Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

tiểu luận tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.39 MB, 64 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN</b>

<b>BÀI TẬP NHÓMHỌC PHẦN: KINH TẾ HỌC SO SÁNH </b>

<b>Hà Nội, tháng 4/2024</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>Họ và tênMã sinh viên</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>LỜI MỞ ĐẦU...1</b>

1. Tính cấp thiết của đề tài...1

2. Mục tiêu nghiên cứu...1

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...2

4. Phương pháp nghiên cứu...2

5. Kết cấu...2

<b>NỘI DUNG...3</b>

<b>CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM...3</b>

1.1 Thực trạng biến đổi khí hậu trên thế giới...3

1. 2 Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam...5

<i>1.2.1 Nhiệt độ...5</i>

<i>1.2.2 Lượng mưa...5</i>

<i>1.2.3 Mực nước biển tăng...6</i>

<i>1.2.4 Các nguy hiểm tự nhiên liên quan đến biến đổi khí hậu...6</i>

<i>1.3.2 Duyên hải miền Trung...9</i>

<i>1.3.3 Đồng bằng sông Cửu Long...10</i>

1.4 Nguyên nhân của BĐKH tại Việt Nam...11

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU ĐẾN VIỆT NAM...13

2.1 Tác động của biến đổi khí hậu tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam...13

2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến cơ cấu kinh tế Việt Nam...14

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

2.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến tiến bộ xã hội...27

<i>2.3.1 Tác động của BĐKH đến chỉ số phát triển con người...27</i>

2.3.1.1 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người...28

2.3.1.2 Ảnh hưởng đến giáo dục...30

2.3.1.3 Gây thiệt hại kinh tế và làm giảm thu nhập của người dân...32

<i>2.3.2 Tác động của BĐKH đến mục tiêu giảm nghèo...33</i>

2.3.2.1 Tác động của BĐKH đến tỷ lệ hộ nghèo...33

2.3.2.2 Tác động của BĐKH đến tỷ lệ tái nghèo...37

<i>2.3.3 Tác động của BĐKH đến bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng</i>2.3.3.1 Làm gia tăng bất bình đẳng giới...38

2.3.3.2 Gây nên bất bình đẳng thu nhập...40

<i>So sánh với Philippines:...41</i>

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHỊNG CHỐNG THIÊN TAI VÀỨNG PHĨ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA VIỆT NAM VÀ VAI TRỊ CỦACÁC BÊN LIÊN QUAN...43

3.1 Thành tựu...43

3.2. Hạn chế...45

3.3 Nguyên nhân...47

3.4. Bài học kinh nghiệm...48

3.5 Vai trò của các bên liên quan...48

3.6. Liên hệ: Sinh viên cần làm gì để phịng chống thiên tai và ứng phó vớiKẾT LUẬN...54

TÀI LIỆU THAM KHẢO...55

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

BĐKH Biến đổi khí hậu

CD CCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Bảng 2.1: Diện tích có nguy cơ bị ngập theo mực nước biển dâng ở Việt Nam

Bảng 2.2:Hệ số sử dụng đất toàn vùng ĐBSH năm 2021...16

Bảng 2.3: Thống kê thiệt hại do thiên tai ngành thủy sản...19

Bảng 2.4: Thiệt hại về nông nghiệp...20

Bảng 2.5: Chỉ số HDI của Việt Nam từ 1990-2022...27

Bảng 2.6: Chỉ số giáo dục của một số quốc gia năm 2014...30

Bảng 2.7: Hệ số Gini Việt Nam giai đoạn 2016-2020...40

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Hình 1.1: Biến động nhiệt độ và lượng mưa ở ĐBSH giai đoạn 2005 –2020………9Hình 2.1: Diện tích trồng lúa từ 2016-2021 và hiện trạng sử dụng đất năm 2021... 15Hình 2.2: Xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long mùa khô 2021 – 2022...17Hình 2.3: Tác động của BĐKH đến một số ngành, cộng đồng dễ bị tổn thương.25Hình 2.4: Số năm đi học bình quân và số năm đi học kỳ vọng của cả nước giai

Hình 2.5: Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều Việt Nam giai đoạn 2016-2020...34Hình 2.6: Bản đồ tỷ lệ nghèo...35Hình 2.7: Tỷ lệ lao động có việc làm trong lĩnh vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>1. Tính cấp thiết của đề tài</b>

Trong quá trình phát triển kinh tế, vấn đề biến đổi khí hậu luôn là một mốiquan tâm lớn, cấp thiết cho tồn thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Biếnđổi khí hậu đã tạo ra các hiện tượng thời tiết cực đoan hiện nay. Đây là một trongnhững thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI vì những ảnhhưởng trực tiếp của BĐKH đến hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc sốngcủa con người.

Xét trên phạm vi toàn thế giới, BĐKH sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởngkinh tế và gây ra các chu kỳ tăng trưởng không bền vững. Các nghiên cứu chỉ rarằng, BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến năng suất, sản lượng và làm giảm tốcđộ tăng trưởng ở các nước chịu tác động mạnh của BĐKH, đặc biệt ở các nướcđang phát triển.

Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu tác động đến nhiều lĩnh vực như nănglượng, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông,...làm giảm năng suất, chất lượng,giảm tốc độ tăng trưởng tới những khu vực chịu tác động nặng nề nhất, ảnhhưởng tới phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế, nước ta đang chịu những ảnhhưởng nặng nề từ BĐKH gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nướcnhà. Trong 15 năm qua, thiên tai đã gây tổn hại khoảng 1,5% GDP bình quânhàng năm. Nhận thấy sự cấp thiết của việc đối phó với biến đổi khí hậu đối vớisự tồn tại và phát triển của đất nước, đặc biệt là sự phát triển kinh tế, nhómnghiên cứu đã lựa chọn đề tài "Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinhtế Việt Nam".

<b>2. Mục tiêu nghiên cứu </b>

- Mục tiêu chung: Nghiên cứu tìm hiểu và đánh giá rõ ràng về thực trạng và tácđộng của biến đổi khí hậu đối với phát triển kinh tế của Việt Nam.

<b>- Mục tiêu cụ thể: </b>

 Phân tích thực trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam: Nghiên cứu sẽ đi sâuvào phân tích các biến đổi khí hậu đang diễn ra tại Việt Nam, bao gồm sựbiến đổi của môi trường tự nhiên và ảnh hưởng đến các ngành kinh tế vàxã hội.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Nam: Phân tích các tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến các khíacạnh của phát triển kinh tế nước ta.

 Đánh giá các công tác, chương trình thích ứng của biến đổi khí hậu vớiphát triển kinh tế ở Việt Nam: Việt Nam đã thích ứng với biến đổi khí hậunhư thế nào: đã áp dụng, thực thi các biện pháp nào và hiệu quả đạt được Những tích hợp nhằm khắc phục những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

đến phát triển kinh tế Việt Nam: Nghiên cứu sẽ đề xuất các phương pháptích hợp và chính sách đồng bộ nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực củabiến đổi khí hậu đối với phát triển kinh tế, đồng thời tăng cường sự bềnvững và đa dạng hóa kinh tế của Việt Nam.

<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu</b>

 Đối tượng: Các tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế Phạm vi không gian: Việt Nam

 Phạm vi thời gian: 2010 đến nay

<b>4. Phương pháp nghiên cứu</b>

- Phương pháp thu thập số liệu- Phương pháp điều tra

<b>5. Kết cấu</b>

Bài viết này gồm 3 chương:

Chương 1: Thực trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam Chương 2: Tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam

Chương 3: Đánh giá các hoạt động phịng chống thiên tai, ứng phó với biến đổikhí hậu ở Việt Nam và vai trò các bên liên quan.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<b>CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Thực trạng biến đổi khí hậu trên thế giới </b>

Trái đất ngày càng nóng lên đồng nghĩa với việc biến đổi khí hậu ngàycàng gia tăng. Đây là một vấn đề nhức nhối toàn cầu, ảnh hưởng đến con người,môi trường và các vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội.

