Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Bài giảng kinh tế phát triển eg15 Đại học mở hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.1 MB, 123 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 1 </small></b>

<b>BÀI 1: </b>

<b>NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN </b>

Xin chào các Anh (Chị) học viên!

Chúng tôi rất hân hạnh được gặp các Anh (Chị) trong môn Kinh tế học phát triển. Chương mở đầu sẽ nghiên cứu những vấn đề chung nhất của môn học: các khái niệm cơ bản, các thước đo chủ yếu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những nội dung cơ bản của môn học. Sau khi nghiên cứu chương này, học viên sẽ hiểu một cách khái quát về môn học.

Chương 1 gồm những nội dung sau: I. Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế II. Các thước đo tăng trưởng và phát triển kinh tế

III. Đối tượng nghiên cứu và những nội dung cơ bản của Kinh tế học phát triển

IV. Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển

<b>I. KHÁI NIỆM TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế </b>

 Tăng trưởng kinh tế được quan niệm là sự gia tăng về số lượng, chất lượng hàng hoá và dịch vụ.

 Tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa theo cách thứ hai. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô và hiệu quả của các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, tài nguyên, khoa học-công nghệ...).

 Tăng trưởng kinh tế còn được quan niệm là sự gia tăng của thu nhập bình quân trên đầu người. Theo quan niệm này, khi mức thu nhập, mức sống của dân cư tăng lên có nghĩa là nền kinh tế tăng trưởng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 2 </small></b>

Những quan niệm này có điểm chung là đều đề cập đến sự gia tăng năng lực của nền sản xuất. Tăng trưởng kinh tế có thể trình bày bằng khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất. Khi đường giới hạn khả năng sản xuất dịch chuyển ra phiá ngồi có

<b>nghĩa là nền kinh tế tăng trưởng. </b>

hàng hoá X

hàng hoá Y

<i>*Tăng trưởng kinh tế có rất nhiều lợi ích </i>

 Tăng trưởng kinh tế là cơ sở, là điều kiện để cải thiện và nâng cao đời sống của dân cư.

 Tăng trưởng kinh tế là tiền đề quan trọng bậc nhất để phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội như: khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao...

Do những lợi ích đó, tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết với tất cả các quốc gia. Với các nước nghèo, lạc hậu, tăng trưởng kinh tế càng quan trọng vì mức thu nhập, mức sống của dân cư rất thấp, nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội cịn ở trình độ thấp, lạc hậu...

<i>*Mặt thứ hai của tăng trưởng kinh tế là chi phí </i>

 Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên càng lớn và vì vậy tài nguyên càng sớm bị cạn kiệt. Quy mô khai thác và sử dụng tài nguyên càng lớn, môi trường càng bị tổn hại và ô nhiễm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 3 </small></b>

 Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, càng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: phân hoá giàu nghèo, sự phát triển của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội... Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, chi phí càng lớn.

Do tính chất hai mặt của tăng trưởng kinh tế, các quốc gia khơng nên và khơng thể dành tồn bộ các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, mà thường lựa chọn tốc độ tăng trưởng hợp lý gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường...

<b>2. Phát triển kinh tế </b>

<i>Phát triển kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. </i>

Phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

trước hết xã hội phải có thêm của cải, tức là năng lực của nền sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trưởng.

hiện đại, nền kinh tế gồm ba khu vực: khu vực I bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai khống; khu vực II gồm có công nghiệp và xây dựng; khu vực III là khu vực dịch vụ bao gồm các ngành như ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, giao thông vận tải, thông tin bưu điện, du lịch... Khu vực I có hai đặc điểm: phụ thuộc nặng nề vào tự nhiên; năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp. Do đó, trong cơ cấu các ngành kinh tế, khu vực I càng chiếm tỷ trọng lớn, khu vực II và III càng chiếm tỷ trọng nhỏ bao nhiêu thì nền kinh tế càng phụ thuộc vào tự nhiên nhiều bấy nhiêu, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội càng thấp bấy nhiêu. Và ngược lại, khu vực I chiếm tỷ trọng càng nhỏ... nền kinh tế càng ít phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội càng cao. Bởi vậy, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo hướng: khu vực I giảm về tỷ trọng, khu vực II và III tăng về tỷ trọng được coi là tiến bộ và sự thay đổi đó là một nội dung của phát triển kinh tế.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 4 </small></b>

tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực trong nước.

người dân phải được thụ hưởng những thành quả của tăng trưởng kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ. Chất lượng cuộc sống được thể hiện ở mức thu nhập; tuổi thọ; mức độ thụ hưởng các dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục; cơ hội lựa chọn trong việc thoả mãn các nhu cầu; sự đảm bảo về quốc phòng, an ninh...

<i>Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế có nội dung rộng hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề cập tới những thay đổi về lượng của nền kinh tế thì phát triển kinh tế không những đề cập tới những thay đổi về lượng, mà còn bao hàm cả những thay đổi về chất; nếu tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề cập đến lĩnh vực kinh tế thì phát triển kinh tế còn đề cập đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. </i>

<b>*Phát triển bền vững </b>

 Là khái niệm do Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên (UICN) đưa ra vào đầu thập niên tám mươi của thế kỷ XX. Khái niệm này được nhiều tổ chức quốc tế sử dụng và tiếp tục nghiên cứu nhằm bổ xung và hoàn thiện.

 Năm 1987, Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa phát triển bền vững là: “sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Định nghĩa đơn giản này là điểm khởi đầu quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo, ngày càng sâu sắc hơn.

 Các nhu cầu được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai địi hỏi phải chuyển giao các nguồn lực sẵn có từ thế hệ này sang thế hệ khác: các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các nguồn vốn, các năng lực của con người… Đến Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững ở Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002, khái niệm phát triển bền vững được làm rõ hơn. Phát triển bền vững là quá trình phát triển

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 5 </small></b>

có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.

 Bền vững về kinh tế thể hiện ở tăng trưởng kinh tế ổn định, cơ cấu kinh tế tiến bộ, chất lượng tăng trưởng cao...

Bền vững về mơi trường thể hiện ở việc giữ gìn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cân bằng sinh thái.

Bền vững về xã hội thể hiện ở cơng bằng xã hội: xố đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội và năng lực trong hưởng thụ và phát triển, dân chủ hoá xã hội...

<b>II. CÁC THƯỚC ĐO TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Các thước đo tăng trưởng kinh tế </b>

<i>a) Tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân </i>

Để xác định được mức tăng trưởng của nền kinh tế, trước hết phải xác định được quy mơ của nền kinh tế. Do đó, thước đo tăng trưởng kinh tế đầu tiên là tổng sản phẩm quốc nội.

<i>Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) là giá trị của tồn bộ hàng hố và dịch vụ được sản xuất và cung ứng trên phạm vi một quốc gia hay lãnh thổ trong một năm. Đây là thước đo quan trọng, phản ánh tương đối chính xác quy mơ của </i>

các hoạt động kinh tế của một quốc gia, một ngành, địa phương hay khu vực. GDP được xác định bằng các phương pháp sau đây:

+ Phương pháp sản xuất:

GDP = + + +

Tức là bằng giá trị gia tăng cộng với thuế nhập khẩu. + Phương pháp phân phối:

GDP = + + +

<small>Thuế nhập khẩu Tổng giá trị các yếu tố đầu </small>

<small>vào và chi phí trung gian Tổng giá trị </small>

<small>sảnlượng </small>

<small>Quỹ khấu hao Thuế Lợi nhuận </small>

<small>của các doanh nghiệp Thu nhập </small>

<small>của các hộ gia đình </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 6 </small></b>

Để xác định quy mô của các hoạt động kinh tế, Kinh tế học phát triển còn sử dụng thước đo tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product).

Tổng sản phẩm quốc dân là toàn bộ giá trị hàng hố và dịch vụ do cơng dân của một nước sản xuất và cung ứng trong một năm (ở trong nước và ở nước ngoài). Như vậy, GNP phản ánh năng lực sản xuất hoặc mức thu nhập thật sự của nhân dân một nước.

GNP của một nước có thể được xác định bằng cách lấy GDP cộng với thu nhập ròng (thu nhập ròng bằng thu nhập của cơng dân nước đó sống ở nước ngồi trừ đi thu nhập của người nước ngoài đầu tư vào nước đó).

<i>b) Tốc độ tăng trưởng kinh tế </i>

Đó là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa phần tăng thêm của GDP (hoặc GNP) với GDP (hoặc GNP). Đây là thước đo hết sức quan trọng, trực tiếp đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế.

 GDP (GNP)

g = x 100% GDP (GNP)

g: tốc độ tăng trưởng

 GDP (GNP): mức tăng thêm của GDP hoặc GNP.

