Tải bản đầy đủ (.pdf) (208 trang)

Luận án tiến sĩ Xã hội học: Lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội: Điều kiện làm việc và các yếu tố ảnh hưởng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (52.45 MB, 208 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<small>ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NỘI</small>

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ VĂN SƠN

LUAN AN TIEN Si XA HOI HOC

<small>HÀ NỘI - 2021</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<small>ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NỘI</small>

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ VĂN SƠN

<small>Chuyên ngành: Xã hội hoc</small>

<small>Mã số: 62 31 03 01</small>

<small>LUẬN ÁN TIEN SĨ XÃ HOI HỌC</small>

NGƯỜI HUONG DAN KHOA HỌC:GS.TS. HOANG BA THINH

<small>HÀ NỘI - 2021</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<small>LỜI CAM ĐOAN</small>

<small>Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Xã hội học với đề tài: “Lao độnggiúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội: Điều kiện làm việc và các yếu tố</small>

<small>ảnh hưởng” là cơng trình do chính tơi nghiên cứu và thực hiện. Các thông</small>

tin, số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, chính xác. Đây là kết<small>quả nghiên cứu thực nghiệm mà tôi đã thực hiện tại 03 quận Cầu Giấy, HaiBà Trưng và Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, vào năm 2020. Kết quả nàychưa từng được cơng bồ trong bat kỳ cơng trình nào khác. Các thơng tin tríchdẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc. Nếu có gì sai sót tơi xin chịu</small>

<small>hồn tồn trách nhiệm.</small>

<small>Hà Nội, ngày 21 thang 10 năm 2021</small>

<small>Tác giả luận án</small>

<small>NCS. Lê Văn Sơn</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>LOI CAM ON</small>

<small>Đề có thé hồn thành luận án này, tác giả luận án đã nhận được sự giúp</small>đỡ, động viên, chia sẻ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin bay tỏ sự trântrọng, yêu quý và biết ơn đối với giáo viên hướng dẫn GS.TS. Hoàng Bá<small>Thịnh. Thay là người đã trực tiếp hướng dan, chỉ rõ hướng di đúng đắn về</small>chuyên môn và tạo động lực dé tôi hoan thiện luận án.

<small>Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, Trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điềukiện thuận lợi và giúp đỡ cho tơi trong suốt q trình học tập và hồn thành</small>

<small>luận án.</small>

Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình — nguồn sức<small>mạnh tinh than và vật chat, là chỗ dựa dé tôi nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ hoctập cho đến ngày hôm nay.</small>

<small>Tác giả luận án</small>

<small>NCS. Lê Văn Sơn</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>MỤC LỤC</small>

MỞ ĐẦU ... 2-55-5222 21221211711 211211211211 211111112111 111 eeere 7<small>1. Lý do chọn đề tài... ----2- 2 2S SE E211 2121511111211211111111E 111111 xe 7</small>

<small>2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên CỨU... ..-- 5 + +*£+veE+eeseeeeses 10</small>

<small>3.. Đối tượng, khách thé và phạm vi nghiên cứu...---s- 5 szzsz=s+ II</small>

<small>“NH9 000i 2) 03. ... 12</small>

<small>5. Giả thuyết nghiên cứu...-.-:--:--¿+-++2+++Ex+EE++ExtzExerkrrrxerkerrrerkrerrees 12</small>

<small>6. Khung phan tich en... cece ... 13HE DOng SOp cla WAN AN ooo... eee eeesceeeneceeseeceeaeeesececeeneeeeaceeseneeesseeesseeetnees 16</small>

8. Y nghĩa của đề tai cece cecceccsscesessessessessessesseessessessessesseessstessessesseeseesees 179. Kết cấu của luận At e.ceeceecccsssessesssesssessesssessesssessssssecsusssecsusssessseesessseeseesses 17<small>10. Hạn chế của luận án...-- - ¿St kềSE+E£EE+EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEkrkerkrkerrrkrrke 18</small>

Chương 1. TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨIU...-- 5-5. 19

1.1. Một số nghiên cứu về đặc điểm xã hội của lao động gitip việc gia đình... 19

<small>1.2. Một sơ nghiên cứu vê điêu kiện làm việc của lao động giúp việclì 0... 24</small>

1.3. Một số nghiên cứu về yêu tố ảnh hưởng đến lao động giúp việc gia

<small>0005. ... 31</small>

Tiểu kết Chương 1...- ¿2-25 +E+2E2EE+EE£EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEE1 21 EErkre, 37

Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU .... 40

<small>2.1. Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan...--- ---«-+--«=>+<<+ 40</small>

<small>2.1.1. Lao động giúp việc gia đÌHh... ..- --scsSSsxkkseekseekseeeesee 40</small>

<small>2.1.2. Điều kiện lầm ViỆC...--cccc-cccccceccttrrrrtirrtrrtirrrtriirrrrrrrerrrrieg 442.1.3. Hợp đồng lao động ...---2+- 2-52 SE SEcSE‡EECEECEEEEEEerkerkerkrree 50</small>

<small>2.1.4. An toàn tại HƠI IGM VIỆC ... << 01111111111 vn ke 50</small>

<small>2.1.5. Các yếu tổ ảnh hưởng đến điêu kiện làm việc ...--- 502.2. Các lý thuyết xã hội học trong tiếp cận van đề nghiên cứu... 51</small>

2.2.1. Lý thuyết cung câu lao AON veeveececcssvesesseesessesssstssesessesssssssnesveseestens 51

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<small>2.2.2. Lý thuyết lựa chọn AuUy Lý ...--- 2-55 St+E‡E+EEEeEEeEersrrkerkered 562.2.3. Lý thuyết phân công lao động xã hội theo giới ...---- 59</small>

<small>2.3. Phương pháp nghiên CỨU .0...ceeeescceseceseeeseeeeeeceseceeeeseeeeseeeseeeteeesneees 63</small>

<small>2.4. Thông tin về địa bàn nghiên cứu...---- - 2s 2+s2+x+£x+£s+xezxzxerxee 70</small>Tiểu kết Chương 2... .-- 2 2 SsSE+E£EE2EE2E12E1E7157171211211211211 1111 re. 72Chương 3. THUC TRẠNG DIEU KIEN LAM VIỆC CUA LAO DONGGIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHO HÀ NO ... 74

<small>3.1. Chân dung xã hội của lao động giúp việc gia đình...-- -- 74</small>

<small>3.2. Điều kiện làm việc của lao động giúp việc gia đình...--- 943.2.1. Tién lương và các quyên lợi được hưởng ...---ccccccccccca 94</small>

<small>3.2.2. Thời gian làm việc và nghỉ HƠI ... - +«cssE+seEsseeeeeesseree 97</small>

<small>3.2.3. Hợp đồng lao động cesecsessessesssessessessessssssssessessessessessssussussseeseesecses 101</small>

<small>3.2.4. An toàn NOT IAM VIỆC ceccccccccccccccccccccsscccsccccssssssssssssssssssssssssseseeseesesss 104</small>

<small>3.2.5. BOO MIGM nhau... 108Tiểu kết Chương 3 ...ccccceccccecssessessesssessessecsessessssssssssssessessessessussusssesseesecses 111</small>

Chương 4. CAC YEU TO ANH HUONG DEN DIEU KIEN LAM VIỆCCUA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA DINH TẠI HÀ NỘI ... 113

<small>4.1. Đặc điểm nhân khâu - xã hội của lao động giúp việc gia đình... 1134.2. Định hướng về nghề giúp việc gia đình...-- 2-2 5 xxx: 1244.3. Mỗi quan hệ giữa người giúp việc và gia chủ ...---c. 1284.4. Hiểu biết một số quy định pháp luật về lao động giúp việc gia đình . 134</small>

<small>4.5. Loại cơng việc giúp việc gia đình đang thực hiện ...- -- 136</small>Tiểu kết chương 4...-- 2 2 Ss+SE‡SEEEE2E12E12715717171121121111 11111 xe. 149KET LUẬN VA KHUYEN NGHHỊ,... 2-5-5 E+E+E2EeEerxerxerxee 151

DANH CONG TRINH KHOA HOC CUA TAC GIA LIEN QUAN DENLUẬN AN oooecccecccessessssesssesssecssecssecssecsseessecsssesssecssessseessecssesssecsseesseessessseesaees 166TÀI LIEU THAM KHAO 0.00i..ccecccecccecscesssesssesssesssesssesssesssecsseesseesseesseessees 167

<small>PHU LUC</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

DANH MỤC CÁC CHU VIET TAT

<small>ADWN: Mang lưới người giúp việc gia đình châu A</small>

BHXH: Bảo hiểm xã hội

BHYT: Bảo hiểm y tế

<small>CLB: Câu lạc bộ</small>

<small>GVGD: Giúp việc gia đình</small>

GFCD: Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng<small>HDLD: Hợp đồng lao động</small>

<small>ILO: Tổ chức lao động quốc tế</small>

<small>LĐGVGĐ: Lao động giúp việc gia đình</small>

<small>LĐTB&XH: Lao động thương binh và xã hội</small>UBND Ủy ban nhân dân

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<small>DANH MỤC BANG BIEU</small>

<small>Bang 2.1. Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình được khảo sát... 66Bảng 2.2. Đặc điểm của người thuê lao động giúp việc gia đình... 67</small>

<small>Bảng 3.1. Cơng việc giúp việc gia đình đang làm ...- --- +55 «+<<«52 77</small>

<small>Bang 3.2. Lý do di làm giúp việc gia đình...- s55 s + s++sssseeesseeseess S1Bảng 3.3. Tiêu chí chọn cơng việc của lao động giúp việc gia đình ... 83Bảng 3.4. Tiêu chí chọn người giúp việc gia đình ...----««s+-«++s++ 83Bang 3.5. Kênh tìm việc của người giúp việc gia đình... ..- -- «<5 88</small>

<small>Bảng 3.6. Kênh tìm người giúp việc của hộ gia đình ...- ---‹ --«<- 89</small>

<small>Bảng 3.7: Mức lương cua người lao động giúp việc gia đình ... 95</small>

Bảng 3.8. Mức độ hài lòng về quan hệ giữa người giúp việc va gia chủ ... 107<small>Bảng 4.1. Phân bố theo mức lương hàng tháng của người giúp việc phân theonhóm tuổi và khu vực sinh sống (% người trả lời phỏng vấn) ... 115Bang 4.2. Tương quan đặc điểm nhân khẩu-xã hội với thời gian nghỉ ngơi củangười giúp việc gia đình (% người trả lời phỏng vắn)...---:-¿-5¿ 118</small>

Bảng 4.3. Tương quan tuổi, tình trạng hơn nhân, trình độ học vấn và điều kiện<small>kinh tế với bảo hiểm (% người trả lời phỏng vấn)...---- 2-5 555552 120</small>