Năm 2020 và 2021, không chỉ hứng chịu những tổn thất từ đại dịchCovid-19, thế giới còn phải tiếp tục quay cuồng trước những hiện tượng thời tiếtcực đoan do biến đổi khí hậu gây ra với những kỷ lục khắc nghiệt và những thảmhọa kinh hoàng. Cháy rừng thiêu rụi các khu vực rộng lớn ở Úc, Siberia, Bờ TâyHoa Kỳ và Nam Mỹ, tạo ra những đám khói bay vịng quanh thế giới. Theo sốliệu từ Trung tâm Cứu hỏa liên cơ quan quốc gia Mỹ (NIFC), trên khắp nước Mỹđã diễn ra ít nhất 107 đám cháy rừng lớn tại 15 bang (nghiêm trọng nhất ở cácbang Montana, Oregon và California). Các vụ cháy rừng đã khiến hàng nghìnngười dân nước này phải đi sơ tán và thiêu rụi hàng trăm ngơi nhà.

Khí quyển và Đại dương (NOAA) của Mỹ vào tháng 1 đầu năm 2022cũng cho biết, 9 năm liên tục từ 2013 đến 2021 là giai đoạn 'nóng kỷ lục' của khíhậu tồn cầu và ngun nhân chính dẫn đến tình trạng này là sự gia tăng lượngkhí nhà kính kể từ khi con người tiến hành cách mạng cơng nghiệp đến nay. Tìnhtrạng ấm lên tồn cầu, những đợt nắng nóng kỷ lục trong năm qua đã dẫn đếnnhững vụ hạn hán tại nhiều quốc gia trên thế giới và châm ngòi cho hàng loạt vụcháy rừng. Ví dụ như bang California cùng nhiều khu vực khác của miền Tâynước Mỹ đã phải trải đợt hạn hán kéo dài, tồi tệ và khắc nghiệt nhất trong kỷ lục126 năm vào mùa hè năm 2021. Ở khu vực Nam Mỹ, Chile cũng phải hứng chịuđợt siêu hạn hán kéo dài một thập kỷ liên quan đến sự nóng lên tồn cầu hay nhưBrazil cũng ghi nhận năm 2021 là năm khô hạn nhất trong 100 năm qua. Cịn ởĐịa Trung Hải, một mùa hè khơ nóng đã thổi bùng những đợt hỏa hoạn dữ dội ởAlgeria, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ khiến hàng nghìn người phải bỏ nhà cửa đi sơtán.

Bên cạnh hạn hán, cháy rừng, trong năm 2021, nhiều nơi trên thế giới cònphải oằn mình chống chịu với một hiện tượng thời tiết cực đoan khác là lũ lụt. Lũlụt xuất hiện thường xuyên và bất chợt ở nhiều khu vực châu Phi, Trung Quốc,Đơng Nam Á,.. Chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2020, Trung Quốc đã trải qua 21trận lũ lụt, gấp 1,6 lần so với cùng kỳ những năm trước, thiết lập kỷ lục lịch sử kể

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

ra vào tháng 7 tại tỉnh Hà Nam, miền Trung Trung Quốc. Chỉ trong 3 ngày vớilượng mưa lớn kỷ lục kể từ khi các số liệu được ghi nhận cách đây 60 năm, nhiềunơi tại tỉnh này đã bị chìm trong biển nước, khiến hơn 1,5 triệu người phải đi sơtán, trên 300 người tử vong, 50 người mất tích, làm ảnh hưởng đến khoảng215.000 ha hoa màu và gây tổn thất kinh tế trực tiếp hàng tỷ Nhân dân tệ. Cácnhà khí tượng cho biết, hiện tượng mưa lớn xảy ra ở tỉnh Hà Nam là hiện tượnghiếm đến mức chỉ xảy ra một lần trong 1.000 năm.

Năm 2023 có thể nói là một năm ghi nhận nhiều thảm họa thiên nhiênnhất, từ động đất, đến hạn hán, cháy rừng, rồi lũ lụt và băng tuyết…Giữa năm2023, nhiều nơi trên thế giới đã chứng kiến những "tháng nóng nhất lịch sử" vớinhiệt độ liên tục phá kỷ lục. Nam Âu và Bắc Phi trong năm qua "báo động đỏ" vềsóng nhiệt với nắng nóng cực đoan và kéo dài bất thường, dẫn tới cháy rừngnghiêm trọng. Ngày 11/8 là ngày kỷ lục về nhiệt độ: thành phố Agadir của Marocghi nhận nền nhiệt 50,4 độ C, châu Âu xác lập con số cao nhất từ trước đến nay,tới 48,8 độ C đo được ở Sicily (Italy). Gần 1.000 đám cháy tàn phá 15,6 triệu harừng ở Canada, biến mùa cháy rừng năm nay trở thành thảm họa gây tổn thất lớnnhất trong lịch sử nước này. Đó cịn là cháy rừng tại Indonesia vào tháng 6, cháyrừng dữ dội ở bang Hawaii (Mỹ) vào tháng 8 khiến khoảng 100 người thiệt mạngđược đánh giá là tàn khốc nhất ở Mỹ trong hơn 100 năm qua. Riêng trong tháng7 năm nay, Hy Lạp đã thống kê tổng cộng hơn 120 vụ cháy rừng lớn nhỏ…

Đi qua những đợt nắng nóng khơ hạn, thế giới lại chứng kiến những trậnbão lũ vào những tháng cuối năm. Libya được nhắc tới như một nỗi ám ảnh kinhhoàng về số người thiệt mạng (hơn 11.300 người) và hơn 10.000 người mất tíchdo lũ lụt tại miền Đơng hồi tháng 9/2023. Giới chức Libya thông báo, lũ lụt đãlàm hư hại khoảng 5.000 ngôi nhà và phá hủy mạng lưới cấp nước khiến ngườidân ở nhiều nơi bị thiếu nước uống nghiêm trọng. Một cuộc khủng hoảng về vệsinh dịch tễ cũng đã xảy ra ở Libya. Đây được xem là một trong những thảm họatự nhiên có hậu quả tàn khốc nhất của năm qua. Không chỉ ở Libya, những trậnlũ dữ dội còn càn quét liên tục các quốc gia và vùng lãnh thổ khác xuyên suốttrong cả năm 2023. Hồi tháng 5, hơn 250.000 người phải sơ tán do lũ lụt tạiSomalia. Tháng 10, Myanmar đã phải đóng cửa hơn 200 trường học do lũ lụt.Tháng 11, Pháp tuyên bố tình trạng thiên tai tại 250 cộng đồng ở miền Bắc do lũlụt…

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Sự gia tăng nhiệt độ trong thời gian dài và kỷ lục đang ảnh hưởng mạnhđến hệ sinh thái biển, đặc biệt là rạn san hô và cáp đá, mà Việt Nam có một sốlượng lớn. Rạn san hơ bị ấm lên có thể gây ra hiện tượng chết rạn, mất mát độngthực vật biển, và ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thực phẩm và đặc biệt là về mặtkinh tế từ du lịch biển hay đánh bắt thuỷ hải sản.

<i><b>1.2.2 Lượng mưa </b></i>

BĐKH đang khiến vịng tuần hồn nước xảy ra nhanh hơn khi nhiệt độ tăng làm tăng độ bay hơi, bốc hơi nhiều sẽ gây ra mưa nhiều hơn, tốc độ bay hơi và lượng mưa cao hơn lại không được phân bố đều. Một số khu vực hứng chịu lượng mưa lớn hơn bình thường, trong khi đó, các khu vực khác có thể phải trải qua hạn hán. Lượng mưa trung bình năm cả nước có xu thế tăng nhẹ. Trong đó, tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân, giảm vào các tháng mùa thu.

Mùa mưa thực tế luôn luôn dao động xung quanh mùa mưa trung bình.Khoảng thời gian xung quanh tháng bắt đầu, tháng cao điểm và tháng kết thúccủa mùa mưa trung bình là 3 – 6 tháng tùy thuộc vào đặc tính mùa mưa trên từngvùng khí hậu: Trên vùng khí hậu Tây Bắc, Đơng Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, TâyNguyên, Nam Bộ khoảng dao động xung quanh tháng bắt đầu và tháng kết thúcthường rất ngắn nhưng khoảng dao động xung quanh tháng cao điểm lại rất dài;trên vùng khí hậu Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ thì khác hơn, dao động xungquanh tháng bắt đầu và tháng kết thúc thường rất dài trong khi dao động xungquanh tháng cao điểm lại rất ngắn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Sự nóng lên tồn cầu đã và đang trực tiếp khiến cho mực nước biển trungbình của Trái Đất tăng lên theo hai cách chính: các sơng băng trên núi, các tảngbăng ở hai cực ngày càng tan chảy làm tăng lượng nước vào đại dương và các đạidương đang ấm dần lên dẫn đến mở rộng và do đó tăng thể tích. Ngồi ra, cácvấn đề thủy văn khác sẽ xuất hiện, chẳng hạn như lũ lụt, tiến hóa cửa sơng, bồilắng. Tần suất xốy thuận nhiệt đới ( hay cịn gọi là bão nhiệt đới), triều cường,sóng thần và các thiên tai khác cũng sẽ tăng lên ở các mức độ khác nhau.