<i>c) Chỉ số giá cả CPI (consumer price index) </i>

Sự thay đổi của GDP và GNP có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thay đổi của giá cả. CPI là chỉ số đo lường mức thay đổi chung về mức giá trong nền kinh tế. Để xác

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 7 </small></b>

định tốc độ tăng trưởng kinh tế thực tế, cần phải loại bỏ tác động của giá cả bằng cách lấy GDP hoặc GNP danh nghĩa chia cho chỉ số giá cả. Do đó, chỉ số giá cả CPI được coi là thước đo tăng trưởng kinh tế.

Chỉ số giá cả được xác định bằng công thức sau:  P<small>1</small>Q<small>0 </small>

CPI =  P<small>1</small>Q<small>0</small>

P<small>1</small>: giá cả hàng hoá và dịch vụ ở kỳ hiện tại P<small>0</small>: giá cả hàng hoá và dịch vụ ở kỳ gốc Q<small>0</small>: khối lượng hàng hoá và dịch vụ kỳ gốc

<i>d) Sức mua ngang giá PPP (purchasing power parity) </i>

Mức giá của hàng hố và dịch vụ ở các quốc gia khơng giống nhau. Do đó, để có thể so sánh chính xác hơn GDP hoặc GNP của các quốc gia, cần phải sử dụng thước đo sức mua ngang giá.

Sức mua ngang giá là mức giá tại Mỹ tính cho một giỏ hàng hố và dịch vụ điển hình của các nước đang phát triển.

<b>2. Các thước đo cơ cấu kinh tế </b>

<i>a) Tỷ trọng các ngành trong GDP </i>

Đây là thước đo trực tiếp đo lường cơ cấu kinh tế. Thước đo này cho biết tương quan giữa các ngành của nền kinh tế. Đây là biểu hiện quan trọng sự phát triển của nền kinh tế. Tỷ trọng của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai khoáng ngày càng giảm xuống; tỷ trọng của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng lên có nghĩa là nền kinh tế càng ít phụ thuộc vào tự nhiên; năng suất và hiệu quả của nền kinh tế càng cao. Căn cứ vào tỷ trọng của các ngành, có thể hình dung một cách khái quát trình độ phát triển của một nền kinh tế. Chẳng hạn, ở các nước phát triển, khu vực III phải chiếm trên 70% GDP; khu vực II chiếm 18-20% GDP; khu vực I chỉ chiếm từ 3-5% GDP.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 8 </small></b>

<i>b) Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế </i>

Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế là tỷ lệ phân chia lao động xã hội vào các ngành nghề khác nhau. Cơ cấu lao động do cơ cấu các ngành kinh tế quy định. Do đó, cơ cấu lao động là sự phản ánh cơ cấu các ngành kinh tế và trình độ phát triển của nền kinh tế. Khi cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ thì tỷ trọng lao động ở khu vực I sẽ giảm xuống, tỷ trọng lao động ở khu vực II và III sẽ tăng lên.

<i>c) Cơ cấu dân cư theo khu vực thành thị - nơng thơn </i>

Q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ là q trình phát triển cơng nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Q trình đó làm cho khu vực đơ thị phát triển nhanh chóng. Điều đó làm cho tỷ lệ dân cư sống ở thành thị ngày càng tăng, tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn ngày càng giảm. Bởi vậy, cơ cấu dân cư theo khu vực thành thị và nông thôn là thước đo cơ cấu kinh tế.

<i>d) Tỷ trọng hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu trong GDP </i>

Tỷ trọng hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu trong GDP không chỉ phản ánh mức độ phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia, mà còn phản ánh cơ cấu các ngành kinh tế. Trong nền kinh tế đóng, các ngành kinh tế đều phải được đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của dân cư. Trong nền kinh tế mở, những ngành có tiềm năng, có lợi thế sẽ có điều kiện phát triển và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và tỷ trọng hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu trong GDP cũng càng lớn.

<b>3. Các thước đo động lực của các tiến bộ kinh tế </b>

<i>a) Tỷ lệ vốn đầu tư nội địa trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế </i>

Vốn là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng, phát triển kinh tế. Nếu nguồn vốn trong nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế thì có nghĩa là những tiến bộ kinh tế xuất phát từ nội lực, từ nguyên nhân bên trong. Ngược lại, nếu tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa chiếm tỷ lệ nhỏ thì những tiến bộ kinh tế là do nguồn vốn bên ngoài quyết định; nền kinh tế phụ thuộc bên ngoài.

<i> b) Tỷ lệ lao động kỹ thuật và lao động quản lý là người bản địa trong lực lượng lao động kỹ thuật và lao động quản lý của nền kinh tế </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 9 </small></b>

Lao động là một trong bốn nguồn lực cơ bản để tăng trưởng, phát triển kinh tế. Trong nguồn lực này, bộ phận lao động kỹ thuật và lao động quản lý có vai trị rất quan trọng; quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Hơn nữa, việc đào tạo bộ phận nguồn nhân lực này rất tốn kém cần nhiều thời gian và không dễ dàng thực hiện trong điều kiện các nước đang phát triển. Tỷ lệ lao động kỹ thuật và lao động quản lý là người bản địa càng lớn có nghĩa là những tiến bộ kinh tế càng vững chắc vì xuất phát từ nội lực.

<i>c) Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế </i>

Kim ngạch xuất khẩu không chỉ thể hiện quy mô của nền kinh tế, sự phát triển của các quan hệ thị trường và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế mà còn phản ánh cơ cấu các ngành kinh tế. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước lại đo lường mức độ đóng góp của nhân tố bên trong, của nội lực vào chỉ số đó.

<b>4. Các thước đo chất lượng cuộc sống </b>

<i>a) Thu nhập bình quân trên đầu người </i>

Mức thu nhập quyết định việc thoả mãn các nhu cầu vật chất và các nhu cầu tinh thần cả về số lượng và chất lượng. Do đó, thu nhập bình quân trên đầu người là thước đo hết sức quan trọng đo lường chất lượng cuộc sống của dân cư.

<i>b) Số calorie bình quân trên đầu người một ngày </i>

Nhu cầu cơ bản hàng đầu của con người là được đảm bảo về dinh dưỡng để tồn tại và phát triển. Để đo lường mức độ thoả mãn nhu cầu cơ bản đó, Kinh tế học phát triển sử dụng thước đo: Số calorie bình quân trên đầu người một ngày.

<i>c) Các chỉ số về giáo dục </i>

Các chỉ số về giáo dục bao gồm: tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ người đi học trong các độ tuổi, số năm đi học bình quân, số giáo viên/ một nghìn dân, số sinh viên / một nghìn dân, số người có trình độ đại học và trên đại học / một nghìn dân... Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia và mức độ thụ hưởng các dịch vụ giáo dục của dân cư.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 10 </small></b>

<i>d) Các chỉ số về y tế </i>

Các chỉ số về y tế bao gồm: tỷ lệ trẻ em trong các độ tuổi, tỷ lệ dân cư được tiêm phịng; số bác sĩ / một nghìn dân; số giường bệnh / một nghìn dân... Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển y tế của một quốc gia và mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế của dân cư.

<i>e) Các chỉ số công bằng xã hội </i>

Chất lượng cuộc sống không chỉ phụ thuộc vào số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu của con người, mà còn phụ thuộc vào sự công bằng trong việc phân phối các hàng hóa và dịch vụ đó (hay phân phối thu nhập). Để đo lường mức độ công bằng trong phân phối thu nhập, các chỉ số được sử dụng là: hệ số Gini, tỷ lệ nghèo đói, hệ số chênh lệch giàu nghèo... .

<i>f) Chỉ số phát triển nguồn nhân lực HDI (Human development index) </i>

Đây là chỉ số tổng hợp phản ánh trình độ phát triển nguồn nhân lực và mức độ thụ hưởng các thành quả kinh tế của dân cư. Chỉ số này bao gồm ba chỉ số nhỏ: tuổi thọ trung bình; mức độ phổ cập giáo dục; thu nhập bình quân trên đầu người. Như vậy, HDI không chỉ phản ánh mức sống vật chất, mà còn đo lường cả mức sống tinh thần của dân cư và do đó, chỉ số này đo lường chính xác hơn chất lượng cuộc sống của dân cư.

<i>g) Chỉ số GDI (gender - related development index) </i>

Bình đẳng nam nữ khơng chỉ là mục tiêu phấn đấu của các quốc gia, mà còn là biểu hiện của trình độ phát triển kinh tế. Nền kinh tế phát triển càng cao, điều kiện thực hiện bình đẳng nam nữ càng tốt.

Để đo lường mức độ bình đẳng nam nữ, người ta sử dụng chỉ số GDI. Chỉ số này đo lường mức độ bình đẳng nam nữ trên các phương diện: tạo thu nhập, trình độ học vấn, sự tham gia vào các công việc xã hội. Nam giới và nữ giới càng bình đẳng thể hiện chất lượng cuộc sống càng cao.

