Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (211.38 KB, 16 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>1.1. Vài nét khái quát về yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo...1</b>
<b>1.2. Vài nét khái quát về hoạt động xây dựng pháp luật...5</b>
<b>2. Tác động của yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo đến hoạt động xâydựng pháp luật nói chung và trong lĩnh vực dân sự nói riêng...6</b>
<b>2.1. Tác động của yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo đến hoạt động xây dựng pháp luật...6</b>
<b>2.2. Tác động của yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo đến hoạt động xây dựng pháp luật trong lĩnh vực dân sự...7</b>
<b>3. Một số kiến nghị hoàn thiện mối quan hệ giữa yếu tố phong tục tập quán, đạođức, tôn giáo đến hoạt động xây dựng pháp luật dân sự...10</b>
<b>KẾT LUẬN...10</b>
<b>PHỤ LỤC...11</b>
<b>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...14</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>BẢNG DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT</b>
<b>BLDS Bộ luật Dân sự</b>
<b>BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sựLuật HN&GĐ Luật Hơn nhân và gia đình</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>MỞ ĐẦU</b>
Trong thực tiễn, con người thường xuyên thực hiện các hành vi xã hội nào đó nhằmđạt được hoặc thỏa mãn những nguyện vọng, nhu cầu hay lợi ích nhất định. Hành vi của họtrên thực tế chủ yếu là những hành vi có tính chất dân sự và được điều chỉnh bởi các quyphạm pháp luật dân sự. Tuy nhiên, bên cạnh những quy phạm pháp luật đó thì hành vi củamỗi cá nhân trong xã hội khi tham gia quan hệ dân sự còn tuân theo chuẩn mực phong tụctập quán, đạo đức, tôn giáo - những loại chuẩn mực xã hội có vị trí, vai trị quan trọng trongđời sống. Chính vì lẽ đó mà các chuẩn mực nêu trên và hoạt động xây dựng pháp luật nóichung, pháp luật dân sự nói riêng có mối quan hệ với nhau và đều nhằm điều chỉnh hành vicủa con người.
Để tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về sự tác động giữa yếu tố/chuẩn mực phong tục tậpquán, đạo đức, tôn giáo đối với hoạt động xây dựng pháp luật và vận dụng trong chuyênngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự định hướng nghiên cứu, tơi lựa chọn đề tài tiểu luận
<i><b>số 02: “Phân tích các yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo tác động đến hoạtđộng xây dựng pháp luật, vận dụng phân tích về hoạt động xây dựng pháp luật tronglĩnh vực dân sự chuyên ngành Anh (Chị) nghiên cứu”. Phạm vi bài viết nhằm làm rõ một</b></i>
số vấn đề lý luận, phân tích sự tác động của các chuẩn mực nêu trên đối với hoạt động xâydựng pháp luật nói chung, lĩnh vực dân sự nói riêng (pháp luật dân sự được hiểu theo nghĩarộng bao gồm quy định trong BLDS và quy định tại các chuyên ngành “phân nhánh” khácnhư Luật HN&GĐ; BLTTDS hiện hành) và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện mối quanhệ giữa các chuẩn mực nêu trên với pháp luật chuyên ngành.
Bài tiểu luận được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan vàkiến thức cá nhân nên khó tránh khỏi một số thiếu sót, tơi kính mong nhận được những ýkiến đóng góp của thầy, cơ giáo để bài luận được hồn thiện hơn. Trân trọng!
Dưới đây bài luận sẽ đưa ra vài nét khái quát về yếu tố phong tục tập quán, đạo đức,tôn giáo và hoạt động xây dựng pháp luật.