Thêm vào đó, các chỉ số của mực nước biển tại Việt Nam không đồngđều, mức độ biến động rất cao nhưng có xu hướng tăng lên rõ rệt qua các năm.Trước xu hướng đó, nước biển dâng cao không chỉ để lại hậu quả về sự ngậptĩnh. Các vùng ven bờ và cửa sông bị xâm thực làm cho cơ sở hạ tầng ven biển bịđe dọa lớn hơn. Bên cạnh đó chế độ thủy văn trên từng địa bàn sẽ có những thayđổi ảnh hưởng tới tình trạng xói lở, bồi lắng phù sa trên các hệ thống sơng chínhcũng thay đổi.. Sự biến động này khiến cho việc dự báo mực nước biển tại ViệtNam cịn khó khăn, dẫn tới tình trạng Việt Nam chưa có chính sách hiệu quả đểứng phó.

<i><b>1.2.4 Các nguy hiểm tự nhiên liên quan đến biến đổi khí hậu</b></i>

<i>1.2.4.1 Về Hạn hán</i>

Có hai loại hạn hán chính có thể ảnh hưởng đến Việt Nam, khí tượng(thường liên quan đến sự thâm hụt về lượng mưa) và thuỷ văn (thường liên quanđể sự thâm hụt về dòng chảy bề mặt và dưới bề mặt, có khả năng bắt nguồn từcác lưu vực sông lớn hơn của khu vực).

Hiện tại, Việt Nam phải đối mặt với xác suất trung bình hàng năm của hạnhán khí tượng là khoảng 4%. Các dự báo cũng cho thấy rằng, do sự ấm lên toàncầu, các đợt hạn hán tại Việt Nam có tần suất lớn hơn, diễn ra thường xuyên hơnvà trong thời gian dài hơn. Từ cuối năm 2015, Việt Nam trải qua những đợt nhiệtđộ cao và lượng mưa dưới mức trung bình dẫn đến tình trạng hạn hán và xâmnhập mặn nghiêm trọng gây nhiều thiệt hại và đe dọa lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp của cả nước và đời sống của người dân.

Năm 2016, người dân miền Trung và miền Nam Việt Nam đã trải qua đợthạn hán và xâm nhập mặn lớn nhất trong lịch sử 90 năm vừa qua, ảnh hưởng tớihơn 50 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó 18 tỉnh phải thơng báo tình trạngkhẩn cấp. Trong đợt nắng nóng năm 2019 ở Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh), nhiệt độ

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Nam đến nay. Năm 2020, nền nhiệt độ trung bình tháng phổ biến cao hơn trungbình nhiều năm từ 0,5 - 1,5°C; đặc biệt, trong tháng 3 và tháng 4, nhiệt độ trungbình tháng cao hơn so với trung bình nhiều năm từ 1,6 - 3,0°C. Trong đó, đợtnắng nóng đặc biệt gay gắt trên diện rộng gần đây nhất diễn ra từ ngày 20 đến 21tháng 5 với nhiệt độ phổ biến từ 38 - 40°C, có nơi cao hơn như tại Hà Đơng (HàNội) với nền nhiệt lên ngưỡng 40,9°C (ghi nhận trong ngày 21 tháng 5).

<i>1.2.4.2 Về Bão nhiệt đới </i>

Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á, là quốc gia nằm ở cực Đông củalục địa Đông Nam Á. Việt Nam giáp biển Đơng nên khả năng xuất hiện các xốythuận nhiệt đới ngày càng gia tăng. Bão nhiệt đới ở Việt Nam được coi là mộtphần của mùa bão khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương.

Về mặt khí hậu, ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương , hầu hết các xốythuận nhiệt đới có xu hướng phát triển trong khoảng thời gian từ tháng 5 đếntháng 11. Các cơn bão ảnh hưởng đến khu vực này tương đối phổ biến, hầu hếtcác cơn bão này xuất hiện từ giữa năm. Bão tập trung nhiều nhất vào tháng 9, sauđó đến tháng 10 và tháng 8 (chiếm tới 70% số cơn bão trong toàn mùa).

Mùa bão ở Việt Nam chậm dần từ Bắc vào Nam. Bão hoạt động mạnhnhất ở ven biển Trung Bộ. Trung bình mỗi năm có từ 3-4 cơn bão đổ bộ vàonước ta, năm bão nhiều có 8-10 cơn bão. Hướng di chuyển trung bình của bãocũng khác nhau theo mùa. Ở nửa đầu mùa bão, quỹ đạo của bão ít phức tạp, vàngược lại, bão thường di chuyển phức tạp trong nửa cuối mùa bão. Quỹ đạo củabão trong Biển Đơng có thể được chia thành 5 dạng chính: ổn định, phức tạp,parabol, suy yếu trên biển và mạnh lên gần bờ. Trong số đó, dạng phức tạp vàmạnh lên gần bờ là khó dự báo nhất. Hơn nữa, khu vực Biển Đơng chịu sự chiphối của nhiều hệ thống thời tiết khác nhau nên càng làm cho việc dự báo phứctạp hơn.

<i>1.2.4.4 Về Rủi ro xâm nhập mặn</i>

Những năm gần đây, hạn hán, xâm nhập mặn đến sớm và nghiêm trọnghơn giai đoạn trước năm 2015. Ngay từ giữa năm 2019, mực nước thượng lưusông Mê Công ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm từ 2,5 - 5,0 m, ở trung lưuvà hạ lưu thấp hơn từ 2,5 - 3,5 m. Tổng lượng dịng chảy từ thượng nguồn sơngMê Cơng về ĐBSCL tại trạm Kratie (Campuchia) thấp hơn trung bình nhiều nămcùng kỳ 48%, tương đương năm 2010, đây là năm thiếu hụt kỷ lục. Xâm nhập

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

tỉnh Bến Tre, cuối năm 2019, nước mặn đã lấn sâu từ các cửa sông vào đất liền,độ mặn 4‰ đã xâm nhập đến xã Thành Thới A (huyện Mỏ Cày Nam) trên sôngCổ Chiên, cách cửa sông khoảng 40km; độ mặn 1‰ đã xâm nhập đến xã MỹThành (thành phố Bến Tre) trên sông Hàm Luông, cách cửa sông khoảng 56 km.Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn cũng diễn ra tại một số địa phương ởTrung Bộ, kéo dài từ Nghệ An đến Ninh Thuận, nặng nhất là ở Quảng Nam,Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Xâm nhập mặn sâu vào nội đồng đã diễn ra tạiQuảng Trị, Đà Nẵng.

<b>1.3 Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam theo vùng</b>

<i><b>1.3.1 Đồng bằng sông Hồng</b></i>

Đồng bằng sông Hồng là một trong hai châu thổ của Việt Nam chịu tácđộng nặng nề của biến đổi khí hậu, dễ dẫn đến sự tổn thương về môi trường, xãhội, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Thời gian qua, phíathượng nguồn các sơng xây dựng nhiều hồ đập tích trữ nước nên dẫn đến dưới hạlưu gặp khó khăn trong kiểm sốt nguồn nước. Bên cạnh đó, việc phát sinh chấtthải, khí thải trong q trình sản xuất gây hiệu ứng nhà kính và khai thác quámức nguồn nước ngầm cũng khiến đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng…Khi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng khốc liệt, hạnhán, xâm nhập mặn đe dọa nghiêm trọng đến tài nguyên nước phục vụ sản xuấtnông nghiệp và đời sống dân sinh. Ngoài ra, khi nước biển dâng 100cm, khoảng3% ĐBSH sẽ chịu ngập, trong đó, bao gồm: 1,4% diện tích trồng lúa, 0,6% khudân cư, 0,2% đất làm muối và 0,8% các loại đất khác. Nhiều tỉnh, thành phốtrong vùng bị mất đất do ngập khá nghiêm trọng, như: Thái Bình: 31,2%, NamĐịnh: 24%, Thành phố Hải Phòng: 17,4%.