Trên đây là những thước đo chất lượng cuộc sống chủ yếu. Ngoài ra, để đo lường chất lượng cuộc sống, các thước đo khác có thể được sử dụng như: số đầu sách/người/năm, số lần xem phim/ người/năm, tỷ lệ các gia đình có ti vi, tủ lạnh, máy giặt, điện thoại ...

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 11 </small>III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN </b>

Quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế của các quốc gia chịu tác động của những nhân tố nào? Có cách nào phát huy những nhân tố thuận lợi, khắc phục những nhân tố ngăn cản, kìm hãm q trình đó? Những nước đi sau có thể học tập những gì từ kinh nghiệm của các nước đi trước và những gì là rập khn, giáo điều cần phải né tránh? Khoa học kinh tế nghiên cứu những vấn đề đó là Kinh tế học phát triển.

<i>Kinh tế học phát triển là khoa học kinh tế nghiên cứu quá trình chuyển dịch của các nền kinh tế từ trạng thái nghèo nàn lạc hậu, thu nhập thấp sang trạng thái hiện đại, phát triển, thu nhập cao. </i>

Quá trình chuyển dịch của các nền kinh tế trước hết chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế; những nguồn lực cơ bản như: vốn, lao động, tài nguyên, khoa học - công nghệ; cơ cấu kinh tế, cơ chế kinh tế... Do đó, Kinh tế học phát triển phải sử dụng tri thức của nhiều ngành khoa học khác mà trước hết là Kinh tế chính trị, Kinh tế học vi mô, Kinh tế học vĩ mô... Bên cạnh những vấn đề chung, quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế của các quốc gia lại không giống nhau do những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập qn, tơn giáo... Do đó, Kinh tế học phát triển còn phải nghiên cứu những đặc điểm riêng này.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Kinh tế học phát triển trùng hợp với trạng thái và xu hướng vận động của nền kinh tế các nước đang phát triển. Vì vậy, có thể nói rằng Kinh tế học phát triển trực tiếp nghiên cứu quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển và có thể coi Kinh tế học phát triển là khoa học kinh tế dành cho các nước này.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 12 </small>IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN </b>

<b>1. Những đặc điểm chung </b>

<i>a) Mức sống thấp </i>

Tuy có những khác nhau nhất định nhưng nhìn chung mức sống của dân cư ở các nước đang phát triển rất thấp. Trong khi thu nhập bình quân trên đầu người ở các nước phát triển hàng chục nghìn đơ la Mỹ một năm thì thu nhập bình quân trên đầu người ở các nước đang phát triển chỉ là hàng nghìn đơ la Mỹ một năm, thậm chí dưới một nghìn đơ la Mỹ một năm.

Do mức sống thấp nên tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp. Đầu tư thấp làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm, khơng có điều kiện để cải thiện mức sống. Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp vẫn không được cải thiện. Đó là cái vịng luẩn quẩn đầu tiên mà các nước đang phát triển gặp phải và rất khó thốt ra. Đây là một trở ngại to lớn với quá trình tăng trưởng kinh tế của các nước này.

<i>b) Năng suất lao động thấp </i>

Năng suất lao động ở các nước đang phát triển nhìn chung rất thấp. Có nhiều ngun nhân dẫn đến tình trạng đó: cơng nghệ lạc hậu; quản lý yếu kém; học vấn, tay nghề, sức khoẻ người lao động thấp kém... Năng suất lao động thấp làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm, khơng có điều kiện để đổi mới cơng nghệ, cải tiến quản lý, nâng cao sức khoẻ, thể lực cho người lao động... Do đó, việc nâng cao năng suất lao động rất khó khăn và nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng chậm chạp.

<i>c) Tỷ lệ thất nghiệp cao </i>

Tình trạng thất nghiệp ở các nước đang phát triển nhìn chung rất trầm trọng. Đó là kết qủa việc dân số tăng nhanh; khả năng tạo việc làm rất hạn chế do thiếu hụt các nguồn lực, vướng mắc về cơ chế, chính sách... Điều đó làm cho số người ăn theo rất lớn. Tỷ lệ thất nghiệp cao trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm. Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, các nước đang phát triển lại khơng có điều kiện tạo việc làm cho người dân.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 13 </small></b>

<i>d) Phụ thuộc vào nông nghiệp và xuất khẩu hàng sơ chế </i>

Đa số các nước đang phát triển là nước nông nghiệp, tức là ở các nước này, nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu và nông phẩm là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu. Điều đó làm cho nền kinh tế của các nước đang phát triển phụ thuộc nặng nề vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế rất thấp. Tình trạng đó làm cho quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển hết sức khó khăn, tốc độ tăng trưởng chậm chạp. Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, các nước đang phát triển khơng có điều kiện để phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nên phải tiếp tục dựa vào nông nghiệp và xuất khẩu hàng sơ chế.

<i>e) Phụ thuộc cao vào các quan hệ quốc tế </i>

Trong xu thế chung của thời đại, quan hệ kinh tế giữa các quốc gia không ngừng mở rộng và phát triển. Việc các nước đang phát triển tham gia vào đời sống kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan và cần thiết. Nhưng các quan hệ kinh tế quốc tế đã được thiết lập theo “trật tự” có lợi cho các nước phát triển, khơng có lợi cho các nước đang phát triển và đang bị chi phối bởi chính sách của các nước phát triển. Do đó, tham gia vào đời sống kinh tế quốc tế, các nước đang phát triển gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí thua thiệt. Vì thế, quá trình tăng trưởng kinh tế của các nước này diễn ra chậm chạp và tiếp tục phụ thuộc vào các quan hệ quốc tế.

Những đặc điểm trên đây làm cho quá trình tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển hiện nay khó khăn hơn rất nhiều so với các nước phát triển trước đây. Các nước đang phát triển khó có thể đi những con đường mà các nước phát triển đã đi qua.

<b>2. Tính đa dạng của các nước đang phát triển </b>

Mặc dù có những đặc điểm chung hết sức quan trọng trên đây nhưng sự khác biệt (hay tính đa dạng) giữa các nước đang phát triển cũng hết sức to lớn.

<i>a) Sự khác biệt về quy mô </i>

Các nước đang phát triển có diện tích khơng giống nhau. Trong khi có những quốc gia có diện tích rất lớn như Trung Quốc, ấn Độ thì lại có những quốc gia hay lãnh thổ rất nhỏ như Brunây, Butan... Sự khác biệt về quy mô sẽ ảnh hưởng rất khác nhau đến quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế. Quy mơ lớn có ưu điểm là tài nguyên nhiều, thị

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 1 Trang 14 </small></b>

trường tiềm năng lớn, ít phụ thuộc hơn vào bên ngồi... nhưng lại có nhược điểm là quản lý hành chính khó khăn, phát triển không cân bằng giữa các vùng, sự không đồng nhất về dân tộc... Những quốc gia có quy mơ nhỏ lại có những thuận lợi và khó khăn hồn tồn khác so với các nước có quy mơ lớn. Do đó, q trình tăng trưởng của các nước cũng thuận lợi và khó khăn khơng giống nhau.

<i>b) Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên </i>

Ngồi diện tích, những nhân tố khác thuộc về điều kiện tự nhiên của các quốc gia cũng không giống nhau. Những quốc gia có nhiều tài ngun, đất đai màu mỡ, khí hậu ơn hồ, ít thiên tai... q trình tăng trưởng kinh tế sẽ thuận lợi hơn. Ngược lại, những quốc gia nghèo tài nguyên, khí hậu khắc nghiệt, nhiều thiên tai... quá trình tăng trưởng kinh tế sẽ rất khó khăn.

<i>c) Sự khác biệt về con người </i>

Mỗi quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển riêng. Điều đó để lại dấu ấn rất sâu đậm về nhân cách, lối sống, tác phong lao động, ý chí và đạo đức kinh doanh... Những phẩm chất riêng của mỗi dân tộc sẽ có những ảnh hưởng to lớn đến quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế.

<i>d) Mức độ phụ thuộc vào bên ngoài về kinh tế, chính trị khác nhau </i>

Do những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, mức độ phụ thuộc của các quốc gia vào các quan hệ quốc tế cũng khơng giống nhau. Điều đó sẽ làm cho quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia thuận lợi hoặc khó khăn rất khác nhau.

Những khác biệt trên đây làm cho quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển không giống nhau. Đây là điều cần tính đến khi tham khảo kinh nghiệm lẫn nhau giữa các nước này.

<i><b>Chúc Anh/Chị học tập tốt! </b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 1 </small></b>

<b>BÀI 2: MỘT SỐ LÝ THUYẾT VÀ MƠ HÌNH TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ </b>

Xin chào các Anh (Chị) học viên!

Chương hai sẽ nghiên cứu những lý thuyết và mơ hình tăng trưởng, phát triển kinh tế chủ yếu trong lịch sử. Những lý thuyết và mơ hình này không chỉ cung cấp cho người học những kiến thức quan trọng, mà còn gợi ý cho Học viên đưa ra những khuyến nghị về chính sách.

