Tải bản đầy đủ (.pdf) (42 trang)

đồ án tốt nghiệp xây dựng hệ quản trị tri thức giải đoán tử vi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 42 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI</b>

<b>Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Ngọc Thăng </b>

<b>HÀ NỘI, 6/2021 </b>

<small> Chữ ký của GVHD</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN </b>

<b>1. Mục đích và nội dung của đồ án: </b>

<b>2. Kết quả đạt được: </b>

<b>3. Ý thức làm việc của sinh viên: </b>

Hà Nội, ngày tháng năm

Giảng viên hướng dẫn

<i>(Ký và ghi rõ họ tên)</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>Lời cảm ơn </b>

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cơ Viện Tốn ứng dụng và Tin học – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn, giải đáp thắc mắc và tạo điều kiện tốt nhất cho tơi trong q trình làm đồ án. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Trần Ngọc Thăng, người đã định hướng và tận tình hướng dẫn để tơi có thể hồn thành tốt đồ án này.

<b>Tóm tắt nội dung đồ án </b>

Ngày nay, khoa học, công nghệ ngày càng phát triển và len lỏi vào tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống như kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội… Cụ thể, nước ta đang bước vào giai đoạn “chuyển đổi số” mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu thực tế và bắt kịp xu thế thời đại mới. Tử vi là một bộ môn đã xuất hiện từ rất lâu và mang tính huyền bí cổ xưa cũng được rất nhiều người quan tâm và chỉ được biết qua sách vở hoặc các chuyên gia về lĩnh vực này. Trong đồ án tốt nghiệp này, tôi đã xây dựng một hệ quản trị tri thức hỗ trợ cho giải đốn lá số tử vi, mục đích đặt ra là số hóa tài liệu tử vi thành cơ sở tri thức, cụ thể: thu thập dữ liệu dạng văn bản từ sách tử vi, bóc tách các thực thể và tổ chức thành các luật để đưa vào cơ sở tri thức, tổ chức lại các luật để phục vụ cho tìm kiếm, truy vấn để giải mã lá số tử vi.

Sinh viên thực hiện

<i>(Ký và ghi rõ họ tên) </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>CHƯƠNG 2. BÀI TỐN TRÍCH RÚT THƠNG TIN VĂN BẢN ... 14</b>

2.1 Bài tốn trích rút thơng tin văn bản ... 14

Các dạng dữ liệu văn bản ... 14

Giới thiệu bài tốn trích rút thơng tin văn bản ... 14

2.2 Bài toán nhận dạng thực thể định danh NER ... 16

Giới thiệu bài toán ... 16

Các hướng tiếp cận ... 16

2.3 Bóc tách thực thể từ tài liệu giải đoán tử vi ... 17

Lá số tử vi và vấn đề giải đoán [6] ... 17

Bóc tách thực thể từ tài liệu giải đoán tử vi ... 19

<b>CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG HỆ QUẢN TRỊ TRI THỨC GIẢI ĐOÁN TỬ VI ... 24</b>

3.1 Biểu diễn tri thức ... 24

Biểu diễn tri thức dưới dạng luật ... 24

Xây dựng cơ sở tri thức ... 26

3.2 Xây dựng chương trình ... 29

Xây dựng chương trình lập lá số tử vi ... 29

Giải đoán lá số dựa trên cơ sở tri thức ... 30

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN ... 33TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 34</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>DANH MỤC HÌNH VẼ </b>

