Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

kết quả giảm đau bằng gabapentin trong điều trị bệnh zona tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 97 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b> O Ụ V O T O Y TẾ Ọ T N U N </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b> O Ụ V O T O Y TẾ Ọ T N U N </b>

<i><b>LUẬN VĂN U N K OA </b></i>

<i><b>Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PH M CƠNG CHÍNH </b></i>

<b>THÁI NGUN - NĂM 2023 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>ADN Acid deoxyribonucleic </b>

<b>AIDS </b> Acquired immunodeficiency syndrome

<b>ARN Acute retinal necros </b>

<b>BCĐNTT Bạch cầu đa nhân trung tính </b>

<b>CDC Centers for Disease Control and prevention DTCT Diện tích cơ thể </b>

<b>GABA g-aminobutyric acid (chất dẫn truyền thần kinh) </b>

<b>FDA Food and Drug Administration </b>

<b>HHV Human Herpes Virus (virus herpes ở người) HIV Human immunodeficiency virus </b>

NMDA N-methyl-d-aspartat (chất chủ vận của glutamate) PCR Polymerase Chain Reaction

PHN Postherpetic Neuralgia (Đau sau Zona) PORN Progressive outer retinal necrosis SGMD Suy giảm miễn dịch

VZIG Varicella zoster immune globulin VZV Varicella Zoster Virus

WHO World Heath organization

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>C ƢƠN 1. TỔN QUAN ... 3 </b>

1.1. Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mức độ đau ở bệnh nhân zona ... 3

1.1.1. Đại cương về bệnh zona ... 3

1.1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh bệnh zona ... 4

1.1.3. Điều trị bệnh zona [ ... 11

1.1.4. Một số yếu tố liên quan đến mức độ đau của bệnh zona ... 13

1.2. Đánh giá kết quả giảm đau trong bệnh zona vừa và nặng bằng gabapentin ... 16

1.2.1. Cơ chế đau trong bệnh zona ... 16

1.2.2. Giới thiệu về thuốc gabapentin ... 18

1.2.3. Nghiên cứu về tác dụng giảm đau của gabpentin trong đau thần kinh và zona ... 20

<b> ƢƠN 2. Ố TƢỢN V P ƢƠN P P N N ỨU ... 26 </b>

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ... 26

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ... 26

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ... 26

2.1.3. Thời gian nghiên cứu ... 26

2.2. Phương pháp nghiên cứu ... 26

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: ... 26

2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ... 28

2.3. Biến số và chỉ tiêu nghiên cứu ... 29

2.3.1. Biến số nghiên cứu ... 29

2.3.2. Chỉ tiêu nghiên cứu ... 30

2.4. Bộ công cụ sử dụng trong nghiên cứu ... 32

2.4.1. Bộ công cụ ... 32

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

2.6. Phương pháp thu thập số liệu ... 36

3.1.1.Đặc điểm của bệnh nhân ... 39

3.1.2. Đặc điểm lâm sàng bệnh zona... 40

3.2. Kết quả giảm đau trong bệnh zona mức độ vừa và nặng bằng gabapentin 45 <b> ƢƠN 4. N LUẬN ... 53 </b>

4.1. Một số yếu tố liên quan và mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh zona .... 53

4.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân ... 53

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng ... 57

4.1.3. Mức độ đau và một số yếu tố liên quan ... 63

4.2. Kết quả giảm đau trong bệnh zona vừa và nặng bằng gabapentin ... 67

4.2.1. Kết quả giảm đau ... 67

4.2.1. Hiệu quả đối với giấc ngủ ... 70

4.2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng và kết quả giảm đau chung ... 71

4.2.4. Tác dụng khơng mong muốn và sự hài lịng của người bệnh ... 72

<b>KẾT LUẬN... 74 </b>

<b>K U ẾN N Ị ... 75 </b>

<b>T L ỆU T AM K ẢO ... </b>

<b> ỆN N N N ỨU ... </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Hình 1.1. Cơ chế bệnh sinh của bệnh Zona ... 4

Hình 1.2: Cơ chế bệnh sinh của đau ... 17

Hình 1.3. Cơng thức hoá học của gabapentin. ... 19

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nghiên cứu ... 27

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Bảng 2.1. Cách tính thang điểm đau Likert ... 33

Bảng 3.1. Phân bố bệnh zona theo tuổi, giới ... 39

Bảng 3.2. Phân bố bệnh zona theo mùa ... 39

Bảng 3.3. Một số bệnh kèm theo ... 40

Bảng 3.4.Thời điểm xuất hiện cơn đau ... 40

Bảng 3.5. Thời gian bị bệnh ... 40

Bảng 3.6. Các loại thương tổn cơ bản ... 41

Bảng 3.7. Các thể lâm sàng theo vị trí tổn thương da ... 41

Bảng 3.8. Các triệu chứng toàn thân ... 42

Bảng 3.9. Mức độ tổn thương da ... 42

Bảng 3.10. Mức độ đau ... 42

Bảng 3.11. Mức độ bệnh ... 43

Bảng 3.12. Mối liên quan giữa giới tính và mức độ đau trước điều trị ... 43

Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tuổi và mức độ đau trước điều trị ... 43

Bảng 3.14. Mối liên quan giữa tiền sử chấn thương/phẫu thuật cùng bên với tổn thương zona với mức độ đau trước điều trị ... 44

Bảng 3.15. Mối liên quan giữa thời gian bị bệnh và mức độ đau ... 44

Bảng 3.16. Mối liên quan giữa triệu chứng đau tiền triệu và mức độ đau ... 45

Bảng 3.17. Thay đổi thang điểm đau trong các thời điểm điều trị ... 45

Bảng 3.18. Kết quả điểm đau trung bình tại các thời điểm điều trịtheo giới tính ... 47

Bảng 3.19. Kết quả điểm đau trung bình tại các thời điểm điều trị theo tuổi . 47 Bảng 3.20. Kết quả điểm đau trung bình tại các thời điểm điều trị theo tiền sử có chấn thương/phẫu thuật cùng bên với tổn thương zona ... 48

Bảng 3.21. Thay đổi mức độ tổn thương da tại các thời điểm trong quá trình điều trị ... 48

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Bảng 3.24. Thay đổi về chỉ số cận lâm sàng trước và sau điều trị ... 50

Bảng 3.25. Kết quả giảm đau với một số yếu tố liên quan tại D20. ... 51

Bảng 3.26. Kết quả điều trị chung sau 20 ngày điều trị ... 52

Bảng 3.27. Đánh giá sự hài lòng của người bệnh sau điều trị ... 52

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Biểu đồ 3.1. Thay đổi điểm đau qua các thời điểm điều trị ... 46 Biểu đồ 3.2. Thay đổi mức độ đau qua các thời điểm điều trị ... 46 Biểu đồ 3.3. Thời gian ngủ trung bình trong ngày qua tại các thời điểm ... 49

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<b> ẶT VẤN Ề </b>

Bệnh zona hay herpes zoster là bệnh da do virus với biểu hiện là các ban đỏ, mụn nước, bọng nước tập trung thành đám, thành chùm dọc theo đường phân bố của thần kinh ngoại biên. Bệnh do sự tái hoạt của Varicella zoster virus (VZV) tiềm ẩn ở rễ thần kinh cảm giác cạnh cột sống. Bệnh hay gặp ở những người già, những người suy giảm miễn dịch, người đang điều trị ung thư, người nhiễm HIV/AIDS [1], [54].