<b>1.1. Vài nét khái quát về yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáoa. Yếu tố phong tục tập quán</b>
<i><b>*Khái niệm yếu tố (chuẩn mực) phong tục tập quán </b></i>
<small>1</small><i><small> Tham khảo: TS. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Hồng Đức, tr. 61 – 63 (Tài liệu PDF).</small></i>
<small>1</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Dưới phương diện ngữ nghĩa thì “phong tục” là thuật ngữ ghép đôi giữa “phong” lànền nếp đã được lan truyền, phổ biến rộng rãi; “tục” là những thói quen, nếp sống lâu đời.Như vậy, về mặt ngữ nghĩa, phong tục là những thói quen, nền nếp lâu đời đã được lantruyền, phổ biến rộng rãi trên phạm vi toàn xã hội hay trong một cộng đồng xã hội, mộtnhóm xã hội nhất định. “Tập quán” là những quy ước, quy tắc giao tiếp, ứng xử giữa các cánhân với nhau, cá nhân với cộng đồng xã hội hoặc giữa các cộng đồng xã hội với nhau trongcuộc sống, sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt xã hội, được lặp đi, lặp lại nhiều lần, trở thànhthói quan, nền nếp của cộng đồng người<small>2</small>. Bên cạnh đó, xem xét dưới góc độ là một loại quyphạm xã hội rất gần gũi với con người thì: “phong tục” được hiểu là thói quen phổ biến<small>3</small>, đãăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo; “tập quán” cũng là thóiquen, đó là những cách ứng xử đã trở nên quen thuộc, khó thay đổi, thành nếp sống trongđời sống xã hội được mọi người công nhận và làm theo<small>4</small>. Cả phong tục và tập qn đều cóq trình hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài về mặt lịch sử, đều phản ánh các mặt, cáckhía cạnh trong hoạt động giao tiếp, sinh hoạt của các cộng đồng người dưới dạng thóiquen, nền nếp. Giữa phong tục và tập quán nhiều khi không thể phân biệt được rõ ràng nênthường được sử dụng song hành, tạo thành thuật ngữ “phong tục tập quán”.
Quá trình hình thành và phát triển của phong tục, tập qn là q trình biến đổikhơng ngừng cùng với sự biến đổi của văn hóa - xã hội qua các thời kì lịch sử, bản thânphong tục, tập quán cũng nằm trong cuộc đấu tranh xã hội giữa cái cũ và cái mới. Đó là qtrình hình thành, biến đổi của các chuẩn mực phong tục, tập quán. Do vậy, khái niệm chuẩn
<i>mực/yếu tố phong tục tập quán được hiểu là: Chuẩn mực phong tục, tập quán là hệ thốngcác quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi được xác lập nhằm củng cố những mẫu mực giao tiếp, ứng xửtrong các cộng đồng người, các quy tắc sinh hoạt công cộng lâu đời của con người, đượchình thành qua quá trình lịch sử lặp đi, lặp lại nhiều lần, trở thành thói quen trong laođộng, cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của các cộng đồng xã hội. </i>
<b>*Đặc điểm của yếu tố (chuẩn mực) phong tục tập quán</b>
(i) Đặc điểm là sự thể hiện ý chí chung của một cộng đồng xã hội: Chuẩn mực phongtục, tập quán không phải là ý chí cá nhân đơn lẻ, mà là sự thể hiện ý chí chung của một cộngđồng xã hội, được biểu hiện ra trong hành vi, hoạt động của mỗi thành viên xuất phát từ sựthừa nhận, tôn trọng và tuân thủ quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi chung. Khơng thể nói phong tục,tập qn của cá nhân, mà phải là phong tục, tập quán của cộng đồng người.
(ii) Đặc điểm được hình thành một cách tự phát, được khẳng định dần qua một quá
<i><b>trình lịch sử nhất định: Chuẩn mực phong tục tập quán thường được hình thành một cách tự</b></i>
phát, được khẳng định dần qua một quá trình lịch sử nhất định và gắn liền với các điều kiệnđịa lí, hồn cảnh kinh tế - văn hóa -xã hội nơi cộng đồng xã hội tổ chức hoạt động sống, laođộng, sinh hoạt. Chính vì vậy, chuẩn mực phong tục, tập quán thương ít biến đổi và mang
<i>tính cục bộ. Chính vì vậy, J.J. Rousseau từng nhận xét rằng: “Một khi phong tục ,tập quánđã bắt rễ sâu, muốn thay đổi nó thì thật nguy hiểm và vơ hiệu; dân chúng không chịu nổingay khi người ta động đến những cái xấu xa của họ để giúp họ tiễu trừ cái xấu ấy”. </i>
<i><b>(iii) Đặc điểm có biểu hiện rất đa dạng và phong phú: Chuẩn mực phong tục, tập</b></i>
quán có sự biểu hiện rất đa dạng và phong phú, thường được thể hiện ra trong nề nếp giaotiếp, ứng xử, cách đối nhân xử thế giữa mọi người, trong các sinh hoạt văn hóa - văn nghệ
<small>2</small><i><small> Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2022, tr. 215.</small></i>
<small>3</small><i><small> Phan Ngọc, “Mẹo giải thích từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả”, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 254.</small></i>
<small>4</small><i><small> Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2019, tr. </small></i>
<small>2</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">dân gian, lễ hội cổ truyền, nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng hoặc trong lao động, sản xuất, sinhhoạt của các cộng đồng xã hội.
