Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Triết học: Quan niệm của John Rawls về công bằng và ảnh hưởng của nó đến một số nhà triết học chính trị Anh – Mỹ đương đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (10.73 MB, 27 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HOI VÀ NHÂN VAN

ĐOÀN THỊ QUÝ

QUAN NIEM CUA JOHN RAWLS VE CÔNG BANG

VÀ ANH HUONG CUA NO DEN MOT SO NHÀ TRIET HỌCCHÍNH TRI ANH -MỸ DUONG DAI

Chuyén nganh: CNDVBC & CNDVLSMã số: 62 22 03 02

TOM TAT LUẬN AN TIEN SĨ TRIET HOCHA NOI - 2021

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

Cơng trình được hồn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYEN ANH TUẦN

Phản biện 1: PGS.TS. Trần Hải MinhPhản biện 2: TS. Trần Tuan Phong

Phản biện 3: TS. Trần Thảo Nguyên

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiễn sĩ họp

tại Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn,Đại học Quốc gia Hà Nội

vào hồi 14 giờ 00 ngày 30 tháng 11 năm 2021

Có thê tìm hiéu luận an tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài

Ngay từ thời cổ đại, ở cả phương Đông và phương Tây, công bằng đã là mộtvẫn đề được cả nhân loại quan tâm, là một trong các giá trị mà con người luônhướng tới. Do đó, cơng bằng cũng là van đề nghiên cứu trọng tâm của triết học

<small>chính trị. Tuy nhiên, cơng băng khơng phải là phạm trù bất biến mà có sự vận</small>

động, phát triển. Tùy thời đại, hoàn cảnh, quốc gia, lập trường giai cấp mà quan

niệm về công bằng và việc đảm bảo công bằng xã hội được hiéu một cách khác

Trong lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại, John Rawls (1921-2002),một trong những nhà triết học chính trị lỗi lạc nhất của thế kỷ XX đã có những

đóng góp to lớn trong việc phát triển quan niệm về cơng bằng. Có thé nói, quan

niệm của Rawls vê cơng băng đã mang đến cho ơng một vị trí đặc biệt quantrọng trong lịch sử triệt học chính trị. Ơng chính là người có cơng hồi sinh triếthọc chính trị, buộc các nhà triết học quay trở lại những van dé quan trọng của

triết học chính trị như cơng bằng, tự do, dân chủ...

Với tác phẩm Lý thuyết về công lý, ông đã làm sống lại một trong những

mối quan tâm chung của triết học chính trị, đó là xã hội công băng sẽ như thế nào?

Làm thế nào mà xã hội vừa đảm bảo công bang vừa tao động lực thúc đây cá nhân

theo đuôi một cuộc sông tốt đẹp? Ảnh hưởng của Lý thuyết về công lý lớn đến

mức Robert Nozick (1938 - 2002) khẳng định “các nhà triết học chính trị bây giờ

chỉ nghiên cứu học thuyết của Rawls hoặc giải thích tại sao khơng làm việc đó”

<small>[135, tr.183].</small>

Lý thuyết của Rawls về cơng bằng được cho lả vượt qua quan niệm về côngbằng của chủ nghĩa vị lợi, vốn đang giữ vị trí thống trị trong triết học chính trị, đạođức Anh — Mỹ vào khoảng thời gian nói trên, đồng thời mang lại những bước tiến

mới đáng kế cho chủ nghĩa tự do. Báo cáo phát triển thé giới năm 2006: Công

bang và phát triển của Ngân hàng thê giới khang định quan niệm của Rawls vệ

cơng bằng đã gop phan định hình suy nghĩ hiện nay của chúng ta về công bang, décao công bằng về cơ hội, thay vì chỉ chú trọng phúc lợi độ thỏa dụng [42, tr.111].

Nghiên cứu quan niệm của John Rawls về công băng cũng phù hợp với chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện

nay chưa có cơng trình nào của Rawls được dịch sang tiếng Việt và bàn về quan

niệm công bằng của John Rawls, các nhà nghiên cứu mới chỉ đi sâu tìm hiểu quanniệm của ơng trong tác phâm Lý huyết về cơng lý. Có thé nói, chưa có cơng trình

nào ở Việt Nam đi sâu nghiên cứu quan niệm của Rawls về công bằng sau tác

phẩm này, những thay đổi trong quan niệm của Rawls về công bằng, đánh giá về

quan niệm công bằng của Rawls và ảnh hưởng của ông tới quan niệm vê công

băng của các nhà triết học chính trị Anh — Mỹ đương đại nói chung vẫn cịn khá ít.Với những lý do nêu trên, NCS lựa chọn Quan niệm của John Rawls về

cơng bằng và ảnh hưởng của nó đến một số nhà triết học chính trị Anh — Mỹđương đại làm đề tài luận án của mình.

3

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục dich của luận án: Phan tích những nội dung chính của quan niệm

John Rawls về công bằng, đưa ra những đánh giá về quan niệm này dé từ đó chỉ

ra những ảnh hưởng của nó đến quan điểm của một số nhà triết học chính trị

Anh — Mỹ đương dai.

Nhiệm vụ của luận án:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án.

- Phân tích bối cảnh, các tiền đề chủ yếu dẫn tới sự hình thành quan niệm

<small>của John Rawls cơng băng.</small>

<small>- Phân tích, làm rõ những nội dung chính của quan niệm John Rawls về</small>

cơng bằng thể hiện trong một số tác phẩm của ông.