Hiện nay trên toàn cầu, tỷ lệ mắc zona tích lũy dao động từ 2,9 -19,5 trường hợp/1.000 dân và tỷ lệ mắc zona hàng năm dao động từ 5,23-10,9 trường hợp/ 1.000 người/năm [60]. Tại Châu Âu ước tính tỷ lệ mắc zona trung bình ước tính là khoảng 3,4–4,82 trường hợp/1000 người mỗi năm, tăng lên hơn 11/1000 người mỗi năm ở những người từ 80 tuổi trở lên [42]. Tại Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tương tự như các nơi khác, tỷ lệ mắc bệnh zona tăng theo tuổi và cao nhất vào khoảng 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh trung bình là 3–10 trường hợp trên 1000 người/năm và có xu hướng gia tăng khoảng 5% mỗi năm [24]. Ở Việt Nam bệnh zona chiếm 41.53% tổng số bệnh da do virus và chiếm 5,33% tổng số bệnh da điều trị nội trú tại bệnh viện Da Liễu Quốc Gia [9]. Điều này cho thấy bệnh zona là một vấn đề y tế quan trọng trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

Triệu chứng lâm sàng của bệnh zona là tổn thương da và đau. Thương tổn da là mụn nước hoặc bọng nước mọc thành chùm ở 1 vùng da dọc theo 1 vùng thần kinh chi phối bị tổn thương, tổn thương da thường khu tr 1 bên cơ thể [1]. Tuy nhiên kết quả các nghiên cứu tại Việt Nam về đặc điểm lâm sàng chưa thực sự đồng nhất. Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Em và Ngô Xuân Duyệt năm 2005 [5] và Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2011 cho thấy 100% bệnh nhân xuất hiện mụn nước [7]. Tuy nhiên, Nghiên cứu của Trần Ngọc Sĩ và cộng sự năm 2021 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện mụn nước, bọng

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

nước chiếm 79,59% [12]. Ngoài tổn thương da, niêm mạc, một triệu chứng quan trọng trong bệnh zona là đau, đau có thể xuất hiện trước, trong và sau khi bị bệnh [1], [54]. Đau không những ảnh hưởng đến lao động, sinh hoạt mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [76]. Chính vì vậy xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đau ở bệnh nhân zona sẽ giúp các nhà lâm sàng có những can thiệp phù hợp trong điều trị bệnh nhân zona. Mặt khác, trong điều trị bệnh zona việc kiểm soát triệu chứng đau của bệnh nhân đóng vai trị hết sức quan trọng [34]. Gabapentin đã được đề xuất là một trong những phương pháp điều trị đầu tay cho chứng đau thần kinh. Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng sử dụng gabapentin trong giai đoạn cấp tính làm giảm tỷ lệ xuất hiện biến chứng đau sau zona [41], nhưng bằng chứng về hiệu quả và độ an toàn của nó trong giai đoạn cấp tính cịn hạn chế.

Tại khoa Da liễu Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên mỗi năm có hàng trăm lượt bệnh nhân zona vào điều trị nội trú. Việc kiểm soát và khống chế đau cho bệnh nhân zona vẫn là vấn đề còn nhiều thách thức với các thầy thuốc. Hơn nữa các nghiên cứu về vấn đề này tại khu vực miền núi phía Bắc nói chung và Thái Nguyên còn hạn chế. Câu hỏi đặt ra là đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân zona là như thế nào, yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ đau ở bệnh nhân zona và đặc biệt là kết quả sử dụng gabapentin ở bệnh nhân zona như thế nào đã và đang là một vấn đề được quan tâm. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, ch ng tơi tiến hành nghiên cứu đề tài

<b>“Kết quả giảm đau bằng gabapentin trong điều trị bệnh zona tại bệnh viện Trung ƣơng Thái Nguyên” nhằm mục tiêu: </b>

<i>1.Khảo sát một số yếu tố liên quan và mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh zona tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. </i>

<i>2.Đánh giá kết quả giảm đau trong bệnh zona vừa và nặng bằng gabapentin </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<b>C ƢƠN 1. TỔNG QUAN </b>

<b>1.1. ặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mức độ đau ở bệnh nhân zona </b>

<i><b>1.1.1. Đại cương về bệnh zona </b></i>

Bệnh zona hay herpes zoster là bệnh nhiễm trùng da với biểu hiện là các ban đỏ, mụn nước, bọng nước tập trung thành đám, thành chùm dọc theo đường phân bố của thần kinh ngoại biên. Bệnh do sự tái hoạt của Varicella zoster virus (VZV) tiềm ẩn ở rễ thần kinh cảm giác cạnh cột sống. Bệnh hay gặp ở những người già, những người suy giảm miễn dịch, đặc biệt ở người nhiễm HIV/AIDS [1], [54] .

Bệnh zona xảy ra khơng thường xun quanh năm mà khơng có sự phổ biến theo mùa và chưa có bằng chứng thuyết phục cho thấy khả năng lây bệnh khi tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân zona. Thay vào đó, tỷ lệ mắc bệnh zona được xác định bởi các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa vật chủ và virus và sự hiện diện của các phản ứng miễn dịch cần thiết để ngăn chặn sự tái hoạt động của VZV tiềm ẩn [54]. Tỷ lệ người mắc bệnh zona trong các quần thể sống trong cộng đồng dao động từ 2 đến 5 trên 1000 người/năm [85], [47].

Căn nguyên là một virus hướng da và thần kinh có tên là Varicella zoster virus (VZV), thuộc họ virus herpes, và cũng chính là virus gây bệnh thủy đậu. Ở người đã mắc bệnh thủy đậu, sau khi khỏi, một số ít virus tồn tại trong các hạch thần kinh cảm giác cạnh cột sống dưới dạng tiềm tàng, im lặng. Khi gặp điều kiện thuận lợi (các yếu tố khởi động) như suy giảm miễn dịch (suy giảm về thần kinh và thể lực, người già yếu, dùng thuốc ức chế miễn dịch, các bệnh về máu, đái tháo đường), bệnh tạo keo (đặc biệt là bệnh lupus ban đỏ), stress, điều trị tia xạ, ung thư, HIV/AIDS..., virus sẽ tái hoạt, nhân lên và lan truyền gây viêm lan toả và hoại tử thần kinh. Đồng thời virus lan truyền ngược chiều đến da, niêm mạc và gây tổn thương [1], [51].

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<i>Hình 1.1. Cơ chế bệnh sinh của bệnh Zona [88] </i>

<i><b>1.1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh bệnh zona </b></i>

<i>1.1.2.1. Các thể lâm sàng của bệnh zona </i>

<b>*Phân thể lâm sàng theo vị trí tổn thương [1] </b>

- Zona liên sườn - ngực bụng: là thể lâm sàng hay gặp nhất, chiếm 50% trường hợp.