Hình 1.1: Mối quan hệ giữ Dữ liệu, Thông tin và Tri thức ... 2

Hình 1.2: Quy trình kỹ nghệ tri thức ... 5

Hình 1.3: Kho tri thức trong nền tảng quản trị tri thức ... 9

Hình 1.4: Vịng đời của hệ thống quản trị tri thức ... 10

Hình 2.1: Ví dụ mơ tả nhận dạng thực thể định danh ... 16

Hình 2.2: Ví dụ một lá số tử vi ... 18

Hình 2.3: Ví dụ về câu phú và lời giải ... 19

Hình 2.4: Quy trình số hóa tri thức ... 20

Hình 2.5: Quy trình bóc tách ... 20

Hình 2.6: Tập tin lưu trữ câu phú được bóc tách ... 21

Hình 2.7: Tập tin lưu trữ lời giải được bóc tách ... 22

Hình 2.8: Tập tin lữu trữ các thực thể được bóc tách ... 22

Hình 3.1: Tập tin lưu trữ tập các luật ... 24

Hình 3.2: Ví dụ từ điển các cung chủ... 25

Hình 3.3: Tập tin lưu trữ tập các luật sau khi được mã hóa ... 25

Hình 3.4: Bảng lưu trữ lời giải đốn ... 26

Hình 3.13: Thơng tin của một lá số ... 31

Hình 3.14: Giao diện giải đốn lá số tử vi ... 32

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>DANH MỤC BẢNG </b>

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa tri thức hiện và tri thức ẩn ... 3 Bảng 1.2: Tiếp cận quá trình và tiếp cận thực hành trong quản trị tri thức ... 7 Bảng 1.3: Công nghệ quản trị tri thức và tác động Web ... 11

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT </b>

CSS Cascading Style Sheets - các tập tin định kiểu theo tầng HTML Hypertext Markup Language – Ngôn ngữ đánh dấu siêu

văn bản

IE Information Extraction – Trích rút thông tin KM Knowledge Management – Quản trị tri thức KMS Knowledge Management System – Hệ thống quản trị tri

thức

NER Named Entity Recognition – Nhận dang thực thể định danh

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC </b>

Quản trị tri thức (Knowledge management), mặc dù là một khái niệm xuất hiện từ lâu, nhưng lại là một triết lý kinh doanh tương đối mới. Mục tiêu của quản trị tri thức là nhận định, nắm bắt, lưu trữ, duy trì và cung cấp tri thức hữu ích dưới dạng có ý nghĩa cho bất kì ai cần nó, bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào trong một tổ chức. Mọi người làm việc cùng nhau và làm việc theo nhóm tạo ra sự phức tạp trong các quyết định vì chuyên môn mỗi người là khác nhau. Việc đưa ra quyết định ngày càng gặp khó khăn, làm tăng nhu cầu họp và làm việc nhóm, vì vậy quản trị tri thức ngày càng đóng vai trị quan trọng.

<b>1.1 Các khái niệm Tri thức </b>

Tri thức khác biệt so với dữ liệu và thông tin (Hình 2.1). Dữ liệu là những sự kiện chưa được xử lý như số liệu, hình ảnh, văn bản, âm thanh… có được từ các quan sát hoặc đo lường. Thông tin là dữ liệu được xử lý và tổ chức thành những dạng hoặc cấu trúc phù hợp cho việc sử dụng của con người. Tri thức thường được định nghĩa là sự hiểu biết (nhận thức) về thông tin, nghĩa là thông tin theo ngữ cảnh, có liên quan và có khả năng hành động.

• Khi đó, sự nhận thức về một tuyến đường thay thế được coi là tri thức.

Trong trường hợp này, bản đồ được coi là dữ liệu vì nó khơng chứa thơng tin có ảnh hưởng đến thời gian và điều kiện lái xe từ A đến B. Tuy nhiên, các điều kiện hiện tại về tuyến đường chính là thơng tin hữu ích nếu biết vận dụng tri thức để tránh ra khu vực xây dựng. Từ đó có thể thấy tri thức có các yếu tố kinh nghiệm và tính ứng biến để phân biệt nó với thơng tin trong một bối cảnh nhất định. Có tri thức có nghĩa rằng nó có thể được sử dụng để giải quyết vấn đề, trong khi có thơng tin khơng mang ý nghĩa tương tự.

Khả năng hành động là một phần không thể thiếu của tri thức. Ví dụ: hai người trong cùng một bối cảnh có cùng thơng tin chưa chắc đã có cùng khả năng sử dụng thông tin thành công. Do đó, sự khác biệt trong

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

khả năng của con người giúp gia tăng thêm giá trị. Sự khác biệt về khả năng có thể là do kinh nghiệm khác nhau, đào tạo khác nhau, quan điểm khác nhau và các yếu tố khác.

<i>Hình 1.1: Mối quan hệ giữ Dữ liệu, Thơng tin và Tri thức</i>

Tri thức có một số đặc trưng sau:

• Lợi ích phi thường và giúp gia tăng lợi nhuận: Tri thức không phải đối tượng bị mất đi. Khi tri thức được sử dụng, tri thức không bị giảm (hay cạn kiệt), thay vào đó, tri thức được tăng lên (hoặc cải thiện). Người dùng có thể bổ sung tri thức, do đó giúp gia tăng giá trị của tri thức. Lợi ích của tri thức chỉ thu được nếu nó được áp dụng.