<small>Bảng 4.4. Tương quan tuôi, số năm kinh nghiệm với mức độ an tồn mơi</small>

trường làm việc (% người trả lời phỏng VAN) coccscsssesssessesssecsssssecssessesssecseceses 123

<small>Bang 4.5. Li do và tiêu chí lựa chon làm cơng việc giúp việc gia đình với mức</small>

<small>lương hàng tháng (% người trả lời phỏng vấn)...-- 2 2 5 se: 125</small>

<small>Bang 4.6. Tương quan giữa lý do và tiêu chí lựa chon làm công việc GVGD</small>

<small>với thời gian nghỉ ngơi trong ngày va trong tháng. ...- ---- --«<+5<+ 126</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<small>Bảng 4.7. Tương quan giữa tình trạng mâu thuẫn với một số điều kiện làm</small>

<small>việc của lao động giúp việc gia đình (% người trả lời phỏng vắn)... 129Bảng 4.8. Tương quan giữa kênh tìm việc và tiền lương của lao động giúp</small>

<small>việc gia đình nhận được hang tháng (% người trả lời phỏng vấn)... 131</small>

<small>Bang 4.9. Tương quan giữa tham gia nhóm/câu lạc bộ với mức lương nhận</small>

<small>được, bảo hiém và an toàn nơi làm việc (% người trả lời phỏng vân) ... 133</small>

<small>Bảng 4.10. Tương quan hiểu biết pháp luật và có bảo hiểm y tế (% người trả</small>

<small>lời phỏng VAN) ...---¿- - 5x22 1 EEEEEE12112112111111121211111 1111.1111 tre. 135Bang 4.11. Loại hình cơng việc với tiền lương...---2- 2-5 55555: 137Bảng 4.12. Kết quả hồi quy mơ hình các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài</small>

<small>lòng với mức lương hàng tháng của lao đông giúp việc gia đình... 140</small>

Bang 4.13. Kết quả hồi quy mơ hình các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian làm<small>việc trung bình trong ngày của người lao động giúp việc gia đình ... 143</small>

<small>Bang 4.14. Kết quả hồi quy mơ hình các u tố ảnh hưởng đến tình trạng có</small>

<small>bảo hiểm y tế của lao động giúp việc gia đình...--- 5 se csccxecez 145Bang 4.15. Kết quả hồi quy mơ hình các u tơ ảnh hưởng đến tình trạng ký</small>

hợp đồng lao động của lao động giúp việc gia đình ...---5+ 148

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<small>DANH MỤC BIEU DO</small>

Biểu đồ 3.1. Số năm kinh nghiệm làm việc của người giúp việc ... 85

<small>Biểu đồ 3.2. Dao tạo chuyên môn của lao động giúp việc gia đình ... 91</small>

<small>Biểu đồ 3.3. Điều kiện kinh tế hộ của lao động giúp việc gia dinh... 80</small>

<small>Biểu đồ 3.4. Nhận thức pháp luật của người giúp việc gia đình... 93</small>

Biểu đồ 3.5. Kênh tiếp cận các thông tin pháp luật ...---szs- 94Biểu đồ 3.6. Mức độ hài lòng với mức lương đang nhận...--- 95

<small>Biểu đồ 3.7. Thỏa thuận về ngày nghỉ của Lao động giúp việc gia đình ... 99</small>

Biểu đồ 3.8. Sử dụng thời gian rảnh rỗi của lao động giúp việc gia đình .... 100

Biểu đồ 3.9. Lý do không ky hợp đồng băng văn bản (%)...--- 102

Biểu đồ 3.10. Chỗ ở dành cho lao động giúp việc gia đình... 105

<small>Biểu đồ 3.11. Đánh giá về mức độ an toàn tại nơi làm việc và nơi ở... 106</small>

Biểu đồ 4.1. Dự định công việc của lao động giúp việc gia đình... 124

<small>Biểu đồ 4.2. Tương quan giữa kênh tìm việc với số ngày nghỉ trong tháng 132</small>Biểu đồ 4.3. Tương quan hiểu biết pháp luật với tình trạng kí hợp đồng... 136

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<small>MỞ DAU1. Lý do chọn đề tài</small>

Giúp việc gia đình (GVGĐ) là một cơng việc xuất hiện rất sớm trong quá<small>trình phát triển xã hội và mang lại thu nhập ôn định cho nhiều lao động, đặc biệt là</small>lao động nữ. Xu thế tồn cầu hóa và chun mơn hóa làm nảy sinh nhu cầu rất lớnvề lao động giúp việc gia đình (LĐGVGĐ) ở tat cả các quốc gia. Tính đến năm2015, trên thế giới có khoảng 67 triệu LDGVGD (tăng 19 triệu lao động từ giữathập kỷ 90 đến năm 2010) [ILO, 2015]. Mặc dù LDGVGD đã và đang chiếm một<small>tỷ trọng đáng ké trong lực lượng lao động ở nhiều quốc gia, nhất là ở các nước</small>đang phát triển, nhưng giá trị đóng góp của họ chưa được quan tâm đúng mức,<small>thậm chí lực lượng lao động này chưa được đối xử bình đẳng như lực lượng lao</small>động khác. Ở nhiều quốc gia, đóng góp của LDGVGD cho nền kinh tế quốc giachưa được tính đến [GFCD, 2018].

Tại Việt Nam, người làm GVGD xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhưng<small>công việc này chỉ được công nhận chính thức với tên gọi LĐGVGĐ ké từ khi</small>

<small>Chính phủ Việt Nam ban hành Bộ Luật lao động vào năm 1994, sau đó là Bộ Luật</small>

lao động sửa đổi (năm 2012), và hiện tại là Bộ Luật lao động năm 2019 và một sé<small>văn bản hướng dan thực hiện luật này hiện nay. Mac dù nhu cầu của thị trường về</small>

<small>LĐGVŒGDĐ) ngày càng gia tăng nhưng công việc GVGD chưa được quan tâm đúng</small>

<small>mức bởi chính người lao động, các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan thực</small>

thi chính sách về lao động. LDGVGD làm việc chủ yếu dựa theo kinh nghiệm vàkỹ năng vốn có của bản thân, mà chưa qua đào tạo về chuyên môn. Các cơ quan<small>quản ly nhà nước hiện chưa ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho LDGVGD nênchưa có tiêu chuẩn hay tiêu chí làm căn cứ dé dao tạo nghề và đánh giá về kỹnăng nghề của lực lượng lao động này.</small>

Công việc GVGD mang đặc trưng rõ nét về giới. Lực lượng lao độnglàm công việc GVGD hiện nay chủ yếu là phụ nữ. Một phần nguyên nhân cóthé do các cơng việc được th thường do phụ nữ trong các gia đình đó đảm

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<small>nhận. Khi tìm kiếm người giúp việc, các hộ gia đình cũng chủ yếu tìm lao</small>

<small>động nữ. Bên cạnh đó, công việc GVGD được thực hiện trong môi trường</small>

làm việc rất đặc biệt so với các công việc khác. Nơi làm việc của người giupviệc cũng có thể là nơi ở của họ sau khi hồn thành cơng việc. Cơng việc mà

<small>người giúp việc thực hiện thường là “công việc chăm sóc” các thành viên</small>

trong gia đình của người th lao động. Đặc trưng này địi hỏi cần phải có quyđịnh pháp lý chặt chẽ dé bảo vệ quyền và lợi ich cho cả người lao động giúp

<small>việc gia đình và người thuê lao động giúp việc gia đình.</small>

Điều 14 của Công ước số 189 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) kêugọi các quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp phù hợp theo pháp luậtquốc gia va dựa vào đặc thù công việc GVGĐ, nham đảm bảo ngườiLDGVGD được hưởng điều kiện làm việc không kém thuận lợi hơn so vớiđiều kiện được áp dụng đối với người lao động nói chung về bảo đảm an sinhxã hội (ASXH), bao gồm cả chế độ thai sản [ILO, 2011]. Tuy nhiên, theo Báocáo IV tại Hội nghị Lao động Quốc tế, kỳ họp thứ 99 năm 2010 tại Geneva, ở<small>hầu hết các quốc gia thành viên của ILO, người LĐGVGĐ không thuộc đối</small>tượng điều chỉnh của pháp luật về bảo hộ lao động. Việc “bỏ quên” lực lượnglao động này đồng nghĩa với việc các quốc gia đang “bỏ quên” nguồn giá trịđóng góp của họ cho nền kinh tế.

Các kết quả nghiên cứu về LĐGVGĐ ở Việt Nam trong thời gian qua đã<small>chỉ ra rằng hầu hết người LĐGVGĐ đang phải làm việc trong điều kiện chưa</small>được đảm bảo như: khơng có hợp đồng lao động (HĐLĐ), khơng tham gia<small>bảo hiểm xã hội (BHXH). Tình trạng phải làm việc không đúng với thỏathuận ban đầu, thời gian làm việc kéo đài hay tình trạng bị mắng chửi, lăngmạ, tát, đánh, quấy rồi tình dục cịn xảy ra với một bộ phận người LDGVGD.</small>Người LDGVGD cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro trong môi trường làm

việc, ví dụ: 20,2% bị mắng chửi; 2,4% bị đánh đập/tát, đây ngã; 0,8% bị đedoa/dap phá đồ dung cá nhân; 7,8% bị giữ giấy tờ tùy thân; 4% bị cam tiếp

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

xúc; 1,8% bị giữ lương; 2% không được cho về thăm nhà; 16% gặp nguy cơ

<small>bị lạm dung tinh dục [ILO, 2011]. Mặt khác, các hộ gia đình thuê LDGVGD</small>

<small>cũng gặp phải một số vấn đề phát sinh từ quan hệ lao động này như người laođộng bỏ việc trong thời gian ngắn, nghỉ việc không báo trước, trộm cắp tài</small>sản, hoặc không đáp ứng được yêu cầu công việc do thiếu kỹ năng nghề. Mặcdù phải đối mặt với khá nhiều nguy cơ rủi ro và chưa được bảo vệ hiệu quả

<small>bởi pháp luật, nhưng người lao động vẫn tích cực tham gia thị trường lao</small>

động GVGD với lý do kiếm thu nhập cho bản thân và gia đình. Các gia đình<small>thuê người giúp việc mặc dù chưa hài lòng nhưng vẫn phải chấp nhận các</small>nguy cơ rủi ro để có người làm việc. Điều này một lần nữa đặt ra nhu cầu cấp<small>thiết cần phải thực hiện mọi nỗ lực dé đảm bảo người LDGVGD có điều kiện</small>

làm việc tốt và bảo vệ quyền và lợi ích cho gia đình th người giúp việc.