- Zona cổ (đám rối cổ nông) và cổ cánh tay.

- Zona gáy cổ: có tổn thương ở gáy, da đầu, vành tai. - Zona hông, bụng, sinh dục, bẹn, xương cùng, ụ ngồi, đùi.

Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Em năm 2005 cho thấy: zona liên sườn gặp nhiều nhất chiếm tỷ lệ 38,46% [5]. Cũng trong năm 2005 tác giả Nguyễn Thị Lai báo cáo kết quả nghiên cứu trên 60 bệnh nhân zona, trong đó tổn thương tại vị trí ngực chiếm cao nhất 45%, dây thần kinh sọ (23,4%), thắt lưng (15%), vùng cùng cụt và các vùng khác có tỷ lệ bằng nhau và đều bằng 8,3% [10]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2011 báo cáo tỷ lệ xuất hiện zona liên sườn và ngực bụng chiếm tỷ lệ cao nhất 39,44%,

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

tiếp đến là zona mắt chiếm 21,13%, các thể lâm sàng khác có tỷ lệ thấp hơn [7]. Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc Vương, vị trí zona gặp nhiều nhất là ngực sườn cánh tay chiếm 38,24%, tiếp đến là vùng đâù mặt cổ chiếm 26,48%, vùng thắt lưng, vùng cùng cụt và vùng khác chiếm tỷ lệ thấp hơn (từ 5,15% đến 19,12%) [14]. Cũng cùng quan điểm với các nghiên cứu được thực hiện trước đây ở trong nước, nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Sĩ và cộng sự năm 2021 cũng cho thấy bệnh zona gặp ở vị trí liên sườn, tay, ngực cũng như đầu mặt cổ chiếm cao nhất và đều bằng 32,65%, vị trí bụng, hơng, sinh dục chiếm 20,41% và chi dưới chiếm 18,37% [12].

Vị trí tổn thương trong bệnh zona thường gặp ở ngực cũng được các tác giả trên thế giới báo cáo. Nghiên cứu của Rachana và cộng sự năm 2017 nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân zona không có biến chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 72 đối tượng, vị trí tổn thương xuất hiện ở ngực chiếm cao nhất 30,6%, tiếp theo là thắt lưng (22%), và vùng dây thần sinh ba (16%). Tổn thương xuất hiện cổ (4%) và xương cùng (2%) chiếm tỷ lệ thấp nhất [64]. Kết quả tương tự cũng được tác giả Acer và cộng sự báo cáo năm 2018, nghiên cứu nhằm đánh giá các đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng của bệnh nhân zona và tìm hiểu sự khác biệt và tương đồng với các nghiên cứu dịch tễ học khác ở Thổ Nhĩ Kỳ và trên thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy các vị trí thường gặp nhất của tổn thương zona là vùng ngực (76 bệnh nhân chiếm 45,8%) và thắt lưng (40 bệnh nhân chiếm 24,1%) [17]. Cũng trong năm 2018 tác giả Vikash và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 100 bệnh nhân zona, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vùng ngực và cổ là vị trí tổn thương phổ biến nhất trong đó tổn thương tại ngực chiếm cao nhất (50%), tiếp theo là tại vùng cổ chiếm 20% [77].

Tuy nhiên nghiên cứu của Babamahmoodi và cộng sự năm 2015 nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh zona trong giai đoạn 2007 – 2013 tại Iran lại cho thấy tổn thương ở vùng đầu và cổ gặp ở 78 bệnh nhân (59,1%) chiếm

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

cao nhất, tiếp theo là vùng ngực bụng gặp 37 trường hợp (28%), tứ chi 16 trường hợp (12,1%) và một trường hợp (0,8%) bị tổn thương ở nhiều vùng [19]. Kết quả tương tự cũng được báo cáo trong nghiên cứu Abreu và cộng sự năm 2021 khi kết quả của nghiên cứu này cho thấy trong số 259 bệnh nhân mắc zona lần đầu hoặc tái phát có 246 trường hợp (95%) bị phát ban, vị trí tổn thương thường xảy ra ở đầu hoặc mặt (28,5%), lưng (26,4%) hoặc ngực (23,6%) [16].

<b>* Phân thể lâm sàng theo hình thái tổn thương [1]: </b>

Những hình thái này thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch như HIV/AIDS, ung thư, hoá trị liệu..., bao gồm:

- Zona lan toả (disseminated zoster) - Zona nhiều dây thần kinh

- Zona tái phát

<b>* Một số thể lâm sang Zona đặc biệt </b>

- Zona mắt: chiếm 10-15% các thể zona. Do tổn thương thần kinh V hay thần kinh sinh ba chi phối cho mắt, hàm trên và hàm dưới, trong đó tổn thương nhánh mắt gấp 5 lần các nhánh khác. Có thể có các biến chứng về mắt như viêm kết mạc, giác mạc, củng mạc, thậm chí trong những trường hợp nặng đe doạ thị lực như hoại tử võng mạc cấp tính, viêm dây thần kinh thị giác, hội chứng đỉnh ổ mắt, viêm hậu củng mạc, glaucoma thứ phát...[1], [62]

- Zona hạch gối hay hội chứng Ramsay Hunt: do thương tổn hạch gối của dây thần kinh VII. Bệnh nhân liệt mặt một bên, ù tai, nghe kém hoặc mất khả năng nghe, buồn nơn, nơn, chóng mặt và giật nhãn cầu. Mắt khơng nhắm kín được (hở mi), có dấu hiệu Charler Bell. Mất cảm giác vị giác một bên 2/3 trước lưỡi, mụn nước mọc ở màng nhĩ, ống tai, vành tai. Có thể có viêm não, màng não [1], [62]. Nghiên cứu cho thấy zona hạch gối chiếm tỷ lệ thấp, theo nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Em tỷ lệ zona hạch gối chiếm tỷ lệ 3,85% trong tổng số bệnh nhân zona[5].

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

- Zona vùng xương cùng (S2, S3, S4): do viêm dây thần kinh chi phối vùng bàng quang. Bệnh nhân khó tiểu, tiểu dắt, bí tiểu, có trường hợp tiểu máu và tiểu mủ. Đau bụng giống như các triệu chứng ngoại khoa, đau quặn bụng dưới, căng tức, bí trung đại tiện, hậu môn co thắt và cứng như đá không thể khám được, đau nhức vùng da một bên sinh dục kèm theo thương tổn da điển hình [1]. Zona vùng cùng cụt chiếm tỷ lệ thấp, theo nghiên cứu của Nguyễn Quý Thái có 5,9% bệnh nhân có zona vùng cùng cụt [13].

- Zona tai: cảm giác rát bỏng, đau vùng tai, có thể lan ra thái dương và gáy. Ðau xảy ra từng cơn kéo dài nhiều ngày ảnh hưởng trầm trọng đến sinh hoạt ăn, ngủ, nghỉ của bệnh nhân đặc biệt là zona tai kết hợp với zona họng gây đau họng không nuốt được. Rối loạn cảm giác vùng mặt, liệt mặt ngoại biên, nghe kém [1].