(iv) Đặc điểm là phương tiện xã hội hóa cá nhân, góp phần giữ gìn và lưu truyền
<i><b>những giá trị văn hóa: Chuẩn mực phong tục, tập quán được coi là các phương tiện xã hội</b></i>
hóa cá nhân, góp phần giữ gìn và lưu truyền những giá trị văn hóa, lối sống, ngơn ngữ,những kinh nghiệm quý báu về lao động, sản xuất, sinh hoạt từ thế hệ này sang thế hệ khác,góp phần củng cố khối đoàn kết bên trong cộng đồng xã hội.
<b>b. Yếu tố đạo đức</b>
<i><b>*Khái niệm yếu tố (chuẩn mực) đạo đức</b></i>
Dưới góc độ là chuẩn mực/yếu tố - lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần, nảy sinh từthực tiễn các quan hệ xã hội giữa con người với nhau thì trong mỗi xã hội, mỗi cộng đồngngười hay mỗi cá nhân có thể giải thích về cái thiện, cái ác, quan niệm về tốt, xấu, lươngtâm, trách nhiệm,…theo những cách khác nhau tùy thuộc vào quan niệm sống của mình;nhưng lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người đã tạo nên những giá trị đạo đức cótính phổ biến, chung cho tất cả mọi người, như công bằng, dũng cảm, vị tha, nhân từ,…Đạođức là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội và là kết tinh của đời sống tinh thần của conngười. Bên cạnh đó, dưới nhiều góc độ khác nhau của khoa học xã hội nói chung, khoa họcpháp lý nói riêng thì “đạo đức” là một khái niệm hết sức phức tạp, nó được hiểu theo nhiềuchiều khác nhau. Trong đời sống hàng ngày, đạo đức thường được đồng nhất với ý thức đạođức cá nhân, đó là đức hạnh, phẩm hạnh của con người, những nét đẹp, nét tốt, những
<i>“phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức xã hội màcó”<small>5</small> hay “đạo đức” không chỉ là những quy tắc đối nhân, xử thế, nó cịn là các chuẩn mực</i>
để mỗi người tự tu thân, dưỡng tâm, rèn luyện tính cách theo những định hướng giá trị nhấtđịnh<small>6</small>. Do đó, đạo đức là công cụ điều chỉnh quan trọng bậc nhất đối với các quan hệ xã hội.Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức mang một dung lượng rất rộng, nó được nhận thức cảtừ góc độ ý thức (ý thức đạo đức xã hội và ý thức đạo đức cá nhân), cả từ góc độ thể chế(nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức), cả từ góc độ thực tiễn (hành vi đạo đức)<small>7</small>.
<i><b>Trên cơ sở tiếp cận các khái niệm về đạo đức, tác giả đồng tình với khái niệm chuẩnmực/yếu tố đạo đức được hiểu như sau: Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu</b></i>
<i>cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quanniệm chung về công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, tráchnhiệm và những phạm trú khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội<small>8</small>. </i>
<i><b>*Đặc điểm của yếu tố (chuẩn mực) đạo đức</b></i>
(i) Chuẩn mực đạo đức là loại chuẩn mực xã hội bất thành văn: Nghĩa là các quy tắc,yêu cầu của nó khơng được ghi chép thành văn bản dưới dạng một “bộ luật đạo đức”, mà nótồn tại dưới hình thức là những giá trị đạo đức, những bài học về luân thường đạo lý, phépđối nhân xử thế giữa con người với nhau trong xã hội.