Hiện nay, một số quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người

<small>LDGVGB cũng như gia đình thuê người giúp việc đã được quy định trong Bộ luật</small>

<small>Lao động sửa đổi 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ- CP ngày 14/12/2020 củaChính phủ. Tuy nhiên, cơ chế và chế tài để giám sát việc thực hiện các quy định</small>pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động và người thuê LDGVGD<small>chưa rõ ràng. Trong thực tế, rất nhiều LDGVGD chưa được hưởng những quyền</small>

<small>lợi được quy định trong Luật. Ngược lại, người thuê LDGVGD cũng gặp phải một</small>

số rủi ro do méi quan hệ lao động chủ yêu được thiết lập trên cơ sở niềm tin từ<small>người thân, bạn bè giới thiệu và chủ yếu là thỏa thuận miệng về các điều kiện làm</small>việc. Những rào cản đối với việc thực thi các quy định pháp luật nhằm bảo vệ<small>quyền lợi cho LĐGVGĐ và gia đình th LĐGVGĐ có thể đến từ nhiều phía.Chính vi thế, việc nghiên cứu về điều kiện làm việc và các yếu t6 ảnh hưởng đếnđiều kiện làm việc của LĐGVGĐ là rất cần thiết.</small>

Nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh đại dịch COVID 19 đanggây hậu quả nghiệm trọng trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo một nghiêncứu mới nhất của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), công bố đầu năm 2021, cho

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<small>thay gần ba phan tư người LDGVGD trên toàn thế giới (ước tính khoảng hơn 55</small>triệu người), đứng trước nguy cơ mất việc và giảm thu nhập do các biện phápphong tỏa và thiếu các cơ chế ASXH hiệu quả. Phần đông lực lượng lao động này

<small>là phụ nữ (khoảng 37 triệu người). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy Đông Nam</small>Á là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với khoảng 76% người LĐGVGĐ cónguy cơ bị ảnh hưởng bởi đại dịch. Tiếp đến là Châu Mỹ (với khoảng 74%), ChâuPhi (khoảng 72%) và Châu Âu (chiếm 45%) [ILO, 2021]. Trong khi ở hầu hết cácquốc gia, LDGVGD đều làm việc ở khu vực phi chính thức, những tác động của<small>đại dịch không chỉ khiến họ mất cơ hội việc làm, giảm thu nhập mà nghiêm trọng</small>hơn việc họ không được hưởng bất kỳ sự bảo vệ nào từ hệ thống bảo trợ xã hội<small>khiến cho vấn vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn. Điều này cho thấy khi người</small>LĐGVGĐ không được bảo vệ tốt bởi hệ thông ASXH sẽ không chi làm gia tăng

<small>gánh nặng cho bản thân mà còn gia tăng gánh nặng cho xã hội.</small>

Từ những phân tích trên đây có thé thấy việc thực hiện dé tài nghiên cứu“Lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội: Điều kiện làm việc và các yêu<small>tố ảnh hưởng” sẽ có ý nghĩa quan trọng. Nghiên cứu sẽ làm rõ các điều kiện làm</small>việc và các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ tại thành phố

<small>Hà Nội hiện nay và trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách an sinh xã</small>hội cho LDGVGD và giải pháp bảo vệ quyền lợi cho gia đình th LDGVGD<small>hiện nay.</small>

<small>2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu</small>

<small>2.1. Mục đích nghiên cứu</small>

<small>Mục đích nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng điều kiện làm việc và các</small>yêu tô ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của người lao động giúp việc gia đình tạithành phố Hà Nội hiện nay. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện điều<small>kiện làm việc cho người lao động giúp việc gia đình và bảo vệ quyền lợi cho gia</small>

<small>đình thuê người lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam.</small>

<small>10</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<small>2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu</small>

<small>e Hé thơng hóa cơ sở lý luận và tơng quan các nghiên cứu liên quan đên đê</small>

3. Đối tượng, khách thé và phạm vi nghiên cứu3.1. Đối trợng nghiên cứu

<small>Đối tượng nghiên cứu của đề tài này đó là “Điều kiện làm việc và các yếu</small>tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của người lao động giúp việc gia đình”.

3.2. Khách thể nghiên cứu

Khách thé nghiên cứu của luận án gồm hai nhóm chính:

- Người lao động giúp việc gia đình: nghiên cứu này phỏng vấn nhữngngười dang làm cơng việc giúp việc gia đình tồn thời gian. Họ có thé sống

cùng hoặc khơng sống cùng gia đình thuê họ làm giúp việc gia đình.

<small>- Người thuê lao động giúp việc gia đình: nghiên cứu này phỏng vẫn đại</small>

<small>diện các gia đình (gia chủ) hiện đang thuê người lao động giúp việc gia đình</small>

<small>theo hình thức tồn thời gian.</small>

<small>3.3. Phạm vi nghiên cứu</small>

- Về không gian: Việc thu thập thông tin được thực hiện tại 03 Quận,gồm Cầu Giấy, Thanh Xuân và Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

<small>II</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<small>- Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng hai năm (từ dau2019 đến cuối 2020). Trong đó, việc thu thập thơng tin được thực hiện trongkhoảng thời gian từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 4 năm 2020. Các nghiên</small>

cứu được rà soát và tổng quan trong khoảng 20 năm trở lại đây.

- Giới hạn về nội dung: nghiên cứu này không xem xét điều kiện làmviệc và các yếu tô ảnh hưởng đến điều kiện của người giúp việc gia đình theogiờ. Người LDGVGD trong nghiên cứu này là người có thé sông chung hoặckhông sống chung với gia chủ. Nghiên cứu này chỉ phân tích chiều ảnh hưởng<small>của một số yếu tố đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ.</small>

<small>4. Câu hỏi nghiên cứu</small>

e Chan dung xã hội của người lao động giúp việc gia đình tại thành phố<small>Hà Nội hiện nay có diện mạo như thế nào?</small>

e_ Người lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội hiện nay dang<small>làm việc trong điều kiện như thế nào?</small>

<small>e C6 những yếu tố nào ảnh hưởng tới điều kiện làm việc của người laođộng giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội hiện nay?</small>

5. Giả thuyết nghiên cứu

<small>e Chan dung xã hội của người lao động giúp việc gia đình tại thành phốHà Nội mang đặc trưng về giới và xã hội. Da phần người giúp việc gia</small>

đình là phụ nữ, có trình độ học vấn thấp, xuất thân từ các vùng nông

thôn. Ly do đi làm giúp việc gia đình chủ yếu dé có thêm thu nhập cho

<small>bản thân và gia đình.</small>

<small>e Người lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội đang làm việctrong điều kiện làm việc chưa được đảm bảo đầy đủ. Nơi làm việc của</small>người lao động cũng là nơi nghỉ ngơi của họ. Hiện có một số điều kiện<small>làm việc của người lao động giúp việc gia đình đã được đảm bảo tốt</small>

<small>12</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

<small>như bảo hiểm y tế, tiền lương nhưng vẫn cịn có một số điều kiện làmviệc chưa được đảm bảo như hợp đồng lao động, thời gian nghỉ ngơi...</small>© Có một số yếu tơ ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của người lao động

<small>giúp việc gia đình tại thành phố hiện nay như đặc điểm nhân khẩu - xãhội của LĐGVGĐ; hiểu biết của người LDGVGD về một số qui địnhpháp luật về GVGĐ; định hướng công việc của LĐGVGĐ; mối quan</small>hệ giữa LDGVGD và gia chủ; số lượng và loại hình cơng việc GVGD

<small>> Đặc điểm nhân khẩu — xã hội của lao động giúp việc gia đình, bao gồm:</small>

<small>° Tuổi: được chia làm 05 nhóm gồm: (1) từ 18 đến dưới 50 tuổi; (2) từ</small>trên 50 đến 54 tuổi; (3) từ 55 tuổi đến 59 tuổi; (4) từ 60 đến 64 tuổi và(5) trên 65 tuổi.

<small>* Trình độ học van: chia theo các cấp học gồm: (1) tiểu học, (2) trunghọc cơ sở, (3) trung học phô thông; (4) trung cấp/cao đăng/đại học.</small>

* Nơi sinh sống trước khi di làm giúp việc: được chia thành hai nhóm: (1)<small>khu vực nơng thơn/miền núi và (2) khu vực thành thị.</small>

<small>* - Số năm kinh nghiệm làm việc: được phân thành 04 nhóm, gồm: (1) dưới2 năm; (2) từ trên 2 năm đến 5 năm; (3) từ trên 5 năm đến 10 năm; (4)</small>

<small>trên 10 năm.</small>

> Định hướng công việc của lao động giúp việc gia đình: bao gồm: (1) tiêu chí

<small>lựa chọn cơng việc giúp việc gia đình và (2) lý do đi làm giúp việc gia đình.</small>

> Mối quan hệ giữa gia chủ và người giúp việc: bao gồm: (1) sự hài lịng với

<small>cơng việc hiện tại và (2) tình trạng mâu thuẫn với gia chủ.</small>

<small>13</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<small>> Hiểu biết một số qui định pháp luật về lao động giúp việc gia đình: baogồm: (1) có biết một số quy định pháp luật liên quan đến giúp việc giađình và (2) khơng biết một số quy định pháp luật liên quan đến giúp việc</small>

<small>gia đình.</small>

> Loại cơng việc giúp việc gia đình đang thực hiện: loại việc và sô lượng

<small>công việc GVGD đang thực hiện.</small>

Biến can thiệp

Biến có tác động chi phối mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc

trong nghiên cứu này gồm: (1) bối cảnh văn hóa xã hội va (2) quy định pháp<small>luật liên quan đến lao động giúp việc gia đình hiện nay.</small>

<small>14</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<small>Bồi cảnh văn hóa, xã hội, pháp luật liên quan đến lao động giúp</small>

<small>việc gia đình</small>

<small>+ @</small>

<small>R + TIỀN LƯƠNG</small>

<small>Đặc điểm nhân khẩu </small>

<small>-xã hội của lao động</small>

<small>giúp việc gia đình . `</small>

<small>THOI GIAN LAM</small>

<small>Định hướng cơng việc</small>

<small>của người lao độnggiúp việc gia đình</small>

<small>HỢP DONG LAO</small>

<small>Mơi quan hệ giữa</small>

<small>người g1úp việc và giachủ</small>

<small>AN TOÀN NƠI</small>

Hiểu biết một số qui . _

<small>TẠI LÀM VIỆC</small>

<small>định pháp luật về</small>

<small>giúp việc gia đình</small>

<small>Loại công việc đang</small>

thực hiện BẢO HIẾM i: ie

<small>15</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<small>7. Đóng góp của luận án</small>

<small>Về đóng góp khoa học, tác giả luận án đã tiến hành tổng quan cácnghiên cứu hiện có liên quan đến lao động giúp việc gia đình, cụ thé là điềukiện làm việc và các yếu tô ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của người lao</small>động giúp việc gia đình. Việc tổng quan nghiên cứu khơng chỉ làm rõ cácđóng góp của các nghiên cứu trước đây mà cịn góp phần xác định các khoảngtrống nghiên cứu để từ đó gợi mở định hướng nghiên cứu cho luận án này.Đồng thời, tác giả luận án cũng đã vận dụng một số quan điểm lý thuyết Xã<small>hội học để giải thích vấn đề thực tiễn. Việc vận dụng lý thuyết góp phần chỉ ra</small>sự đúng đắn của các quan điểm lý thuyết và bổ sung thêm các khái niệm,<small>quan điểm lý thuyết Xã hội học thông qua kết quả nghiên cứu thực tiễn.</small>