• Sự phân mảnh và cần được làm mới: Khi tri thức phát triển, nó phân nhánh và phân mảnh. Tri thức có tính linh động vì nó chính là “thơng tin trong hành động”. Các giá trị của tri thức có thể thay đổi theo thời gian. Do đó, một tổ chức phải liên tục làm mới cơ sở tri thức của mình để duy trì nó như một nguồn lợi thế cạnh tranh.

• Giá trị khơng chắc chắn: Tri thức được phát triển thơng qua q trình học tập, có thể khó chuyển giao, nắm bắt và phân phối tri thức, phụ thuộc vào trí nhớ, kinh nghiệm quá khứ, chuyên môn và cơ chế chuyển giao tri thức.

• Tri thức giúp học tập tốt hơn, nó tạo điều kiện cho sự hiệu quả và sáng tạo, việc tạo ra và sử dụng tri thức được nâng cao cùng với công nghệ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>Tri thức hiện và tri thức ẩn </b>

Có 2 loại tri thức là: • Tri thức hiện • Tri thức ẩn

Khái niệm về sự khác biệt giữa tri thức hiện và tri thức ẩn lần đầu được đưa ra vào năm bởi Michael Polanyi vào năm 1958.

• Tri thức hiện: tri thức được hệ thống hóa và số hóa trong sách, tài liệu, báo cáo, bản ghi nhớ… Tri thức được xác định rõ ràng, chia sẻ và sử dụng một cách dễ dàng.

• Tri thức ẩn: tri thức được lưu trong tâm trí con người thơng qua kinh nghiệm làm việc: trí tuệ hay kinh nghiệm cá nhân (theo từng ngữ cảnh cụ thể). Dĩ nhiên, tri thức ẩn khó trích xuất và hệ thống hóa hơn. Tri thức ẩn bao gồm những hiểu biết sâu sắc và trực giác. Sự khác nhau của tri thức hiện và tri thức ẩn:

Có tính khách quan, kĩ thuật và hợp lý.

Có tính chủ quan dựa theo nhận thức, trải nghiệm.

Có cấu trúc. Khơng có cấu trúc rõ ràng. Không phụ thuộc vào ngữ cảnh. Phụ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể. Dễ dàng ghi lại và mã hóa. Khó nắm bắt và mã hóa.

Dễ dàng chuyển giao/dạy/học. Khó chuyển giao/dạy/học. Tồn tại với khối lượng lớn. Tồn tại với khối lượng nhỏ hơn

tri thức hiện nhiều lần.

<i>Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa tri thức hiện và tri thức ẩn </i>

<b>Quản trị tri thức </b>

Trong lịch sử, các hệ thống thông tin quản lý tập trung vào việc nắm bắt, lưu trữ, quản lý và báo cáo tri thức hiện. Ngày nay, các tổ chức nhận ra sự cần thiết phải tích hợp cả hai loại tri thức trong các hệ thống thông tin chính thức.

Ý tưởng về quản trị tri thức không phải là mới, tuy nhiên, việc áp dụng các công cụ CNTT để tạo lợi nhuận cho việc tạo, lưu trữ, chuyển giao và áp dụng tri thức là một sáng kiến mới. Các nhà quản lý thành công từ lâu

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

đã sử dụng tài sản trí tuệ và cơng nhận giá trị của chúng. Nhưng những nỗ lực này không mang tính hệ thống, họ cũng khơng đảm bảo rằng tri thức thu được sẽ được chia sẻ và phân tán một cách thích hợp để mang lại lợi ích tối đa cho tổ chức.

Quản trị tri thức là một quá trình giúp các tổ chức xác định, lựa chọn, tổ chức, phổ biến và chuyển giao thông tin và chuyên môn quan trọng. Quản trị tri thức là quản trị có hệ thống và chủ động các ý tưởng, thông tin và tri thức của nhân viên trong tổ chức. Cấu trúc của tri thức cho phép giải quyết vấn đề hiệu quả, hoạch định chiến lược và ra quyết định. Các sáng kiến của quản trị tri thức tập trung vào việc xác định tri thức, khám phá tri thức theo cách mà nó có thể chia sẻ và tận dụng giá trị của nó thông qua việc tái sử dụng. Công nghệ thơng tin làm cho quản trị tri thức có sẵn trong toàn tổ chức được gọi là hệ thống quản trị tri thức.