- Đưa ra được những đánh giá về đóng góp, hạn chế của quan niệm JohnRawls về cơng bằng.

- Phân tích những ảnh hưởng từ quan niệm của John Rawls về công bangđến một số nhà triết học chính trị Anh — Mỹ đương đại.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng: quan niệm của John Rawls về cơng bang và ảnh hưởng của nó

đến quan niệm của một số nhà triết học chính trị Anh —Mỹ đương đại.

Phạm vi: luận án khái quát quan niệm của John Rawls vê công bằng trong

một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Lý thuyết về công lý, Chủ nghĩa tự do chính trị,

Luật các dân tộc, Cơng lý như là cơng bằng: sự trình bày lại. Luận án cũng chỉ ra

những ảnh hưởng của quan niệm đó tới quan niệm cơng bằng của các nhà triết học

chính tri Anh — Mỹ đương đại là Robert Nozick,Ronald Dworkin, Michael Sandel,Thomas Pogge và Amartya Sen. Sở dĩ tác giả luận chọn các nhà triết học này là vìquan niệm của họ vê công bằng được xem là những quan niệm công bằng tiêubiểu cùng thời và sau Rawls. Chúng nảy sinh từ việc phê bình hoặc mở rộng quan

<small>niệm của Rawls về công bang.</small>

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận triết học Mác

-Lénin vé lich sử, về mối quan hệ tương tác giữa các hình thái tư tưởng, về bìnhđăng, tiến bộ và cơng bằng xã hội, đồng thời luận án cũng được thực hiện trên

cơ sở nghiên cứu trực tiếp những tác phẩm của John Rawls, kế thừa những kếtquả nghiên cứu có giá tri của các cơng trình nghiên cứu trong và ngồi nước cóliên quan.

Phương pháp nghiên cứu: luận án vận dụng phương pháp luận biện chứng

duy vật với các phương pháp nghiên cứu như thơng nhất lịch sử - logic, phântích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa...đồng thời, tác giả luận án cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản học.

5. Đóng góp mới của luận án

- Luận án hệ thống hóa và phân tích sâu những nội dung cơ bản của quan

niệm John Rawls vê công bằng, làm rõ những biến đổi trong quan niệm John

<small>Rawls về công bằng trong phạm vi một quốc gia.</small>

<small>4</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

- Luận án đưa ra được những đánh giá về đóng góp, hạn chế của quanniệm John Rawls về cơng bằng dưới góc độ tiếp cận chủ nghĩa duy vật biện

chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

- Luận án đã phân tích và luận giải những ảnh hưởng của John Rawls tới

quan niệm về công băng của một số nhà triết học chính trị Anh — Mỹ đương dainhư Robert Nozick, Ronald Dworkin, Michael Sandel, Thomas Pogge và

<small>Amartya Sen.</small>

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

vẻ mặt lý luận: luận án góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống quanniệm về cơng bằng của John Rawls và ảnh hưởng của nó tới quan niệm của một số

nhà triết học chính trị Anh — Mỹ đương dai.

Về mặt thực tiễn: luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu, giảng dạy triết học của John Rawls nói riêng, triết học chính trị Anh —

Mỹ đương đại nói chung.

7. Kết cầu của luận án

Ngồi phần mở đâu, kết luận, danh mục các cơng trình của tác giả có liên

quan đến luận án đã được công bố và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4

<small>1.1.1. Những cơng trình nghiên cứu ngồi nước</small>

Có nhiều cơng trình ngồi nước bàn về cuộc đời, sự nghiệp và tiền đề tưtưởng hình thành nên quan niệm công bang của Rawls, tiêu biêu là các công trình

sau: Putnam (2005), “John Rawls” , Samuel Freeman (2007), Rawls, Routledge;

Andrius Galisanka (2013), “John “Rawls: the path to A theory of Justice’,

dissertation submitted in partial satisfaction of the requirements for the degree of

<small>Doctor of Philosophy in Political Science in theGraduate Division of the</small>

University of California, Berkeley; Thomas Pogge (2007), John Rawls: his life

and theory of justice, Oxford University Press...

1.1.2 Những cơng trình nghiên cứu ở Việt Nam

Có thể nói, đáng chú ý nhất trong những cơng trình nghiên cứu trong nước

về tư tưởng triết học của Rawls phải kế đến luận án tiền sỹ của Trần Thảo Nguyên

(2006) với đề tài Triết học kinh tế trong “Li thuyết về công lý” của nhà triết học

Mỹ John Rawl. Ngồi ra, có thể kế đến các cơng trình sau: Phạm Thị Ngọc Tram

(chủ biên) (2009), Những van dé lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong diéukiện nước ta hiện nay , Bùi Dai Dũng (2012), Công bằng trong phân phối cơ sở để

phát triển bên vững, Trần Thị Lan Hương (chủ biên) (2016), Thuc hiện công bằng

xã hội đối với các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay và các bài viet nhu:

Nguyễn Minh Hoan (2008), “Công băng trong quan niệm của một số nhà triết học

chính trị Mỹ” , Nguyễn Đăng Dung (2019), “Lịch sử tư tưởng về công lý và công

5

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

bằng”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Ti huc hiện công bằng xã hội trong diéu kién kinh

té thị trường kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam”. . Cũng giông Trần Thảo

Ngun, các tác giả của những cơng trình kể trên đều cho răng quan niệm của

Rawls về công băng trong Lý thuyết về công lý đã kế thừa quan niệm khế ước xã

hội của một số nhà triết học thuộc trào lưu chủ nghĩa tự do cổ điển, quan niệm đạo

đức của Kant. Tuy nhiên, những cơng trình kê trên chỉ mới dừng ở mức độ nêu ra

chứ không phân tích sự chun hóa những tiền đề sang quan niệm của Rawls vềcơng bằng.