(ii) Chuẩn mực đạo đức thường được củng cố, giữ gìn và phát huy vai trị, hiệu lựccủa nó thơng qua con đường giáo dục truyền miệng: Đặc điểm này được thể hiện trên thựctiễn rõ nét khi đạo đức được hình thành từ rất sớm, ngay cả khi nhà nước chưa xuất hiện thì
<small>5</small><i><small> Xem: Từ điểm tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 280.</small></i>
<small>6</small><i><small> Xem: Vũ Trọng Dung (chủ biên), Giáo trình Đạo đức học Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2005, tr. 9.</small></i>
<small>7</small><i><small> Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2019, tr. </small></i>
<small>231 – 232. </small>
<small>8</small><i><small> Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2022, tr. 208.</small></i>
<small>3</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">trong xã hội đã hình thành, tồn tại và phát triển những giá trị đạo đức nhất định; đạo đứckhông chỉ được truyền miệng mà cịn thơng qua q trình xã hội hóa cá nhân, lưu truyền từđời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
<i>(iii) Chuẩn mực đạo đức mang tính giai cấp: Tính giai cấp của chuẩn mực đạo đức</i>
mặc dù không thể hiện mạnh mẽ, rõ nét như tính giai cấp của chuẩn mực pháp luật, song,tính giai cấp của chuẩn mực đạo đức thể hiện ở chỗ, nó được sinh ra cũng là nhằm củng cố,bảo vệ hay phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích vật chất, tinh thần của giai cấp này hay giai cấpkhác trong một xã hội nhất định.
(iv) Chuẩn mực đạo đức được đảm bảo tôn trọng và thực hiện trong thực tế xã hội là
<i><b>nhờ vào hai nhóm yếu tố: các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan: Các yếu tố chủ</b></i>
quan bao gồm: những thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày; sự tự nguyện, tự giác
<i>của mỗi con người; sức mạnh nội tâm, sự chi phối bởi lương tâm của mỗi người. Các yếu tốkhách quan bao gồm: sự tác động của thuần phong mĩ tục, hành vi hợp đạo đức của nhữngngười xung quanh và tâm lý bắt chước; sức mạnh của dư luân xã hội trong việc định hướng</i>
và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người.
<b>c. Yếu tố tôn giáo </b>
<b>*Khái niệm yếu tố (chuẩn mực) tôn giáo</b>
Tôn giáo – dưới phương diện là một trong những đối tượng nghiên cứu của xã hộihọc được hiểu là một hệ thống niềm tin về vị trí của cá nhân con người trong thế giới, tạo ramột trật tự cho thế giới đó và tìm kiếm một lí do cho sự tồn tại trong đó. Nó đã ra đời, tồntại từ nhiều thế kỉ trước đây, có ảnh hưởng rất lớn trong các xã hội, ảnh hưởng tới cả cácthiết chế khơng tơn giáo như gia đình, văn hóa, đạo đức, nhà nước,…Một tôn giáo được thểhiện rõ nét qua giáo chủ, giáo hội và giáo lý. Bên cạnh đó, giới khoa học pháp lý xem xétyếu tố tôn giáo trong thuật ngữ “tín điều tơn giáo”, song khi tách “tơn giáo” thì được hiểu làmột khái niệm chung dùng để chỉ giáo lý, giáo luật của các tôn giáo.
<i>Do đó, khái niệm yếu tố/chuẩn mực tơn giáo được hiểu là: Chuẩn mực tôn giáo là hệthống các quy tắc, yêu cầu được xác lập dựa trên những tín điều, giáo lý tôn giáo, nhữngquy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo cùng với các thiết chế tôn giáo (nhà thờ, chùa chiền,thánh đường), được ghi chép và thể hiện trong các bộ sách kinh điển của các dòng tôn giáokhác nhau<small>9</small>. </i>
<i><b>*Đặc điểm của yếu tố (chuẩn mực) tôn giáo</b></i>
(i) Chuẩn mực tôn giáo là loại chuẩn mực xã hội thành văn: Tính chất thành văn củachuẩn mực tôn giáo thể hiện ở các giáo điều, giáo lý, những lời răn dạy được ghi chép trongcác bộ kinh của các tôn giáo khác nhau.
(ii) Chuẩn mực tôn giáo được hình thành xuất phát từ niềm tin thiêng liêng, sâu sắccủa con người vào sức mạnh thần bí của các lực lượng siêu nhiên.