<b>Kỹ nghệ tri thức </b>

Tập hợp các hoạt động chuyên sâu bao gồm việc thu thập tri thức (từ các chuyên gia và các nguồn thông tin khác) và chuyển đổi tri thức này thành một kho lữu trữ (thường là cơ sở tri thức) được gọi là kỹ nghệ tri thức (Knowledge Engineering). Thuật ngữ kỹ nghệ tri thức lần đầu tiên được định nghĩa trong cơng trình của Feigenbaum và McCorduck (1983) là hoạt động đưa các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu trí tuệ nhân tạo vào các vấn đề ứng dụng khó khăn địi hỏi tri thức của các chuyên gia cho các giải pháp của họ. Kỹ nghệ tri thức đòi hỏi sự hợp tác và giao tiếp chặt chẽ giữa các chuyên gia và kỹ sư để số hóa thành cơng và trình bày rõ ràng các quy tắc để chuyên gia sử dụng để giải quyết một vấn để trong một lĩnh vực ứng dụng cụ thể. Các tri thức được sở hữu bởi các chun gia thường khơng có cấu trúc rõ ràng và khơng được thể hiện rõ ràng. Mục tiêu chính của kỹ nghệ tri thức giúp chuyên gia nói rõ cách những gì họ làm và ghi lại tri thức này dưới dạng có thể tái sử dụng.

Kỹ nghệ tri thức có thể được xem xét từ hai quan điểm: hẹp và rộng. Theo quan điểm hẹp, kỹ nghệ tri thức liên quan đến các bước cần thiết để xây dựng hệ thống gồm: thu thập tri thức, biểu diễn tri thức, xác định tri thức, suy diễn và giải thích. Cịn theo quan điểm rộng, thuật ngữ này mơ tả tồn bộ q trình phát triển và duy trì bất kỳ hệ thống thông minh nào. Tại báo cáo này định nghĩa kỹ nghệ tri thức theo quan điểm hẹp.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<i>Hình 1.2: Quy trình kỹ nghệ tri thức </i>

• Thu thập tri thức (Knowledge acquisition):

o Thu thập tri thức liên quan đến việc thu thập tri thức từ các chuyên gia, sách, tài liệu, tệp máy tính...

• Xác thực tri thức (Knowledge validation):

o Tri thức có được cần được đánh giá chất lượng bao gồm các bước đánh giá, xác nhận và xác minh. Việc xác đánh giá và xác nhận tri thức đang dùng là hợp lệ chính là điều kiện cần để xác minh cơ sở tri thức được xây dựng phù hợp và đúng cách.

• Biểu diễn tri thức (Knowledge representation):

o Tri thức sau khi được xác thực phải được trình bày theo định dạng mà con người có thể hiểu được và có thể thực hiện được trên máy tính.

o Một số phương pháp biểu diễn tri thức là: các luật dẫn xuất, mạng ngữ nghĩa,, khung, bảng quyết định, cây quyết định, mệnh đề logic,… Trong đó luật dẫn xuất là phổ biến nhất.

▪ Một luật chứa đựng (hoặc biểu diễn) tri thức về việc giải quyết một vấn đề nào đó.

▪ Các luật được tạo ra dễ dàng và dễ hiểu.

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

o Khi biểu diễn tri thức bởi các luật dẫn xuất, thì tri thức được thể hiện dưới dạng các cặp điều kiện/hành động IF (NẾU)…THEN (THÌ):

▪ IF 𝐴<sub>1</sub> AND 𝐴<sub>2</sub> AND … AND 𝐴<sub>𝑛</sub> THEN B Trong đó: 𝐴<sub>1</sub>, 𝐴<sub>2</sub> … 𝐴<sub>𝑛</sub> là các điều kiện

Ví dụ: Luật (IF 𝐴<sub>1</sub> OR 𝐴<sub>2</sub> THEN B) sẽ được chuyển thành 2 luật (IF 𝐴<sub>1</sub> THEN B) và (IF 𝐴<sub>2</sub> THEN B).