Chương hai gồm những nội dung sau: I. Mơ hình Cổ điển

II. Mơ hình tăng trưởng kinh tế của Các Mác III. Mơ hình “cổ điển mới”

IV. Mơ hình J. Keynes

V. Mơ hình tăng trưởng tuyến tính VI. Mơ hình hai khu vực

VII. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế mới

VIII. Tăng trưởng, phát triển kinh tế ở Việt Nam

<b>I. MÔ HÌNH CỔ ĐIỂN </b>

Vào những năm cuối thế kỷ XVII, chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu đã vượt qua thời kỳ tích luỹ ban đầu, bắt đầu phát triển trên cơ sở của chính nó. Hồn cảnh lịch sử cho phép hình thành - lần đầu tiên trong lịch sử - học thuyết kinh tế thật sự khoa học: Học thuyết kinh tế Cổ điển.

Học thuyết kinh tế Cổ điển được bắt đầu bằng Wiliam Petty (1623-1687) và kết thúc với đỉnh cao là Adam Smith (1723-1790) và David Ricardo (1772-1823). Học thuyết kinh tế Cổ điển đề cập tới nhiều vấn đề, trong đó có tăng trưởng, phát triển kinh tế. Mặc dù mỗi nhà kinh tế có sự lý giải khác nhau ở mức độ nhất định về tăng trưởng, phát triển

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 2 </small></b>

kinh tế song về cơ bản họ đều có quan điểm chung mà nội dung có thể khái quát lại như sau:

<b>1. Các nguồn lực tăng trưởng kinh tế </b>

Các nhà kinh tế Cổ điển cho rằng có ba nguồn lực cơ bản để tăng trưởng, phát triển kinh tế là: đất đai, lao động và vốn (tư bản). Theo David Ricardo, các yếu tố đó được kết hợp với nhau theo tỷ lệ nhất định, do trình độ kỹ thuật của từng ngành quyết định.

Trong các nguồn lực đó, đất đai là nguồn lực quan trọng nhất. Sở dĩ như vậy là vì diện tích đất đai có hạn và độ màu mỡ của đất đai ngày càng giảm. Do vậy, sản lượng lương thực sẽ tăng chậm dần và đến lúc nào đó sẽ khơng thể tăng thêm. Trong khi đó, muốn tăng trưởng kinh tế phải đầu tư vào cơng nghiệp. Điều đó làm cho cầu về lương thực tăng và từ đó giá cả lương thực gia tăng. Giá lương thực tăng làm cho tiền lương công nhân tăng và lợi nhuận giảm, đầu tư giảm. Nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm dần.

Như vậy, theo David Ricardo, tăng trưởng kinh tế là kết qủa của tích luỹ; tích luỹ là hàm của lợi nhuận; lợi nhuận phụ thuộc vào sản xuất lương thực; lương thực lại phụ thuộc vào đất đai; đất đai lại có hạn và độ màu mỡ ngày càng giảm. Đất đai chính là giới hạn của tăng trưởng kinh tế.

<b>2. Con đường tăng trưởng kinh tế </b>

Các nhà kinh tế Cổ điển cho rằng cơ chế thị trường có khả năng giải quyết tốt mọi vấn đề của nền kinh tế. Sự linh hoạt của giá cả và tiền công trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh có khả năng điều chỉnh những mất cân đối của nền kinh tế, xác lập những cân đối mới, đảm bảo nền kinh tế ổn định và phát triển. Cũng từ đó, các nhà kinh tế Cổ điển cho rằng, kinh tế thị trường tự do là con đường tăng trưởng kinh tế tốt nhất; nhà nước không nên can thiệp vào các hoạt động kinh tế. Theo họ, chức năng chủ yếu của nhà nước là bảo vệ sở hữu tư nhân, chống tội phạm, chống kẻ thù bên ngoài.

Từ việc nghiên cứu các nguồn lực, các nhà kinh tế Cổ điển đã đưa ra khuyến nghị về chính sách: để mở rộng giới hạn tăng trưởng kinh tế, chính phủ phải đẩy mạnh nhập khẩu lương thực. Nhưng nếu quốc gia nào cũng nhập khẩu lương thực thì tăng trưởng kinh tế sẽ khơng thực hiện được. Do đó, các nhà kinh tế cổ điển khuyến nghị chính phủ Anh

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 3 </small></b>

phải mở rộng bờ cõi. Khuyến nghị này là một trong những nhân tố góp phần làm cho nước Anh trở thành quốc gia có nhiều thuộc địa nhất trong thế kỷ XIX.

<b>II. MƠ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC MÁC (1818-1883) 1. Quan niệm của C. Mác về tăng trưởng kinh tế </b>

 Theo C. Mác, tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước. Khái niệm tái sản xuất mở rộng và khái niệm tăng trưởng kinh tế có cùng nội hàm. Điều đó có nghĩa là những gì C. Mác nói về tái sản xuất mở rộng chính là nói về tăng trưởng kinh tế. Để đo lường quy mô sản xuất của cải vật chất, C. Mác đã sử dụng thước đo tổng sản phẩm xã hội.

 Theo C. Mác, tăng trưởng kinh tế được thực hiện bằng hai con đường:

1. Tăng thêm tư liệu sản xuất và sức lao động trong các ngành sản xuất vật chất. Đó là tăng trưởng kinh tế dựa vào mở rộng quy mô sử dụng các nguồn lực, hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng.

2. Tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất vật chất bằng cách ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ. Đây là tăng trưởng kinh tế dựa vào nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.

 Theo C. Mác, tăng trưởng kinh tế còn là sự tăng thêm về số lượng và chất lượng sức lao động.

Như vậy, tăng trưởng kinh tế không chỉ là sự gia tăng sản lượng đầu ra, mà cịn là sự gia tăng quy mơ và hiệu quả của các yếu tố đầu vào.

<b>2. Các điều kiện tăng trưởng và phát triển kinh tế </b>

 Tăng trưởng kinh tế trước hết địi hỏi phải có tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm, tức là phải có tích luỹ. Nguồn gốc của tích luỹ là giá trị thặng dư và trong nền kinh tế thị trường thì đó chính là giá trị gia tăng.

 Cấu tạo hữu cơ tăng lên do việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất là quy luật kinh tế. Tiến bộ khoa học - cơng nghệ là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 4 </small></b>

 Nhờ có sức lao động mà các nguồn lực khác như vốn, tài ngun, khoa học -cơng nghệ được sử dụng và đóng góp vào q trình tăng trưởng kinh tế. Như vậy, theo C. Mác, bốn nguồn lực cơ bản để tăng trưởng kinh tế là: vốn, lao động, tài nguyên, khoa học - công nghệ.

 C. Mác cho rằng, nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng khi giữa hai khu vực của nền kinh tế (khu vực I: sản xuất tư liệu sản xuất; khu vực II: sản xuất tư liệu tiêu dùng) duy trì được các quan hệ tỷ lệ nhất định. Như thế, cơ cấu kinh tế được C. Mác coi là một nhân tố, một điều kiện của tăng trưởng, phát triển kinh tế.

 Nền kinh tế chỉ tăng trưởng, phát triển khi có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Đây là quy luật kinh tế tồn tại trong tất cả các phương thức sản xuất hay là quy luật của tăng trưởng, phát triển kinh tế.

<b>III. MƠ HÌNH “CỔ ĐIỂN MỚI” 1. Hoàn cảnh lịch sử </b>

 Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, do tác động của khoa học - công nghệ, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có sự phát triển nhảy vọt. Nhưng sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên lỗi thời.

 Sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được biểu hiện ở các cuộc khủng hoảng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp triền miên, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản ngày càng trở nên sâu sắc.

 Lý thuyết kinh tế của trường phái Cổ điển tỏ ra bất lực. Hoàn cảnh lịch sử đó là cơ sở xuất hiện nhiều trường phái kinh tế mới, trong đó có trường phái “Cổ điển mới”.

<b>2. Các trường phái </b>

 Học thuyết “Cổ điển mới” xuất hiện ở nhiều nước và mang những sắc thái khác nhau như trường phái “giới hạn” Thành Viene (áo), trường phái “giới hạn” (Mỹ), trường phái Thành Lausanne (Thuỵ Sĩ), trường phái Cambridge (Anh)...

 Trường phái “Cổ điển mới” dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và q trình kinh tế. Từ đó có thể thấy rằng, theo họ, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu, tâm lý của người tiêu dùng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 5 </small>3. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế </b>

 Kinh tế thị trường tự do là điều kiện, là nhân tố hàng đầu để tăng trưởng kinh tế. Đây là thời kỳ đầu.

 Thời kỳ thứ hai là vào đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu chuyển sang giai đoạn độc quyền, khi xuất hiện những dấu hiệu xấu cả về kinh tế và chính trị đối với chủ nghĩa tư bản. Ở thời kỳ này, Trường phái “Cổ điển mới” đi sâu phân tích những vấn đề tác động đến tăng trưởng kinh tế như: quan hệ cung cầu, giá cả... và những vấn đề mới như: cạnh tranh và độc quyền, khủng hoảng, thất nghiệp, phúc lợi kinh tế...