Về nhiệt độ, trong thời kỳ 2010 – 2020, nhiệt độ trung bình ở ĐBSH có xuhướng tăng nhẹ từ khoảng 230C đến 250C. Nhiệt độ trung bình tháng cao nhấtdao động trong khoảng 280C đến 310C. Đáng chú ý là nhiệt độ trung bình thángthấp nhất chỉ dao động trong xung quanh 150C trong giai đoạn 2005 – 2013,nhưng thời kỳ 2014 – 2020, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất có xu hướng tăngdần từ 160C lên khoảng 17.50C (xét số liệu từ 2010-2020 đảm bảo phù hợp vớithời gian nghiên cứu của bài). Những con số thống kế này cho thấy nhìn chungnhiệt độ ở ĐBSH có xu hướng tăng lên nhẹ trong thập kỷ qua. Hình 1 thể hiện xuthế biến động của nhiệt độ và lượng mưa trong thời kỳ 2005 - 2020.

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<i>Nguồn: Tạp chí cơng thương điện tử </i>

Về lượng mưa, có thể thấy lượng mưa trung bình tháng chỉ dao độngquanh mức 120mm đến 190mm. Xu thế về lượng mưa trung bình tháng và lượngmưa tháng thấp nhất gần như khơng thay đổi nhiều. Tuy nhiên, lượng mưa trungbình tháng cao nhất có sự biến thiên rất mạnh và có xu hướng tăng dần qua thờigian.

Hiện tượng sạt lở bờ biển trên nhiều đoạn kéo dài hàng chục, hàng trămkm với tốc độ phá huỷ bờ sâu vào đất liền hàng chục, thậm chí hàng trăm mét làhiện tượng xảy ra thường xuyên trong nhiều năm gần đây, liên quan đến sự tànphá do gia tăng bão, sóng lớn và sự thay đổi của động lực biển ở đôi bờ. Hiệntượng hình thành các cồn cát và trầm tích bồi lấp luồng vào của các cửa sông gâytrở ngại lớn cho hoạt động vận tải ra vào các cảng biển khiến cho những cơngtrình nạo vét rất tốn kém đều nhanh chóng bị vơ hiệu.

<i><b> 1.3.2 Dun hải miền Trung </b></i>

Từ vài thập kỷ gần đây, rừng đầu nguồn phía Tây bị tàn phá nhiều, địamạo vùng duyên hải Trung Bộ trở nên ngày càng không ổn định, thể hiện rõ nhấtlà lở núi, lòng các hồ đập bị lấp dần, các cơn lũ tràn và lũ quét đổ vào từ BiểnĐơng. Lịng sơng, địa mạo các cửa sơng thay đổi nhiều sau mỗi mùa lũ.

Hàng năm những trận bão và gió mùa Đơng Bắc đã gây nên những trậnmưa lớn ở miền Trung. Mùa mưa bão thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, vàtrung bình hàng năm có 4 cơn bão. Khác với Sơng Hồng ở miền Bắc, các sông

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

hồ chứa nước lớn ở vùng thượng lưu để điều tiết nhằm giảm thiểu lũ lụt ở vùngđồng bằng, vì vậy các khu dân cư ở hai bên bờ sông bị ngập tràn mỗi khi có mưato.

Mực nước biển dâng và sự không ổn định của địa mạo ở vùng ven biểnmiền Trung ngày càng diễn biến phức tạp. Mực nước biển dâng bao gồm: dângdo thủy triều, dâng do bão, lũ, dâng do biến đổi khí hậu. Vì vậy những năm gầnđây, tình hình bờ biển bị xâm thực xảy ra nhiều hơn. Đã nhiều năm qua, cứ đếnmùa mưa bão, người dân sống dọc ven biển của các địa phương vùng ven biểnmiền trung thường rơi vào trạng thái lo lắng bởi nạn xâm thực của sóng biển.

<i><b>1.3.3 Đồng bằng sông Cửu Long</b></i>

Tại vùng duyên hải của các tỉnh giáp biển với biển Đơng và vịnh TháiLan, nơi có ảnh hưởng biển chiếm ưu thế, đây là nơi chịu tác động về môi trườngtự nhiên của mực nước biển dâng trực tiếp nhất. Tình hình xói lở đường bờ diễnbiến mạnh hơn, tình hình bồi lấp ở các cửa sông bị thay đổi. Bên cạnh tác động của mực nước biển dâng, Đồng bằng Sơng Cửu Longcịn chịu ảnh hưởng từ những trận lũ lụt. Hàng năm, nước lũ sông Mê Kông trànvề gây ngập lụt kéo dài trên một vùng rộng lớn, trên 5 triệu héc ta đất đai hainước Campuchia và Việt Nam, trong đó phần ngập nước phía Việt Nam là1.632.000 ha thuộc 8 tỉnh: Đồng Tháp, An Giang, Long An, Kiên Giang, CầnThơ, Tiền Giang và một phần của Vĩnh Long, Bến Tre.

Hằng năm, đồng bằng sơng Cửu Long có khoảng 1,4 triệu ha bị ngập lụtvào năm lũ nhỏ và 1,9 triệu ha vào năm lũ lớn, thời gian ngập lụt từ 3-6 tháng,muộn hơn so với thượng lưu khoảng 1 tháng. Lũ đồng bằng sông Cửu Long mỗingày lên (cường suất) trung bình 5-7cm/ ngày, lúc cao nhất có thể đạt20-30cm/ngày. Đỉnh lũ lớn nhất thường xảy ra vào cuối tháng 9, đầu tháng 10.Ngồi ra, Đồng bằng sơng Cửu Long cịn phải chịu ảnh hưởng từ tình trạng xâmnhập mặn. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện chủ yếu vào tháng 4 hoặc tháng 5do ảnh hưởng của thủy triều ở biển Đơng, biển Tây hoặc cả hai. Ngồi ra, do lưulượng dịng chảy từ thượng nguồn sơng Mê Kơng đổ về ít cũng là nhân tố chínhảnh hưởng đến tình hình xâm nhập mặn ở vùng cửa sơng ven biển của đồng bằngsông Cửu Long. Đặc biệt, cuối năm 2015 và những tháng đầu năm 2016, diễnbiến xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá nặng nề nhấttrong 100 năm qua. Ngay từ tháng 2, độ mặn đã duy trì ở mức cao và nghiêm

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

tính từ cửa sơng, thậm chí có nơi lên đến 85 km (trong khi theo Trung tâm phòngtránh và giảm nhẹ thiên tai thì độ mặn bằng 4‰ đã được coi là bị xâm nhậpmặn). Tính từ cuối năm 2015 đến nay, cả 13 địa phương thuộc đồng bằng sơngCửu Long đều đã bị nhiễm mặn, trong đó đã có 11/13 tỉnh/thành cơng bố tìnhtrạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, TràVinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, NinhThuận.

<b>1.4 Nguyên nhân của BĐKH tại Việt Nam</b>

<i><b>1.4.1 Nguyên nhân khách quan: do tự nhiên như sự tái phân bố nhiệt trong đại</b></i>

dương, quỹ đạo trái đất thay đổi, quá trình kiến tạo núi, thềm lục địa có sự biếnđổi, có sự lưu chuyển trong hệ thống khí quyển...

<i><b>1.4.2 Nguyên nhân chủ quan:</b></i>

<i> Sản xuất năng lượng</i>

Quá trình tạo điện và nhiệt từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch tạo ralượng khí thải rất lớn trên toàn cầu. Phần lớn điện được tạo ra bằng cách đốtthan, dầu hoặc khí đốt, tạo ra cacbon đioxit và nitơ oxit - những loại khí nhà kínhmạnh đang bao trùm Trái Đất và giữ lại nhiệt của mặt trời. Chỉ một phần tưlượng điện trên toàn cầu được sản xuất từ năng lượng gió, năng lượng mặt trời vàcác nguồn năng lượng tái tạo khác.

<i> Sản xuất hàng hố</i>

Các ngành sản xuất và cơng nghiệp tạo ra khí thải, phần lớn là từ việc đốtcháy nhiên liệu hóa thạch để tạo ra năng lượng nhằm sản xuất xi măng, sắt, thép,điện, nhựa, quần áo và các mặt hàng khác… Các loại máy móc dùng trong qtrình sản xuất thường hoạt động nhờ than, dầu hoặc khí đốt; trong khi đó, một sốvật liệu như nhựa được làm từ hố chất có nguồn gốc nhiên liệu hóa thạch.Ngành công nghiệp sản xuất là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớnnhất trên thế giới.