1.2. Những cơng trình nghiên cứu liên quan đến nội dung quan niệm

của John Rawls về công bằng

<small>1.2.1. Những cơng trình nghiên cứu ngồi nước</small>

Về các cơng trình hệ thống hóa triết học chính trị phương Tây có đề cập đếnquan niệm của Rawls về cơng bằng, có thé kế đến các cơng trình như: DavidMiller (2003), Triết học chính trị: một giới thiệu ngắn gon (Political Philosophy: avery short introduction), Will Kimlicka (2002) Giới thiệu về triết hoc chính trị

đương đại (Contemporary political philosophy — An introduction) ; Robert E.

Goodin, Philip Pettit and Thomas Pogge (biên tập, 2007), Đồng hành cùng triết

học chính trị đương đại (A companion to contemporary political philosophy);Thomas Christino va John Chrismas (biên tập, 2009), Những tranh luận đương

dai vé triét hoc chinh tri (Contemporary debates in political philosophy) [88]; JohnChristman (2002), Giới thiệu vé triét học chính trị xã hội (Social and political

<small>philosophy: An contemporary introduction); Norman P.Barry (1995), Giới thiệu</small>

vé hoc thuyét chính trị hiện dai (An introduction to modern political theory)...

và những nội dung cơ bản trong quan niệm cua Rawls vê công băng trong

<small>phạm vi một quốc gia, có thể kể các cơng trình sau: Đọc Rawls: những nghiên cứu</small>

mang tính phản biện về “Lý thuyết cơng lý cua Rawls” (Reading Rawls: critical

studies on Rawls’s A theory of Justice) [90] được Norman Daniels biên tập

(1975); Hiểu Rawls: tái dung lại Lý thuyết về công lý và phê phán nó

<small>(Understanding Rawls: a reconstruction and critique of A theory of Justice) của tác</small>

gia Robert Paul Woff (1977); Giới thiệu về lý thuyết công bằng xã hội của John

Rawls (John Rawls’s theory of social justice: an introduction) [83] được biên tap

boi H.Gene Blocker, Elizabeth H.Smith (1980)...

Về những nội dung cơ bản trong quan niệm của Rawls về công bang quốc

tế, các nhà nghiên cứu như Chris Naticchia, Burleigh T.Wilkins, Joseph Heath

trong các cơng trình sau Fernando R.Tesón (1998), Hoc thuyết của Rawls về luật

quốc tế (The Rawlsian Theory of International Law) trong cuôn sách A Philosophy

<small>of International Law (Boulder, CO: Westview, 1998) [144]. Burleigh T.Wilkins</small>

(2007), “Các nguyên tắc dành cho luật các dân tộc” (Principles for the law of

peoples), The Journal of Ethics, vol.11, Pp.161-175 [147]; Chris Naticchia (1998),

“ Quyền con người, chủ nghĩa tự do và luật các dân tộc của Rawls” (Human

<small>rights, liberalism, and Rawl's Law of Peoples), Social Theory and Practice, Vol.</small>

24, No.3, pp. 345-374 [121]; Joseph Heath (2005), “Bao vệ quan niệm công bang

6

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

trong phân phối toàn cầu của Rawls” (Rawls on Global Distributive Justice: A

Defence) [101]... đã di sâu bàn luận.

1.2.2 Những cơng trình nghiên cứu ở Việt Nam

Bàn về quan niệm cơng băng của Rawls, có thé kê một số cơng trình nghiêncứu trong nước như sau: bai viết Lich sử tu tưởng về công lý và công bằng của

Nguyễn Đăng Dung (2019); bài viết Công bằng trong quan niệm của một số nhà

triệt học chính tri Mỹ của tác giả Nguyễn Minh Hồn (2008)... Ngồi ra, quan

niệm về cơng bang của J.Rawls cũng được Trần Thảo Nguyên (2004 và 2006)

khái quát trong bài viết Khái niệm công bằng trong triết học chính trị phương Tây

hiện đại và vấn dé cơng bằng xã hội trong “Lý thuyết về công bằng” của Giơn

Rols và cơng trình Triết học kinh tế trong “Li thuyết về cơng lí” của nhà triết hocMỹ John Rawls...