(iii) Các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực tôn giáo được bảo đảm tôn trọng và được
<i>hiện thực hóa trong hành của con người chủ yếu nhờ vào niềm tin tâm linh và cơ chế tâm lý.</i>
(iv) Chuẩn mực tơn giáo có những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực
<i>tới nhân thức, hành vi của con người. Những tác động tích cực thể hiện ở chỗ, chuẩn mực</i>
tôn giáo đề cao tính thiện, phê phán cái ác, định hướng cho hành vi xã hội của con người.
<i>Những tác động tiêu cực, như dễ làm phát sinh nạn cuồng tín, phân biệt chủng tộc, sự kỳ thị</i>
<small>9</small><i><small> Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2022, tr. 201. </small></i>
<small>4</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">dân tộc; nó có thể ru ngủ, làm tê liệt ý chí của con người trước những bất cơng xã hội nơitrần thế.
<b>1.2. Vài nét khái quát về hoạt động xây dựng pháp luậta. Khái niệm hoạt động xây dựng pháp luật</b>
Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản, không thể thiếu của bất kỳnhà nước nào. Ở khía cạnh chính trị, xây dựng pháp luật là hoạt động nhằm thể hiện ý chícủa nhà nước thành pháp luật, cịn ở khía cạnh kỹ thuật pháp lý thì đó là hoạt động sáng tạopháp luật<small>10</small>. Hoạt động xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, thể hiện qtrình nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn các quy luật xã hội và hoạt động này là khâuđầu tiên của quá trình điều chỉnh pháp luật, thông qua xây dựng pháp luật các quy định củapháp luật được đặt ra, sửa đổi hoặc bãi bỏ cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật đốivới các quan hệ xã hội.
Dưới góc độ khoa học pháp lý hiện nay, xây dựng pháp luật, theo nghĩa hẹp là hoạtđộng ban hành pháp luật của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền, còn theonghĩa rộng là hoạt động của tất cả tổ chức và cá nhân (các cơ quan nhà nước, nhà chức tráchcó thẩm quyền, các tổ chức xã hội và các cá nhân trong xã hội) vào quá trình tạo lập phápluật. Tuy nhiên, khi nhìn rộng hơn dưới phương diện xã hội học pháp luật thì hoạt động xâydựng pháp luật còn bao gồm cả các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm thu thập các luậncứ, làm sáng tỏ những cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý liên quan đến văn bản luật đangcần xây dựng, ban hành; tổ chức những hội thảo, hội nghị, lấy ý kiến đóng góp vào dự thảovăn bản luật; theo dõi thực tế áp dụng văn bản luật trong cuộc sống phục vụ việc sửa đổi, bổsung, hoàn thiện văn bản luật cả về mặt nội dung lẫn hình thức diễn đạt, trình bày. Vì vậy,cơng tác hệ thống hóa pháp luật (tập hợp hóa, pháp điển hóa) cũng thuộc nội dung kháiniệm này<small>11</small>.
<b>b. Chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật</b>
Xét về mặt chủ thể, tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật bao gồm không chỉcác cơ quan nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền, mà cịn có các tổ chức chính trị -xã hội, các đoàn thể xã hội được giao những nhiệm vụ thuộc chức năng quản lý nhà nước(như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổchức thành viên khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân có quyền và đượctạo điều kiện tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dựthảo văn bản quy phạm pháp luật<small>12</small>). Nhân dân là chủ thể rộng rãi của hoạt động xây dựng
<b>pháp luật. </b>
<b>c. Quy trình hoạt động xây dựng pháp luật</b>
<i>Giai đoạn thứ nhất, nêu sáng kiến, đề xuất yêu cầu về sự cần thiết phải ban hành một</i>
bộ luật, luật mới hoặc sửa đổi một văn bản pháp luật hiện hành.
<i>Giai đoạn thứ hai, soạn thảo dự án văn bản quy phạm pháp luật theo sáng kiến đã</i>
được thông qua.
<i>Giai đoạn thứ ba, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, thảo luận và thông</i>
qua dự án luật.