Luận án cũng đã có đóng góp quan trọng về thực tiễn. Tác giả luận ánđã tiễn hành phân tích và làm rõ thực trạng điều kiện làm việc của LDGVGDtại thành phố Hà Nội và xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến điều kiện làm

<small>việc của họ. Các phát hiện của luận án phản ánh trung thực thực trạng và làm</small>

<small>sáng tỏ một số van dé thực tiễn liên quan đến điều kiện làm việc như: bảo</small>đảm người lao động được tiếp cận chính sách an sinh xã hội, dự báo thị

<small>trường lao động giúp việc gia đình, và cơng tac quan lý lao động giúp việc gia</small>

<small>đình tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.</small>

Luận án cũng đã có những đóng góp quan trọng về khuyến nghị chính<small>sách và pháp luật quản lý nhà nước về lao động giúp việc gia đình. Trên cơ sở</small>phân tích thực trạng điều kiện làm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện<small>làm việc của lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội hiện nay, tácgiả luận án đã đưa ra một số khuyến nghị quan trọng về chính sách nhằm đảmbảo LĐGVGĐ được đối xử bình đăng như các loại cơng việc khác trong xã</small>hội và góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người giúp việc và

<small>g1a đình thuê người giúp việc hiện nay.</small>

<small>16</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

8. Ý nghĩa của đề tài<small>8.1. Ý nghĩa ly luận</small>

<small>Đề tài vận dụng một số quan điểm lý thuyết Xã hội học dé phân tíchđiều kiện làm việc và một số yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của</small>LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội hiện nay. Các quan điểm lý thuyết Xã hộihọc được sử dụng bao gồm: (1) Lý thuyết cung cầu lao động: (2) Lý thuyết

lựa chọn duy lý; và (4) Lý thuyết phân công lao động theo giới.

Việc vận dụng quan điểm của một số tác giả theo các trường phái lý<small>thuyết này không chỉ giúp giải thích vấn đề thực tiễn liên quan đến điều kiện</small>làm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ tại<small>thành phố, mà còn giúp khái qt về lý luận, góp phần bổ sung hồn thiện hệthống khái niệm và lý thuyết Xã hội học.</small>

8.2. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu phân tích một số khía cạnh về điều kiện làm việc của ngườilao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội hiện nay. Việc phân tích<small>giúp làm sáng tỏ những điều kiện làm việc nào đã được đảm bảo và tiếp tục</small>phát huy, cũng như những điều kiện làm việc nào chưa được đảm bảo để từ

đó đưa ra khuyến nghị nhăm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động

<small>giúp việc gia đình hiện nay.</small>

<small>Ngồi ra, nghiên cứu phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến điều kiệnlàm việc của người lao động giúp việc gia đình. Trên cơ sở đó đưa ra một số</small>khuyến nghị chính sách pháp luật về quản lý nhà nước về lao động giúp việc<small>gia đình dé đảm bảo người giúp việc gia đình được đối xử bình dang như cáccơng việc khác và các gia đình thuê người giúp việc được bảo vệ các quyền</small>

<small>lợi chính đáng.</small>

9. Kết cau của luận án

Ngồi Phần mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ

<small>lục, nội dung luận án được trình bày trong 4 Chương:17</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

+ Chương 1: Tong quan van dé nghiên cứu: tong quan các nghiên cứu về<small>LĐGVGĐ trên thé giới và tại Việt Nam; rà sốt đóng góp của các nghiên cứu</small>trước đây và xác định khoảng trống nghiên cứu, từ đó định hướng về mục

<small>đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.</small>

<small>+ Chương 2: Cơ sở ly luận và phương pháp nghiên cứu: Luận án làm rõ</small>

một số khái niệm cơng cụ, phân tích một số quan điểm lý thuyết Xã hội học

có liên quan và ứng dụng quan điểm của lý thuyết Xã hội học đó để giải thíchvấn đề nghiên cứu; mơ tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp<small>nghiên cứu.</small>

<small>+ Chương 3: Thực trạng điều kiện làm việc của lao động giúp việc giađình tại thành phố Hà Nội: Chương nay phân tích và làm rõ một số điều kiện</small>làm việc của LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội như tiền lương, thời gian làmviệc, hợp đồng lao động, bảo hiểm và an toản tại nơi làm việc. Đồng thời, sosánh sự khác biệt về điều kiện làm việc căn cứ theo một số đặc điểm nhân<small>khẩu - xã hội của người lao động giúp việc gia đình và gia đình đang thuê</small>

<small>người giup VIỆC.</small>

+ Chương 4: Các yếu tô ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của lao độnggiúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội: Chương này tập trung phân tích vàchỉ rõ một số yếu tố có ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LDGVGD tai<small>thành phố Hà Nội. Trong đó, phân tích và làm rõ các yếu tơ có ảnh hưởng tới</small>

việc đảm bảo điều kiện làm việc cho người LDGVGD.10. Hạn chế của luận án

<small>Hạn chế của luận án đó là tác giả luận án khơng phân tích điều kiện làmviệc theo đặc điểm giới của người LĐGVGĐ, do không tiếp cận được lao</small>

<small>động giúp việc gia đình là nam giới. Tồn bộ 314 mẫu khảo sát với người</small>

LDGVGD đều là nữ. Vi thế, các kết quả phân tích liên quan đến điều kiệnlàm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của lao động giúp

<small>việc gia đình sẽ khơng phân tích và mơ tả được dưới lăng kính giới.</small>

<small>18</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

Chương 1. TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CUU

<small>Nghiên cứu về LDGVGD nói chung và những van dé liên quan đến</small>điều kiện làm việc của LDGVGD đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế<small>giới và tại Việt Nam. Chương này cung cấp thông tin tổng quan các nghiên</small>cứu về LĐGVGĐ, trong đó bao gồm các phát hiện, giá trị đóng góp về lý luậnvà thực tiễn của các nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt

Nam trong khoảng 20 năm trở lại đây. Kết quả rà sốt tổng quan được nhómtheo các chủ đề chính có liên quan đến luận án này bao gồm: i) đặc điểm nhân<small>khâu, xã hội của LĐGVGĐ; ii) điều kiện làm việc của LĐGVGĐ; iii) các yếutố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ. Trên cơ sở đó, xác định</small>

<small>rõ những đóng góp của nghiên cứu trước đây và gợi ý định hướng nghiên cứu</small>

<small>cho luận án này.</small>

<small>1.1. Một số nghiên cứu về đặc điểm xã hội của lao động giúp việc gia đình</small>

Các nghiên cứu thực hiện ở một sỐ quốc gia đã phát hiện một số đặc<small>điểm xã hội của LDGVGD trong làn sóng di cư từ các nước nghéo sang cácnước đang phát triển. Theo phát hiện của các nghiên cứu đã thực hiện trước</small>đây: Phụ nữ nghèo đến làm giúp việc gia đình cho các gia đình có điều kiện<small>kinh tế khá gia là hình ảnh nỗi bật trong làn sóng di cư đó. Xu hướng này đã</small>và đang trở thành một nghề khá phơ biến ở các nước khi thực hiện cơng<small>nghiệp hóa.</small>

<small>Theo kết quả nghiên cứu của Parrenas (năm 2001) về dòng di cư củaLDGVGD cho thấy Philippines là quốc gia đứng đầu về cung cấp nguồnLĐGVGĐ cho các quốc gia khác. Ước tính có khoảng hon 2,2 triệu ngườitrong tổng số hơn 6,5 triệu người Philippines làm việc ở hơn 100 quốc giatrên thế giới đang làm công việc GVGD. Đặc biệt, đa số phụ nữ người</small>

<small>Philippines ra nước ngoài làm LĐGVGĐ đều tốt nghiệp phổ thông, đã qua</small>dao tạo nghề và thơng thạo tiếng Anh. Đây chính là thế mạnh cạnh tranh của<small>lực lượng LĐGVGĐ từ Philippine so với các quốc gia khác. Mặt khác, việc</small>

<small>19</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

xuất khâu LDGVGD cũng đã được Chính phủ Philippines coi là một ngành<small>kinh tế quan trong của đất nước. Nguồn tiền do phụ nữ đi làn LDGVGD ở</small>nước ngoài gửi về cho gia đình ước tính đạt khoảng từ 14 - 16 tỉ đô la Mỹ

<small>[Parrenas, 2001].</small>

Theo nghiên cứu của Hye-kyung Lee (Đại học Pai Chai, Hàn Quốc), từcuối thập kỉ 1980, làn sóng di cư của người Châu Á đã dần chuyên hướng từcác nước Trung Đông, châu Âu, Mỹ, và Canada sang các nước phát triểntrong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Điểm giống<small>nhau của làn sóng di cư đó là phụ nữ vẫn chiếm đa số, với khoảng 60% dòng</small>

<small>người nhập cư tại Singapore và Đài Loan, và khoảng 45% tại Nhật Bản và</small>

<small>Hàn Quốc. Trong đó, LDGVGD là một trong ba nhóm của dịng người di cư</small>

<small>[Ngơ Thi Ngọc Anh, 2010].</small>

Tại Đài Loan, theo kết quả nghiên cứu về người lao động di cư của cáctác giả Hong-zen Wang, Meiyao Wu, Daniele Belanger, tính đến tháng 12năm 2007, số lao động di cư đến Đài Loan là 357.937 người, trong đó<small>người Việt Nam chiếm 19%. Ngồi ra, số cịn lại đến từ các quốc gia khác</small>như Trung Quốc, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Người lao động di cư<small>đến Dai Loan thường làm hai nhóm nghề chính đó là cơng nhân nhà máy</small>và giúp việc gia đình. Trong nhóm nghề GVGD, người LDGVGD thường<small>làm hai cơng việc chính đó là làm việc nhà và chăm sóc người cao ti</small>

<small>Lanka. Ngồi ra, nghiên cứu này cũng đã chỉ ra lao động giúp việc là trẻ em</small>

đang tràn lan ở những nước có hệ thống pháp luật về độ tuổi lao động tối

<small>20</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

<small>thiểu chưa chặt chẽ. Thơng thường, các nhóm phụ nữ và các tổ chức củangười giúp việc gia đình thường là người bênh vực và bảo vệ quyền cho</small>