<i> Chặt phá rừng</i>

Việc phá rừng để xây dựng nông trại hoặc đồng cỏ hay vì lý do nào kháccũng đều tạo ra khí thải do cây xanh khi bị chặt sẽ thải ra lượng cacbon tích trữtrong đó. Hằng năm, có khoảng 12 triệu hecta rừng bị huỷ diệt. Vì cây xanh hấp

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

nhiên trong việc giảm khí thải trong bầu khí quyền.

<i> Sử dụng phương tiện giao thơng</i>

Hầu hết ô tô, xe tải, tàu thuyền và máy bay hoạt động bằng nhiên liệu hốthạch. Theo đó, giao thơng vận tải là một trong những nguồn phát thải khí nhàkính lớn nhất, đặc biệt là cacbon dioxit. Phương tiện đường bộ chiếm tỷ trọng lớnnhất do phải đốt cháy các sản phẩm gốc dầu mỏ (như xăng) trong động cơ đốttrong. Giao thông vận tải chiếm gần một phần tư lượng khí thải carbon dioxittồn cầu liên quan đến năng lượng.

<i> Sản xuất lương thực</i>

Quá trình sản xuất lương thực thải ra khí cacbon dioxit, metan và các loạikhí nhà kính khác theo nhiều cách, chẳng hạn như phá rừng và khai khẩn đấttrồng trọt và chăn thả, làm thức ăn cho gia súc, sản xuất và sử dụng phân bón đểtrồng trọt cũng như sử dụng năng lượng để chạy các thiết bị trong nông trại haytàu cá. Tất cả những hoạt động này khiến ngành sản xuất lương thực trở thànhmột nguồn đáng kể gây ra biến đổi khí hậu.

<i> Cấp điện cho các tịa nhà</i>

Các tịa nhà dân cư và trung tâm thương mại tiêu thụ hơn một nửa mứctiêu thụ điện trên toàn cầu. Do tình trạng khơng ngừng sử dụng than, dầu và khítự nhiên để sưởi và làm mát, các tòa nhà thải ra một lượng khí thải nhà kính đángkể. Nhu cầu sưởi ấm và làm mát gia tăng, số người sở hữu máy điều hịa khơngkhí gia tăng, đồng thời mức tiêu thụ điện cho mục đích chiếu sáng và sử dụngthiết bị gia dụng/thiết bị kết nối cũng gia tăng; tất cả cùng góp phần làm tănglượng phát thải cacbon dioxit liên quan đến năng lượng từ các tòa nhà trongnhững năm gần đây.

<i> Tiêu thụ quá mức</i>

Việc tiêu thụ các hàng hoá, dịch vụ như sử dụng điện, thức ăn, quần áo, đồđiện tử và đồ nhựa. Một lượng lớn khí thải nhà kính trên tồn cầu có kiên quanđến các hộ gia đình.

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<b>2.1 Tác động của biến đổi khí hậu tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam</b>

Việt Nam – với nền kinh tế nơng nghiệp đóng góp khoảng 20% GDP, cóbờ biển dài 3.260km, thu nhập trung bình cịn thấp so với trung bình thế giới, dânsố nghèo chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp và ngư nghiệp, đang đối mặt vớithách thức nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu cùng các thảm họa tự nhiên như bão,lụt, hạn hán. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhấtvà phải đối mặt trực tiếp với hậu quả của biến đổi khí hậu, xếp hạng 127/182quốc gia, theo đánh giá của Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP).

Việt Nam do có bờ biển dài và nhiều lưu vực sông rộng lớn nên chịu ảnhhưởng nặng của biến đổi khí hậu đặc biệt là lũ lụt. Lũ lụt phá hủy nhà cửa, cơ sởhạ tầng, và hoa màu, dẫn đến tổn thất kinh tế lớn. Những khu công nghiệp, nhàmáy được xây dựng tập trung hoặc gần ven biển sẽ bị ảnh hưởng vì khi mựcnước biển tăng sẽ làm ngập, hư hỏng các cơng trình này, gây ngập đường xá giaothông. Nhà nước sẽ phải chi ra các khoản nhằm tu bổ, xây dựng lại các cơng trìnhnày, ảnh hưởng đến các quỹ tài chính dành cho phát triển các hoạt động kinh tếkhác. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, lũ lụt gây thiệt hại trung bình 1-2%GDP mỗi năm cho Việt Nam.

Có thể kể đến trận lũ lụt năm 2020 tại miền trung (còn gọi là lũ lịch sử) đãgây thiệt hại ước tính hơn 32.000 tỷ đồng (tương đương 2,8% GDP). Tổng cụcThống kê công bố số liệu về thiệt hại do thiên tai xảy ra trong tháng 10: thiên taixảy ra trong tháng 10 chủ yếu là bão, mưa lớn, sạt lở, lốc xốy làm 111.900 ngơinhà bị sập đổ, cuốn trôi, ngập và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiêntai gây ra trong tháng là 2.700 tỷ đồng. Đến đầu tháng 12, đợt lũ kết thúc vớithiệt hại hơn 30.000 tỷ đồng về kinh tế, gây ảnh hưởng lớn cho kinh tế đất nước. Tại hội thảo "Tầm nhìn xanh Việt Nam và những câu chuyện điển hình"đã đưa ra những con số mà Việt Nam thiệt hại do biến đổi khí hậu theo các giaiđoạn. Theo đó, biến đổi khí hậu gây thiệt hại lớn về người và tài sản, đồng thờităng nhanh qua từng giai đoạn, từng năm:

 Ước tính giai đoạn 2001 - 2010, biến đổi khí hậu gây thiệt hại gần 80.000tỉ đồng

<small></small> Giai đoạn 2011 - 2022 gây thiệt hại hơn 245.000 tỷ đồng

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

đoạn 2011 - 2022 đã tăng hơn 3 lần so với giai đoạn 2001 - 2010Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phốihợp triển khai chương trình GEMMES, chương trình nghiên cứu kinh tế về biếnđổi khí hậu , nhằm đánh giá những tác động kinh tế xã hội của biến đổi khí hậuđối với quốc gia và những chiến lược thích ứng để đối mặt với những tác độngđó. Theo tính tốn của AFD thì khi nhiệt độ tồn cầu tăng lên 1,5ºC và 2ºC thìthiệt hại trực tiếp lên GDP Việt Nam sẽ tương ứng là 4,5% và 6,7%, bên cạnh cácthiệt hại gián tiếp khác, có thể lên tới 30% vào 2050.

Báo cáo kết quả nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậucủa tổ chức DARA International (năm 2012) chỉ ra rằng, biến đổi khí hậu có thểlàm Việt Nam thiệt hại khoảng 15 tỷ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5%GDP. Nếu Việt Nam khơng có giải pháp ứng phó kịp thời, thiệt hại do biến đổikhí hậu ước tính có thể lên đến 11% GDP vào năm 2030.

Cũng theo Báo cáo Quốc gia về Khí hậu và Phát triển cho Việt Nam củaNhóm Ngân hàng Thế giới cho biết các tác động của biến đổi khí hậu - chủ yếulà nhiệt độ và mực nước biển dâng cao hơn và biến động lớn hơn - đã và đanglàm gián đoạn hoạt động kinh tế và suy yếu tăng trưởng tại Việt Nam. Các tínhtốn ban đầu cho thấy Việt Nam mất 10 tỷ USD vào năm 2020, tương đương3,2% GDP do tác động của biến đổi khí hậu, tổng chi phí kinh tế do biến đổi khíhậu gây ra có thể lên tới 523 tỷ USD vào năm 2050. Nếu khơng có các biện phápthích ứng tồn diện, tác động của biến đổi khí hậu có thể khiến Việt Nam thiệthại 10-15% GDP vào năm 2100.

Quy mô của những thiệt hại do biến đổi khí hậu được dự đốn sẽ tăngnhanh và trở nên trầm trọng hơn, gây ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Vì vậyViệt Nam cần đưa ra những chính sách hiệu quả và phù hợp để ứng phó với biếnđổi khí hậu kịp thời.

<b>2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến cơ cấu kinh tế Việt Nam </b>

<i><b>2.2.1. Ngành Nông nghiệp</b></i>

Nước ta là một nước nông nghiệp với 75% dân số sống bằng nông nghiệpvà 70% lãnh thổ là nông thôn với cuộc sống người dân còn phụ thuộc nhiều vàođiều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Trong nhiều năm qua, sản xuấtnông nghiệp ở nông thôn chiếm 25-40% tổng sản phẩm trong nước và đạt trên40% tổng giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

ẩm... nên sẽ là ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH ở Việt Nam.

<i>Thứ nhất, tình trạng ngập lụt do nước biển dâng sẽ làm mất đất canh tác</i>

trong nơng nghiệp.