<small>10</small><i><small> Xem: Hệ thống pháp luật Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nxb. Hồng </small></i>
<small>Đức, H. 2012, tr. 7. </small>
<small>11</small><i><small> Tham khảo: TS. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Hồng Đức, tr. 276 (Tài liệu PDF).</small></i>
<small>12 Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2020.</small>
<small>5</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><i>Giai đoạn thứ tư, công bố văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.</i>
<b>2. Tác động của yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo đến hoạt động xây dựng pháp luật nói chung và trong lĩnh vực dân sự nói riêng</b>
<b>2.1. Tác động của yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo đến hoạt động xây dựng pháp luật</b>
<b>a. Tác động của yếu tố phong tục tập quán đến hoạt động xây dựng pháp luật</b>
Nhìn chung, chuẩn mực phong tục tập quán và pháp luật có mối quan hệ hữu cơ vớinhau. Do gắn bó chặt chẽ với những thói quen, nếp sống của các cộng đồng xã hội nênchuẩn mực phong tục tập quán được coi là các quy tắc xử sự chung, điêu chỉnh các quan hệxã hội ngay từ khi trong xã hội còn chưa xuất hiện nhà nước và pháp luật. Tác động của yếutố phong tục tập quán đến hoạt động xây dựng pháp luật được thể hiện ở chỗ Nhà nướctrong quá trình thực hiện hoạt động này đã và mong muốn tìm cách vận dụng phong tục, tậpquán để phục vụ cho lợi ích của mình, thay đổi nội dung cho phù hợp, thừa nhận và nâng
<i>cấp chúng thành các quy phạm pháp luật hoặc coi chúng là tập quán pháp. Như vậy, chuẩnmực phong tục tập quán là một nguồn quan trọng để hình thành pháp luật. Mặt khác, chuẩn</i>
mực phong tục tập quán là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội, được các thànhviên của nó thừa nhận, tuân thủ và thực hiện một các tự nguyện – một trong những nhân tố
<i>tạo nên sự đồng thuận xã hội, với ý nghĩa đó, chuẩn mực phong tục tập quán góp phần quantrọng trong việc đưa pháp luật vào đời sống cộng đồng xã hội một cách thuận lợi. Pháp luật</i>
cũng có tác động quan trọng đối với chuẩn mực phong tục tập quán: (i) pháp luật có thể gópphần củng cố, khẳng định, phát huy các phong tục, tập quán; hoặc (ii) ngược lại, có thể canthiệp, cưỡng bức để loại bỏ chúng ra khỏi đời sống cộng đồng.
Trong thực tiễn, yếu tố phong tục tập quán cũng được xác định là một trong nhữngyếu tố văn hóa quan trọng có ảnh hưởng đến xây dựng chính sách, pháp luật phát triển vùngđồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, bởi lẽ do đặc thù là một quốc gia đa dân tộc, yếu tốphong tục tập quán trong hoạt động xây dựng pháp luật được Nhà nước quan tâm do phongtục tập quán có ảnh hưởng đến nhận thức chung về thế giới quan và chịu ràng buộc bởi cácquy định của chuẩn mực này - ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi của mỗi con người, quyđịnh lại những suy nghĩ, hành vi của họ. Từ đó, tạo nên tâm lý xã hội cộng đồng và chuyểnhóa cao hơn thành ý thức hệ của một dân tộc, thành thượng tầng kiến trúc của dân tộc, đó làtư tưởng<small>13</small>.
<b>b. Tác động của yếu tố đạo đức đến hoạt động xây dựng pháp luật</b>
Đạo đức và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mối quan hệ này được khái
<i>quát như sau: Pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật đối đa. Theo đó, mối</i>
quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật là mối quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ lẫnnhau và bổ sung cho nhau trong quá trình điều chỉnh hành vi của con người. Tác động củađạo đức được biểu hiện rõ nét khi chuẩn mực này là một trong những “nguồn” của hoạtđộng xây dựng pháp luật khi các quy phạm đạo đức được “cụ thể hóa” thành quy định phápluật. Hoạt động xây dựng pháp luật cũng có những tác động ngược trở lại đối với đạo đứckhi ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, song cũng có thể loại bỏ các chuẩn mực đạo đức đã lỗithời, cải tạo các chuẩn mực đạo đức, góp phần tạo nên những chuẩn mực đạo đức mới, phùhợp hơn với tiến bộ xã hội.