<small>người lao động giúp việc gia đình [GFCD, 2018].</small>

<small>Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Tersia S. Wessels, năm 2006, đề cậptrong báo cáo “Đánh giá tác động phát triển các kỹ năng cho giúp việc gia</small>đình”, cơng bỗ bởi Khoa nghiên cứu phát triển, Trường dai học Nam Phi chothấy: ở một số nước, LDGVGD được coi là cơng việc thấp hèn và thường chicó những người sống ở nơng thơn và có trình độ học vấn thấp làm cơng việc<small>này [Wessels, 2006].</small>

Bài viết có tiêu đề “Phu nữ và quyén lao động tại Trung Quốc”, đăng<small>trên Tạp chí quốc tế về sáng tạo và phát triển bền vững, số 4, trang 186 — 194,năm 2009, trong đó khang định do những quan niệm về GVGD chỉ đành cho</small>người nơng thơn và có học vấn thấp nên người dân sống ở thành thị khôngmuốn làm công việc này. Học vấn thấp và kỹ năng giao tiếp hạn chế là nhữngđiểm khá đặc trưng của phần lớn người LDGVGD. Phát hiện của Shu-Ju Ada<small>Cheng (2004) một lần nữa cho thấy ở Dai Loan, phan lớn LDGVGD là người</small>nước ngoài, họ đến từ các nước kém phát triển hơn như Philippines, Việt<small>Nam, và một số nước Nam Á [Shu-Ju Ada Cheng, 2004].</small>

Báo cáo “Tớm tắt chính sách về giúp việc gia đình”, của hai tác giảSimonovsky và Y. M. Luebker, năm 2011, cung cấp các thơng tin ước tính vềsố lượng người GVGD trong khu vực và toàn cầu. Báo cáo cho thấy ở ChâuMỹ La-tinh và vùng biển Caribe, tỷ trọng LDGVGD trong cơ cầu ngành nghề<small>chiếm tới 92%, trong khi đó ở Châu A là 82%, Châu Phi là 73% và TrungĐơng là 64%, trong đó ở một số nước lao động là trẻ em gái cũng chiếm tỷ lệkhông nhỏ. Báo cáo cũng cho thấy việc chăm sóc trẻ em và làm cơng việc nhà</small>chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm trong khi đó các cơng việc phục vụ thì chủ yếu là

<small>nam giới và lau dọn nhà cửa thì cả nam và nữ cùng tham gia [Simonovsky and</small>

<small>Y.M.Luebker, 201 1].</small>

<small>21</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

<small>Hiện tại, Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng</small>người LDGVGD trên toàn quốc. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, q 1năm 2019, tồn quốc có 222.400 người lao động đang làm thuê trong các hộ

gia đình, trong đó có 206.500 lao động nữ (chiếm 92,8%). Tuy nhiên, Tổngcục thống kê gộp chung những người giúp việc gia đình vào nhóm nghề laođộng làm th các cơng việc trong hộ gia đình nên số liệu trên bao gồm cảnhững người tham gia sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ của hộ gia đình,

<small>chứ khơng hoản tồn chỉ có người làm lao động giúp việc gia đình theo định</small>

<small>nghĩa về người lao động giúp việc gia đình tại Bộ Luật lao động 2019 [Tơng</small>cục thống kê, 2019].

LDGVGD ở Việt Nam cũng có đặc điểm xã hội khá tương đồng vớiLDGVGD ở một số nước trên thế giới. LĐGVGĐ ở Việt Nam hiện nay cũngchủ yếu là nữ, đa phần thỏa thuận về điều kiện lao động băng miệng, chưaqua đảo tạo nghề và khơng có bảo hiểm xã hội (BHXH). Đặc biệt, xu hướngdi biến động của LĐGVGĐ ở Việt Nam cũng giống xu hướng chung trên tồn<small>cầu đó là việc dịch chuyền của dịng di cư từ nông thôn ra đô thị đang diễn ra</small>

<small>mạnh mẽ [Ngô Thị Ngọc Anh, 2010].</small>

<small>Nghiên cứu “Tre em làm thuê giúp việc gia đình ở Ha Noi” của nhóm</small>

<small>tác giả Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh thực hiện (năm 2000) đã làm rõ</small>

một số vấn đề chung liên quan đến trẻ em làm giúp việc gia đình. Nhómnghiên cứu đã mơ tả các đặc điểm về gia đình, phẩm chat tâm lý, lứa tuổitrình độ học van của trẻ em đang làm GVGD. Nhóm nghiên cứu cũng đã phân<small>tích những khía cạnh về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, quyền học tập của trẻem giúp việc để làm căn cứ đưa ra một số giải pháp kiến nghị đối với việcnâng cao nhận thức về quyên trẻ em [Nguyễn Thị Vân Anh, 2000, tr. 28-37].</small>

<small>Trong nghiên cứu - trao đổi về “Van dé trẻ em gái giúp việc gia đình tại</small>các thành phố lớn” của tac giả Chu Mạnh Hùng đăng trên đặc san về Bìnhđăng giới, Tạp chí Luật học, 2005 đã đưa ra một sé phát hiện liên quan đến

<small>22</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

<small>hoàn cảnh xuất thân của trẻ em gái làm GVGD. Trong đó, trẻ em gái, phầnđơng xuất thân từ nơng thơn nơi cịn nhiều khó khăn về kinh tế, ra thành thị</small>giúp việc ở tuổi 15 hoặc 16, thậm chí cịn sớm hơn. Việc các em bỏ học đi<small>làm giúp việc giúp giảm bớt gánh nặng chi phí cho giáo dục, góp phần giảm</small>

<small>chi cho gia đình [Chu Mạnh Hùng, 2005].</small>

Báo cáo “Nghiên cứu thực trạng một số loại hình giúp việc gia đình ởHà Nội hiện nay và đề xuất giải pháp quản lý” của tác giả Ngô Thị Ngọc

<small>Anh, năm 2010 đã nêu bật được đặc điểm của người LDGVGD và các hộthuê người giúp việc gia đình, đồng thời nêu lên các loại hình GVGĐ ở HàNội và thực trạng hoạt động của các loại hình LDGVGD. Từ đó dé xuất các</small>

<small>giải pháp quản lý phù hợp, mức độ cần thiết phải nâng cao chất lượng</small>LDGVGD và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sửdụng lao động. Khách thê của nghiên cứu là LĐGVGĐ và những hộ gia đìnhđang thuê người giúp việc trên địa bàn các quận của thành phố Hà Nội như BaĐình, Cầu Giấy, Đống Đa. Tất cả đối tượng đều được phỏng vấn sâu để có<small>góc nhìn sâu hơn về thực trạng LDGVGD. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đề xuất</small>giải pháp về vấn đề quản lý lực lượng lao động giúp việc chứ chưa thực sự đisâu vào các giải pháp tạo nhằm nâng cao tay nghề làm việc của họ [Ngô Thị<small>Ngọc Anh, 2010].</small>

<small>Theo một nghiên cứu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Bộ Lao</small>

<small>động Thương binh và Xã hội (LDTB& XH) và Viện nghiên cứu Gia đình và</small>

Giới, thực hiện năm 2011 về “Việc làm đối với lao động giúp việc gia đình ”<small>đã cho thấy thực trạng LĐGVGĐ tại Hà Nội va Thanh phó Hồ Chí Minh. Ởcả hai thành phố, LDGVGD đều có trình độ học vấn phơ biến ở bậc trung họccơ sở trở xuống, chủ yếu đến từ nơng thơn, có mức sống nghèo và khơng</small>

được đào tạo nghề. Có sự tham gia của các nhóm dân tộc, tơn giáo khác nhau

và sự tham gia chủ yếu của nữ giới cho thấy khác biệt giới trong lực lượng lao

<small>23</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<small>động giúp việc gia đình [ILO, Bộ LDTB&XH và Viện nghiên cứu Gia đình</small>

<small>và Giới, 2011].</small>

<small>Ngồi ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra việc tuyển chọn LDGVGD</small>

<small>thường được các gia đình lựa chọn dựa trên 3 tiêu chí quan trọng là: chân</small>

<small>thật, chăm chỉ, khỏe mạnh. “Họ hàng, người quen” là kênh tìm người</small>

LDGVGD chủ yếu và đáng tin cậy của đa số các gia đình khi có nhu cầu thuê

<small>người giúp việc. Trung tâm giới thiệu việc làm là kênh cung ứng lao động</small>

nhanh chóng nhưng người sử dụng lao động thường mat lòng tin đối với các<small>trung tâm này. Đại đa số người lao động và người thuê lao động sử dụng hìnhthức thỏa thuận miệng, đặc biệt là nhóm học van thap [ILO, Bộ LBTB&XH</small>

<small>và Viện Nghiên cứu Gia đình va Giới, 2011].</small>

<small>Theo báo cáo khảo sát “Nghiên cứu tình hình lao động giúp việc gia</small>

đình tại Việt Nam từ năm 2007 đến nay” của Trung tâm nghiên cứu Giới, Giađình và Phát triển cộng đồng (GFCD) thực hiện năm 2013 cho thấy: đa phầnngười LDGVGD là phụ nữ (chiếm 98,7%) và học van không cao, có khoảng<small>dao động từ 22,0% đến 31,8% người LDGVGD có trình độ học van ở bậc tiêu</small>học và thậm chí có khơng ít người khơng biết chữ. Kết quả khảo sát cũng cho<small>thay độ tuổi của người LDGVGD chủ yếu là trung niên (từ 36 — 65 tuổi),chiếm 61,5%. Độ tuổi trung bình của người LĐGVGĐ là 44,8 tudi. Ngồi ra,</small>hầu hết người LDGVGD được hỏi chưa qua dao tao nghề (chiếm 98.4%)

<small>[GFCD, 2013a].</small>

<small>1.2. Một số nghiên cứu về điều kiện làm việc của lao động giúp việc gia đình</small>

<small>Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thực hiện năm2003 về LĐGVGĐ cho thấy điều kiện làm việc của LDGVGD ở nhiều quốc</small>

<small>gia chưa được đảm bảo như: khơng có giờ làm việc và thời gian nghỉ ngơi rõ</small>

<small>ràng; khơng có tiêu chuẩn về làm cơng việc ban đêm; lương thấp; khơng cóngày nghỉ hàng tuần và bảo vệ xã hội kém. Ngoài ra, LDGVGD thường được</small>

<small>xem là “cơng dân hạng hai” hoặc thậm chí khơng phải là “công dân”. Nghiên24</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

cứu này cũng đã nêu được lý do cần thúc đây các quốc gia thành viên thừa<small>nhận LDGVGD là một nghề trong Luật lao động. Bên cạnh đó, nghiên cứu</small>cũng đã đưa ra những tiêu chuẩn, tiêu chí cơng việc của lao động giúp việc,<small>nhằm giúp các quốc gia nhận thức đúng về LDGVGD, về sự phân biệt đối xử,</small>

<small>những công việc LDGVGD được làm và khơng được làm, những chính sách</small>

và quyền lợi, chế độ đãi ngộ dành cho LĐGVGĐ. Đồng thời, nghiên cứucũng đã chỉ ra cách thức tô chức, quản lý đối với LĐGVGĐ, từ chương trìnhdao tao, giáo dục đến cách thức sắp xếp, tổ chức các hoạt động đối với người