• Suy diễn:

o Suy diễn (hay suy luận) là quá trình sử dụng các quy tắc trong cơ sở tri thức cùng với các sự kiện đã biết để đưa ra kết luận. o Có nhiều phương pháp tổng quát để suy diễn, nhưng phương

pháp phổ biến hay gặp là suy diễn tiến (forward chaining), suy diễn lùi (backward chaining), suy diễn kết hợp từ 2 phương pháp này (mixed chaining),… Trong báo cáo này trình bày về hai phương pháp suy diễn tiến và suy diễn lùi.

▪ Phương pháp suy diễn tiến là bắt đầu từ những thông tin, sự kiện có sẵn và sau đó cố gắng đưa ra kết luận.

➢ Ví dụ: Khi chuẩn bị ra khỏi nhà thì thấy trời đổ mưa (thơng tin/sự kiện) thì phải mang ô hoặc mang áo mưa (kết luận).

▪ Phương pháp suy diễn lùi tiếp cận theo hướng ngược lại. Từ một giả thuyết (kết luận) thì ta phải đưa ra một tình huống nào đó bao gồm các thơng tin, sự kiện để làm cơ sở cho giả thuyết ban đầu.

➢ Ví dụ: Vào mùa hè, khi quan sát thấy trời có ánh sáng mặt trời, lại xuất hiện cầu vồng thì có nghĩa là trời vừa đổ mưa.

• Giải thích: Các chuyên gia thường được yêu cầu giải thích về quan điểm hoặc quyết định của họ, vì vậy khi một hệ chuyên gia được tạo ra

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

để giải quyết các nhiệm vụ có chun mơn cao thì chúng cũng cần phải biện minh và giải thích cho hành động đó.

<b>1.2 Các tiếp cận quản trị tri thức </b>

Hai cách tiếp cận cơ bản để quản lý tri thức là cách tiếp cận quá trình và tiếp cận thực hành.

Tiếp cận quá trình Tiếp cận thực hành Loại tri

thức được hỗ

trợ

Phương thức truyền

tải

Các thủ tục, quy trình vận hành theo tiêu chuẩn, chú trọng nhiều vào công nghệ thông tin để hỗ trợ tạo ra tri thức, hệ thống hóa và chuyển giao tri thức.

Các cá nhân hoặc các nhóm khơng chính thức trong xã hội tham gia trao đổi và truyền đạt với nhau. Lợi ích Cung cấp cấu trúc rõ ràng để khai thác

các ý tưởng giúp tạo ra tri thức. Hỗ trợ việc tái sử dụng tri thức.

Linh động trong việc phản ứng với ý tưởng mới khi môi trường thay đổi.

Cung cấp môi trường để tạo ra và chuyển giao tri thức ẩn giá trị cao.

Nhược điểm

Khó khai thác và triển khai tri thức ẩn. Có thể hạn chế sự đổi mới những người tham gia và khiến họ hướng tư duy theo khn mẫu.

Có thể khơng hiệu quả. Khơng có cấu trúc rõ ràng để thực hiện các ý tưởng phong phú.

Vai trò của CNTT

Đòi hỏi đầu tư nhiều vào CNTT để kết nối mọi người và tri thức.

Đòi hỏi đầu tư vừa phải vào CNTT để tạo điều kiện cho các cuộc trao đổi và chuyển giao tri thức ẩn.

<i>Bảng 1.2: Tiếp cận quá trình và tiếp cận thực hành trong quản trị tri thức </i>

<b>Tiếp cận quá trình </b>

Tiếp cận quá trình là cách tiếp cận quản trị tri thức bằng cách cố gắng hệ thống hóa tri thức thơng qua các biện pháp kiểm sốt, xử lý thông qua các công nghệ.

Các tổ chức áp dụng các phương pháp tiếp cận q trình có thể thực hiện các chính sách điều chỉnh cách thức thu thập, lưu trữ và phổ biến tri thức trong toàn tổ chức. Cách tiếp cận quá trình thường xuyên liên quan đến

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

việc sử dụng CNTT như mạng nội bộ, kho dữ liệu, kho tri thức, công cụ hỗ trợ quyết định và phầm mềm làm việc nhóm để nâng cao chất lượng, tốc độ sáng tạo và phân phối tri thức trong tổ chức. Nhược điểm chính của cách tiếp cận q trình là nó không nắm bắt được nhiều tri thức ẩn.

