việc bồi dưỡng cán bộ cũ và đảo tạo cán bộ mới”; “Việc bồi dưỡng phải nhăm mục

đích lâu dài và cụ thể là nâng trình độ cán bộ giáo dục lên trình độ chính quy. Nộidung bồi dưỡng phải bao gồm cả chính trị, văn hóa và nghiệp vụ” [77, tr. 62].

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960), Dang chủ trương “mo

<small>rộng các trường sư phạm sơ câp, trung câp và đại học, nâng cao chât lượng đào tạo</small>

<small>34</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

giáo viên và chú trọng bồi dưỡng số giáo viên sẵn có về mọi mặt; tích cực xây dựngtrường sở, tăng thêm các thiết bị thí nghiệm và xây dựng thư viện, tủ sách cho cáctrường bồ túc văn hóa và các trường phơ thơng” [77, tr.884].

Ngày 3/9/1964, Ban Bi thư ra Chỉ thị số 84 - CT/TW nêu rõ:

Dé có điều kiện tuyên sinh vào các trường đào tạo cán bộ, một mặtcần phát triển cấp II, cấp III phổ thông; mặt khác, cần tập trung cán bộvà thanh niên ưu tú của các dân tộc, BTVH tới trình độ cần thiết. Đốivới trường sư phạm, cần tuyén sinh thêm nhiều thanh niên các dân tộcthiểu số và cải cách nội dung, phương pháp đào tạo, nhằm đảo tạonhững giáo viên có tinh thần phan đấu cách mạng, thiết tha phục vucác dân tộc và tương đối hiểu tình hình các dân tộc mà mình sẽ phụcvụ. Cần chú trọng bồi dưỡng những giáo viên đang công tác. Đối vớigiáo viên ở miền xuôi đưa lên dạy ở các trường miền núi, cần giáo dụckỹ chính sách dân tộc và những kiến thức cần thiết về miền núi [80,

<small>tr.219 - 220].</small>

Trong công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, Đảng chú trọng nguồn giáo viênở các cơ quan, xí nghiệp, nơng thơn, học sinh lớn tuổi ở các trường phé thông, học

<small>sinh, sinh viên ở các trường dai học, trường chuyên nghiệp. Trong công tac dao tao,</small>

Đảng chủ trương mở trường sư phạm, trường đại học đào tạo giáo viên chính quy, đốitượng tuyển sinh được chú ý đến là thanh niên, đặc biệt chú ý đến thanh niên các dântộc thiêu số. Trong công tác bồi dưỡng giáo viên, chú trọng đến việc bồi dưỡng giáodục chính trị, văn hóa và nghiệp vụ sư phạm. Đối với giáo viên từ miền xuôi lên miềnnúi, cần bồi dưỡng chính sách dân tộc và những kiến thức cần thiết về miền núi.

Về đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục

Tháng 11/1958, tại Hội nghị lần thứ 14, BCHTW Đảng khóa II đề ra chủtrương “nâng cao chất lượng giảng dạy, cải tạo tư tưởng cho giáo viên; chú trọngdựa vào lực lượng của nhân dân phát triển các trường dan lập, nhất là cấp I, dé thunhận các trẻ em đến tuôi đi học” [75, tr.506].

Quan tâm sâu sát đến cơng tác giáo dục chính trị trong nhà trường phơ thơng,Ban Bí thư nhận thấy việc giáo dục tư tưởng chính trị chưa được nâng cao đúng mứcvà quá thiên về đơn thuần giảng dạy văn hóa, đồng thời thừa nhận “việc giảng dạychính trị cịn nặng tính chất giáo điều” [76, tr.128]. Vì vậy, ngày 30/1/1959, Ban Bí

<small>35</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

thư ra Chỉ thị số 125 - CT/TW, xác định một số phương hướng chấn chỉnh cơng tácgiáo dục chính trị trong nhà trường phổ thơng: (1) phải thấy rõ vị trí quan trọng củamơn chính trị trong trường phơ thơng, (2) xác định rõ mục đích, u cau thiết thực vàcụ thê cho mơn chính trị, (3) đề ra phương châm và phương pháp giáo dục thích hợp,

<small>(4) quy định nội dung chương trình chính trị cho sát.</small>

Thay rõ những khó khăn trong việc day mạnh sự nghiệp giáo dục ở các địaphương miền núi có đồng bao dân tộc thiểu số sinh sống, ngày 24/2/1959, Ban Bí

thư ra Chỉ thị số 128 - CT/TW “Về đây mạnh hơn nữa việc thi hành chủ trương

<small>tăng cường cơng tác vùng cao”. Ban Bí thư xác định:</small>

Mọi công tác ở vùng cao phải nắm vững ba phương châm: 1) Kiênnhẫn, thận trọng, chắc chắn và tích cực, khẩn trương; 2) Hết sức dựavào nhân dân, phát huy mọi khả năng và tinh thần tự lực cánh sinhcủa nhân dân; đồng thời, Nhà nước và đồng bào các dân tộc ra sứcgiúp đỡ; 3) Mọi công tác đều nhằm đây mạnh sản xuất, cải thiện đời

sống nhân dân, tăng cường đoàn kết dân tộc, đào tạo cán bộ địa

<small>phương [76, tr.195].</small>

Trong Chi thi số 203 - CT/TW “Về nhiệm vu phát triển giáo dục bồ túc vănhóa và phổ thông năm học 1960 - 1961” (7/4/1960), Ban Bi thư xác định phươnghướng phát triển GDPT là: phát triển số lượng gắn với bảo đảm chất lượng, có trọng

điểm, có kế hoạch, có lãnh đạo vững chắc [77, tr.260 - 261].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) chủ trương: “cầnxúc tiến việc nghiên cứu khoa học giáo dục, xây dựng nền giáo dục học của nướcta. Trên cơ sở tông kết kinh nghiệm công tác giáo dục trong mười lăm năm qua, cầnnghiên cứu để tiến tới thực hiện một cuộc cải cách về nội dung, phương pháp và tổ

<small>chức giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa” [77, tr.553]. Trong các nội dung</small>

của GDPT, Đại hội đã nhấn mạnh công tác giáo dục tư tưởng, chính trị và chỉ rõ

<small>nhiệm vu của công tác giáo dục này là “ndng cao không ngừng trình độ giác ngộ xã</small>

hội chủ nghĩa, tinh than yêu nuớc, ý chí thong nhất nước nhà và ý thức lam chủ của

<small>nhân dân ta” [77, tr.551].</small>

Tháng 1/1961, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW Dang khóa III “Về kế

<small>hoạch nhà nước 1961”, xác định những hiệu quả của công tác giáo dục trước năm</small>

1961 và chủ trương: “Phát triển giáo dục phổ thông, chú trọng nâng cao chất lượng,

<small>36</small>

</div>

×