<small>lao động giúp việc gia đình [ILO, 2013].</small>

Nghiên cứu: “Kinh tế đối với lao động giúp việc - Tổ chức vì một tươnglai tốt đẹp hơn ” của Suguna Papachan (2009), được thực hiện với các nhómlao động giúp việc/cơng đồn ở Chau A kê từ năm 2003, đã khảo sát sơ bộ vềđiều kiện làm việc của LDGVGD. Năm 2004, kết quả khảo sát được trình baytại một hội thảo về lao động phi chính thức. Trong cùng năm đó, một hội thảodành cho các tổ chức của người giúp việc gia đình đến từ năm quốc gia dé<small>trao đổi chia sẻ kinh nghiệm và thách thức mà họ phải đối mặt. Sau hội thao</small>trao đổi vào tháng 10 năm 2004, Mạng lưới lao động giúp việc Châu Á<small>(ADWN) ra đời. Đây là một mạng lưới các tổ chức của người giúp việc giađình đến từ Sri Lanka, Pakistan, An Độ, Nepal, Indonesia và Hong Kông.</small>Mạng lưới này đã kết nối các tô chức của người giúp việc gia đình và các van<small>đề liên quan đến người giúp việc gia đình ở Châu Á đã được đưa vào các</small>chương trình nghị sự về lao động trong khu vực. ADWN đã tích cực thúc đây<small>hoạt động trao đối, chia sẻ thơng tin về vận động chính sách cho người giúpviệc gia đình ở các quốc gia [Suguna Papachan, 2009].</small>

<small>“Bao cáo lao động giúp việc gia đình ở Thái Lan: tình hình, thách thứcvà con đường phía trước ” của tac giả Vachararutai (Ian) Boontinand. 2010 đã</small>

cho thấy mặc dù lao động giúp việc trong nên kinh tế của Thái Lan đem lại rất<small>nhiều thu nhập, nhưng nghề GVGD van không được công nhận rõ ràng trong</small>

<small>25</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

<small>xã hội và cũng không được bảo vệ bởi Luật lao động Thái Lan. LDGVGD ởThái Lan được coi là một hình thức làm việc khơng chính thức trong khu vực,</small>

có giới hạn bảo vệ lao động và bảo hiểm xã hội. Phần lớn LDGVGD không<small>chi dễ bị tôn thương mà họ cịn ít được tiếp cận hầu hết các biện pháp bảo hộ</small>

<small>lao động theo luật lao động Thái Lan. Báo cáo này xem xét và phân tích tìnhhình của lao động trong nước Thái Lan và khu vực, đặc biệt là những người</small>

làm việc trong các hộ gia đình. Bằng các thơng tin đáng tin cậy, họ hy vọng sẽđưa ra các vấn đề chính và các khuyến nghị có thể đóng góp cho nỗ lực vận<small>động của ILO và các đối tác ở Thái Lan trong chiến dịch về bảo vệ LĐGVGĐ</small>

<small>trong nước [Vachararutai (Jan) Boontinand, 2010].</small>

<small>Cũng theo tác giả Boontinand hiện chưa có số liệu thống kê về số lượng</small>

<small>người Thái làm giúp việc gia đình, đặc biệt là những người làm việc ở các hộ</small>gia đình. Từ năm 2001, Chương trình chống phân biệt đối xử lao động trẻ emcủa ILO (ILO-IPEC) đã đưa ra bản đánh giá nhanh về tình hình trẻ em làm<small>GVGD ở Thái Lan. Trong nghiên cứu này có 115 trẻ em độ tuôi 12 — 17 danglàm GVGD ở Bang-Céc và phan lớn là trẻ em gái, đến từ miền Đông Bắc của</small>Thái Lan. Thời gian làm việc thường trên 8 giờ một ngày và phần lớn khơng có<small>ngày nghỉ mặc dù hầu hết trẻ em khi được hỏi đều khơng cho rằng cơng việcmình đang đảm nhiệm là khó khăn và vất vả. Tuy nhiên, lực lượng trẻ em làm</small>

<small>GVGD ở Thái Lan hiện nay giảm so với những năm 2000, do các nỗ lực của</small>

<small>Chính phủ nhăm tạo cho trẻ em những cơ hội việc làm hấp dẫn hơn hoặc hướng</small>đến học tập dé đạt được bằng cấp cao hơn. Bên cạnh đó, lao động nhập cư từ

<small>Myanmar, Lào, Campuchia (từ 52.685 người năm 2003 tăng lên 129.267 người</small>

<small>năm 2009) cũng là một trong những yếu tố cơ bản dẫn đến tỷ lệ trẻ em ở Thái</small>

<small>Lan làm giúp việc ngày càng giảm [Vachararutai (Jan) Boontinand, 2010].</small>

<small>Trong nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, thuộc Trường Đại học</small>

<small>Chulalongkom năm 2008, chủ yêu người LĐGVGPĐ là phụ nữ va có trình độ học</small>

<small>vân bậc tiêu học. Điêu dang nói là trong mâu nghiên cứu có 4,8% người</small>

<small>26</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

LĐGVGĐ có trình độ cao đăng và 3,9% có trình độ dai học [Vachararutai<small>(Jan) Boontinand, 2010].</small>

<small>Việc rà sốt tài liệu cho thấy hiện cũng đã có một sỐ nghiên cứu về vấndé an sinh xã hội của người LDGVGD. Các kết quả nghiên cứu chia sẻ tại Hội</small>nghị lao động quốc tế thường niên, phiên thứ 99 về LĐGVGĐ, được tổ chức tại

Geneva, Thụy Sĩ, cho thấy: ở hầu hết các nước trên thế giới, phần lớn công việcGVGD là công việc không được đào tạo bài bản về kỹ năng [ILO, 2010]. Do đó,việc đào tạo kỹ năng nghề cho nhóm này khơng chỉ là một nhu cầu cần quan tâm<small>mà thực tế cũng đã được nhiều nước quan tâm như ở Thái Lan, trong đó có sựliên kết chặt chẽ giữa trung tâm giới thiệu việc làm, người sử dụng lao động và</small>LDGVGD. Hợp đồng thường được xác lập giữa 3 bên gồm trung tâm đào tạo,đơn vị tuyên dụng, người sử dụng lao động và người lao động với những điềukhoản về công việc, ngày nghỉ, lương, tiền ăn cho người lao động, tiền ngồi giờvà mức phí hoa hồng người lao động trả cho trung tâm [Vacharatutai (Jan)Bonntinand, 2010]. Người LDGVGD được hưởng các quyên lợi được quy định<small>trong Luật bảo hộ lao động năm 1998 (sửa đổi năm 2007).</small>

Trong báo cáo so sánh về nghiên cứu trường hợp người giúp việc gia đình ở<small>Nam Phi, Huysamen nhận định rằng cơng việc GVGD ở một sỐ nước thườngkhơng chính thức và khơng được công nhận bằng văn bản [Elsabe</small>

Huysamen, 2011]. Các vấn đề liên quan đến công việc GVGD không đượcgiải quyết theo các quy định của pháp luật và điều này dẫn đến nhiều ngườilàm giúp việc gia đình dễ bị tổn thương bởi sự đối xử không công bằng, bị<small>lạm dụng và những điều kiện làm việc không phủ hợp với mơ hình việc làmbền vững của ILO [Elsabe Huysamen, 2011].</small>

<small>Với những đặc thù của cơng việc giúp việc gia đình như điều kiện mơi</small>

<small>trường làm việc khép kín trong một gia đình, ít có sự giao du với bên ngồi nên</small>

<small>ban thân LDGVGD dễ đối mặt với các nguy cơ như bị mắng chửi, đánh đập, de</small>

<small>doa, bi lạm dung sức lao động, lạm dung tình dục... từ các thành viên trong gia</small>

<small>27</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

đình chủ sử dụng lao động. Trong một nghiên cứu về LDGVGD của Thái Lan<small>(2010), hầu hết những người giúp việc gia đình nhập cư được hỏi đều chorằng họ từng gặp một trong những hành vi bạo lực và lạm dụng bởi chủ sửdụng lao động. Hơn một nửa trong số 115 người được hỏi cho răng họ bị quát</small>

mắng, 1/3 cho biết họ bị chửi bới hoặc bị đe dọa. Báo cáo của ILO cho thấy,

những LDGVGD càng trẻ càng có xu hướng bị bạo lực va lạm dụng nhiềuhơn [Vacharatutai (Jan) Bonntinand, 2010]. Điều đáng nói là những

<small>LĐGVGĐ nhập cư có nguy cơ bị bạo lực và bị lạm dung cao hơn so với</small>

<small>những người LDGVGD bản địa — đặc biệt trong vấn đề tiền lương và làm</small>

<small>VIỆC ngoài gid.</small>

<small>Trong nghiên cứu của ILO năm 2013 về: “Giúp việc gia đình trên toàn</small>thé giới: Thong kê toàn cau, khu vực và mức độ bảo vệ pháp lý” đã cỗ gắngnăm bắt quy mô của LDGVGD va mức độ bảo vệ pháp lý cho LDGVGD trên<small>cơ sở phương pháp có thể kiểm chứng và nhân rộng. Những phát hiện này</small>góp phần tạo nên sự vơ hình của LĐGVGĐ và mang một thơng điệp mạnh<small>mẽ: lao động giúp việc gia đình chiếm phần lớn lao động làm cơng ăn lương</small>tồn cầu, nhưng họ vẫn bị loại trừ khỏi phạm vi luật lao động. Ví dụ: hơn mộtnửa số LĐGVGĐ khơng có giới hạn theo luật định về giờ làm việc hàng tuầncủa họ, hơn hai trong số năm người không được trả lương tối thiểu và hơn<small>một phần ba khơng có quyền nghỉ thai sản. Từ góc độ quyền con người vàbình đăng giới, tình trạng này là điều khơng thê chấp nhận được. Báo cáo này</small>là kết quả của sự hợp tác giữa các luật sư, chuyên gia thống kê về điều kiện<small>làm việc và giữa nhiều đơn vị khác của ILO. Báo cáo cho thấy rõ ràng giá trịcủa sự phối hợp, đây là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn của ILO nhằm hỗtrợ các thành phan ba bên — chính phủ và các tơ chức của người lao động và</small>

người lao động — theo chiến lược toàn cầu của mình về hành động của<small>LĐGVGĐ [ILO, 2013].</small>

<small>28</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<small>Trong nghiên cứu của Nagel, thực hiện năm 2003 có bàn về vị thế vànhững điều LĐGVGĐ phải chịu đựng. Theo tác gia, LDGVGD không hề</small>

<small>được nghỉ ngơi, giải trí, họ bị “bật rễ” khỏi mơi trường văn hóa của mình và</small>