<b>Tiếp cận thực hành </b>

Trái ngược với cách tiếp cận quá trình, cách tiếp cận thực hành đối với quản lý tri thức giả định rằng những tri thức của tổ chức là tri thức ẩn và các công nghệ, các biện pháp kiểm sốt, xử lý khơng phù hợp để truyền tải loại hiểu biết này. Thay vì xây dựng các hệ thống chính thức để quản trị tri thức, trọng tâm của cách tiếp cận này là xây dựng các môi trường xã hội hoặc cộng đồng thực hành cần thiết để tạo điều kiện cho việc chia sẻ tri thức ẩn. Các cộng đồng này là các nhóm trong xã hội, gặp gỡ thường xuyên để chia sẻ ý tưởng, hiểu biết và các phương pháp hay nhất. Tri thức được chia sẻ chủ yếu thông qua tiếp xúc giữa người với người.

Tri thức có giá trị đối với các cơng ty là tự nhiên, rất khó để thể hiện, nắm bắt và quản lý. Trong trường hợp này, môi trường và bản chất của các vấn đề đang gặp phải là vơ cùng khó nắm bắt. Bởi vì tri thức ẩn khó trích xuất, lưu trữ và quản lý.

Ngoài ra, nhiều tổ chức sử dụng kết hợp cả hai phương pháp tiếp cận quá trình và tiếp cận thực hành, gọi là tiếp cận lai, trong báo cáo này sẽ khơng trình bày cụ thể tiếp cận lai.

<b>Kho tri thức </b>

Kho lưu trữ tri thức không phải cơ sở dữ liệu, nó có thể coi là cơ sở tri thức của tổ chức. Có thể sẽ có những sự nhầm lẫn nó với cơ sở tri thức của một hệ chuyên gia. Cơ sở tri thức của một hệ chuyên gia chứa những tri thức để giải quyết một vấn đề cụ thể, còn cơ sở tri thức tổ chức chứa tất cả tri thức về tổ chức. Nắm bắt và lưu trữ tri thức là mục tiêu của kho lưu trữ tri thức. Cấu trúc của kho lưu trữ phụ thuộc rất nhiều vào loại tri thức mà nó lưu trữ. Kho lưu trữ có thể bao gồm danh sách các câu hỏi và giải pháp, cho đến danh sách các cá nhân có chun mơn và thơng tin liên hệ của họ, đến các phương pháp chi tiết nhất cho một tổ chức lớn… Hầu hết các kho lưu trữ tri thức được phát triển bằng cách sử dụng một số cơ chế lưu trữ khác nhau, tùy thuộc vào loại và lượng tri thức được dùng đến. Mỗi loại kho lưu trữ tri thức có điểm mạnh và điểm yếu riêng khi sử dụng cho các mục đích khác nhau trong KMS.

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

<i>Hình 1.3: Kho tri thức trong nền tảng quản trị tri thức</i>

<b>1.3 Hệ thống quản trị tri thức </b>

Hệ thống quản trị tri thức (Knowledge Management System) đề cập đến việc sử dụng CNTT hiện đại (ví dụ: Internet, intranets, kho dữ liệu, Web 2.0) để hệ thống hóa, nâng cao và đẩy nhanh quá trình can thiệp vào quản trị tri thức. Các hệ thống quản trị tri thức giúp tổ chức đối phó với doanh thu, thay đổi nhanh chóng để phù hợp. Các hệ thống quản trị tri thức đang được xây dựng với áp lực ngày càng tăng trong việc duy trì lực lượng lao động có năng suất tốt và thông tin đầy đủ. Hơn nữa, các hệ thống này được xây dựng để giúp các tổ chức có sự nhất quán về dịch vụ khách hàng.

<b>Vòng đời của hệ thống </b>

Một hệ thống quản trị tri thức hoạt động theo chu trình sáu bước. Lý do của chu trình này là tri thức được tinh chỉnh theo thời gian. Tri thức trong một hệ thống quản trị tri thức không bao giờ kết thúc vì mơi trường thay đổi theo thời gian và tri thức phải được cập nhật để phản ánh các thay đổi. Chu trình hoạt động như sau:

• Tạo tri thức (Create knowledge): Tri thức được tạo ra khi con người xác định được các tri thức mới để thực hiện công việc hoặc phát triển các bí quyết đã có.