<i>Bảng 2.1: Diện tích có nguy cơ bị ngập theo mực nước biển dâng ở Việt Nam (% diện tích)</i>

<i>Hình 2.1: Diện tích trồng lúa từ 2016-2021 và hiện trạng sử dụng đất năm 2021Nguồn: nhóm tổng hợp số liệu từ báo cáo của bộ Tài ngun và Mơi trường</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

giảm 35 nghìn ha so với năm trước, trong đó có 3,9 triệu ha đất trồng lúa, giảmkhoảng 5 nghìn ha so với năm 2020. Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gieocấy 556,099 nghìn ha giảm khoảng 17 nghìn ha… Nếu theo kịch bản như vậy thìtính trên phạm vi cả nước, Việt Nam sẽ bị mất đi khoảng hơn 2 triệu ha đất trồnglúa (khoảng 50%) nếu mực nước biển dâng thêm 1 m.

<i>Thứ hai, tình trạng xâm nhập mặn ở khu vực ven biển cũng sẽ làm thu hẹp</i>

diện tích đất nơng nghiệp. Một phần diện tích đáng kể đất trồng trọt ở vùng đồngbằng sông Hồng và đồng bằng sơng Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn vì 2 đồng bằngnày đều là những vùng đất thấp so với mực nước biển.

<i>Bảng 2.2:Hệ số sử dụng đất toàn vùng ĐBSH năm 2021</i>

<i>Nguồn: Vu Thi Thu Huong, Cao Viet Ha , Ngo Van Gioi</i>

Xâm nhập mặn làm cho diện tích đất canh tác giảm, từ đó hệ số sử dụngđất có thể giảm từ 3-4 lần/năm xuống còn 1-1,5 lần/năm. Ngập mặn sẽ đặc biệtnghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 1,77 triệu ha đất sẽ bị nhiễmmặn, chiếm 45% diện tích đất ở đồng bằng sơng Cửu Long và ước tính rằng, cókhoảng 85% người dân ở vùng đồng bằng sơng Cửu Long cần được hỗ trợ vềnông nghiệp (GS.Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2013)

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

<i>Nguồn: Phòng dự báo thủy văn </i>

Dự báo đến năm 2100, khu vực ĐBSCL có nguy cơ bị ngập 89.473 ha,tương ứng khu vực này sẽ mất khoảng 7,6 triệu tấn lúa/năm nếu nước biển dâng100 cm. Khi đó, Việt Nam có nguy cơ thiếu lương thực trầm trọng, gia tăng tỷ lệđói nghèo. Mất đất canh tác trong nơng nghiệp và năng suất cây trồng suy giảmsẽ đặt ra những thách thức và đe dọa đến đời sống của nông dân, vấn đề xuấtkhẩu gạo và an ninh lương thực quốc gia đối với một quốc gia mà nông nghiệpđóng vai vai trị quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như Việt Nam

<i>Thứ ba, nhiệt độ tăng, hạn hán sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố của cây</i>

trồng, đặc biệt làm giảm năng suất. Cụ thể là năng suất lúa của vụ xuân có xuhướng giảm mạnh hơn so với năng suất lúa của vụ mùa. Những đợt hạn hán vànóng kéo dài liên tiếp xảy ra ở khắp các vùng trong cả nước những năm gần đâycho thấy mức độ gia tăng ngày càng lớn của tình trạng BĐKH. Hạn hán có nămlàm giảm 20-30% năng suất cây trồng, giảm sản lượng lương thực, ảnh hưởngnghiêm trọng tới chăn nuôi và sinh hoạt của người dân. Hạn hán kéo dài sẽ dẫnđến nguy cơ hoang mạc hóa ở một số vùng, đặc biệt là vùng Nam Trung Bộ,vùng cát ven biển và vùng đất dốc thuộc trung du, miền núi, gây ra những hệ lụyđáng kể đối với phát triển bền vững ở Việt Nam. Ước tính rằng, năng suất lúaxuân ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm tới 16,5% vào năm 2070; năngsuất lúa mùa sẽ giảm 5% vào năm 2070 (GS. Trần Thọ Đạt, 2013)

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

nước hiện chỉ còn khu vực Trung Bộ đang trong mùa khơ, có nguy cơ xảy ra hạnhán, thiếu nước. Trên cơ sở tình hình nguồn nước, dự báo mưa, trong vụ Hè Thu2023 có từ 10.600 – 18.000 ha nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước. Dự báo thờigian đỉnh điểm của El Nino có thể xảy ra từ tháng 11/2023 đến tháng 1/2024, kéodài 1 số vùng trên cả nước, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, Đồng bằng sôngCửu Long, Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Trong điều kiện ảnh hưởng của El Ninothường gây thiếu hụt lượng mưa ở hầu hết các vùng trên cả nước, phổ biến từ 25- 50%.

<i>"Hiện tượng El Nino năm 2023 đến 2024 đã đạt đến đỉnh điểm vào tháng12 vừa qua. Vào thời kỳ đỉnh cao, nó là 1 trong 5 đợt có cường độ mạnh nhấttrong lịch sử. Hiện tại nó đang dần suy yếu, nhưng rõ ràng nó sẽ tiếp tục tácđộng đến khí hậu tồn cầu trong những tháng tới. Vì vậy ngay cả sau khi nó biếnmất hồn tồn, chúng ta vẫn sẽ cảm nhận được tác động của sự kiện này. Chúngtơi dự đốn nhiệt độ sẽ cao hơn mức bình thường trong những tháng tới, từ tháng3 đến tháng 5 ở hầu hết các vùng đất liền", bà Clare Nullis, Người phát ngơn của</i>

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), cho biết.

=> Các tác động của mực nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán kéo dàikhiến tổng sản lượng lương thực ở Việt Nam sẽ có nguy cơ đối mặt với tình trạngthiếu lương thực trầm trọng vào năm 2100 vì mất đi khoảng 21,39% sản lượnglúa (mới tính riêng cho vùng đồng bằng sơng Cửu Long) (Phan Sỹ Mẫn và HàHuy Ngọc, 2013). Dự báo trong vài năm tới, dân số Việt Nam sẽ đạt khoảng 120triệu người. Trong bối cảnh BĐKH ngày càng gia tăng thì mục tiêu đảm bảo anninh lương thực cho 120 triệu người sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.

<i>2.2.1.1 Đối với trồng trọt</i>

BĐKH làm mất diện tích đất nơng nghiệp do mực nước biển dâng, xâmlấn những cánh đồng thấp trũng ven biển, tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấutrúc mùa gieo trồng. Bên cạnh đó, mùa đơng với những đợt rét kéo dài, mùa hèthì hạn hán, nắng nóng, thiếu nước dẫn đến hoang mạc hóa, sa mạc hóa trênnhững vùng đất cát, đất trống, đồi trọc ảnh hưởng sự sinh trưởng phát triển củacây trồng dẫn đến giảm năng suất sản lượng cây trồng, hiệu quả kinh tế và đe dọađến an ninh lương thực. Không những thế, BĐKH còn làm thay đổi điều kiệnsinh sống của các lồi sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài vàngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài “gây hại”

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

Việt Nam có tới 58% dân cư vùng ven biển có sinh kế chủ yếu dựa vàonơng nghiệp và đánh bắt thủy sản, khoảng 480.000 người trực tiếp làm nghềđánh bắt, 10.000 người chế biến và 2.140.000 người cung cấp các dịch vụ liênquan đến nghề cá. BĐKH và rủi ro thiên tai có thể gây ảnh hưởng rất lớn đếnsinh kế của các cộng đồng sinh sống dựa vào ngành thủy sản. Các sinh kế thủysản, bao gồm đánh bắt và nuôi trồng, là những sinh kế phụ thuộc vào nguồn nướcvà sự phong phú của nguồn lợi ven biển, nên là một trong những lĩnh vực nhạycảm nhất và dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH.

BĐKH và thiên tai ảnh hưởng tiêu cực tới sản lượng và chi phí của ngànhđánh bắt thủy sản: Nhiệt độ nước biển tăng gây bất lợi về nơi cư trú của một sốloài thủy sản, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật, ảnh hưởng đến năngsuất và chất lượng của thủy sản,... dẫn đến sản lượng và chất lượng thủy sản đềugiảm. Cường độ và lượng mưa lớn làm nồng độ muối giảm khiến hàng loạtnghêu, sị chết do khơng thích ứng được hàm lượng muối,... BĐKH cịn làm giảmdiện tích ni trồng thủy sản nước ngọt bị mất đi, diện tích rừng ngập mặn giảmdo mất các vùng đất thấp ven biển, sạt lở ven bờ, xâm thực, xâm nhập mặn.