<b>IV. MƠ HÌNH J. KEYNES 1. Hoàn cảnh ra đời </b>

 Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 chứng tỏ học thuyết Cổ điển và Cổ điển mới về khả năng tự điều tiết của nền kinh tế thị trường khơng cịn thích hợp.

 Điều đó địi hỏi phải có những học thuyết kinh tế mới. Học thuyết của J. Keynes đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.

<b>2. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế </b>

nền kinh tế thị trường có khả năng tự điều chỉnh, xác lập cân bằng, tạo việc làm đầy đủ. Theo J. Keynes, sự cân bằng tự phát của cơ chế thị trường bao giờ cũng nhỏ hơn sản lượng tiềm năng, không đủ việc làm cho người lao động.

cùng với việc làm tăng, thu nhập và tiêu dùng của cá nhân cũng tăng lên. Nhưng sự tăng lên của tiêu dùng chậm hơn sự tăng lên của thu nhập. Nói cách khác, tiết kiệm có khuynh hướng tăng nhanh hơn tiêu dùng và điều đó làm giảm sút tương đối cầu tiêu dùng. Cầu tiêu dùng giảm tương đối là nguyên nhân dẫn đến trì trệ và thất nghiệp.

kinh tế, bằng việc tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư. Ngân sách nhà nước là cơng cụ quan trọng để kích thích đầu tư tư nhân. Thơng qua các đơn đặt hàng của nhà nước, trợ cấp từ ngân sách nhà nước, hoạt động của các

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 6 </small></b>

doanh nghiệp được duy trì và ổn định. Đầu tư từ ngân sách nhà nước xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy mở rộng đầu tư tư nhân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ là công cụ điều tiết vĩ mơ quan trọng mà nhà nước có thể sử dụng để tác động vào nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Cơ chế tác động là:

- Sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng, tiền tệ để kích thích lịng tin, tính lạc quan, từ đó mở rộng đầu tư tư nhân. Muốn vậy, nhà nước phải tăng cung tiền làm giảm lãi suất cho vay. Để tăng hiệu quả tư bản, nhà nước có thể chủ động lạm phát, “lạm phát có kiểm sốt”. Lạm phát làm tăng giá cả hàng hố, tăng lợi nhuận, kích thích nền kinh tế tăng trưởng.

- Để bù đắp thiếu hụt ngân sách, nhà nước có thể in thêm tiền. Nhờ đó, ngân sách nhà nước được sử dụng để kích thích tăng trưởng.

- Thuế cũng là công cụ để điều tiết kinh tế. Tăng thuế đối với người lao động sẽ huy động được một phần tiết kiệm của họ vào ngân sách nhà nước để mở rộng đầu tư. Giảm thuế đối với doanh nghiệp sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng tư bản, mở rộng được đầu tư.

Để nâng cao tổng cầu, tạo việc làm, nhà nước có thể sử dụng nhiều hình thức đầu tư, kể cả việc đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp quân sự, chạy đua vũ trang... Để kích thích tăng trưởng kinh tế cần phải khuyến khích tiêu dùng của các tầng lớp dân cư.

<b>V. MƠ HÌNH TĂNG TRƯỞNG TUYẾN TÍNH </b>

Đây là mơ hình xuất hiện sau chiến tranh thế giới Thứ hai. Trên cơ sở nghiên cứu quá trình tăng trưởng kinh tế mà các nước phát triển đã trải qua, nhà kinh tế học người Mỹ W. W. Rostow đã khái quát thành các giai đoạn tăng trưởng mà các nước đang phát triển nhất định sẽ phải trải qua. Theo Ông, quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia sẽ lần lượt trải qua các giai đoạn:

ngành kinh tế chủ yếu; năng suất lao động thấp, mức thu nhập, mức sống của dân cư

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 7 </small></b>

rất thấp. Điểm xuất phát mang tính phổ biến vì đa số các nước đang phát triển là các nước nông nghiệp.

quốc gia phải thực hiện trong giai đoạn này là: thương mại hoá sản xuất và lựa chọn các ngành kinh tế mũi nhọn. Đây chính là những tiền đề cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

sống của dân cư tăng nhanh. Giai đoạn này có những đặc trưng kinh tế quan trọng: tỷ lệ đầu tư phải lớn hơn 10% GDP; các ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng cao, trở thành “đầu tầu” kéo các ngành kinh tế khác tăng trưởng; hệ thống các định chế (hệ thống ngân hàng, các thể chế, chính sách ...) được xây dựng, hồn thiện hỗ trợ đắc lực cho quá trình tăng trưởng kinh tế.

chất - kỹ thuật của xã hội; quốc gia nông nghiệp đã trở thành quốc gia công nghiệp; đời sống vật chất và tinh thần của dân cư khá cao; các mặt của đời sống kinh tế - xã hội được phát triển... Xã hội nông nghiệp chuyển thành xã hội công nghiệp.

rất cao. Sở dĩ như vậy là vì nền sản xuất đã phát triển ở trình độ rất cao, có khả năng đáp ứng các nhu cầu nhiều mặt của con người. Gắn liền với sự phát triển cao về kinh tế là sự phát triển về xã hội. Đó là xã hội hậu cơng nghiệp.

Mơ hình này có nhiều điểm hợp lý và việc nghiên cứu nó là bổ ích đối với nhiều quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, mơ hình này đã khơng chú ý thích đáng đến mặt xã hội của q trình tăng trưởng.

<b>VI. MƠ HÌNH HAI KHU VỰC </b>

 Mơ hình được xây dựng xuất phát từ thực tế nền sản xuất có hai ngành kinh tế chủ yếu: nơng nghiệp và cơng nghiệp. Mơ hình hàm ý: nền kinh tế có thể tăng trưởng, phát triển bằng cách thay đổi cơ cấu giữa hai khu vực.

 Mơ hình hai khu vực do D. Ricardo khởi xướng. Ông cho rằng giới hạn của tăng trưởng kinh tế là đất đai. Do diện tích đất đai có hạn và độ màu mỡ đất đai giảm dần,

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 8 </small></b>

sản lượng lương thực sẽ tăng chậm dần và đạt ngưỡng tối đa. Thậm chí nếu tiếp tục đầu tư lao động, sản lượng lương thực có thể giảm xuống. Điều đó có thể được trình bày bằng đồ thị sau đây:

C

B A

Đồng ý với những ý kiến trên đây của D. Ricardo, W. Arthor Lewir đã bổ sung và hồn thiện mơ hình. Để xây dựng mơ hình, W. Lewir đã đưa ra các giả định sau đây: 1. Ở khu vực nông nghiệp, năng suất lao động biên bằng không.

2. Khu vực công nghiệp thu hút lao động từ từ; quá trình chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp là q trình tự nhiên.

3. Nơng nghiệp chỉ cung cấp lao động. Vốn đầu tư cho cơng nghiệp có nguồn gốc là lợi nhuận của chính ngành này. Giả thiết rằng các doanh nghiệp công nghiệp đầu tư 100% lợi nhuận.

4. Mức tiền công trong công nghiệp cố định và cao hơn mức tiền cơng trung bình trong nông nghiệp.

5. Nông nghiệp cung cấp lao động không hạn chế.

6. Công nghệ sử dụng trong công nghiệp cần nhiều lao động.

Số lượng lao động nông nghiệp Sản lượng

nông nghiệp

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 9 </small></b>

Với những giả định trên đây, hiện trạng của nền kinh tế trước khi tăng trưởng được thể hiện bằng bốn đồ thị sau:

Khu vực nông nghiệp Khu vực công nghiệp TP<small>a</small>= f(l<small>a</small>, k, t ) TP<small>m</small>= f(l<small>m</small>, k, t ) TP<small>a</small> TP<small>m</small>

O q<small>la</small> Q<small>lm</small> O q<small>1 </small> Q<small>lm</small>

TP<small>la</small>: Sản lượng nông nghiệp TP<small>m</small>: Sản lượng công nghiệp AP<small>la</small>: Mức tiền lương trung bình

trong nông nghiệp

Q<small>lm</small>: Số lượng lao động trong nông nghiệp

MP<small>la</small>: Năng suất lao động biên trong nông nghiệp

MP<small>lm</small>: Năng suất lao động biên trong công nghiệp

Q<small>la</small>: Khối lượng lao động nông nghiệp

W: Mức tiền lương trung bình trong công nghiệp

A: Mức lương trung bình trong nông nghiệp

W<small>r</small>: Mức tiền công thực tế

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 10 </small></b>

Trên đây là hiện trạng của nền kinh tế. Để tăng trưởng, theo giả định, các nhà doanh nghiệp trong công nghiệp đầu tư toàn bộ lợi nhuận (tam giác WEF). Cũng theo giả định, công nghệ trong công nghiệp dùng nhiều lao động. Khi mở rộng đầu tư, đường cầu lao động trong công nghiệp dịch chuyển sang phải, số lượng lao động công nghiệp sử dụng sẽ tăng lên q<small>2</small>, sản lượng công nghiệp sẽ tăng lên TP<small>2</small>, lợi nhuận công nghiệp sẽ tăng lên (tam giác WHG). Toàn bộ lợi nhuận lại được tái đầu tư, một chu kỳ mới lại bắt đầu...