1.3 Những cơng trình nghiên cứu liên quan đến anh hưởng của JohnRawls đến quan niệm về công bằng của một sơ nhà triết học chính trị Anh —

Mỹ đương dai

Do John Rawls có vị trí đặc biệt trong triết học chính trị Anh — Mỹ đương

đại, nên hầu hết các cơng trình khi nghiên cứu quan niệm về cơng bằng xã hội của

một số nhà triết học chính trị Anh — Mỹ đương đại nói chung đều có xu hướng

phân chia quan niệm về cơng bang trong triết học chính trị Anh — Mỹ đương đại

thành hai phân: quan niệm của chính John Rawls và quan niệm sau ơng vê cơng

bằng. Tiêu biểu trong số những cơng trình đó, có thé kề tên những cơng trình sau:

George Kloslo (2011), Triết học chính trị Anh — Mỹ đương đại (Anglo-American

contemporary political philosophy); Richard J.Arneson (2013), Công bằng sauRawls (Justice after Rawls); Jerry E.Herbel (2001), Công bang trong van hoa va

chinh tri My (Fairness in American politics and culture) ...

1.4 Khái quát các kết quả nghiên cứu đã dat được va định hướng

nghiên cứu của luận án

Sau khi nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan tới đề tài luận án,tác giả luận án rút ra một số kết luận sau:

Có nhiều cơng trình ngồi nước bàn về tiền đề tư tưởng, hình thành nên quan

niệm cơng bằng của Rawls, cũng như trình bày quan niệm về cơng bằng của ôngtrên nhiều chiều cạnh khác nhau. Những công trình này đã chỉ ra được những tư

tưởng triết học mà quan niệm công băng của Rawls chịu ảnh hưởng, những nội

dung chính trong quan niệm cơng bằng của Rawls. Tuy nhiên, có rất ít cơng trình

nghiên cứu quan niệm của Rawls về công bằng dựa trên lập trường của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bối cảnh hình thành nên quanniệm cơng bằng của Rawls chưa được chú trọng nghiên cứu.

Các cơng trình nghiên cứu trong nước vê quan niệm công băng của Rawls

cũng đã phần nào chỉ ra được một số tiền đề tư tưởng, bối cảnh hình thành nên

quan niệm của ơng, các luận điểm cơ bản về công bằng mà ông đưa ra trong Lýthuyết về công lý. Tuy nhiên, so với các cơng trình ngồi nước, các cơng trìnhnghiên cứu trong nước vẫn cịn nhiều hạn chế. Một mặt, có ít cơng trình nghiên

7

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

cứu đề tài này. Ngồi cuốn sách Triết học kinh tế trong “Lí thuyết về công lý” của

nhà triết học Mỹ John Rawls của Trần Thảo Ngun, các cơng trình cịn lại đa số

là bài tạp chí, bài hội thảo... Mặt khác, những cơng trình nghiên cứu về Rawls ở

<small>Việt Nam mới chỉ tập trung nghiên cứu quan niệm công băng của ông trong tác</small>

phẩm Lý thuyết về công lý. Và hầu như chưa có cơng trình nào ở nước ta chỉ raảnh hưởng từ quan niệm công bằng của Rawls tới một số nhà triết học Anh — Mỹđương đại. Quan niệm về công bằng của ông ở các tác : phẩm khác, sự thay đổi lập

trường nghiên cứu cua Rawls ở giai đoạn sau Ly thuyết về công lý, ảnh hưởng của

ông tới các nhà triết học chính trị Anh — Mỹ đương đại chính là khoảng trống

<small>trong nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay.</small>

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoàinước như đã nêu ở trên, luận án tiếp tục đi sâu, làm rõ những nội dung sau:

Thứ nhất, nghiên cứu bôi cảnh, tiền đề hình thành nên quan niệm của Rawlsvề cơng bang nói chung. Từ đó chỉ ra được bối cảnh, tiền đề chính ảnh hưởngmạnh mẽ tới quan niệm cơng bằng của ơng.

Thứ hai, khát qt hóa, hệ thống hóa những nội dung chính trong quan niệmcơng băng của Rawls không chỉ thé hiện trong tác phẩm Lý thuyét về cơng lý màcịn thể hiện qua một sơ tác phẩm ở giai đoạn sau của ông. Trên cơ sở đó, rút ra

những đánh giá về đóng góp và hạn chế của quan niệm Rawls về công băng.

Tứ ba, nêu và phan tích ảnh hưởng của quan niệm của Rawls vê cơng bằng

tới một số nhà triết học chính trị Anh — Mỹ đương đại.

Chương 2: NHUNG DIEU KIỆN, TIEN DE CHO SỰ HÌNH THÀNH

QUAN NIỆM CUA J OHN RAWLS VE CONG BANG

2.1. Những điều kiện kinh tế- chính trị -xã hội cho sự ra đời quan niệmcủa John Rawls về công bằng

2.1.1. Chiến tranh thé giới lần thứ II và chiến tranh Việt Nam

Rawls đã chỉ ra một số yêu tố ảnh hưởng đến quan niệm về công bang cua

mình, trong đó ơng nhấn mạnh những cuộc chiến tranh mà ơng đã trải qua. Ơng đãtham gia qn đội Mỹ từ năm 1943 đến năm 1946, đóng quân ở Thái Bình Dương,New Guinea, Nhật Bản và Philippines. Có ba sự kiện xảy ra trong quá trình Rawls

tham gia quân đội đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến ông [86, tr.22-24]. Có thé nói,nhữngtrải nghiệm trong chiến tranh thế giới thứ 2 chính là chất xúc tác khiến ơng

thay đơi nhận thức của mình về van dé cơng băng. Từ chỗ đặt niềm tin vào Chúa,

ơng trở nên hồi nghi vào cơng lý của Chúa. Ơng nghi ngờ những lời cầu nguyệnvà luôn trăn trở về vấn đề cái ác.