- Zona ở người nhiễm HIV/AIDS: bệnh zona ở người có HIV dương tính giai đoạn sớm tương tự như bệnh zona ở người bình thường. Nếu nhiễm HIV giai đoạn muộn/AIDS, zona có thể tái phát thường xuyên, tổn thương khơng điển hình như xuất hiện trên diện rộng, mụn nước xuất huyết, hoại tử, nhiễm khuẩn, sẹo xấu, bệnh kéo dài [1].

<i>1.1.2.2. Đặc điểm lâm sàng </i>

<b>*Dấu hiệu tiền triệu </b>

Bệnh khởi đầu với các cảm giác bất thường trên một vùng da như bỏng, nóng rát, châm chích, tê, đau, nhất là về đêm, hiếm gặp hơn là dị cảm ở một vùng hoặc nhiều dây thần kinh chi phối từ 1-5 ngày. Kèm theo có thể nhức đầu, sợ ánh sáng và khó chịu. Thời kỳ này được cho là thời kỳ virút lan truyền dọc dây thần kinh [1], [49].

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2011 chỉ ra rằng 90,14% bệnh nhân có dấu hiệu báo trước là đau, chỉ có 9,86% bệnh nhân đau xuất hiện cùng lúc với thương tổn trên da [7]. Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hiệp cho thấy hầu hết bệnh nhân đau trước khi xuất hiện tổn thương

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

da chiếm tỷ lệ 79,6%. Đau cùng l c với khi xuất hiện tổn thương da là 13,6%. Thấp nhất sau khi thương tổn da xuất hiện bệnh nhân mới có cảm giác đau chiếm 6,8% [6]. Tác giả Vũ Ngọc Vương năm 2019 báo cáo thời gian đau tiền triệu trung bình 4,35 ± 1,65 ngày, thời gian đau tiền triệu dưới 5 ngày chiếm đa số 83,82%. Thời gian đau trên 5 ngày chỉ chiếm 16,18%. Mức độ đau tiền triệu gặp chủ yếu là đau nhẹ và đau vừa (80,88%), đau tiền triệu nặng chiếm tỉ lệ ít hơn (19,12%) [14].

<b>* iai đoạn khởi phát </b>

Khoảng nửa ngày đến một ngày sau, trên vùng da có dấu hiệu tiền triệu xuất hiện những mảng đỏ, hơi nề nhẹ, đường kính khoảng vài cm, gờ cao hơn mặt da, sắp xếp dọc theo đường phân bố thần kinh và dần dần nối với nhau thành dải, thành vệt [1], [39], [49].

Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Em và Ngô Xuân Duyệt năm 2005 cho thấy 100% bệnh nhân đều xuất hiện mảng da viêm đỏ, mảng da viêm đỏ thành dải chiếm 83,72% [5]. Mảng da viêm đỏ xuất hiện ở tất cả các bệnh nhân cũng được báo cáo trong nghiên cứu của Đỗ Thị Phương và Lại Lan Phương năm 2006 [11], Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2011 [7].

<b>* iai đoạn toàn phát </b>

<i><b>- Triệu chứng tổn thương ngoài da: Vài ngày sau, trên những mảng đỏ </b></i>

da xuất hiện mụn nước, bọng nước tập trung thành đám giống như chùm nho, l c đầu mụn nước căng, dịch trong, sau đục, hóa mủ, dần dần vỡ đóng vảy tiết. Thời gian trung bình từ khi phát tổn thương đến khi lành sẹo khoảng 2-4 tuần. Người cao tuổi tổn thương nhiều, diện rộng; mụn nước, bọng nước có thể xuất huyết, hoại tử da, nhiễm khuẩn, sẹo xấu và kéo dài. Ở trẻ em tổn thương ít, tiến triển nhanh [1], [62], [34], [63].

Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Em và Ngô Xuân Duyệt năm 2005 chỉ ra rằng 100% bệnh nhân xuất hiện mụn nước và mụn nước thành chùm, vảy tiết dính xẫm màu gặp ở tất cả các trường hợp, sau khi khỏi để lại

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

dát sẫm màu chiếm 90,38% và để lại sẹo chiếm 9,62% [5]. Kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Phương và Lại Lan Phương năm 2006 cho thấy dát đỏ gặp ở 100% các trường hợp, dát đỏ và phù nề cũng như mụn nước thành chùm gặp ở hơn 70% các trường hợp [11]. Kết qủa nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2011 cũng cho thấy 100% bệnh nhân xuất hiện mụn nước thành chùm, bọng nước chiếm 91,55% [7]. Nghiên cứu của Trần Ngọc Sĩ và cộng sự năm 2021 cho thấy dát đỏ gặp ở hầu hết các bệnh nhân (93,88%), kế đến là mụn nước, bọng nước (79,59%), sẹo gặp rất ít (6,12%) [12]. Một số nghiên cứu trên thế giới cũng cho kết quả tương tự. Tác giả Kwan và cộng sự báo cáo các triệu chứng của bệnh nhân zona bao gồm phát ban kèm theo đau, ngứa hoặc ngứa râm ran gặp ở 95,1% bệnh nhân [50]. Nghiên cứu của Rachana và cộng sự cho thấy tất cả bệnh nhân đều có biểu hiện ban đỏ và có mụn nước tại thời điểm nghiên cứu [64]. Ở trẻ em, mảng da viêm đỏ cũng được quan sát trong hầu hết các trường hợp trong nghiên cứu của Weinmann và cộng sự năm 2013 [80].

<i><b>- Vị trí tổn thương: Thường chỉ ở một bên, không vượt quá đường giữa </b></i>

cơ thể và theo đường phân bố của một dây thần kinh ngoại biên; cá biệt bị cả hai bên hay lan toả. Hạch bạch huyết vùng lân cận sưng to [1].

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2011 cho thấy có 100% bệnh nhân zona có tổn thương 1 bên cơ thể và khơng có trường hợp nào xuất hiện tổn thương bên đối diện [7]. Tỷ lệ tổn thương zona gặp ở một bên cơ thể chiếm tỷ lệ cao cũng gặp trong nghiên cứu của tác giả Kannan chiếm 67% [44].

<i><b> - Triệu chứng cơ năng: Đau là triệu chứng xuất hiện sớm nhất, có thể </b></i>

trước cả tổn thương ngồi da và ln thay đổi trong suốt thời gian bệnh tiến triển. Mức độ đau rất đa dạng từ nhẹ như cảm giác rát bỏng, âm ỉ tại chỗ hay nặng như kim châm, giật từng cơn. Triệu chứng đau thường phụ thuộc vào lứa tuổi. Ở trẻ em, người trẻ đau ít. Người nhiều tuổi đau thành từng cơn, kéo dài,

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

thậm chí hàng năm khi tổn thương ngoài da đã lành sẹo vẫn còn đau gọi là đau sau zona [1], [39], [34].