• Nắm bắt tri thức (Capture knowledge): Tri thức mới phải được xác định là có giá trị và được trình bày một cách hợp lý.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

• Tinh chỉnh tri thức (Refine knowledge): Tri thức mới phải được đặt trong bối cảnh mà nó có khả năng hoạt động. Đây là nơi những hiểu biết của con người phải được nắm bắt cùng với thực tế rõ ràng.

• Lưu trữ tri thức (Store knowledge): Tri thức hữu ích phải được lưu trữ ở định dạng hợp lý trong kho lưu trữ tri thức để những người khác trong tổ chức có thể truy cập.

• Quản lý tri thức (Manage knowledge): Giống như một thư viện, một cơ sở tri thức phải mang tính thời đại. Tri thức phải được xem xét để xác minh rằng nó có liên quan và chính xác.

• Phổ biến tri thức (Disseminate knowledge): Tri thức phải được cung cấp ở định dạng hữu ích cho bất kỳ ai trong tổ chức cần nó, bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào.

<i>Hình 1.4: Vịng đời của hệ thống quản trị tri thức</i>

<b>Các thành phần của hệ quản trị tri thức </b>

Công nghệ thông tin đóng vai trị rất quan trọng đối với sự thành công của mọi hệ thống quản trị tri thức. CNTT cho phép quản trị tri thức bằng cách cung cấp kiến trúc doanh nghiệp mà nó được xây dựng.

Hệ thống quản trị tri thức được phát triển nhờ bộ ba công nghệ: giao tiếp, cộng tác và lưu trữ - truy xuất.

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

Các công nghệ KMS

Giao tiếp Giao diện nhất quán, thân thiện. Cải thiện các công cụ giao tiếp. Cho phép các cá nhân truy cập nhanh chóng và thuận tiện. Truy cập trực tiếp với tri thức trên máy chủ.

Tri thức được nắm bắt và chia sẻ được sử dụng trong việc cải thiện giao tiếp, quản lý giao tiếp và công nghệ truyền thông.

Cộng tác Cải tiến các công cụ cộng tác. Cho phép cộng tác mọi lúc, mọi nơi.

Cho phép cộng tác giữa các công ty, khách hàng và nhà cung cấp.

Cho phép chia sẻ tài liệu.

Cải thiện cộng tác nhanh chóng và liên kết đến các nguồn tri thức.

Tri thức được nắm bắt và chia sẻ được sử dụng trong việc cải thiện sự cộng tác, quản lý cộng tác và công nghệ cộng tác.

Lưu trữ và truy xuất

Giao diện người dùng thân thiện, nhất quán.

Cung cấp lưu trữ và truy xuất hiệu quả.

Tri thức được nắm bắt và chia sẻ được sử dụng trong việc cải thiện hệ thống lưu trữ và truy xuất dữ liệu, quản trị cơ sở dữ liệu/quản trị kho tri thức và các công nghệ cơ sở dữ liệu và kho tri thức.

<i>Bảng 1.3: Công nghệ quản trị tri thức và tác động Web </i>

Các công nghệ giao tiếp cho phép người dùng truy cập tri thức cần thiết và giao tiếp với nhau, đặc biệt là với các chuyên gia. E-mail, Internet, mang nội bộ của công ty và các công cụ dựa trên Web khác cung cấp khả năng giao tiếp, ngay cả máy fax và điện thoại cũng được sử dụng để liên lạc.

Công nghệ cộng tác cung cấp phương tiện để thực hiện hoạt động nhóm. Các nhóm có thể làm việc cùng nhau trên các tài liệu chung cùng

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

một lúc (nghĩa là đồng bộ) hoặc tại các thời điểm khác nhau (nghĩa là khơng đồng bộ); họ có thể làm việc ở cùng một nơi hoặc ở những nơi khác nhau. Cộng tác đặc biệt quan trọng đối với các thành viên của một cộng đồng trong việc đóng góp tri thức. Các hình thức làm việc nhóm liên quan đến các chuyên gia có chun mơn cần thiết đang cố gắng áp dụng kiến thức của họ để tạo ra kết quả cuối cùng tốt nhất có thể, điều này địi hỏi sự cộng tác ở mức độ khá cao. Các hệ thống máy tính cộng tác cho phép một tổ chức tạo ra một không gian ảo để các cá nhân có thể làm việc trực tuyến ở mọi lúc và mọi nơi.