<small>bị bỏ mặc trong một thế giới khơng quen biết, trong khi phải đối mặt với môi</small>trường làm việc day thử thách và phải ném trải những chan thương về tâm lý.Liên quan đến điều kiện làm việc, người phụ nữ có thé bị bắt làm bat kỳ cơngviệc nào và họ có thé bị lạm dụng về thể xác và tình dục rất nghiêm trọng

<small>[Nagel J, 2003].</small>

<small>Trong nghiên cứu của mình, Arat — Koc cũng đã đề cập tới môi trường</small>và điều kiện làm việc của LDGVGD. Theo tác giả, LDGVGD dễ bị tổnthương trước sự lạm dụng về tình dục và các lạm dụng khác, tình trạng cô

đơn, nỗi sợ của phụ nữ khi đi làm thuê. Họ lúc nào cũng cần phải sẵn sảng

<small>nhận lệnh chủ nhà và nơi ở của họ cũng là nơi làm việc do đó thường khơng</small>

<small>có ranh giới rõ ràng giữa giờ làm việc và giờ nghỉ ngơi. Họ không có chỗ làm</small>

<small>mà thức dậy đề làm việc và họ khơng có tự do, khơng có khoảng khơng gian</small>

<small>riêng tư [Arat Koc, S. 2001].</small>

<small>Trong phân tích của mình Arat Koc cũng đã bình luận người LDGVGD</small>

<small>khơng phải là chủ nhà và họ cũng không phải là người lao động với các quyền</small>tương ứng. Họ làm việc nhà nhưng không tham gia những buồn vui và sự thân<small>thiện của ngôi nhà ấy. Họ là người sống trong gia đình nhưng khơng phải là ngườicủa gia đình đó. Da số người làm LĐGVGĐ là phụ nữ, họ ở những độ tuôi khác</small>nhau. Ngôi nhà vốn được coi là lãnh địa của phụ nữ và việc nhà cũng vốn được<small>coi là việc của phụ nữ nhưng điều khác biệt là “họ chăng phải là vợ cũng chắngphải là người lao động” trong ngôi nhà ấy [Arat Koc, S. 2001].</small>

<small>Tác giả Đặng Bích Thủy đã nghiên cứu về điều kiện sống và làm việc</small>

<small>của trẻ em gái từ nông thôn ra Hà Nội làm GVGD vào năm 2001. Nghiên cứu</small>

đã cho thấy lý do chủ yéu dẫn tới các em gái nông thôn ra Hà Nội làm nghềGVGĐ là do điều kiện gia đình khó khăn về kinh tế, một số em do chán học,

<small>29</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

<small>học kém hay tò mò muốn xem cuộc sống ở Hà Nội như thế nào. Bên cạnh đó,nghiên cứu này cũng xem xét điều kiện làm việc của trẻ em làm GVGD và</small>

<small>cho thấy điều kiện làm việc rất khó khăn, hầu như các em phải làm việc trongtình trạng căng thang cả về thé xác lẫn tinh thần, với khoảng 12 - 14 tiếng lao</small>động/ngày. Tiền công nhận được tùy theo công việc của mỗi em và điều kiệnlao động chủ yếu chỉ được thỏa thuận băng miệng giữa người thuê lao độngvới người lao động. Các em ln cảm thấy thiếu thốn tình cảm của người<small>thân, cha mẹ và khơng có bạn bè cùng lứa để chia sẻ hoặc vui chơi do phảisống trong mơi trường khép kín. Đây là một thiệt thịi rất lớn đối với các em</small>và nó cũng là một điểm bat lợi đối với sự hình thành và phát triển tâm lý của<small>các em sau này. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu này đã đưa ra những</small>

kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức về quyền trẻ em và tuyên truyền sâu rộng

các điều luật có liên quan để đảm bảo quyền trẻ em, đồng thời Nhà nước cũngcần hỗ trợ việc làm cho các gia đình có hồn cảnh đặc biệt khó khăn. [Đặng

<small>Bích Thủy, 2001]</small>

<small>Trong nghiên cứu “Làn sóng phụ nữ nơng thơn ra thành thị làm giúp</small>

việc gia đình” (2007), tác giả Dương Kim Hồng đã phan nao phan ánh đượcmột số khía cạnh của hoạt động giúp việc gia đình ở hai thành phố lớn là Hà<small>Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đã phân tích về mơi trường làm</small>

<small>việc của LDGVGD. Theo đó, người lao động ở ngay trong nhà cua gia chủ va</small>

<small>người lao động thuê nhà trọ ở ngoài là hai hình thức cơ bản của loại hình</small>

LDGVGD. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là chi lay ý kiến của

<small>những người chủ hộ gia đình có th người giúp việc mà không thực hiện</small>

<small>phỏng vẫn sâu LĐGVGĐ để phản ánh trực tiếp tâm trạng, hoàn cảnh cũngnhư tâm tư nguyện vọng của họ [Dương Kim Hồng, 2007].</small>

Nghiên cứu “Hiện trạng công việc và đời sống của nữ nhập cư làmgiúp việc nhà tại thành phố Hồ Chí Minh” (2009) của tác giả Đào Bich Hà cóđối tượng nghiên cứu là người lao động trên 18 tuổi di cư từ nông thôn đến

<small>30</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

<small>thành phố Hồ Chí Minh làm cơng việc giúp việc gia đình. Tác giả đã sử dụngphương pháp nghiên cứu định tính, với 15 cuộc phỏng vấn sâu, để thu thậpthông tin nhằm phản ánh thực trạng LDGVGD hiện nay ở thành phố Hồ Chí</small>

<small>Minh [Đào Bích Hà, 2009].</small>

Theo nghiên cứu này, đa số người giúp việc đều khơng hài lịng về thờigian làm việc nặng nhọc, cảm giác bị gị bó, thiếu tự đo và chịu sự kiểm sốtcủa gia chủ. Ngồi ra, người nữ di cư còn phải chấp nhận sự xa cách gia đình,khơng thể chăm sóc con cái và liên hệ xã hội với bạn bè, người thân. Tuy

<small>phạm vi nghiên cứu đã được mở rộng hơn so với nghiên cứu của tác giả Lê</small>

<small>Việt Nga đã được đề cập ở trên, nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra được nhữnggiải pháp thiết thực, cụ thể nhằm giải quyết những tồn đọng trên [Lê Việt</small>

<small>Nga, 2006].</small>

Trong nghiên cứu “Việc làm đối với lao động giúp việc gia đình”, doTổ chức lao động quốc tế (ILO), Bộ LĐTB&XH và Viện Gia đình và Giới,thực hiện năm 2011 cũng cho thấy hành vi bạo lực phổ biến nhất với<small>LĐGVGĐ là “mắng chửi”. Nữ giới bị “cắm tiếp xúc”, bị “đe dọa” nhiều hơn,</small>cịn nam giới có nhiều nguy cơ trong việc “bị giữ giấy tờ tùy thân” [ILO, Bộ

<small>LDTB&XH và Viện Gia đình và Giới, 2011].</small>

Báo cáo nghiên cứu “Giá trị kinh tế của lao động giúp việc gia đình vớigia đình và xã hội”, do GFCD thực hiện năm 2014 đã cho thấy hầu hếtLDGVGD khơng có hợp đồng lao động, khơng tham gia BHXH và đa phầnkhơng có BHYT. Tình trạng phải làm việc khơng đúng với thỏa thuận ban đầu,<small>thời gian làm việc kéo dài hay tình trang bi mắng chửi, lăng mạ, tát, đánh, quayrồi tình duc còn xảy ra ở một số bộ phận LDGVGD [GECD, 2013b].</small>

<small>1.3. Một số nghiên cứu về yếu to ảnh hưởng đến lao động giúp việc gia đình</small>

<small>Nghiên cứu của Philip N.Cohen năm 1993 tại Mỹ về việc thay thế côngviệc nhà trong nên kinh tế dịch vụ đã chỉ ra rằng việc sử dụng dịch vụ GVGD</small>

<small>và việc các gia đình đi ăn bên ngồi đã giúp người phụ nữ giảm bớt gánh nặng</small>

<small>31</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<small>công việc nhà. Theo tác giả, vi trí của người phụ nữ trong hôn nhân (vi dụ:</small>

<small>thu nhập, nghề nghiệp) và địa vị kinh tế - xã hội của gia đình (vi dụ như mức</small>

sống, chủng tộc, thu nhập, nghề nghiệp, trình độ học vẫn của người chồng) có tác

động lớn đối với việc sử dụng dịch vụ GVGD. Nghiên cứu đã chi ra nhu cầu sử

<small>dụng dịch vụ GVGD và đi ăn bên ngồi của những gia đình có người phụ nữ có</small>

địa vị và vi thé kinh tế - xã hội cao sẽ cao hon [Philip N. Cohen, 1998].

Tại Thái Lan, Viện nghiên cứu dân số và xã hội, Đại học Mahidol, đãcông bố một báo cáo khảo sát thực hiện năm 2007, trong đó khang định sự<small>tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, trong hơn 30 năm qua được xem là nguyênnhân chính làm gia tăng mạnh số lượng hộ gia đình có nhu cầu thLĐGVGĐ tại nước này. Vào thời điểm những năm 1980, đa phan hộ gia đình</small>có nhu cầu có thể tìm kiếm LDGVGD trong nước. Tuy nhiên, nguồn cungLĐGVGĐ là người Thái giảm mạnh vào những năm 1990. Sự phát triển kinhtế của Thái Lan đã tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động phổthông trong nước. Lực lượng lao động phổ thông trong nước có nhiều cơ hội

<small>lựa chọn cơng việc tại các nhà máy, xí nghiệp liên doanh với nước ngồi thayvì cơng việc LDGVGD như trước đây [Ngơ Thị Ngọc Anh, 2010].</small>

<small>Nghiên cứu này cũng cho thấy chính sự thiếu hụt nguồn cung lao động</small>trong nước đã thu hút lực lượng lao động nữ từ các nước láng giềng như

<small>Myanma, Lào và Campuchia di cư sang Thái Lan làm công việc LDGVGD.</small>

<small>Trong những năm gần đây, trong làn sóng di cư đó, có thêm lực lượng lao</small>động đến từ Việt Nam. Theo ước tính, hiện có khoảng vài trăm ngàn phụ nữ<small>giúp việc gia đình tại Thái Lan là người nước ngoài. Đến năm 1998, nghề</small>

<small>LĐGVGĐ đã được đưa vào bộ Luật lao động của Thái Lan và những người</small>

<small>LĐGVGĐ là công dân Thái Lan được bảo vệ các quyên lợi đành cho người</small>

<small>lao động. Tuy nhiên, Bộ luật này chưa bảo vệ cho người LDGVGD là người</small>

nước ngồi. Chính vi thế, hiện tượng đối xử tàn tệ, xâm phạm thân thé hay<small>lạm dụng tình dục đối với phụ nữ nước ngoài làm GVGD được chia sẻ khá</small>