Đau là triệu chứng cơ năng điển hình của zona. Theo nghiên cứu của Đặng Văn Em và Ngơ Xn Duyệt điểm đau trung bình của bệnh nhân 6,69 trong đó đau nhẹ chiếm 3,85%, đau trung bình (26,92%) và đau nặng chiếm 69,23% [5]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2011 cho thấy 100% bệnh nhân đều xuất hiện đau trong đó đau nhẹ chiếm 1,4%, trung bình chiếm 22,5% và đau nặng chiếm 76,1% [7]. Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy đau trong bệnh zona là triệu chứng cơ năng phổ biến. Nghiên cứu của Abreu và cộng sự cho thấy đau gặp ở hầu hết các bệnh nhân với tỷ lệ 85,78% [16]. Kết quả nghiên cứu cua Babamahmoodi và cộng sự năm 2015 cho thấy có đến 95,5% bệnh nhân xuất hiện đau [19]. Tác giả Kwan và cộng sự báo cáo có 74% bệnh nhân đánh giá mức độ đau từ 7 đến 10 [50]. Theo nghiên cứu của Rachana và cộng sự báo cáo tất cả các trường hợp bệnh nhân đều xuất hiện đau, trong đó đau như kim châm chiếm tỷ lệ cao nhất (54%), tiếp theo đó là đau nhói, đau buốt (27,8%) và đau rát (18,3%) [64].

Một số triệu chứng khác cũng được một số tác giả báo cáo như trong nghiên cứu của Babamahmoodi, bệnh nhân mắc bệnh zona có xuất hiện một số triệu chứng như sốt (31,1%), nhức đầu (30,3%), vấn đề về mắt (27,3%), ngứa (24,2%), và chóng mặt (5,3%) [19]. Trong nghiên cứu của Abreu, bệnh xuất hiện ngứa (22,06%) và sốt (20,10%) [16].

Các rối loạn khác: có thể thấy rối loạn bài tiết mồ hơi, vận mạch, phản xạ dựng lông (nhưng hiếm gặp) [1].

<i>1.1.2.3. Đặc điểm cận lâm sàng </i>

Theo Levin Myron J và cộng sự, khi nghiên cứu về sự thay đổi một số chỉ số xét nghiệm trên bệnh nhân zona, cho kết quả như sau [54]:

<b>- Ít có thay đổi về công thức máu </b>

<b>- Xét nghiệm dịch não tủy có tăng bạch cầu và protein chiếm 40%. </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

- Xét nghiệm tế bào Tzanck ở đáy bọng nước ở giai đoạn sớm, phết lên lam kính, cố định bằng dung dịch aceton hoặc metanol và nhuộm hematoxylin- eosin, Giemsa hoặc Papanicolaou: Không phân biệt nhiễm VZV

<b>hay các virus nhóm herpes khác. </b>

- PCR (Polymerase chain reaction): Phát hiện DNA của virus ở dịch bọng nước. Độ nhậy và độ đặc hiệu của xét nghiệm 95% và 100%. Kết quả có sau 24-48 giờ. PCR có thể lấy từ máu, dịch não tủy, dịch hầu họng và dịch kết mạc.

- Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp: Độ nhạy cao, giá thành rẻ hơn, trả lời kết quả nhanh hơn. Độ nhạy và độ đặc hiệu là 82% và 76%. Bệnh phẩm được lấy từ da, kết mạc hoặc tổn thương niêm mạc, kết quả có sau 3 giờ.

- Xét nghiệm huyết thanh học: Trong khi có nhiều phương pháp có thể xác định kháng thể đặc hiệu với VZV, thì chẩn đốn huyết thanh học chỉ có những giá trị hạn chế vì thời gian địi hỏi chẩn đốn xác định phải nhanh.

- Xét nghiệm mơ bệnh học: có sự xuất hiện của các tế bào đa nhân khổng lồ và tế bào biểu mô chứa nhiều thể vùi ái toan, là tổn thương đặc trưng của nhiễm VZV, phân biệt với các bệnh da phỏng nước khác.

Trong khi đó một số nghiên cứu của các tác giả khác kết quả nuôi cấy virus: phân lập virus từ dịch phỏng nước, dịch não tủy, định danh trực tiếp kháng nguyên hoặc acid nucleic của VZV. Tuy nhiên, kết quả có độ nhạy thấp vì VZV kém bền vững, chỉ có từ 30-60% cho kết quả dương tính. Kết quả có sau 5-7 ngày [33].

- Định lượng IgM huyết thanh có thể tăng cao, tuy nhiên đây không phải giá trị đặc hiệu của bẹnh mà chỉ là bằng chứng của sự nhiễm trùng mới vì IgM cũng dương tính giả khi nồng độ IgG trong máu cao [56].

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

+ Tại chỗ: bôi hồ nước, dung dịch màu millian, castellani, mỡ acyclovir, mỡ kháng sinh nếu có nhiễm khuẩn.

+ Tồn thân:

Uống acyclovir: thuốc kháng virus có tác dụng nhanh lành vết thương, giảm số tổn thương mới và giảm đau sau zona. Thuốc nên được dùng sớm, tốt nhất trong vòng 72 giờ đầu. Liều 800mg x 5 lần/ngày trong 7-10 ngày.

Hoặc, famciclovir 500mg mỗi 8 giờ (3 lần mỗi ngày) x 7 ngày. Hoặc, valacyclovir 1000mg mỗi 8 giờ (3 lần mỗi ngày) x 7 ngày.

Ngoài ra: kháng sinh chống bội nhiễm; giảm đau, kháng viêm, an thần, sinh tố nhóm B liều cao. Nếu đau dai dẳng: bôi kem chứa lidocain và prilocain, kem capsaicin, lidocain gel, uống thuốc chống trầm cảm ba vòng, phong bế thần kinh và vật lý trị liệu kết hợp. Corticoid: có tác dụng giảm đau trong thời kỳ cấp tính và nhiều tác giả cho rằng thuốc có tác dụng giảm đau sau zona.

- Trường hợp suy giảm miễn dịch hay tổn thương lan rộng:

Tiêm tĩnh mạch acyclovir 30mg/kg/ngày, chia 3 lần x 7 ngày hoặc cho đến khi thương tổn đóng vảy tiết.

- Trường hợp có tổn thương mắt: kết hợp khám chuyên khoa mắt, điều trị acyclovir đường tĩnh mạch.

- Đau sau zona (post herpetic neuralgia-PHN): là hiện tượng đau dai dẳng trên 1 tháng, thậm chí hàng năm với biểu hiện đau nhạy cảm, rát bỏng, đau âm ỉ hay đau nhói như dao đâm ở vùng da tổn thương zona đã lành sẹo. Bệnh thường xuất hiện ở người già, người suy giảm miễn dịch, mắc bệnh ung thư. Nguyên nhân: do VZV gây viêm, hoại tử và xơ hóa các đầu mút thần kinh. Một số trường hợp có thể kèm đau cơ, đau khớp, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống.

*Điều trị và dự phòng đau sau zona (PHN):

+ Điều trị bệnh zona bằng thuốc kháng virus sớm trong vòng 72 giờ đầu.

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

+ Amitripylin viên 25mg, liều 25-75mg/ngày. Tác dụng phụ: hạ huyết áp tư thế, ngủ gà, khô miệng, lú lẫn, táo bón, bí tiểu, tăng cân. Hạn chế tác dụng phụ bằng cách dùng liều tăng dần.