Cuộc chiến tranh nữa có tác động mạnh mẽ tới nhận thức của Rawls chính là

chiến tranh Việt Nam. Mặc dù Rawls không tham gia vào cuộc chiến này, nhưng

những sự kiện liên quan đến chiến tranh Việt Nam đã khiến Rawls suy nghĩ vê

công băng trong chiến tranh, những khiếm khuyết trong hệ thống chính trị Mỹ...

Đối với Rawls, đạo đức của cuộc chiến không phải là sự mở rộng đạo đức của thé

chế - những nguyên tắc công bằng trong nước mà nó chính là sự mở rộng đạo đức

8

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

nói chung đối với lĩnh vực quốc tế thông qua những quy tắc, quy định độc lập vớithể chế trong nước, áp dụng cho các nhân tố mang tính quốc tế - các dân tộc.

2.1.2. Sự biến đổi kinh tế, xã hội nước Mỹ nửa sau thé kỷ XX

Quan niệm về công bằng của John Rawls cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ

bối cảnh kinh tế - xã hội nước Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Có thể nói tìnhhình kinh tế - xã hội Mỹ đã có sự biến đối sâu sắc từ sau chiến tranh thé giới thứ 2.

Một trong những đặc điểm noi bật của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ

2 là tiêu dùng phát triển mạnh mẽ. Sau giai đoạn suy thoái và những năm tháng

hạn chế vì chiên tranh, nước Mỹ bước vao giai đoạn hàng hóa tiêu dùng dư thừa

chưa từng thấy. Vào giai đoạn khi Mỹ trở thành xã hội tiêu dùng đại chúng thì

cũng là thời kỳ nước Mỹ xuất hiện nhiều phong trào xã hội làm thay đổi cáchngười Mỹ hiểu về các mối quan hệ xã hội.

Có thê khăng định sự gia tăng trong sản xuất hàng hóa, dư thừa về tiêu dùng

ở Mỹ, sự phân phối không đồng đều của cải chính là một nhân tố thúc day Rawls

xem xét lại vấn đề cơng bằng trong phân phối. Ngồi ra, những phong trào dau

tranh dân sự đòi quyền tự do, bình đăng... cũng là một yếu tổ nối trội tác động

<small>khơng nhỏ tới tư tưởng chính trị của ơng.</small>

2.1.3. Sự tác động của tồn câu hóa tới đời sống kinh tế- chính trị thể giới

Bên cạnh những yếu tơ ké trên, có thé nói rằng tồn cầu hóa cũng làm thay

đơi diện mạo thế giới nói chung, nước Mỹ nói riêng.

Tồn cầu hóa làm cho khoảng cách giàu nghèo trên thế giới ngày càngdỗng ra. Ngồi ra, tồn cầu hóa kinh tế thúc đầy sự tự do các luồng vốn đầu tư và

chính điều này đã tạo nên nhiều cuộc khủng hoảng, suy thối kinh tế. Bên cạnh đó,

khi “biên giới” các quốc gia bị mềm di, nhà nước dân tộc cũng khơng cịn giữđược một sơ vai trị truyền thống. Sự thay đổi của kinh tế đã làm cho cơ câu xã hộicác nước phương Tây có sự biến đồi sâu sắc. Những năm 1970, 1980, cầu trúc xã

hội các nước tư bản phát triển là 5-10% dân số thuộc giới thượng lưu, 60-65%

thuộc tầng lớp trung lưu và khoảng 25-30% thuộc tầng lớp dưới. Đến giữa những

<small>năm 1990 tại Mỹ tỉ lệ nay tương ứng là 5%, 80% và 15% [theo 70, tr.21]. Dưới tác</small>

động của toàn câu hóa, kinh tẾ - xã hội Mỹ có sự biến đổi to lớn. Sự thay đổi vềkinh tế kéo theo sự biến động về mặt xã hội, quan hệ xã hội giữa nhà nước và côngdân cũng như với các tổ chức quốc tế... Cơng bằng khơng cịn là chủ đề chỉ được

xem xét gói gọn trong phạm vi qc gia — dân tộc. Trong bối cảnh đó, Rawls cũng

mở rộng quan niệm vê cơng băng của mình. Nếu trong Lý thuyết về công lý, học

<small>thuyết công bằng của ông chỉ áp dụng trong phạm vi một qc gia, thì trong Luat</small>

các dan tộc, Rawls đã đưa ra các nguyên tắc về công bằng áp dụng cho các dân

tộc và điều chỉnh các quan hệ quốc tê.

Mặt khác, nhiều sự kiên quốc tế diễn ra trong khoảng thời gian nói trên đã

làm thay đổi lập trường xu hướng nghiên cứu của các nhà triết học chính trị. Nanđói diễn ra ở Bangladesh trong năm 1971, 1973; khủng hoảng năng lượng; suy

thối kinh tế tồn cầu...đã khiến cho van để can thiệp nhân đạo, quyên con người,

9

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

sự phụ thuộc quốc tế, nghĩa vụ hỗ trợ quốc tế trở thành những mối bận tâm hàng

đầu trong các nghiên cứu triết học chính trị - xã hội.