<small>13</small><i><small> Nguyễn Thị Vân Hà – Trần Thị Cẩm Tú, “Các yếu tố tác động đến xây dựng chính sách, pháp luật phát triển vùng </small></i>
<i><small>đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, ngày đăng 24/07/2020, link tham khảo: </small></i>
<i><small> (truy cập ngày 01/5/2024). </small></i>
<small>6</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><b>c. Tác động của yếu tố tôn giáo đến hoạt động xây dựng pháp luật</b>
Trong mối quan hệ giữa tơn giáo và pháp luật, chuẩn mực tơn giáo có ảnh hưởng đếnhoạt động xây dựng pháp luật được thể hiện ở chỗ, quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo, củacông dân và một số chuẩn mực tôn giáo phù hợp góp phần hình thành trực tiếp các quyphạm pháp luật thành văn về quyền và nghĩa vụ mà người có tín ngưỡng, tơn giáo được thựchiện hoặc phải tn thủ. Bên cạnh đó, trong q trình xây dựng pháp luật, Nhà nước cũngnêu rõ quan điểm đấu tranh, bài trừ và đưa ra các chế tài phù hợp đối với hành vi đội lốt tôngiáo để gây ảnh hưởng đến chính quyền nhân dân, hành nghề mê tín dị đoan.
<b>2.2. Tác động của yếu tố phong tục tập quán, đạo đức, tôn giáo đến hoạt động xây dựng pháp luật trong lĩnh vực dân sự</b>
<b>a. Tác động của yếu tố phong tục tập quán đến hoạt động xây dựng pháp luật tronglĩnh vực dân sự</b>
Trong hoạt động xây dựng pháp luật dân sự, điều thể hiện rõ nét nhất về sự tác độngcủa chuẩn mực phong tục tập qn đến lĩnh vực này đó là: Trong q trình xây dựng dựthảo BLDS năm 2015 vẫn tiếp tục kế thừa, phát huy các quy định liên quan đến áp dụng tậpquán trong BLDS năm 2005; đồng thời, tại thời điểm trình dự thảo BLDS năm 2015 cũngchỉ rõ: Bộ luật phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển các giá trị tập quán tốt đẹp của ViệtNam; làm rõ phạm vi pháp luật được chọn (pháp luật của một quốc gia, bao gồm tập quánđược pháp luật thừa nhận).
<b>*Chuẩn mực phong tục, tập quán là một nguồn quan trọng để hình thành phápluật dân sự: J.J. Rousseau từng nhận xét rằng, luật dân sự là nhằm điều chỉnh mối quan hệ</b>
giữa các thành viên với nhau, hoặc giữa các thành viên với toàn bộ cơ thể xã hội, cùng vớiđó, ơng nhận thấy rằng: “phong tục tập quán, nói chung là dư luận nhân dân là một loại luậtthứ tư quan trọng hơn cả. Luật này không khắc lên đá, lên đồng, mà khắc vào lịng cơngdân, tạo nên hiến pháp chân chính của quốc gia…”<small>14</small>. Và dựa vào phương diện pháp lí cũngnhư thực tiễn, có thể thấy rằng, chuẩn mực phong tục, tập quán là nguồn quan trọng củapháp luật dân sự, thuật ngữ thể hiện loại nguồn này là “tập quán pháp” và đã được quy định
<i><b>tại Điều 5 - “Áp dụng tập quán pháp” trong BLDS năm 2015 như sau: “1. Tập quán là</b></i>
<i>quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhântrong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời giandài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư</i>
<i><b>hoặc trong một lĩnh vực dân sự. 2. Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật</b></i>
<i>khơng quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái vớicác nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”.</i>
<i>Không chỉ vậy, BLTTDS năm 2015 đưa ra nguyên tắc áp dụng tập quán tại khoản 1Điều 45 như sau: “Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợpcác bên khơng có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Tập quán không được trái vớicác nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự. Khiyêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầuTòa án xem xét áp dụng. Tịa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảođảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự. Trường hợp các đương sự viện dẫn cáctập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phátsinh vụ việc dân sự”.</i>
<small>14</small><i><small> Jean - Jacques Rousseau (Hoàng Thanh Đạm dịch), Bàn về khế ước xã hội, Nxb. Thế giới, tr. 128,129.</small></i>