F

W E H A D<small>1</small> D<small>2 </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 11 </small></b>

 Trước hết, theo mơ hình thì tỷ lệ chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp sẽ tương ứng với tỷ lệ việc làm tạo ra được trong cơng nghiệp và tích luỹ vốn ở đó. Nếu các nhà tư bản công nghiệp dùng công nghệ cần nhiều vốn, ít lao động thì ý nghĩa tạo việc làm của cơng nghiệp sẽ khơng cịn nữa.

 Thứ hai, giả định toàn bộ lợi nhuận công nghiệp được tái đầu tư là khá xa thực tế. Trên thực tế, do đầu tư nhỏ hơn lợi nhuận nên mức tăng trưởng sẽ nhỏ hơn so với mơ hình.  Thứ ba, mơ hình giả thiết khu vực nơng nghiệp có lao động dư thừa cịn khu vực cơng

nghiệp có đầy đủ việc làm. Trên thực tế, điều này không đúng.

 Thứ tư, mơ hình giả định mức tiền lương trong cơng nghiệp cố định. Điều đó chỉ đúng khi cịn lao động dư thừa trong nông nghiệp. Khi lao động dư thừa trong nơng nghiệp khơng cịn nữa, muốn thu hút lao động từ nơng nghiệp thì tiền lương trong cơng nghiệp phải tăng lên. Lúc đó, lợi nhuận và đầu tư trong công nghiệp sẽ giảm, nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm hơn so với mơ hình.

<b>VII. LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ MỚI </b>

o Trước thập niên 70 của thế kỷ XX, tăng trưởng kinh tế chủ yếu được thực hiện theo chiều rộng, tức là nhờ vào sự gia tăng của vốn, lao động và tài nguyên. Từ thập niên 70 trở về sau đã xuất hiện kiểu tăng trưởng kinh tế mới về chất: tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.

o Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu được thực hiện trên cơ sở những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ. Cuộc cách mạng này đã tạo nên những thay đổi rất cơ bản trong lĩnh vực sản xuất và đặc biệt là lao động trí tuệ trở thành nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế.

o Đặc trưng của kiểu tăng trưởng kinh tế mới là:

1. Sản phẩm đạt chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu xã hội ngày càng cao về số lượng và chất lượng. Không chỉ những nhu cầu đại trà, phổ thông, mà cả những nhu cầu riêng biệt cũng được quan tâm thoả mãn. Đặc trưng này xuất phát từ mức thu nhập, mức sống ngày càng cao của dân cư.

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 12 </small></b>

2. Năng suất lao động cao dựa trên ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ. Khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nhân tố quyết định năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.

3. Sự phát triển của các ngành có hàm lượng khoa học cao như cơng nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liêu mới, công nghệ năng lượng... là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Hàm lượng tri thức ngày càng lớn trong sản phẩm.

4. Do sự tác động của khoa học - công nghệ và khoa học quản lý, hiệu quả sử dụng các nguồn lực ngày càng tăng. Điều đó thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn tốc độ tăng trưởng các nguồn lực.

o Hiện nay, kiểu tăng trưởng kinh tế mới chiếm vị trí chủ yếu ở các nước phát triển. Song các nước đang phát triển cũng phải hết sức chú ý kiểu tăng trưởng này nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.

<b>VIII. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM </b>

<b>1. Những đặc trưng chủ yếu của quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế ở Việt Nam </b>

Từ năm 1986, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam, nền kinh tế nước ta có sự thay đổi rất căn bản. Đại hội đã quyết định chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hố tập trung, hành chính, bao cấp sang cơ chế thị trường, có sự điều tiết của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế đã tạo ra tiền đề cực kỳ quan trọng cho tăng trưởng kinh tế nhanh ở nước ta trong những năm qua.

Việc chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế làm cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế ở nước ta có những đặc trưng chủ yếu sau đây:

- Cơ chế thị trường đang từng bước chi phối sự vận động của nền kinh tế. Do đó, nền kinh tế ngày càng trở nên năng động, hiệu quả hơn.

- Nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, mục đích của nền sản xuất khơng chỉ là lợi nhuận, mà là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 13 </small></b>

- Có sự quản lý của nhà nước của dân, do dân, vì dân. Sức mạnh của nhà nước được sử dụng để khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường.

- Thu nhập được phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế; tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân.

- Đẩy mạnh hội nhập khu vực và thế giới. Nhờ đó, những tiềm năng, lợi thế của nền kinh tế được phát huy; những nhược điểm được hạn chế.

<b>2. Những định hướng chủ yếu </b>

Tăng trưởng kinh tế theo con đường xã hội chủ nghĩa là phương hướng phát triển

<b>cơ bản của nền kinh tế nước ta. Điều đó được thể hiện bằng các định hướng cụ thể sau: </b>

<i>Thứ nhất, giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương </i>

hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đơi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài trên cơ sở xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.

<i>Thứ hai, tăng trưởng, phát triển kinh tế là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành </i>

phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, định hướng phát triển của nền kinh tế.

<i>Thứ ba, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển </i>

nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích luỹ cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.

<i>Thứ tư, khoa học - công nghệ là động lực của tăng trưởng, phát triển kinh tế. Kết </i>

hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.

<i>Thứ năm, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương </i>

án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số cơng trình quy mơ lớn thật cần thiết và có hiệu quả. Tạo ra những mũi nhọn trong từng bước phát triển.

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 2 Trang 14 </small></b>

Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm; đồng thời quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nước; có chính sách hỗ trợ các vùng khó khăn, tạo điều kiện cho các vùng phát triển.

<i>Thứ sáu, xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước; kết hợp chặt chẽ và </i>

toàn diện phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước.

<b>3. Những mục tiêu cơ bản </b>

Quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế ở nước ta nhằm thực hiện nhiều mục tiêu. Mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng nước ta trở thành một nước cơng nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, văn minh”.<small>1</small>

Theo tinh thần của Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX và X của Đảng cộng sản Việt Nam, chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến năm 2020, về cơ bản, nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

<i><b>Chúc Anh/Chị học tập tốt! </b></i>

<small>1 .ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia, H. 1996, tr. 80 </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 1 </small></b>

<b>BÀI 3: VỐN VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ </b>

Chương ba gồm những nội dung sau: I. Vốn đầu tư

II. Các nguồn vốn

III. Những giải pháp cơ bản huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

<b>I. VỐN ĐẦU TƯ 1. Khái niệm </b>

<i>kinh doanh. Như vậy, vốn đầu tư phải là tài sản (hay của cải) và tài sản đó phải được </i>

sử dụng để sản xuất, kinh doanh.

tiền và các loại chứng khoán. Vốn vật chất tồn tại dưới hình thức các yếu tố sản xuất như thiết bị, máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu... Vốn tài chính và vốn vật chất có quan hệ chặt chẽ với nhau, khơng ngừng chuyển hố lẫn nhau.

<b>2. Vai trò của vốn đầu tư </b>

Roy Harrod (nhà kinh tế học người Anh) và Evsy Domar (nhà kinh tế học người Mỹ) đã tìm cách lượng hố vai trị của vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế. Hai người độc lập nghiên cứu và cùng phát hiện ra mơ hình nên mơ hình mang tên cả hai ơng, mơ hình Harrod - Domar.

Đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, do tác động của chiến tranh thế giới Thứ hai, nền kinh tế của các nước phát triển lâm vào tình trạng suy thối. Mối quan tâm của hai Ơng là quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về tư bản. Khi mơ hình được xây dựng nó lại tỏ ra rất thích hợp với các nước đang phát triển và mơ hình được coi là dành cho các nước này.

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 2 </small></b>

Khi nghiên cứu, hai ông đã sử dụng hai khái niệm quan trọng:

<i>Thứ nhất, tỷ lệ vốn - sản lượng (capital - output ratio): </i>

K k = --- Y

Trong đó k là tỷ lệ vốn - sản lượng hay hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio); K là phần gia tăng của vốn; Y là phần gia tăng của sản lượng. Với sản lượng tăng thêm nhất định, phần vốn tăng thêm (K) càng lớn thì k cũng càng lớn và hiệu quả của vốn càng thấp. Ngược lại, k càng nhỏ, hiệu quả của vốn càng cao. Như vậy, k là thước đo hiệu quả của vốn.

