Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (948.08 KB, 15 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>MỤC LỤC </b>
1. 2. KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 45
1.3 KHUNG THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 55
2.1 CƠ SỞ LỰA CHỌN CÁC QUỐC GIA NGHIÊN CỨU ... 75
2.2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 76
2.2.1. Kinh nghiệm tại Châu Âu ... 76
2.3. BÀI HỌC CHO VIỆT NAM... 96
3.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TẠI NHNN VIỆT NAM ... 101
3.2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TẠI NHNN VIỆT NAM ... 108
3.3 ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TẠI NHNN VIỆT NAM ... 125
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">4.1 MỤC TIÊU THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 130
4.2 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 131
4.3 NỘI DUNG THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 141
5.1 ĐỊNH HƯỚNG THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 163
5.2 GIẢI PHÁP VỀ THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 164
5.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ THỰC HIỆN KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG ... 171
5.4 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN ... 178
<b>LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án </b>
Hệ thống ngân hàng đóng vai trị quan trọng trong nền kinh tế bởi vị thế trung gian trong việc trung chuyển vốn. Chính vì thế, sự lành mạnh của các định chế tài chính này ln là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan chức năng cũng như các bên liên quan khác. Ngân hàng Trung Ương (NHTW) với hai nhiệm vụ chính là điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và đảm bảo an tồn hệ thống tài chính cần có những biện pháp giám sát cẩn trọng về rủi ro nhằm cảnh báo sớm, đo lường tác động cũng như có những khuyến nghị chính sách để xử lý nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực, đảm bảo tính ổn định và bền vững cho nền kinh tế. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, một trong những vấn đề nổi lên đó là năng lực giám sát các ngân hàng và các tổ chức tài chính bởi sự phát triển lớn mạnh, đa dạng và phức tạp của các tổ chức này. Do đó, thách thức đối với các NHTW và cơ quan giám sát (CQGS) là cần phải đảm bảo sự tương đồng giữa mục tiêu chính sách tiền tệ và mục tiêu giám sát an toàn, quan tâm hơn tới mục tiêu ổn định tài chính và an tồn vĩ mơ, tập trung vào những rủi ro và các tổ chức có tầm quan trọng trong hệ thống (Bernanke, 2013).
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng BCBS (2006) trong Basel II đã tích hợp trong trụ cột 1 phương pháp kiểm tra sức chịu đựng (KTSCĐ- Stress test) để ước lượng các khoản nợ xấu, dự phòng cũng như mức độ đủ vốn của các ngân hàng trước các sự kiện bất lợi, đồng thời KTSCĐ cũng là một nội dung của trụ cột 2 về giám sát ngân hàng. Chương trình ổn định tài chính (Financial Sector Assessment Programs- FSAP) được thực hiện bởi IMF và WB tại các nước phát triển và đang phát triển cũng sử dụng KTSCĐ là một phương pháp để đánh giá khả năng chống đỡ của khu vực tài chính trước các cú sốc và áp dụng cho các rủi ro khác nhau, trong đó có rủi ro tín dụng. Dựa trên những quy định của Basel, phương pháp KTSCĐ được NHTW nhiều nước áp dụng nhằm hỗ trợ cho công tác giám sát, điển hình như NHTW tại Anh (Bank of England-BoE), NHTW Nhật Bản (Bank of Japan- BoJ), NHTW Tây Ban Nha (Bank of Spanin- BoS), Hà Lan (De Nederlandsche Bank-DNB) và NHTW Châu Âu (European Central Bank-ECB),…
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Trong các cuộc KTSCĐ được thực hiện bởi NHTW thì đều có cấu phần liên quan đến KTSCĐ rủi ro tín dụng. Borio và cộng sự, (2012) cũng cho rằng KTSCĐ vĩ mô cần tập trung trước hết vào rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng . Như vậy có thể khẳng định KTSCĐ ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu và đắc lực để NHTW và CQGS đánh giá và giám sát các ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng của các ngân hàng nói riêng.