2.1.4. Sự phát triển của chủ nghĩa tự do

Ngoài sự tác động của tồn câu hóa, một yếu tố khơng thé khơng nhắc đến

khi bàn về bối cảnh xã hội nước Mỹ từ sau năm 1945 đến nay chính là sự mở rộng

của chủ nghĩa tự do. Chủ nghĩa tự do (Liberalism) là một trào lưu chính thơng vàchủ dao trong triết học chính trị Anh — Mỹ đương dai. Rawls được xem là đại diện

tiêu biểu cho chủ nghĩa tự do thời hiện đại. Dựa trên tư tưởng của nhiều triết gia

thuộc chủ nghĩa tự do cô điền, Rawls đã xây dựng lý thuyết về cơng bằng của

mình. Sự phát triển quan niệm về công bằng của ông cũng sắn liền với những

bước thăng trầm của chủ nghĩa tự do. Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, chủ nghĩa

tự do trải qua ba giai đoạn phát triển khác nhau: sự phát triển của chủ nghĩa tự do(1945 - 1970); sự khủng hoảng của chủ nghĩa tự do (1970 - 1980); sự trỗi dậy của

chủ nghĩa tân tự do (1980 - 2020) [98, tr.9-10].

Lý thuyết về công lý ra đời năm 1971 nhưng nhiều tư tưởng chính của tác

phẩm này được Rawls nung nau và thé hiện trong nhiều bài viết từ những năm

1950- thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tự do. Trong thời kỳ này, dưới ảnh hưởng

của chủ nghĩa tự do “nhân văn”, các nước phương Tây đã nhanh chóng phơ cập vàhồn thiện mơ hình nhà nước phúc lợi cùng với mơ hình kinh tế hướng cầu của

Vào cuối những năm 1970, hai mơ hình nhà nước phúc lợi tiêu biểu là mơhình Beveridge (Anh) và mơ hình Birsmac (Đức) đã bộc lộ nhiều khuyết điểm và

hiển nhiên chủ nghĩa tự do ủng hộ nhà nước phúc lợi cũng bị phê phán từ nhiều

phía. Trớ trêu thay, Lý thuyết công lý của Rawls ra đời vào đúng thời điểm này,các nước phương Tây cân một học thuyết không chỉ là lý luận chống lại chủ nghĩa

cộng sản mà còn là cứu cánh của nền kinh tế đang trên đà suy thoái. Chủ nghĩa tântự do đã đưa ra những luận điểm đáp ứng được hai yêu câu trên. Chủ nghĩa tân tự

do đã đưa ra những luận điểm đáp ứng được hai yêu câu trên. Trong giai đoạn này,

chủ nghĩa tân tự do phát triển mạnh mẽ đến mức ma Francis Fukuyama cho rangcó thé coi lich sử da cao chung. Su kết thúc của lich sử ở day được hiểu là điểmkết thúc của cuộc tiến hóa tư tưởng của lồi người và sự phổ qt hóa của các giá

trị dân chủ tự do phương Tây.

Do đó, chủ nghĩa tự do ma Rawls tán thành không chỉ thay đổi dé phù hợp

với bối cảnh mới mà còn dé phan ứng lại chủ nghĩa tân tự do, và những trào lưu

phê phán những tín điều của chủ nghĩa tự do, điển hình như chủ nghĩa cộng dong.

2.1. Tién dé tu tưởng hình thành quan niệm của John Rawls về công

2.1.1 Quan niệm về tự do, về khế ước xã hội của Locke

Giống như các nhà triết học tự do cổ điển, Rawls cũng đề cao giá tri tự dotrong quan niệm về công bằng và sử dụng khế ước xã hội làm cơng cụ diễn đạt

<small>mang tính giả thuyết hình thành nên tồn bộ học thuyết cơng bằng của mình trong</small>

cả hai tác phẩm Lý thuyết về cơng lý và Luật các dân tộc. Tương tự Locke, Rawls

10

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

đã kết nối ý tưởng sự hợp pháp về chính trị với sự đồng thuận của các cơng dân lý

trí, đồng thời ơ ơng cũng cho răng con người khơng có nghĩa vụ tn thủ những chế

độ bạo lực và bất công. Tuy nhiên, Rawls lại không tán thành với quan niệm về

khế ước xã hội của Locke ở điểm nó dựa trên những điều kiện ngẫu nhiên bênngồi, trong đó bao gồm qun mặc cả của con người. Rawls cũng khơng đồng

tình với quan niệm về qun sở hữu ma Locke đưa ra vì ơng cho răng nó tương

thích với những quyền tự do chính trị khơng bình đăng. Rawls khang định những

ngun tắc của khế ước xã hội phải được lựa chon sau “bức màn vô tri” dé loại bỏ

những yếu tố ngẫu nhiên, khi con người không biết được tài sản mà họ được sở

<small>hữu là bao nhiêu.</small>

2.2.2 Quan niệm về bất bình dang, vé khế ước xã hội và ý chi chung của

Rawls đặc biệt ấn tượng với quan niệm của Rousseau về nguồn gốc và hậu

quả của bất bình đăng. Theo Rawls, Rousseau đã phân biệt bất bình dang tự nhiên

và bất bình đăng chính trị. Cịn nguồn gốc của bất bình đăng, Rousseau cho rang

bat bình dang xã hội nay sinh cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu. Rawls đã

<small>kế thừa từ Rousseau tư tưởng vệ tầm quan trọng của việc kiểm sốt những bất</small>

bình đăng về kinh tế, chính tri dé sao cho khơng một thành phan nào có thé chi

phối phần cịn lại của xã hội.