+ Carbamazepin viên nén 200mg, liều 400-1.200mg/ngày. Tác dụng phụ: chóng mặt, buồn nôn lúc bắt đầu điều trị, hạn chế bằng cách tăng dần liều.

+ Gabapentin viên 300mg, liều 900-2.000mg/ngày. Tác dụng phụ: ngủ gà, nhức đầu, chóng mặt, buồn nơn, đi loạng choạng, run. Hạn chế tác dụng phụ bằng cách tăng dần liều.

+ Pregabalin 150mg-300mg/ngày.

+ Bôi kem chứa lidocain và prilocain tại chỗ, ngày 3-4 lần.

<i><b>1.1.4. Một số yếu tố liên quan đến mức độ đau của bệnh zona </b></i>

Đau trong bệnh zona là sự kết hợp giữa đau thông thường và đau thần kinh phản ánh tổn thương mơ và thần kinh cấp tính [59]. Một số nghiên cứu của các tác giả trên thế giới cho thấy một số yếu tố như nhân khẩu học (tuổi, giới…), hay các yếu tố liên quan đến tâm lý, chấn thương hay phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến mức độ đau trong đau thần kinh nói chung và bệnh zona nói riêng [70], [37], [22], [78].

<i>1.1.4.1. Tuổi </i>

Tác giả Whitley và cộng sự tiến hành nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố dự đoán đau kéo dài trong bệnh zona. Kêt quả nghiên cứu cho thấy tuổi tác ảnh hưởng mạnh mẽ đến cơn đau trong bệnh zona, bệnh nhân trên 50 tuổi có nguy cơ bị đau do zona kéo dài hơn đáng kể so với những bệnh nhân dưới 30 tuổi [81]. Nghiên cứu của Parruti và cộng sự trên những bệnh nhân zona tại Ý nhằm mục đích điều tra cường độ đau và các mối tương quan với cường độ đau ở bệnh nhân zona. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng tuổi là yếu tố liên quan với cường độ đau ở bệnh nhân zona, cường độ đau nhiều gặp ở những bệnh nhân cao tuổi hơn, cụ thể bệnh nhân ở nhóm tuổi trung bình 65,4 ± 14,0 đau nhiều hơn nhóm tuổi trung bình 55,6 ± 21,7 [61]. Tuy nhiên nghiên cứu

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

của Katz và cộng sự khơng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kế giữa tuổi với mức độ đau (r= -0,04, p > 0,05) [46].

Tuổi không chỉ là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đau mà còn được xác định là yếu tố nguy cơ dẫn đến biến chứng đau sau zona ở mức độ nặng [36]. Nghiên cứu của tác giả Kawai và cộng sự năm 2015 chỉ ra rằng bệnh nhân trên 70 tuổi có nguy cơ xuất hiện biến chứng đau sau zona cao gắp 2,12 lần (RR = 2,12; 95% CI: 1,48 – 3,04; p < 0,001) [48]. Nghiên cứu hồi cứu của Forbes và cộng sự năm 2016 nhằm điều tra các yếu tố nguy cơ gây ra biến chứng đau sau zona, kết quả nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc biến chứng đau sau zona tăng mạnh theo độ tuổi, nguy cơ lớn nhất gặp ở lứa tuổi từ 50 đến 79 tuổi (OR = 1,70, 99% CI: 1,63–1,78) [31]. Kết quả tương tự cũng được báo cáo trong nghiên cứu tổng quan hệ thống của Boogaard và cộng sự năm 2015 [21], nghiên cứu của Yuruk và Tabakoglu năm 2021 [86], hay trong nghiên cứu của tác giả Sun và cộng sự năm 2022 [72].

<i>1.1.4.2. Giới </i>

Nghiên cứu của Parruti và cộng sự trên những bệnh nhân zona tại Ý nhằm mục đích điều tra cường độ đau và các mối tương quan với cường độ đau ở bệnh nhân zona. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng giới tính là yếu tố liên quan đến cường độ đau ở bệnh nhân zona, bệnh nhân nữ có nguy cơ xuất hiện đau nhiều cao gấp 2,5 lần so với nam giới (OR = 2,5; 95% CI: 1,41 – 4,35; p < 0,01) [61]. Tuy nhiên nghiên cứu của Katz và cộng sự khơng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kế giữa giới tính với mức độ đau cụ thể bệnh nhân nam có điểm đau trung bình 69,1 trong khi đó ở nữ giới là 66,5 tuy nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kế với p > 0,05 [46].

Giới tính khơng chỉ là yếu tố liên quan đến mức độ đau trong bệnh zona, mà còn là yếu tố nguy cơ xuất hiện biến chứng đau sau zona. Nghiên cứu hồi cứu của Forbes và cộng sự năm 2016 nhằm điều tra các yếu tố nguy cơ gây ra biến chứng đau sau zona, kết quả nghiên cứu cho thấy nguy cơ xuất hiện biến

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

chứng đau sau zona cao hơn ở phụ nữ (6,3% so với 5,1% ở nam giới; OR = 1,19; 99% CI: 1,10–1,27) [31]. Kết quả tương tự cũng được báo cáo trong nghiên cứu tổng quan hệ thống của Boogaard và cộng sự năm 2015 [21].

<i>1.1.4.3. Yếu tố liên quan đến y học </i>

Tác giả Whitley và cộng sự tiến hành nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố dự đoán đau kéo dài trong bệnh zona. Kêt quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có các triệu chứng tiền triệu cũng có nhiều khả năng bị đau kéo dài trong

<b>bệnh zona [81]. Tác giả Katz và cộng sự báo cáo rằng bệnh nhân xuất hiện </b>

các triệu chứng tiền triệu là yếu tố liên quan đến mức độ đau trong bệnh zona, những bệnh nhân có xuất hiện các triệu chứng tiền triệu có điểm đau trung bình 85,2 cao hơn so với bệnh nhân khơng xuất hiện các triệu chứng tiền triệu có điểm đau trung bình 52,2, (p < 0,01). Thời gian mắc bệnh cũng được xác định là yếu tố tương quan thuận với mức độ đau trong zona với r = 0,36, p < 0,01 [46]. Nghiên cứu tổng quan của Forbes và cộng sự năm 2016 báo cáo rằng bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng tiền triệu là yếu tố nguy cơ xuất hiện biến chứng đau sau zona [30].

Nghiên cứu của tác giả Suo và cộng sự tại Trung Quốc nhằm đánh giá mối liên quan của tiền sử gia đình mắc bệnh zona , kết quả nghiên cứu cho thấy tiền sử gia đình có người mắc bệnh zona có liên quan chặt chẽ với mức độ đau ở mức vừa và nặng của bệnh. Bệnh nhân có tiền sử gia đình có người mắc bệnh zona có nguy cơ xuất hiện đau ở mức độ trung bình hoặc nặng cao gấp 3,2 lần (OR = 3,2; 95% CI: 1,7 – 6,0; p < 0,01) [74].