<b> Trải qua hơn 65 năm hình thành và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam </b>
liên tục tăng trưởng cả về số lượng, quy mô, mạng lưới và phương thức vận hành. Tính đến cuối năm 2019, hệ thống các NHTM Việt Nam có 7 NHTM Nhà nước, 28 NHTM cổ phần, 2 ngân hàng liên doanh, 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 49 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổng tài sản hệ thống NHTM chiếm tới 97,17% tổng tài sản hệ thống TCTD Việt Nam (NHNN, 2019). Trong đó rủi ro tín dụng vẫn là rủi ro trọng yếu nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng Việt Nam. NHNN bắt đầu nghiên cứu và triển khai KTSCĐ từ năm 2013, tuy nhiên nội dung thực hiện vẫn còn ở những bước đầu và còn nhiều nội dung cần hiệu chỉnh. Trong chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 986/QĐ- TTg ngày 08/8/2018, một trong những nội dung quan trọng là cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Hoạt động giám sát ngân hàng tại Việt Nam, vì vậy cũng cần hướng tới việc đổi mới phương pháp giám sát, triển khai các công cụ giám sát hiện đại, trong đó có KTSCĐ nhằm chuyển đổi từ giám sát tuân thủ sang giám sát rủi ro, kết hợp giám sát an tồn vi mơ và giám sát an toàn vĩ mơ. Bên cạnh đó, tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu về KTSCĐ nói chung và KTSCĐ rủi ro tín dụng nói riêng trên phương diện cơ quan giám sát tại Việt Nam hiện vẫn còn nhiều khoảng trống.
Xuất phát từ các vấn đề lý luận, thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu như
<i><b>trên, việc nghiên cứu về “Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát </b></i>
<i><b>ngân hàng tại Việt Nam” là cần thiết, nhất là trong công tác quản lý nhà nước trong </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là công tác thanh tra, giám sát ngân hàng.
<b>2. Tổng quan tình hình nghiên cứu </b>
<i><b>2.1. Tổng quan nghiên cứu quốc tế </b></i>
của cả các nhà học thuật, các nhà nghiên cứu và những người làm thực tế trong. KTSCĐ trở thành công cụ hữu hiệu trong việc đánh giá sự ổn định, khả năng chống đỡ của hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng trước những cú sốc bất lợi của nền kinh tế. Tổng quan nghiên cứu được chia thành ba cấu phần: về kiểm tra sức chịu đựng, về kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng và kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng. Cụ thể:
<b> Về kiểm tra sức chịu đựng </b>
Thuật ngữ kiểm tra sức chịu đựng, tiếng anh là Stress test bắt nguồn từ ngành kỹ thuât (Demkas, 2015), trong đó KTSCĐ được hiểu là phân tích thử nghiệm một hệ thống hay cấu trúc trong hoàn cảnh nào thì vượt quá khả năng hoạt động bình thường dẫn đến khơng hoạt động, từ đó xác nhận thông số kỹ thuật cần được đảm bảo của hệ thống hay cấu trúc đó.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính-ngân hàng, một trong những ứng dụng đầu tiên của phương thức này được thực hiện vào đầu những năm 1990 tại J.P.Morgan khi tích hợp vào phương pháp ma trận rủi ro (RiskMetrics) để đo lường rủi ro thị trường (Zangari 1996). Berkowitz (1999) cung cấp cách tiếp cận lý thuyết KTSCĐ áp dụng cho lĩnh vực tài chính như là một thay thế cho phương pháp tiếp cận VaR khi mà phương pháp này không xét đến tác nhân làm thay đổi rủi ro hiện tại. Berkowitz (1999) đã gợi ý một cách ước tính rủi ro danh mục tiềm ẩn hình của các ngân hàng bằng cách kết hợp các biến động lịch sử của các hành vi kinh tế vĩ mơ vào mơ hình
Hilbers và cộng sự (2004) trong một nghiên cứu khác của IMF nhấn mạnh sự khác biệt trong việc đánh giá sức chịu đựng ở mức hệ thống (vĩ mô) và vi mô. Các tác giả cũng tổng quan lại phương pháp đánh giá sức chịu đựng, từ xác định các tổn thất tới xây dựng các tình huống và phát biểu kết quả. Trong khi đó Ủy ban Basel về giám
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">sát ngân hàng (BCBS, 2009) đã ban hành bộ nguyên tắc về KTSCĐ, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng KTSCĐ trong việc xác định mức vốn cần thiết để hấp thụ các tổn thất khi các cú sốc xảy ra. Alfaro và Drehmann (2009) khi đánh giá mức hiệu quả của các phương pháp KTSCĐ trong giai đoạn khủng hoảng. Các tác giả nhấn mạnh các giả định trong mơ hình khơng tương ứng với những gì đã thực sự xảy ra trong khủng hoảng. Hơn thế, Alfaro và Drehmann (2009) còn nhận thấy rằng đa phần các tình huống trong mơ hình thường dựa trên dữ liệu lịch sử về điều kiện vĩ mô khả quan hơn thực tế. Trong khi đó Schuermann (2014) chỉ ra hạn chế của các quy định an toàn vốn trong cuộc khủng hoảng vừa qua và nhấn mạnh vai trò của KTSCĐ như là công cụ mới, hữu hiệu đánh giá rủi ro chính xác.