Đề có thé giảm bớt những bat bình đăng chính trị, đảm bảo tự do và bìnhdang cho người dan, Rousseau đã dé cao pháp luật, ý chí chung trong việc kiểm

soát quyền lực. Đây cũng là điểm mà Rousseau thể hiện sự tiễn bộ hơn so với

Locke và Rawls đã tiếp thu những tư tưởng này của Rousseau để xây dựng lý

thuyết cơng bằng của mình.

<small>2.2.3. Quan niệm về tự do ý chí của Kant và quan niệm về cấu trúc xã hội</small>

của Hegel

Ngoài những tư tưởng kể trên, Rawls còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ quanniệm của Kant về tự do, tính tự trị của ý chí. Kant cho rằng có hai loại tự do, đó làtự do kinh nghiệm khi con người muốn làm gì tùy ý và có thêm một loại tự do đó

là khi con người hành động tự chủ, nghĩa là chúng ta làm một cái gì đó theo mụcđích tự thân. Chúng ta khơng phải là cơng cụ cho mục đích ở bên ngồi chúng ta

và chính khả năng hành động này đã mang đến phẩm giá cho con người, phân biệt

con người và con vật. Hành động tự chủ của ý chí đạt đến trạng thái tự trị khi

những nguyên tắc của chúng ta có khả năng trở thành những luật phơ qt, từ đólàm nảy sinh những mệnh lệnh tuyệt đối hay những bồn phận có sự ràng buộc con

người một cách vô điều kiện nhằm hướng tới một mục tiêu nào đó. Thừa nhận tínhtự trị của ý chí là phâm chất hàng đầu của con người có đạo đức, Rawls đã dựavào lý luận này của Kant để đưa ra quan niệm ve sự tự quyết trong lý thuyết vềcông bằng của mình. Tuy nhiên, Rawls cho rang lỗ hong cơ ban trong triết học đạo

đức của Kant đó chính là sự thiếu nhạy cảm đối với lĩnh vực chính trị: lĩnh vựcnày không được nhận thức như là sản phẩm của các nguyên tắc chính trị được

cộng đồng cùng chia sẻ, mà như là kết quả của việc các cá nhân tuân thủ một cách

11

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

có ý thức những luật lệ có trước. Đối với Kant, tính tự trị thé hiện trong đời sống

riêng tư của chúng ta con Rawls lại cho rằng biểu hiện đầu tiên của tính tự trị phải

được thể hiện ở cấp độ chính trị, bằng cách chúng ta chọn và hành động theo

những nguyên tắc dành cho thê chế. Và chính ở điểm này, Rawls thừa nhận ông

tiếp thu quan niệm của Hegel.

Rawls khang định Lý thuyét về công lý đã tiếp thu của Hegel khi nó xem cau

trúc cơ bản của xã hội như là chủ thé đầu tiên của cơng lý” [theo 152, tr.366].

Rawls và Hegel đều có chung niềm tin cơ bản rang những thé chế (và những quy

tắc hướng dẫn của chúng) quyết định kiểu người mà chúng ta muôn trở thành.Công dân là kết quả của một q trình giáo dục. Khơng giơng Kant, những giá trịhướng dẫn và nghĩa vụ được biết đến với tư cách là tiên nghiệm, Rawls cho răng

nền tảng cho những hiểu biết của chúng ta về tự do và bình đăng được tìm thấy ở

q khứ, ở văn hóa chung phố biến của xã hội dân chủ mà chúng ta cùng chia sẻ.

Ngồi ra, Rawls cịn ảnh hưởng tư tưởng của Hegel trong việc xem triết học như là

<small>sự hòa giải (reconciliation).</small>

2.2.3. Quan niệm của một số nhà triết học cùng thời với Rawls và sự phê

phán chủ nghĩa vị lợi, chủ nghĩa trực giác

Ngoài những nhà triết học kế trên, quan niệm của Rawls về công bằng cũng

chịu ảnh hưởng phan nào từ tư tưởng của những nhà triết hoc cùng thời với ông

như Malcolm, Hart, Berlin..

Rawls phê phán chủ nghĩa vị lợi ở chỗ: chủ nghĩa vị lợi theo hình thức quan

niệm về xã hội như là một cá nhân. Quan niệm về một xã hội được cho là côngbang cũng không khác gi quan niệm về công băng của cá nhân, đó là đều được

tính tốn trên cơ sở cân băng giữa những mat mát và những gi dat được.

Còn với chủ nghĩa trực giác, Rawls phê phán ở các khía cạnh: thứ nhất, các

học thuyết trực giác bao gồm nhiều nguyên tắc đầu tiên và có thê mâu thuẫn trong

việc đưa ra những định hướng trong những trường hợp cụ thể. Và thứ hai, các học

thuyết trực giác khơng có phương pháp cụ thể, khơng có những quy tắc ưu tiêntrong việc đánh giá những nguyên tắc nay với nguyên tắc khác và để xem xét cácnguyên tắc mâu thuẫn nhau, học thuyết trực giác tìm cách cân bang chúng dé dat

được kết quả có vẻ gần đúng nhất. Có nhiều kiểu chủ nghĩa trực giác và một trong

những cách dé phân biệt chúng đó chính là mức độ khái quát các nguyên tắc.Trong vấn đề cơng bằng, chủ nghĩa trực giác cũng có nhiều hình thức khác nhauphụ thuộc vào nhóm quy tắc mà chúng áp dụng cho một van dé cụ thé về côngbang, ví dụ như cơng bằng về lương, về đánh thuế, về thưởng phạt...