<small>7</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Thấy rằng, ngoại trừ một số quy định viện dẫn nêu trên thì những văn bản pháp luậttrong hệ thống pháp luật dân sự đều đưa ra quy định mang tính chất khẳng định phong tục,tập quán là một nguồn để giải quyết một số vấn đề mang tính chất cộng đồng, nhóm xã hộimà pháp luật chưa bao quát được. Và pháp luật dân sự ngày càng được hình thành và pháttriển thì việc Nhà nước tìm cách vận dụng, thay đổi nội dung của phong tục, tập quán đểchúng thành các quy phạm pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự phù hợp là góp phần“luật hóa phong tục, tập quán”, từ đó quy định được luật hóa sẽ nhanh chóng được thừa
<i>nhận và làm theo trong đời sống xã hội.</i>
<b>*Chuẩn mực phong tục, tập quán góp phần quan trọng đưa pháp luật dân sự</b>
<i><b>vào đời sống cộng đồng xã hội một cách thuận lợi: Chuẩn mực phong tục, tập quán là sự</b></i>
thể hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội, được các thành viên của nó thừa nhận, tuân thủvà thực hiện một cách tự nguyện. Nó là một trong những nhân tố tạo nên sự đồng thuận xãhội. Với ý nghĩa đó, chuẩn mực phong tục, tập quán góp phần quan trọng đưa pháp luật dânsự vào đời sống cộng đồng xã hội một cách thuận lợi. Với ưu thế gần gũi với đời sống cộngđồng, được cả cộng đồng hoặc nhóm xã hội thừa nhận, hình thức thể hiện lại đơn giản, cụthể, dễ tác động vào nhận thức con người,… nhiều phong tục, tập quán có nội dung phù hợpvới pháp luật dân sự, có thể được vận dụng để bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật dân sự, nhất làđối với những địa bàn, những lĩnh vực mà pháp luật không thể vươn tới.
<b>*Tác động trở lại của pháp luật dân sự đối với yếu tố phong tục tập quán: Pháp</b>
luật dân sự tác động trở lại đối với phong tục tập quán được thể hiện như sau: (i) Pháp luậtdân sự phát huy những phong tục, tập quán có giá trị truyền thống, mang tính nhân văn; (ii)Pháp luật dân sự trực tiếp ghi nhận trong các điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật;(iii) Pháp luật dân sự đưa ra nguyên tắc áp dụng đối với trường hợp cụ thể; (iv) Pháp luậtdân sự loại trừ những phong tục, tập quán lạc hậu, cản trở sự tiến bộ của xã hội.
<b>*Liên hệ thực tiễn tác động của yếu tố phong tục tập quán đến hoạt động xâydựng pháp luật trong lĩnh vực dân sự thông qua vụ việc tranh chấp dân sự có tên “Câychà 19 tiếng.”<small>15</small></b>
<b>b. Tác động của yếu tố đạo đức đến hoạt động xây dựng pháp luật trong lĩnh vực dânsự</b>
<b>*Chuẩn mực đạo đức là một trong những loại nguồn để hình thành pháp luậtdân sự: Như đã phân tích ở trên, trong giai đoạn xây dựng pháp luật, đạo đức không chỉ là</b>
nguồn của một số văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật nói chung mà đốivới lĩnh vực dân sự nói riêng, khi đối chiếu giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 thìBLDS năm 2015 đã bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 7 Bộ luật này khẳng định các giá trị
<i>đạo đức cao đẹp như sau: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phảibảo đảm giữ gìn…, tơn trọng và phát huy…các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộccùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.”</i>
<b>*Chuẩn mực đạo đức trực tiếp hiện diện trong nhiều quy định của hệ thốngpháp luật dân sự (liên hệ trực tiếp trong BLDS năm 2015): Kết quả hiển thị rõ nét nhất</b>
của hoạt động xây dựng pháp luật dân sự là BLDS năm 2015 – BLDS có giá trị hiện hànhtính đến thời điểm hiện tại và trong tổng thể 689 điều luật thì thuật ngữ “đạo đức” xuất hiện17 lần, song “đạo đức” lại hiện diện trong một số điều luật quan trọng, trực tiếp điều chỉnhquan hệ dân sự như: (i) điểm c khoản 1 Điều 117 quy định một trong những điều kiện có
<i>hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Mục đích của giao dịch dân sự…khơng trái đạo đức xã</i>
<small>15 Đính kèm: Phụ lục 1 – Trình bày tóm tắt vụ việc “Cây chà 19 tiếng” – Liên hệ thực tiễn mối quan hệ giữa chuẩn mựcphong tục tập quán và pháp luật dân sự. </small>
<small>8</small>
</div>