Ở thời điểm đầu, công nghệ lưu trữ - truy xuất sử dụng hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu để lưu trữ và quản trị tri thức. Điều này hoạt động tốt ở thời điểm đầu. Tuy nhiên, nó lại gặp khó khăn đối với tri thức ẩn (khó nắm bắt, lưu trữ và quản lý), do đó hệ quản trị tài liệu điện tử và hệ thống lưu trữ chuyên dụng (là một phần của hệ thống kết nối các máy tính) giúp giải quyết vấn đề này, các hệ thống lưu trữ chuyên dụng được gọi là kho lưu trữ tri thức.

<b>Các công nghệ hỗ trợ </b>

Một số cơng nghệ đã đóng góp vào những tiến bộ đáng kể trong các cơng cụ quản trị tri thức. Trí tuệ nhân tạo, tác nhân thông minh, khám phá tri thức trong cơ sở dữ liệu, eXtensible Markup Language (XML) và Web 2.0 là những ví dụ về cơng nghệ mơ hình hóa các hệ quản trị tri thức hiện đại và là cơ sở cho những đổi mới trong tương lai trong lĩnh vực quản trị tri thức.

<b>Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligent): </b>

Trong định nghĩa về quản trị tri thức, trí tuệ nhân tạo hiếm khi được đề cập đến. Tuy nhiên, phát biểu một cách thực tế, các phương pháp và công cụ AI được tích hợp vào một số KMS bởi các nhà cung cấp hoặc các nhà phát triển hệ thống. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ xác định chuyên môn, gợi ý những tri thức một cách tự động và bán tự động, có thể kể đến như xử lý thông qua quá trình xử lý ngơn ngữ tự nhiên và tìm kiếm thông minh thông qua các tác nhân thông minh.

Những cơng dụng của trí tuệ nhân tạo trong hệ thống quản trị tri thức:

• Hỗ trợ và nâng cao tri thức tìm kiếm.

• Giúp thiết lập hồ sơ tri thức của cá nhân và nhóm.

• Giúp xác định tầm quan trọng tương đối của tri thức khi nó được đóng góp và truy cập từ kho tri thức.

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

• Quét tài liệu và cơ sở tri thức để thực hiện khám phá tri thức, xác định mối quan hệ có ý nghĩa, thu thập tri thức hoặc tạo ra các quy tắc cho các hệ chuyên gia.

• Dự báo kết quả trong tương lai nhờ sử dụng tri thức hiện có. • Cung cấp lời khun trực tiếp từ tri thức bằng cách sử dụng

NN hoặc hệ chuyên gia.

• Cung cấp ngơn ngữ tự nhiên hoặc giao diện người dùng điều khiển bằng giọng nói cho KMS.

...

<b>Web 2.0: </b>

Web đã phát triển từ một công cụ dùng để phổ biến thông tin và tiến hành kinh doanh tới một nền tảng để tạo điều kiện cho những cách thức mới để chia sẻ thông tin, cộng tác và giao tiếp trong thời đại kỹ thuật số. Những thuật ngữ mới xuất hiện như mạng xã hội, các trang web chia sẻ, blog và wiki đã trở thành đặc trưng của ứng dụng tương tác được gọi chung là Web 2.0. Những công nghệ này đã thúc đẩy mạnh mẽ việc quản trị tri thức bằng cách giúp mọi người chia sẻ tri thức một cách dễ dàng và tự nhiên. Một trong những điểm nhược điểm của thực tiễn quản trị tri thức là những người khơng có kĩ thuật sẽ gặp khó khăn trong việc chia sẻ tri thức của họ một cách tự nhiên. Do đó, giá trị cuối của của Web 2.0 là thúc đẩy khả năng đáp ứng cao hơn, nắm bắt và chia sẻ tri thức tốt hơn và cuối cùng là tạo ra trí tuệ tập thể hiệu quả hơn.

</div>

×