2.3. Cuộc đời và sự nghiệp của John Rawls

John Rawls tên day đủ là John Bordley Rawls (1921-2002), được sinh ra

trong một gia đình giàu có ở Baltimore, Maryland, Mỹ. Cha ông là một luật sưthuế đồng thời là chun gia lập pháp rất thành cơng cịn mẹ ông là chủ tịch hiệphội cử tri nữ ở địa phương. Bà là người hoạt động rất tích cực đề thúc đây dân chủ,dau tranh cho quyên bầu cử của phụ nữ. Những hoạt động của bà đã ảnh hưởng

không nhỏ tới Rawls. Ngoài ra, những ky ức thơ ấu về cái chết của hai người em

12

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

cũng tác động mạnh mẽ tới ông. Rawls sau này đã thừa nhận rằng bi kịch về cái

chết của hai người em đã thúc đây tật nói lắp nghiêm trọng của ông. Sự kiện này

cũng khiến Rawls nhận thức sâu sắc rang những bất bình đăng về tự nhiên ngay từ

đầu đã tác động lớn đến cuộc đời một con người.

Rawls theo học ở trường Calvert (Baltimore) trong vòng 6 năm, trước khi

chuyền sang trường Ken (Connecticut). Ông tốt nghiệp trường Kent và vào Đại

hoc Princeton vào năm 1939. Đây cũng là thời điểm nỗ ra cuộc chiến tranh thé

giới lần thứ hai, và cuộc chiến tranh này như Rawls khang định đã “phủ bóng” lên

mọi lĩnh vực trong đời sống của Rawls, đã kích thích sự quan tâm của ơng đối vớichính trị nói chung, và các ngun tắc về cơng bằng quốc tế nói riêng. Sau khihồn thành học kỳ đầu tiên, Rawls gia nhập quân đội Mỹ với tư cách là một lính

bộ binh, đóng qn ở New Guinea và Philippines. Sau chiến tranh, ông trở lại

trường Princeton dé tiếp tục học đại học và làm tiến sĩ. Đề tài luận án của ông liên

quan tới quy trình ra quyết định đạo đức và được hồn thành vào năm 1950.Ngay

sau đó, ơng được mời làm việc tại Dai học Oxford và vào năm 1953, ông chuyên tớitrường Dai hoc Cornell. Ở Oxford, Rawls đã bắt đầu hình thành khái niệm “vi tríban đầu”, mặc dù bước đột phá về tư tưởng của ông phải kê đến việc ông đưa rakhái niệm “bức màn vô tri” trong chuyên dé “Công lý như là công bằng” vào năm

1957. Chuyên đề này được coi như là bản thảo của Lý thuyết về công lý và Rawls đã

dành cả thập ky tiếp theo dé sửa đổi bản thảo này. Năm 1960, ông đảm nhận vi trí

giảng dạy tại Viện công nghệ Massachusett, trước khi chuyên tới làm giáo sư tại

trường Dai học Harvard (1961). Ong gan bó với ngơi trường này cho đến cuối đời.

Năm 1971, Rawls xuất bản quyền sách Lý thuyết về công ly. Rawls đã rấtngạc nhiên trước thành công của Lý thuyết về công ly. Mặc dù nôi tiếng, ông vẫn

tiếp tục sống cuộc đời của một học giả ân danh, cơng hiến hết mình cho gia đình,

nghiên cứu và giảng dạy. Sau Lý thuyết về cơng lý, ông hy vọng sẽ nghiên cứu sâu

một vân đề khác biệt, về tâm lý đạo đức. Tuy nhiên, sự quan tam to lớn đối với

cuốn sách va sự tranh cãi mà nó gây ra, buộc ơng phải dành phan lớn thời gian cịn

lại của mình bảo vệ lý lẽ của nó. Trong q trình đó, quan điểm của Rawls đã trảiqua sự thay đổi đáng kê.

Năm 1993, ông đã xuất bản cuốn sách thứ hai của mình Chủ nghĩa tw do

Chính trị. Quyền sách này tập hợp và sửa đổi một số tác phẩm chính của ơng ké từLý thuyết về cơng lý. Chủ đề chính là cuốn sách này là phân tích sự khác biệt giữachủ nghĩa tự do với tư cách là một triết lý sống và với tư cách là một tín ngưỡng

chính trị. Vào năm 1999, Rawls đã xuất bản quyền sách thứ ba của minh là Ludt

các dân tộc. Với tác phẩm này, Rawls cố gang mo rong pham vi 4p dung nguyén

tắc công bằng ¿ ở phương diện quốc tế.

Tiểu kết chương 2

<small>John Rawls (1921 - 2002) là một trong những nhà triết học chính trị nguoi</small>

Mỹ lỗi lạc nhất của thế ky XX. Quan niệm của Rawls về công băng chịu tác độngmạnh mẽ bởi những cuộc chiến tranh mà Mỹ đã trải qua trong thế kỷ XX, sự biến

đổi kinh tế - xã hội của Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ 2, ảnh hưởng của toàn cầu

13

</div>

×