=> Thiệt hại trong ni trồng thủy sản có xu hướng gia tăng trong nhữngnăm gần đây do ảnh hưởng của nước biển dâng, khô hạn, xâm nhập mặn, mưa lũtrái mùa, thay đổi môi trường nước. Thiệt hại về sản lượng nuôi trồng thủy sản ởmột số tỉnh, ví dụ như Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau,… đã tăng tới 30-40%/năm(Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012; Phan Sỹ Mẫn và Hà Huy Ngọc, 2013)

<i>Bảng 2.3: Thống kê thiệt hại do thiên tai ngành thủy sản</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

trong đó 69 tàu bị chìm, tổng thiệt hại kinh tế đối với lĩnh vực thủy sản khoảng1.151 tỷ đồng.

Tuy nhiên, BĐKH có thể tạo cơ hội để ngành ni trồng thủy sản có thểchuyển đổi đối tượng sản xuất trên các diện tích bị xâm nhập mặn, khơng cịnkhả năng canh tác lúa và thủy sản nước ngọt sang nuôi trồng thủy sản, tơm cákhác chịu mặn và có giá trị kinh tế cao hơn.

<i>2.2.1.3 Lâm nghiệp</i>

Thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau hệ sinh thái rừng bị suythoái trầm trọng: Nước biển dâng lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn ven biểntác động xấu đến hệ sinh thái rừng tràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn ởĐBSCL; Nhiệt độ và lượng nước bốc hơi kết hợp với BĐKH (như hạn hán,...) sẽgây ảnh hưởng đến khả năng phân bố của rừng. Số lượng quần thể các loài độngthực vật quý hiếm sẽ ngày càng suy kiệt và nguy cơ tuyệt chủng tăng

Không chỉ ở giai đoạn trước, trong những năm 2010 đến 2023, diện tíchrừng ở Việt Nam tuy có tăng lên, nhưng chất lượng rừng lại có chiều hướng suygiảm. Nhiệt độ tăng đi kèm hạn hán rất dễ xảy ra cháy rừng, điều này gây thiệthại về sinh vật, vừa tăng lượng phát thải nhà kính, vừa gây BĐKH.

<i>Bảng 2.4: Thiệt hại về nơng nghiệp</i>

<i>Nguồn: Nhóm tổng hợp từ báo cáo của cục quản lý đê điều và phòng chống thiêntai năm 2023</i>

Trong vài thập kỷ qua, trung bình mỗi năm Việt Nam mất đi hàng chục nghìn ha rừng, trong đó, mất rừng do cháy rừng khoảng 16.000 ha/năm. Năm 2022, nhiệt độ tăng cao và hạn hán khắc nghiệt, kéo dài làm gia tăng nguy cơ cháy đối với tất cả các loại rừng, điển hình như hạn hán, xâm nhập mặn gây thiệt hại 469 ha diện tích cây trồng lâu năm, 2835 ha diện tích cây trồng hàng năm và

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

rừng ngập mặn, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL.

Ngoài ra, BĐKH cũng tác động đến thủy lợi, gây nên hiện tượng thiếu nước phục vụ trong sản xuất cho cây trồng và vật ni, thậm chí cả nước phục vụcho đời sống của con người. Ngoài ra, các hiện tượng thời tiết cực đoan cịn có nguy cơ làm huỷ hoại các cơng trình thuỷ lợi dẫn đến thiệt hại về kinh tế, gây gián đoạn cho công tác sửa chữa, khắc phục và xây dựng các cơng trình thuỷ lợi mới.

=> Đánh giá tác động tới lâm nghiệp: BĐKH làm năng suất và diện tích cây trồng giảm dẫn đến chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp và khai thác thủy sản. Nhu cầu di cư lên vùng cao tăng làm tăng nạn phá rừng

<i>2.2.1.4 Chăn nuôi</i>

BĐKH ảnh hưởng tới sự sinh trưởng phát triển của gia súc, gia cầm: Mùađông rét đậm, rét hại gây chết hàng loạt gia súc, gia cầm; mùa hè nắng nóng kéodài, thiếu nước làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn ni. Sự thay đổi các yếu tốkhí hậu và thời tiết làm nảy sinh một số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, giacầm và phát triển thành dịch hay đại dịch, lây truyền sang con người gây ranhững căn bệnh nguy hiểm.

=> Việt Nam là nước nông nghiệp (nơng nghiệp đóng góp khoảng 20%GDP), phần đơng người nghèo sống dựa vào nông nghiệp và đánh bắt thủy sản,nên Việt Nam được Tổ chức Phát triển của Liên Hợp Quốc đánh giá là 1 trong 5nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất và tổn thương trực tiếp do q trìnhbiến đổi khí hậu. Theo phân tích của Viện Tài nguyên thế giới về ảnh hưởng củalũ lụt đến GDP, Việt Nam đứng thứ 4 trong số 164 quốc gia được khảo sát về táchại nghiêm trọng của lũ lụt đến toàn nền kinh tế; làm thiệt hại 2,3% GDP củaViệt Nam mỗi năm….

<i><b>2.2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành cơng nghiệp </b></i>

Sự phát triển của cơng nghiệp hóa, các hoạt động sản xuất của con ngườithải rất nhiều chất ơ nhiễm vào khí quyển. BĐKH cũng gia tăng mạnh mẽ trongthời kỳ công nghiệp hóa nên có thể nói nguyên nhân của BĐKH là do hoạt độngcủa con người gây nên. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ trongthời kỳ cơng nghiệp hóa, nằm trong nhóm các nước dễ bị tổn thương do biến đổikhí hậu.

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

ven biển sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH do giảm sản lượng và chất lượngcủa các nguyên liệu đầu vào gây ảnh hưởng đến năng lực sản xuất, hoặc gia tăngchi phí do sự khan hiếm nguồn nguyên liệu đầu vào. Ngoài ra, nguồn nguyên liệucho các ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, dệt, may mặc sẽ bịsuy giảm đáng kể vì khơng được tiếp ứng từ các vùng nguyên liệu ở các tỉnhvùng ĐBSCL vốn bị ngập lụt nặng nề nhất ở Việt Nam. Điều này sẽ gây sức éplớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp về loại hình cơngnghiệp, tỷ lệ cơng nghiệp chế biến, cơng nghệ cao.

Hiện tượng NBD, xâm thực mặn sẽ dẫn đến mất diện tích các KCN; tăngchi phí bảo vệ do tăng xây dựng đê kè biển, v.v; từ đó làm giảm nguồn lao độngtrong ngành và tăng tỷ lệ đói nghèo. Nếu như đến cuối thế kỷ XXI NBD thêm 1mthì sẽ có ít nhất 10% cho đến cao nhất là 67% diện tích khu cơng nghiệp bị ngập

<i>(Chương Trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu, 2008). </i>

Nhiệt độ tăng làm tăng lượng tiêu thụ năng lượng trong các ngành cơngnghiệp như chi phí thơng gió, làm mát hầm lị khai thác; tăng lượng tiêu hao nănglượng và làm giảm hiệu suất cũng như sản lượng của các nhà máy điện, hệ thốngtruyền tải và phân phối điện. Kéo theo đó, nhiệt độ tăng cao cũng dẫn đến lượngtiêu thụ điện cho sinh hoạt gia tăng. Ngoài ra, các hiện tượng thời tiết cực đoan(bão, lũ, hạn hán, v.v) cũng làm gia tăng chi phí bảo dưỡng và sửa chữa các cơngtrình năng lượng; ảnh hưởng tới việc cung cấp, tiêu thụ năng lượng và an ninhnăng lượng quốc gia (Moran. A, 2014)

<i><b>2.2.3. Ngành dịch vụ</b></i>

Ngành dịch vụ đã trở thành ngành lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam, tăngtừ 40,7% GDP năm 2010 lên 42,54% GDP năm 2023. Là nguồn việc làm lớnnhất, ngành này đã hấp thụ một phần đáng kể lao động từ ngành nông nghiệp(World bank). Hiện nay, biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những ảnh hưởngkhông mấy tốt đẹp đối với ngành dịch vụ nước ta. Ngành du lịch, giao thông vậntải, hàng không, giáo dục, y tế hay điện tử viễn thông đều phải hứng chịu nhữnghệ lụy to lớn mà biến đổi khí hậu mang lại.