Sau đó, phương pháp KTSCĐ này được áp dụng rộng rãi tại các tổ chức tài chính, NHTW, CQGS. Cơ quan giám sát tài chính đã nhận ra lợi ích của việc kiểm tra sức chịu đựng của toàn bộ danh mục hoặc toàn bộ bảng cân đối từ các tình huống mơ phỏng lượng hóa các giả thuyết về "cú sốc" cho các biến được lựa chọn và đánh giá tác động lên lợi nhuận, vốn, hay khả năng của các tổ chức quy định để tiếp tục đáp ứng các nghĩa vụ của họ, bao gồm cả các yêu cầu từ các cơ quan giám sát (Hirtle và cộng sự, 2014). Năm 2018, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng BCBS đã ban hành bộ nguyên tắc về KTSCĐ mới thay thế cho bộ nguyên tắc về KTSCĐ được ban hành năm 2009 (BCBS, 2018). Adrian (2020) gần đây nhất đã phân tích các nội dung và thách thức khi thực hiện KTSCĐ trong các chương trình FSAP tại các quốc gia thành viên của IMF.
Phân chia theo rủi ro, KTSCĐ có thể được thực hiện theo cách thưc tiếp cận từng phần hay từng rủi ro, trong đó xem xét mối quan hệ nhân quả giữa các cú sốc tới các biến tài chính riêng biệt. Rủi ro thị trường là rủi ro đầu tiên ứng dụng KTSCĐ như trong nghiên cứu của (Zangari 1996). Sau đó mới đến các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng như nghiên cứu của Pesaran và cộng sự (2004) và Alves (2004). Phương pháp thứ hai là phương pháp tích hợp để đánh giá chung sự ổn định của cả hệ thống. Adrian và Shin (2008), Sorge (2004) và Jandacka và cộng sự (2005) đã sử dụng cách thức tiếp cận này vì nó có thể đưa
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">ra được phân phối thua lỗ trong bất kì tình huống cần kiểm tra nào. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu sẽ áp dụng cho một loại rủi ro hay nhiều rủi ro.
<b> Về Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng </b>
KTSCĐ rủi ro tín dụng phổ biến nhất so với thực hiện KTSCĐ các rủi ro khác. Thuật ngữ KTSCĐ rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại được hiểu là tập hợp các kỹ thuật và phương pháp được sử dụng để đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại trước những sự kiện hoặc kịch bản bất lợi.
Khung thực hiện KTSCĐ rủi ro tín dụng NHTM bao gồm quy trình các bước và các nội dung được thực hiện theo trình tự xác định Cihak (2007). Theo đó,
<i>KTSCĐ rủi ro tín dụng NHTM gồm 3 bước chính để thực hiện. Bước 1: Kịch bản </i>
kinh tế vĩ mô được xây dựng nhằm phản ánh các kịch bản về các biến số kinh tế vĩ mơ. Theo Foglia (2009). có 3 mơ hình được sử dụng để xây dựng các kịch bản kinh tế vĩ mô bao gồm: mơ hình kinh tế lượng cấu trúc (structural macroeconomic model), mơ hình tự hồi quy véc tơ (vector autoregressive methods) và phương pháp
<i>tiếp cận thống kê thuần túy (statistical approaches). Tại bước thứ hai, tùy theo mục </i>
tiêu của KTSCĐ tín dụng, mức độ săn có của dữ liệu mà mơ hình đo lường rủi ro tín dụng có thể được đánh giá ở cấp độ tổng hợp, ngành. Theo Cihak (2007), có hai phương pháp tiếp cận thường được sử dụng: (i) Một phương pháp dựa trên chất lượng khoản vay như nợ xấu – NPLs, dự phòng mất vốn (loan loss provisions –LLP) hay tỉ lệ vỡ nợ lịch sử; (ii) phương pháp thứ hai dựa trên số liệu vi mô liên quan đến rủi ro vỡ nợ của khu vực hộ gia đình và/hay khu vực doanh nghiệp. Việc sử dụng kỹ thuật mơ hình nào phụ thuộc vào mức độ sẵn có của dữ liệu cũng như
<i>mục tiêu của việc thực hiện KTSCĐ rủi ro tín dụng. Bước thứ ba và cũng là bước </i>
cuối cùng trong quy trình KTSCĐ là đánh giá tác động của kịch bản vĩ mô lên rủi ro tín dụng của ngân hàng, và cuối cùng đánh giá xem liệu ngân hàng có khả năng chịu đựng được các cú sốc đã đưa ra hay không. Điều này được thực hiện bằng cách so sánh tổn thất của ngân hàng với một ngưỡng phù hợp. Các phương pháp có thể áp dụng khác nhau với mơ hình đo lường rủi ro tín dụng tổng thể, mơ hình sử dụng
</div>