Nghiên cứu của Parruti và cộng sự trên những bệnh nhân zona tại Ý nhằm mục đích điều tra cường độ đau và các mối tương quan với cường độ đau ở bệnh nhân zona. Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật cùng bên với bên bị zona có mức độ đau trầm trọng cao hơn bệnh nhân khơng có tiền sử phẫu thuật 2,09 lần (OR = 2,09; 95% CI: 1,21 – 3,62; p< 0,01). Nhóm bệnh nhân có tiền sử chấn thương cùng bên với bên bệnh

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

cũng có mức độ đau trầm trọng cao hơn nhóm khơng có tiền sử chấn thương 2,51 lần (OR = 2,51; 95% CI: 1,3 – 4,84; p< 0,01) [61]. Tiền sử phẫu thuật hay chấn thương cùng bên bị zona được báo cáo là yếu tố nguy cơ gây ra biến chứng đau sau zona trong nghiên cứu tổng quan hệ thống của Boogaard và cộng sự năm 2015 [21].

Nguy cơ xuất hiện biến chứng đau sau zona cao hơn những người có tình trạng ức chế miễn dịch nghiêm trọng, bao gồm bệnh bạch cầu (13,7%; OR = 2,07; 99% CI: 1,08–3,96) và ung thư hạch (12,7%; OR = 2,45; 99% CI: 1,53–3,92); tình trạng tự miễn dịch, bao gồm viêm khớp dạng thấp (9,1%; OR = 1,20; 99% CI: 0,99–1,46); và các bệnh đi kèm khác, bao gồm cả bệnh hen phế quản và bệnh tiểu đường [31].

<b>1.2. ánh giá kết quả giảm đau trong bệnh zona vừa và nặng bằng gabapentin </b>

<i><b>1.2.1. Cơ chế đau trong bệnh zona </b></i>

Triệu chứng đau là do tổn thương thần kinh ngoại vi và các tế bào thần kinh ở hạch giao cảm và là triệu chứng thường gặp trong bệnh zona. Đau có thể có trước tổn thương da và kéo dài kể cả sau khi tổn thương da đã khỏi [15]. Nhiễm trùng ngoài da càng làm tăng cảm giác đau tại chỗ. Các acid amin và neuropeptide được giải phóng trong giai đoạn tiền triệu và giai đoạn bệnh toàn phát sẽ gây tổn thương dây thần kinh cảm giác và mất kiểm soát của các neuron trung gian ở sừng sau tủy sống, gây ra sự tăng cảm và tăng đáp ứng với kích thích đau. Đó là hậu quả của sự phá hủy neuron do quá trình viêm và giải phóng các cytokine [83].

Các xung thần kinh từ các đầu mút trên da sẽ phát tín hiệu truyền theo các sợi C khơng có bao myelin (màu vàng) và các sợi A nhỏ, đến hạch thần kinh rễ sau, đến sừng sau tủy sống. Các tế bào thần kinh ở đây chịu sự ức chế của não (màu xanh) thông qua các chất trung gian hóa học như serotonin và norepinephrine. Các thuốc làm tăng hoạt tính của các amine sinh học này, như

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

thuốc chống trầm cảm 3 vịng sẽ làm tăng sự ức chế này nên có tác dụng giảm đau. Những kích thích từ ngoại vi theo chiều hướng tâm kết hợp với đường dẫn truyền ức chế tạo thành một hệ thống liên kết với các xung từ hệ gai- đồi thị đối bên (màu cam). Thơng tin từ hệ gai - đồi thị tích hợp với thông tin từ thân và vỏ não sẽ tiếp nhận các cảm giác đau [54].

Đau sau zona (Postherpetic Neuralgia- PHN) : Đau là biến chứng hay gặp nhất của bệnh zona, khi đau kéo dài trên 1 tháng thì gọi là đau sau zona, bệnh nhân PHN có mất các tế bào thần kinh (neuron) và sẹo ở hạch giao cảm và sừng sau tủy sống tương ứng với vùng da tổn thương [18][67]. Các tế bào thần kinh ở hạch giao cảm bị chết và các tế bào bị tổn thương thứ phát ở sừng sau tủy sống gây nên những triệu chứng thay đổi cảm giác ở bệnh nhân [35], [75].

<i>Hình 1.2: Cơ chế bệnh sinh của đau [54] </i>

Vì đau là triệu chứng khó chịu nhất của zona, nên việc kiểm sốt cơn đau đầy đủ là phương pháp điều trị chủ đạo kết hợp với liệu pháp kháng virrus

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

.Hầu hết bệnh nhân cần thêm thuốc giảm đau, mặc dù điều trị kháng virus có thể làm giảm cơn đau cấp tính trong zona. Ngồi ra, việc giảm đau cấp tính một cách hiệu quả có thể làm giảm nguy cơ tiến triển thành biến chứng đau sau zona, vì cơn đau cấp tính nghiêm trọng là một yếu tố nguy cơ của đau sau zona. Ban đầu có thể sử dụng acetaminophen, thuốc chống viêm không steroid (NSAID), và thuốc giảm đau opioid [43], [27]. Ở những bệnh nhân giảm đau không đủ với các thuốc này, thuốc giảm đau bổ trợ như thuốc chống trầm cảm và thuốc chống co giật được chứng minh là có hiệu quả để giảm đau cấp tính trong zona [66]. Nếu các cơn đau trong zona cấp tính có thể có liên quan thành phần viêm, thì corticosteroid đã được sử dụng trong đợt zona cấp tính. Trong các thử nghiệm lâm sàng với một số người lớn tuổi được chọn, corticosteroid đẩy nhanh quá trình chữa lành tổn thương da, cải thiện chất lượng cuộc sống, hỗ trợ trở lại các hoạt động thường ngày và giảm việc sử dụng thuốc giảm đau. Steroid toàn thân bắt đầu với liều khoảng 1mg/kg/ ngày trong khoảng 1 tuần, tiếp theo là 0,5mg/kg/ngày trong 1 tuần và 0,25mg/kg/ ngày trong chế độ 1 tuần tiếp theo được chứng minh là đủ để đạt được những lợi ích này [28]. Nếu cơn đau không liên quan đến các loại thuốc đã thảo luận trên, có thể thực hiện phong bế thần kinh hoặc chuyển đến bác sĩ chuyên khoa giảm đau để phong tỏa thần kinh giao cảm và ngoài màng cứng [43].

<i><b>1.2.2. Giới thiệu về thuốc gabapentin [2], [25] </b></i>

Gabapentin là thuốc chống động kinh và giảm đau do thần kinh, cơ chế hiện chưa rõ. Trên động vật thực nghiệm, thuốc có tác dụng chống cơn duỗi cứng các chi sau khi làm sốc điện và cũng ức chế được cơn co giật do pentylenetetrazol. Hiệu quả ở thí nghiệm trên cũng tương tự như đối với acid valproic nhưng khác với phenytoin và carbamazepin. Cấu trúc hóa học của gabapentin tương tự chất ức chế dẫn truyền thần kinh là acid gama-aminobutyric (GABA), nhưng gabapentin không tác động trực tiếp lên các thụ thể GABA, không làm thay đôi cấu trúc, giải phóng, chuyển hóa và hấp thu

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

GABA. Các vị trí gắn gabapentin có ái lực cao khu trú ở khắp não, các vị trí này tương ứng với sự hiện diện của các kênh calci phụ thuộc điện thế đặc trưng có đơn vị phụ alpha-2-delta-1. Kênh này nằm ở tiền synap và có thể điều hịa giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh kích thích th c đẩy gây co giật và đau.