<i>Ngành du lịch</i>

Việt Nam đang chịu tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu, nhiều điểm dulịch có nguy cơ biến mất do mưa lũ và thời tiết cực đoan. Trong diễn đàn Nghịviện châu Á - Thái Bình Dương (APPF-26) đầu năm 2018, Phó Thủ tướng Vũ

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

<i>tiềm ẩn mà thực sự đã hiện hữu. Du lịch là một trong những ngành dễ bị tổnthương nhất do biến đổi khí hậu bởi hầu hết hoạt động khai thác du lịch của ViệtNam phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có”</i>

BĐKH khiến ngành du lịch sẽ tăng thiệt hại về cơ sở hạ tầng, các yêu cầukhẩn cấp, chi phí điều hành cao hơn (ví dụ như bảo hiểm, nước dự phịng, cơngtác sơ tán…). Ngồi ra BĐKH khiến các hoạt động du lịch bị gián đoạn, chấtlượng dịch vụ giảm sút. Sức mua của du khách trong mùa du lịch cũng phụ thuộcvào khí hậu và tác động đáng kể đối với các mối quan hệ cạnh tranh giữa các địađiểm và lợi nhuận của các doanh nghiệp du lịch. Biến đổi khí hậu tồn cầu đã vàđang làm mực nước biển và các đại dương dâng cao, khi mực biển dâng sẽ nhấnchìm nhiều bãi biển (nhiều bãi biển sẽ biến mất), thu hẹp diện tích hầu hết các bãibiển (ảnh hưởng tới gần 100% số bãi biển và trên 85% diện tích các bãi biển),các hệ sinh thái có giá trị du lịch (rừng ngập mặn khu vực cửa sông, vùng đồngbằng sông Cửu Long, sông Hồng, rạn san hô khu vực miền Trung...) và các cảnhquan du lịch ven biển - đảo (vịnh Hạ Long, Cù Lao Chàm, Phú Quốc, CơnĐảo,..)... Nước ta có bờ biển dài hơn 3.000 km, mang lại thế mạnh về du lịchbiển, du lịch nghỉ dưỡng. Ước tính nếu nước biển dâng một mét thì 5,2% diệntích tự nhiên với 10,8% dân số sẽ bị tác động và khơng ít bãi biển đẹp của ViệtNam sẽ biến mất

Ngoài ra, bão lũ, ngập úng kéo dài sẽ gây hư hại nhiều di tích lịch sử vănhoá, tài nguyên du lịch đặc biệt cho du lịch. Các cơng trình dịch vụ du lịch bị hưhỏng hoặc xuống cấp dưới tác động của bão lũ cường độ mạnh, các điều kiện vềnhiệt độ, độ ẩm.

=> Hệ quả của điều này là làm cho khả năng khai thác các bãi biển vàomục đích du lịch sẽ bị hạn chế, giảm sút, thậm chí là khơng thể khai thác. Cáccảnh quan và hệ sinh thái trên và ven biển sẽ bị thu hẹp, thậm chí là biến mấtkhơng thể khai thác vào mục đích du lịch. Những tác động này sẽ buộc các dự ándu lịch ven biển cần phải thiết kế phù hợp để thích ứng do đó sẽ dẫn đến làm tăngchi phí đầu tư và tăng độ rủi ro trong quá trình thiết kế, vận hành, khai thác.Trong khi đó, nhu cầu du lịch biển và tắm biển là một xu hướng phát triển mạnhcủa du khách trên thế giới trong thế kỷ 21, điều này làm cho quy mô và hiệu quảcủa ngành du lịch sẽ bị ảnh hưởng rất lớn.

<i>Ngành giáo dục, y tế </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

càng nổi lên là nguyên nhân gây bê ªnh truyền nhiễm, làm tăng nguy cơ mắc cácbệnh liên quan đến nhiệt, thay đổi mơ hình lây truyền và mức độ các bệnh truyềnnhiễm. Đặc biệt, ở Việt Nam, trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnhmới ở người và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh, v.v) nhiều bệnh có diễnbiến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt hại đángkể…. Đây sẽ là sức ép lớn đối với các dịch vụ xã hội, chăm sóc sức khỏe trongkhi cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nguồn nhân lực tại Việt Nam cịn nhiều hạn chế(Bộ Tài ngun và Mơi trường)

So sánh: BĐKH khơng chỉ ảnh hưởng ở Việt Nam mà cịn nhiều quốc giatrên thế giới. Trái đất nóng lên có thể làm tan các lớp băng vĩnh cửu ở vùngSiberia (Nga) chứa các mầm bê ªnh từ thời cổ đại. Theo ECDC, nhiê ªt đơ ª trungbình của Trái đất gia tăng có thể gây ra các đợt dịch sốt xuất huyết theo mùa ởkhu vực phía Nam châu Âu nếu muỗi Aedes aegypti bị nhiễm virus làm ổ. Cịnđối với bê ªnh sốt rét, căn bê ªnh từng hoành hành ở Nam Âu và miền Nam nướcMỹ, nguy cơ phơi nhiễm virus phần lớn phụ th ªc vào điều kiê ªn kinh tế-xã hơ ªi.Theo nghiên cứu của IPCC, nếu tình trạng biến đổi khí hâ ªu khơng suy giảm, hơn5 tỷ người có thể phải sống ở các vùng dịch sốt rét.

Các tác động do BĐKH hiện ảnh hưởng đến hơn 74% dân số, đặc biệt lànhững nhóm người nghèo thiếu khả năng phục hồi trước những thiệt hại lớn sauthảm họa thiên tai, trong khi việc đơ thị hóa đã làm tăng các khoảng cách của cácgia đình di cư bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ xã hội (Trương Việt Hùng,2016). Điều này sẽ tạo sức ép đối với các dịch vụ xã hội, chăm sóc sức khỏetrong khi cơ sở hạ tầng, thiết bị, nguồn lực của Việt Nam còn hạn chế.

=> Theo văn bản Chương trình phối hợp tham gia bảo vệ mơi trường vàứng phó BĐKH giai đoạn 2016-2020 giữa Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốcViệt Nam phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam là một trong sốít quốc gia đang và sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH và NBD, trungbình mỗi năm có khoảng 457 người bị thương vong, thiệt hại khoảng 1,9 tỷ USD.Nếu Việt Nam khơng có những giải pháp ứng phó thì thiệt hại ước tính có thể lênđến 11% GDP vào năm 2030.

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

<i>(Nguồn: Phan Văn Tân, 2015)</i>

<b>KẾT LUẬN: BĐKH và CDCCKT có mối quan hệ tác động qua lại giữa</b>

các ngành trong nền kinh tế; tác động đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế và cơ cấu kinh tế cũng ảnh hưởng tới quy mô, mức độ tác động của biếnđổi khí hậu (Trần Thọ Đạt, 2013). Ví dụ, sản lượng đầu ra của ngành côngnghiệp chế biến phụ thuộc rất lớn vào số lượng, chất lượng và giá cả của các sảnphẩm nông sản. Tuy nhiên, một khi các biểu hiện cực đoan của BĐKH gây hậuquả bất lợi tới sản lượng đầu ra của ngành nông nghiệp bằng việc giảm diện tíchđất trồng, giảm chất lượng đất, giảm năng suất chất lượng thì sẽ có ảnh hưởngđến năng lực sản xuất của ngành công nghiệp chế biến và ngược lại

BĐKH ảnh hưởng đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nộingành. Cơ cấu kinh tế thể hiện ở số lượng và tỷ trọng các ngành chịu tác độngnhiều của BĐKH sẽ giảm hoặc sẽ phải chuyển dịch cơ cấu theo hướng thích ứngvới BĐKH như sau: (Quang Dung Bach, 2019)

(i) BĐKH dẫn đến CDCCKT ngành, nội ngành theo hướng nâng cao nănglực thích ứng của ngành, giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH đối với sự pháttriển của ngành một cách tự phát hoặc có sự tác động của chính sách. Ví dụ:trong nơng nghiệp, thích ứng u cầu đầu tư hiệu quả vào kết cấu hạ tầng nôngnghiệp, chuẩn bị khả năng ứng phó khẩn cấp với các hiện tượng thời tiết cựcđoan, cải tạo đất và nâng cao năng lực sử dụng đất.

(ii) BĐKH dẫn đến việc thay đổi quy hoạch phát triển KTXH và cácngành theo hướng lồng ghép BĐKH vào chiến lược phát triển

</div>

×