<i>Thứ hai, tỷ lệ tiết kiệm: s </i>

Để cho việc nghiên cứu dễ dàng hơn, hai ông đã đưa các giả định sau đây: khơng có chi tiêu của chính phủ; khơng có ngoại thương; tiết kiệm bằng đầu tư.

Từ khái niệm tỷ lệ vốn - sản lượng, chúng ta có đẳng thức sau: K = k. Y (1)

Với giả định thứ ba, tiết kiệm bằng đầu tư, chúng ta có đẳng thức: S = I (2)

mà: S = s.Y (3) Từ đẳng thức (2) và (3) suy ra:

I = s.Y (4)

So sánh đẳng thức (1) và (4), chúng ta thấy rằng: phần vốn tăng thêm là kết qủa trực tiếp của đầu tư, tức là K = I. Như vậy, vế bên trái của hai đẳng thức này bằng nhau, từ đó suy ra vế bên phải bằng nhau:

k. Y = s.Y (5)

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 3 </small></b>

Từ đẳng thức (5) dễ dàng suy ra: Y s --- = --- Y k Y

--- tính theo phần trăm chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế. Y

Nếu gọi tốc độ tăng trưởng kinh tế là g thì: s

g = --- k

Đẳng thức trên chỉ rõ: tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư, tức là tỷ lệ thuận với quy mô của vốn đầu tư; tỷ lệ nghịch với tỷ lệ vốn - sản lượng, tức là tỷ lệ thuận với hiệu quả của vốn đầu tư. Như vậy, trong điều kiện các nguồn lực khác không đổi, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư - quy mô và hiệu quả của vốn đầu tư.

Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư có vị trí đặc biệt quan trọng. Các nước đang phát triển phần lớn là nước nghèo, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp nên rất thiếu vốn. Theo mơ hình Harrod - Domar, thiếu vốn nền kinh tế sẽ không thể tăng trưởng.

Tích luỹ vốn ở các nước đang phát triển cịn rất thấp. Theo quy luật hiệu suất biên giảm dần, hiệu quả sử dụng vốn ở các nước đang phát triển rất cao. Đây là tiền đề khách quan làm cho dịng vốn có thể chảy từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Đó là cơ hội mà các nước đang phát triển cần phải tận dụng để giải quyết khó khăn về vốn.

<b> </b>

<b>II. CÁC NGUỒN VỐN 1. Vốn trong nước </b>

Ở các nước đang phát triển, nguồn vốn trong nước bao gồm vốn của nhà nước và vốn của tư nhân.

<b>*Vốn nhà nước: </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 4 </small></b>

Nguồn vốn nhà nước trực tiếp phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Thu ngân sách càng lớn, chi ngân sách càng nhỏ, nguồn vốn đầu tư của nhà nước càng lớn.

Tổng thu ngân sách lớn hay nhỏ phụ thuộc:

sách nhà nước càng lớn.

ngân sách càng lớn.

nhiên, quan hệ giữa thuế suất và doanh thu thuế lại không đơn giản. Theo Laffe, quan hệ đó có thể được biểu hiện bằng đồ thị sau:

doanh nghiệp, của công dân và cũng vì thế, trốn thuế, nợ thuế là hiện tượng phổ biến. Hiệu lực và sự trong sạch của bộ máy thu là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến tổng nguồn thu của ngân sách nhà nước. Vì thế, nâng cao hiệu lực và sự trong sạch bộ máy thu thuế được đặt ra với tất cả các nước đang phát triển.

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 5 </small></b>

nhỏ đến nguồn thu của ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động càng hiệu quả, nguồn thu ngân sách nhà nước càng tăng. Ngược lại, khu vực kinh tế nhà nước hoạt động kém hiệu quả chẳng những nguồn thu của ngân sách nhà nước giảm, mà trong khơng ít trường hợp, nhà nước cịn phải sử dụng ngân sách của mình để trợ cấp. Bởi vậy, cải cách kinh tế nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này được đặt ra với tất cả các nước đang phát triển.

Chi ngân sách nhà nước

o Gồm có: chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển.

+Chi thường xuyên, tức là chi để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và các hoạt động công cộng.

+Chi cho đầu tư phát triển.

o Ở các nước đang phát triển, tham nhũng là quốc nạn và ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn vốn nhà nước. Do đó, chống tham nhũng là yêu cầu khách quan của quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế.

<b>*Nguồn vốn tư nhân: Nguồn vốn này phụ thuộc: </b>

 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của GDP.

 Vốn tư nhân còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm, mà tỷ lệ này lại phụ thuộc vào hàng loạt nhân tố.

<i> Trước hết, mức thu nhập bình quân trên đầu người càng lớn thì tỷ lệ tiết kiệm </i>

càng cao và ngược lại.

<i> Thứ hai, tâm lý, tập quán tiêu dùng của mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi vùng, địa </i>

phương cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ tiết kiệm.

<i> Thứ ba, chính sách tài chính, tiền tệ của chính phủ cũng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết </i>

kiệm. Chính phủ tăng thuế sẽ làm cho giá cả hàng hoá tăng và do đó tiêu dùng sẽ giảm, tiết kiệm sẽ tăng. Khi chính phủ thực thi chính sách lãi suất cao sẽ làm cho chi phí cơ hội của việc chi tiêu tăng và do đó chi tiêu sẽ giảm, tiết kiệm sẽ tăng...

 Độ rủi ro trong đầu tư.

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 6 </small></b>

 Hiệu quả đầu tư. Mục đích của đầu tư là lợi nhuận. Mức lợi nhuận lại phụ thuộc vào độ rủi ro và tính hiệu quả trong đầu tư. Độ rủi ro càng thấp, hiệu quả đầu tư càng cao càng có khả năng huy động vốn tư nhân.

<b>2. Nguồn vốn nước ngồi </b>

Nguồn vốn nước ngồi gồm có vốn của các chính phủ, các tổ chức quốc tế và của tư nhân. Hiện nay, nguồn vốn này có các hình thức chủ yếu sau:

<i>a) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foriegn Direct Investment) </i>

<b>*Ưu điểm </b>

Khi các cơng ty nước ngồi đầu tư, các nước đang phát triển sẽ có thêm vốn để tăng trưởng kinh tế.

cơng ty nước ngồi đầu tư, các nước đang phát triển sẽ có thêm nguồn ngoại tệ không nhỏ.

nghệ. Khi các cơng ty nước ngồi đầu tư vào các nước đang phát triển, họ sẽ phải đem theo công nghệ hiện đại và những phương pháp quản lý hiện đại.

Những ưu điểm trên đây làm cho việc thu hút, sử dụng FDI đặc biệt cần thiết đối với các nước đang phát triển. Vì vậy, hiện nay các nước đang phát triển đang ra sức cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn vốn này.

<b>*Nhược điểm </b>

nước ngồi, mà chủ yếu là các cơng ty xun quốc gia (TNC<small>S</small>), có quy mơ rất lớn, có trình độ quản lý và trình độ cơng nghệ cao, sức cạnh tranh rất mạnh. Khi đầu tư vào các nước đang phát triển, các cơng ty nước ngồi sẽ chèn ép, lấn át các công ty của nước sở tại.

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 7 </small></b>

 Hai là, ngăn cản sự phát triển các quan hệ ngược và quan hệ xuôi. Các ngành kinh tế có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Một ngành kinh tế nào đó phát triển sẽ tác động tích cực đến những ngành sử dụng sản phẩm đầu ra của nó. Chẳng hạn, ngành cơ khí phát triển sẽ tác động tích cực đến những ngành sử dụng sản phẩm cơ khí như nơng nghiệp, giao thơng vận tải, xây dựng… Đó là quan hệ xi. Đồng thời, sự phát triển của một ngành còn tác động tích cực đến những ngành cung cấp các đầu vào cho nó. Chẳng hạn, ngành cơ khí phát triển sẽ tác động tích cực đến sự phát triển của những ngành như luyện kim, điện lực, hóa chất… Đó là quan hệ ngược. Khi các cơng ty nước ngồi đầu tư vào các nước đang phát triển, họ sẽ tìm cách tận dụng nguồn nguyên liệu, năng lượng rẻ, lao động rẻ… của các nước này nên phần lớn sản phẩm sẽ dùng để xuất khẩu. Do đó, những ngành sử dụng sản phẩm đầu ra của họ sẽ ít có cơ hội phát triển. Cũng vì tận dụng nguồn nguyên liệu, năng lượng rẻ, lao động rẻ… nên các cơng ty nước ngồi đầu tư chủ yếu các công đoạn sử dụng nhiều lao động, nhiều nguyên liệu, năng lượng… vào các nước đang phát triển. Vì thế, các ngành gia cơng, chế biến, lắp ráp... sẽ được quan tâm đầu tư và sự phát triển của những ngành này ít tác động đến các ngành cung cấp các đầu vào quan trọng như luyện kim, chế tạo máy, điện lực, hóa chất…

dĩ như vậy là vì, các cơng ty nước ngồi có sức mạnh kinh tế to lớn. Khi đầu tư vào các nước đang phát triển, các cơng ty này có thể chi phối cả ngành kinh tế, thậm chí cả nền kinh tế. Khi đã chi phối được đời sống kinh tế, họ có thể chi phối cả đời sống chính trị, xã hội...