<small>32</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

phơ biến trên báo chí và bởi các tổ chức phi chính phủ tại Thái Lan [Ngơ Thị

<small>Ngọc Anh, 2010].</small>

<small>Trong nghiên cứu - trao đôi về “Van dé trẻ em gái giúp việc gia đìnhtại các thành phố lớn” của tác giả Chu Mạnh Hùng (2005) cũng chỉ ra rằng</small>trẻ em gái ở nông thôn đi giúp việc không chỉ đơn thuần mang tính kinh tế màcả yếu tố văn hóa va tâm ly xã hội. Những yếu tố này tạo nên động cơ laođộng giúp việc trẻ em gái trở thành nguồn cung ứng lao động cho thị trườngLDGVGD. Đối với các gia đình có nhu cầu sử dụng trẻ em gái GVGD, bên<small>cạnh việc cân nhắc đến giá cả, cịn vì lý do trẻ em gái thường dễ ni, ít 6m</small>đau, nhanh nhẹn và dé sai bảo hơn người già. Đây là lý do dé họ tìm người<small>giúp việc là trẻ em gái dưới 18 tuổi. Tác giả từ những phân tích cụ thể đã đưa</small>ra được một số giải pháp về phương diện pháp lý, về nâng cao ý thức tự

<small>giác.... Tuy nhiên, những giải pháp này cịn mang tính hình thức, chưa đi sâu</small>

giải quyết cụ thé van đề. Nhưng nghiên cứu của tác giả là tư liệu cũng nhưđưa ra những thực trạng rất q giá góp phần cũng cấp những thơng tin bé ích

<small>cho luận án [Chu Mạnh Hùng, 2005].</small>

Nghiên cứu có tiêu đề “Người làm thuê việc nhà và tác động của họ đếngia đình thời kỳ đổi mới kinh tế xã hội” của tác giả Mai Huy Bích thực hiệnnăm 2004 đã đưa ra một số phát hiện quan trọng. Khi phân tích mối quan hệ

giữa cung — cầu lao động, tác giả đã nhận thấy cơng việc nhà có giá trị về<small>kinh tế thông qua thu nhập của người lao động. Nghiên cứu này cũng khang</small>

<small>định làm công việc nhà không phải trách nhiệm đương nhiên của phụ nữ tronggia đình. Khi người phụ nữ làm việc nhà mà khơng được trả cơng thì có nghĩa</small>

<small>là họ dang hy sinh và cống hiến. Việc thuê người làm việc nha sẽ giảm bớtgánh nặng cho gia chủ vì thế dịch vụ này vừa phải trả giá bằng tiền mặt vừa</small>

<small>phải có sự chia sẻ nội bộ giới nữ và giữa nam và nữ trong gia đình nói chung</small>

<small>[Mai Huy Bich, 2004].</small>

<small>33</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

Nghiên cứu: “Nhu cầu dịch vụ gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ”<small>đã được thực hiện bởi Viện khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em năm 2005 tạimột số tỉnh gồm: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Lang Son, Hịa Binh, Lâm</small>

Đồng, Phú Thọ, Nghệ An, Khánh Hòa, Kiên Giang, từ tháng 3/2003 — tháng

5/2005. Nghiên cứu này đã phân tích và chỉ ra tính tất yếu của việc phát triểnloại hình dịch vụ GVGD ở nước ta hiện nay. Đồng thời, phân tích những điềukiện thuận lợi và cản trở đối với việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ GVGD. Nghiêncứu cũng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ GVGĐ, góp<small>phan cải thiện mức sống và chất lượng cuộc sông của người dân trong giai đoạnhội nhập kinh tế khu vực và quốc tế [Ngô Thị Ngọc Anh, 2010].</small>

<small>Tác giả Lê Việt Nga trong nghiên cứu về “Tac động của dịch vụ giúp</small>

<small>việc tới gia đình” được thực hiện năm 2006 với phạm vi nghiên cứu là</small>

phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Tác giả đã thu thập thông tin từ cảba đối tượng có liên quan trực tiếp đến hoạt động GVGD là: Người lao động,người sử dụng lao động và người làm nghề môi giới hoạt động GVGĐ.<small>Nghiên cứu bàn về nhu cầu thuê GVGD và cho thấy nhu cầu thuê người giúp</small>việc hiện nay ở Hà Nội là rất lớn, đồng nghĩa với những tác động không nhỏcủa việc thuê người giúp việc tới cuộc sống của gia đình sử dụng dịch vụ.<small>Đồng thời, nghiên cứu cũng nêu lên một số khó khăn, trở ngại của các bênnhư chất lượng làm việc của người lao động chưa cao, chưa đáp ứng được yêu</small>

cầu của người sử dụng lao động [Lê Việt Nga, 2006].

<small>Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Lê Việt Nga chỉ dựa trên một quy mô</small>

<small>mẫu nghiên cứu khá nhỏ bao gồm 20 người giúp việc, 20 người thuê người</small>

<small>giúp việc và 5 cán bộ giới thiệu việc làm trong phạm vi phường Kim Liên.</small>

<small>Bài nghiên cứu cũng chỉ khai thác được một số khía cạnh của hoạt động</small>GVGĐ do phạm vi nghiên cứu chưa rộng và cũng chưa dé ra được nhiều giải<small>pháp thiết thực khắc phục tình trạng này.</small>

<small>34</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

<small>Theo kết qua nghiên cứu “Trẻ em giúp việc gia đình ở Hà Nội” do Tô</small>chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển và Viện Gia đình và Giới, thực hiện từ tháng 7<small>năm 2004 đến tháng 2 năm 2005, tại 6 xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, Thanh Hóa,và 03 phường thuộc Hà Nội, đã tập trung làm rõ đặc điểm của gia đình có</small>người đi làm GVGĐ. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những ngun nhântừ góc độ gia đình khiến cho trẻ em phải đi làm GVGĐ. Đồng thời, tìm hiểumong muốn của gia đình có trẻ em đi làm cơng việc GVGD va cho thấy cógần 70% gia đình có con đang đi làm GVGD cho biết họ khơng có dự định<small>cho con làm việc lâu dài ở Hà Nội [Tô chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển và</small>

<small>Viện Gia đình và Giới, 2004].</small>

<small>Khi phân tích về đặc điểm của gia đình thuê trẻ em làm GVGD, nghiên</small>cứu này đã chỉ ra nhu cầu thuê trẻ em làm giúp việc là rất lớn. Tuy nhiên, cácgia đình thuê trẻ em làm GVGD thường phải dành nhiều thời gian và công<small>sức sức dé đào tạo, hướng dẫn cho trẻ em cách thức thực hiện cơng việc. Các</small>gia đình chủ yếu tìm kiếm nguồn lao động thông qua người thân, họ hang hay

<small>bạn bè. Mặc dù môi trường làm việc của trẻ em đã được cải thiện, tuy nhiên,</small>

<small>theo nghiên cứu này môi trường làm việc vẫn mang tính gị bó, khép kín và ít</small>

<small>giao tiếp. Trẻ em thường gặp khó khăn trong việc thỏa thuận về mức tiền</small>lương và điều kiện làm việc. Trẻ em thường phải tự chịu đựng khi gặp khó<small>khăn do các em ít nhận được sự giúp đỡ từ chính quyền địa phương và các tổ</small>chức mơi giới. Từ các phát hiện của nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một SỐkhuyến nghị về biện pháp can thiệp nhằm giảm bớt khó khăn cho trẻ em làm<small>GVGD va đề xuất đây mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức đốivới van đề trẻ em làm GVGD [Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điền và Viện Gia</small>

<small>đình và Giới, 2004].</small>

Báo cáo nghiên cứu “Giá trị kinh tế của lao động giúp việc gia đình

<small>với gia đình và xã hội” của Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình va Phat</small>

<small>triển cộng đồng (GFCD) thực hiện năm 2013 cho thấy mặc dù Nghị định</small>

<small>35</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

<small>27/2014/NĐ-CP quy định chỉ tiết một số điều của Bộ luật Lao động 2012 vềLĐGVGĐ, nhưng công tác quan lý nhà nước đối với LDGVGD van còn bỏ</small>ngỏ. Mặc dù phải đối mặt với nhiều rủi ro và chưa được bảo vệ bởi pháp luật,<small>nhưng người lao động vẫn tham gia thị trường này với lý do cần thu nhập cho</small>

<small>bản thân và gia đình. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng nhưng việc đo lường giá</small>

trị kinh tế của LĐGVGĐ là rất khó khăn và chỉ mang tính chất tương đối, sốliệu thống kê cịn mỏng và hạn chế. Vì thế những tính tốn về giá trị kinh tếcủa LĐGVGĐ đối với xã hội chưa đầy đủ như mong đợi [GECD, 2013b].

<small>Báo cáo “Rà sốt pháp luật, chính sách, nghiên cứu quốc tế và Việt</small>Nam liên quan đến lao động giúp việc gia đình” (2013) của GFCD cũng đã<small>tổng hợp những điểm mạnh, hạn chế trong hệ thống chính sách, pháp luật, các</small>

<small>mơ hình hỗ trợ LĐGVGĐ, q trình rà sốt các văn bản, tài liệu của báo cáo về</small>GVGD cho thấy một số van đề. Thứ nhất, sự thiếu văng khung pháp lý hoặc<small>khung pháp lý hiện có chưa đủ mạnh để giúp việc gia đình vận hành trong hệ</small>thống văn bản pháp luật của các quốc gia. LDGVGD chưa phải là đối tượng điều<small>chỉnh trong pháp luật về lao động tại một số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản,</small>

Hàn Quốc. Tại một số nước khác như Dai Loan, Philippines, LDGVGD được

<small>diéu chinh trong luat vé lao động việc lam nhưng lại bị loại trừ khỏi một SỐ quyđịnh như giờ làm việc, ngày nghỉ, nghỉ thai sản. Thứ hai, chưa có hệ thống đữ liệu</small>về LDGVGD bởi khơng có cơ quan quản lý người LĐGVGĐ hoặc cơ quan quan<small>lý lao động. Ngay tại Việt Nam, việc đăng ký tạm trú cho người GVGD sống</small>cùng hộ gia đình cũng chưa được các hộ gia đình thực hiện đầy đủ, nghiêm túc<small>dẫn đến việc quản ly gặp nhiều khó khăn. Thứ ba, nghiên cứu về GVGD đã cónhưng chưa tồn diện. Thứ tư, chưa có tơ chức hỗ trợ người giúp việc gia đình tại</small>

<small>Việt Nam [GFCD, 2013a].</small>

<small>Nghiên cứu “7z em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội” của nhóm tac</small>

<small>giả Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh thực hiện (Năm 2000) cũng đã phân</small>

tích các yếu tố thúc day trẻ em tham gia thị trường LDGVGD. Trong đó,

<small>36</small>

</div>

×