<i>sâu sắc. Các cơng ty nước ngồi thường tạo cơ sở xã hội bằng cách ưu đãi một bộ </i>

phận lao động làm việc cho họ; hối lộ các quan chức địa phương. Điều đó sẽ tạo ra một tầng lớp xã hội có thu nhập cao, có lợi ích gắn bó với các cơng ty nước ngồi. Sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài cùng với tầng lớp xã hội mới sẽ góp phần tạo ra lối sống, lối tiêu dùng mới khơng dễ gì thích hợp với chính sách của các nước nhận đầu tư.

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 8 </small></b>

<i>thành bãi rác công nghiệp của các nước phát triển. Các nước phát triển thường thực </i>

hiện chính sách cấm vận cơng nghệ nguồn đối với các nước đang phát triển. Họ chủ trương ưu tiên chuyển giao công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường… sang các nước đang phát triển.

Việc xử lý rác công nghiệp không dễ dàng và tốn kém. Thông qua các TNC<small>S</small>, một phần rác thải cơng nghiệp có thể được chuyển sang các nước đang phát triển, biến các nước đang phát triển thành bãi rác công nghiệp của các nước phát triển theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen.

Những phân tích nêu trên cho thấy, các nước đang phát triển cũng cần phải cân nhắc, lựa chọn trong việc thu hút đầu tư và phải tăng cường quản lý để hạn chế những nhược điểm đó.

<i>b) Viện trợ phát triển chính thức (ODA – Official Developmen Assitant) </i>

<b> *Khái niệm: Viện trợ phát triển chính thức là nguồn vốn của các nhà nước và các tổ </b>

ODA, chính phủ các nước đang phát triển phải lập và trình dự án. Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế lại chỉ cấp ODA cho các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực. Khi dự án được duyệt, các nước này phải giải ngân. Do kinh nghiệm còn hạn chế, việc giải ngân cũng không dễ dàng.

triển là người vay đồng thời cũng là người quản lý, sử dụng nguồn vốn này. Hiệu quả sử dụng thường thấp, việc thu hồi trả nợ thường rất khó khăn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 9 </small></b>

ODA, là người nhận nợ. Mặc dù vay ODA được hưởng nhiều ưu đãi nhưng do hiệu quả sử dụng thấp nên không dễ dàng trả được nợ.

<i>c) Vay thông thường </i>

Đây là những khoản vay theo lãi suất thị trường.

<i><b>*Nhược điểm: Làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế vào bên ngoài. Bất kỳ lúc nào, </b></i>

các nhà đầu tư chứng khoán nước ngồi cũng có thể bán ra các chứng khốn của họ. Nếu các nước đang phát triển khơng có đủ khả năng mua lại các chứng khốn đó, các chứng khoán sẽ xuống giá, đồng tiền mất giá, quan hệ tài chính - tiền tệ bị rối loạn… nền kinh tế sẽ rơi vào khủng hoảng.

<i>e) Viện trợ không hồn lại </i>

Đó là những khoản tiền của các chính phủ, các tổ chức quốc tế và các cá nhân viện trợ cho các nước đang phát triển.

 <b>Ưu điểm: Không phải trả cả gốc và lãi. Hiển nhiên là nguồn vốn này càng nhiều </b>

càng tốt.

 Hạn chế: Nguồn tài trợ càng lớn, người nhận càng lệ thuộc nhiều vào người tài trợ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 10 </small> 3. Quan hệ giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài </b>

<i>đang phát triển. Nguyên nhân là các nước đang phát triển đa phần nghèo nàn, lạc </i>

hậu. Do đó, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa rất thấp. Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước, quá trình tăng trưởng kinh tế sẽ rất khó khăn.

yêu cầu phát triển kinh tế: những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ nội lực. Nội lực có được phát huy thì mới thu hút và sử dụng có hiệu quả ngoại lực. Để cho tiền vay nước ngoài làm cầu, làm đường được sử dụng có hiệu quả, cần phải đầu tư để mở mang các doanh nghiệp trong nước, làm cho tần suất sử dụng cầu, đường tăng lên. Nội lực có vai trị quyết định đối với sự phát triển; bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công...

<b>III. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN HUY ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN </b>

<b> 1. Xây dựng, phát triển thị trường vốn </b>

 Thị trường vốn là thị trường mà ở đó vốn được chuyển từ những người hiện có vốn dư thừa sang những người thiếu vốn; từ những người sử dụng vốn kém hiệu quả sang những người sử dụng hiệu quả cao hơn. Khi có thị trường vốn, vốn là hàng hố, có giá cả (lãi suất). Giá cả của hàng hố vốn là thu nhập của người sở hữu vốn. Giá cả hàng hoá vốn càng cao, khả năng huy động vốn càng lớn.

 Do sự tác động của các quy luật thị trường, hàng hoá vốn sẽ di chuyển từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao. Nơi có lãi suất cao là nơi đồng vốn được sử dụng có hiệu quả cao. Như vậy, khi có thị trường vốn, đồng vốn sẽ di chuyển từ nơi có hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao và tính hiệu quả của đồng vốn trong toàn bộ nền kinh tế sẽ được nâng cao.

 Ở các nước đang phát triển, thị trường vốn gồm thị trường ngầm và thị trường chính thức. Trên thị trường ngầm, độ rủi ro của hoạt động vay mượn vốn rất cao, làm cho lãi suất cao và vì vậy làm cho người vay cũng khơng thể vay quy mơ lớn. Khơng ít

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 11 </small></b>

trường hợp, người vay không đủ khả năng trả nợ. Do đó, thu hẹp thị trường ngầm là địi hỏi tất yếu.

 Để huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, các nước đang phát triển cần phải xây dựng, phát triển thị trường vốn chính thức. Thị trường vốn chính thức bao gồm 2 định chế quan trọng: tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khốn. Do đó, nội dung xây dựng, phát triển thị trường vốn chính là phát triển tín dụng ngân hàng và xây

dựng, phát triển thị trường chứng khoán.

<b>2. Tạo môi trường vĩ mô thuận lợi </b>

Các hoạt động kinh tế (trong đó có hoạt động đầu tư) bao giờ cũng diễn ra trong môi trường vĩ mô nhất định. Môi trường vĩ mô càng thuận lợi, các hoạt động kinh tế càng có nhiều cơ hội để phát triển.

thu hút vốn đầu tư, để tăng trưởng kinh tế, các nước đang phát triển cần phải giữ ổn định chính trị.

đường xá, cầu cống, sân bay, bến cảng; hệ thống điện, nước; hệ thống thông tin liên lạc… Các nước đang phát triển cần phải huy động tất cả những nguồn lực có thể để xây dựng, hiện đại hố kết cấu hạ tầng.

Mơi trường kinh tế còn được tạo lập bởi các chính sách kinh tế: chính sách thuế, chính sách lãi suất, chính sách giá cả, chính sách cạnh tranh… Nếu chính sách đúng, lợi ích doanh nghiệp được đảm bảo, doanh nghiệp sẽ mở rộng đầu tư. Ngược lại, nếu chính sách khơng đúng, doanh nghiệp sẽ thu hẹp quy mô hoạt động, thậm chí tháo lui khỏi thị trường.

của các chủ thể kinh tế, các nhà đầu tư mới mở rộng quy mô các hoạt động của mình. Do đó, việc xây dựng mơi trường pháp lý thơng thống, phù hợp với thơng lệ quốc tế, bảo vệ được lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư… có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

<b><small>Kinh tế phát triển - Bài 3 Trang 12 </small></b>

bản đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Bởi vậy, phát triển văn hoá, giáo dục trở thành điều kiện thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư.

<b> 3. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước </b>

 Ở các nước đang phát triển, vốn nhà nước thường chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, hiệu quả vốn nhà nước ở các nước đang phát triển thường rất thấp, làm giảm hiệu quả nguồn vốn trong nền kinh tế. Vì vậy, nâng cao hiệu quả nguồn vốn nhà nước được coi là giải pháp quan trọng để tăng trưởng kinh tế.

 Để nâng cao hiệu quả nguồn vốn nhà nước, các nước đang phát triển cần phải cải cách khu vực kinh tế nhà nước theo định hướng thị trường. Trong những năm gần đây, hàng loạt biện pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện: giải tán, sát nhập những doanh nghiệp những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ; chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo cơ chế thị trường, xoá bỏ bao cấp; đầu tư hiện đại hoá doanh nghiệp nhà nước; liên doanh, liên kết; cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước…

<i><b>Chúc Anh/Chị học tập tốt! </b></i>

</div>

×