<i>Hình 1.3. Cơng thức hố học của gabapentin. </i>

Gabapentin hấp thu qua đường tiêu hóa theo cơ chế bão hòa (khi liều tăng, sinh khả dụng lại giảm). Thuốc đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khi uống 2 - 3 giờ và đạt nồng độ ổn định sau 1 – 2 ngày. Nồng độ huyết thanh có hiệu quả của thuốc chưa được xác định. Tuy vậy, trong một nghiên cứu, số lần co giật chỉ thấy giảm ở những người có nồng độ huyết thanh gabapentin trên 2 mg/lít (11,7 micromol/lít). Nồng độ trong huyết tương của gabapentin nói chung nằm trong phạm vi từ 2 mg/lít (2 microgam/ml) tới 20 mg/ lít (20 microgam/ml).

Sinh khả dụng khoảng 60% khi dùng với liều 900 mg/24 giờ và không tương ứng với liều dùng, thậm chí khi liều tăng thì sinh khả dụng lại giảm (sinh khả dụng khoảng 27% khi dùng với liều 4,8 g/24 giờ). Thức ăn ít ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ hấp thu. Ở người bệnh cao tuổi và người suy thận, độ thanh thải gabapentin huyết tương bị giảm. Gabapentin có thể bị loại khỏi huyết tương bằng thẩm phân máu, vì vậy cần điều chỉnh liều đối với những người bệnh này.

Tác dụng trên lâm sàng:

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

Động kinh: Gabapentin được chỉ định như là một trị liệu trong các cơn động kinh cục bộ có hay khơng kèm theo các cơn toàn bộ thứ phát ở người lớn và trẻ em trên 12 tuổi.

Đau thần kinh: Gabapentin được chỉ định điều trị đau thần kinh ở người lớn từ 18 tuổi trở lên. Liều dùng trong đau thần kinh ở người lớn: liều khởi đầu là 300mg/ngày, 1 - 2 ngày sau đó tăng dần: 600 - 900 - 1200 mg/ngày chia làm 3 liều nhỏ bằng nhau và tăng lên nếu cần thiết, tuỳ theo đáp ứng, lên đến liều tối đa 3600mg/ngày. Có thể dùng liên tục 2 - 3 tháng. Liều độc: 49gram.

Tác dụng phụ: Có thể có mệt mỏi, hạ huyết áp, buồn ngủ, chóng mặt, buồn nơn, nơn, khó tiêu, khơ mồm hoặc khơ họng, giảm thị lực, nhìn đơi, ho, viêm họng, viêm mũi, dị ứng thuốc. Đa số tác dụng phụ thuyên giảm hết trong vòng 2 tuần. Nếu sau 2 tuần, tác dụng phụ khơng hết thì phải ngừng thuốc.

Chống chỉ định: trẻ em < 3 tuổi, quá mẫn cảm với gabapentin. Thận trọng khi dùng thuốc cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con b .

<i><b>1.2.3. Nghiên cứu về tác dụng giảm đau của gabpentin trong đau thần kinh và zona </b></i>

Hiệu quả của gabpentin trong giảm đau đối với đau thần kinh đã được nhiều tác giả báo cáo. Ở những người bị đau thần kinh mức độ trung bình hoặc nặng, gabapentin đường uống (1200-3600 mg/ngày) có hiệu quả tốt trong giảm cường độ đau (giảm 50% cường độ đau hoặc cải thiện rất nhiều theo thang điểm PGIC) hoặc trung bình (giảm cường độ đau của 25% hoặc cải thiện nhiều hoặc rất nhiều trên thang điểm PGIC) so với giả dược [57]. Nghiên cứu tổng quan hệ thống của Wiffen và cộng sự nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau và tác dụng phụ của gabapentin trong đau thần kinh mãn tính ở người lớn. Nghiên cứu tổng hợp từ 37 nghiên cứu với 5914 người tham gia. Hầu hết các nghiên cứu sử dụng gabapentin đường uống hoặc gabapentin encarbil với liều 1200 mg hoặc hơn mỗi ngày cho các tình trạng đau thần kinh

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

khác nhau, chủ yếu là đau sau zona và đau thần kinh do tiểu đường, thời gian nghiên cứu thường là bốn đến 12 tuần. Kết quả của nghiên cứu tổng quan này cho thấy gabapentin ở liều 1800 mg đến 3600 mg mỗi ngày (1200 mg đến 3600 mg gabapentin encarbil) có thể giúp giảm đau ở mức độ tốt cho một số người bị đau sau zona và bệnh thần kinh ngoại biên do tiểu đường, bằng chứng cho các loại đau thần kinh khác là rất hạn chế. Kết quả giảm ít nhất 50% cường độ đau được bệnh nhân coi là kết quả điều trị rất tốt và việc đạt được mức độ giảm đau này có liên quan đến những tác động có lợi đối với rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi và trầm cảm, cũng như chất lượng cuộc sống. Khoảng 3 hoặc 4 trong số 10 người tham gia đạt được mức độ giảm đau này với gabapentin, so với 1 hoặc 2 trên 10 người dùng giả dược [82]. Kết quả giảm đau có hiệu quả của gabapentin cũng được tác giả Yang báo cáo vào năm 2013 khi trong nghiên cứu này tác giả thấy rằng sử dụng 4 liều gabapentin khác nhau trong quá trình chuẩn độ ban đầu ở bệnh nhân ngoại trú bị đau thần kinh dẫn đến giảm đáng kể khả năng thức giấc do cơn đau dữ dội và giảm tác dụng phụ của thuốc [84].

Đối với đau trong zona, các nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả của gabapentin trong giảm cường độ đau ở bệnh nhân zona, tuy nhiên kết quả

<b>giữa các nghiên cứu còn chưa thực sự thống nhất. Nghiên cứu của Sighn và </b>

cộng sự năm 2016 nhằm so sánh và đánh giá hiệu quả của việc bổ sung gabapentin với valacyclovir (nhóm 1) và valacyclovir đơn độc (nhóm 2) trong giai đoạn cấp tính của bệnh zona. Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm VAS giảm đáng kể sau 7 ngày ở nhóm 1 (P < 0,05) và cải thiện hơn nữa và được duy trì sau đó trong khi ở nhóm 2, điểm VAS giảm đáng kể (P < 0,05) chỉ được quan sát thấy sau 14 ngày và được duy trì sau đó. Kết quả này cho thấy gabapentin kết hợp với valacyclovir an toàn và hiệu trong kiểm soát bệnh zona và cơn đau trong bệnh zona [69]. Cùng quan điểm với Sighn và cộng sự, kết quả nghiên cứu của Nath tại Ấn Độ đánh giá vai trò của gabapentin liều

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

duy nhất 900 mg kết hợp với liệu pháp acyclovir trong giảm đau cấp tính ở bệnh nhân zona cho thấy kết quả ở nhóm can thiệp: hai bệnh nhân giảm đau ở mức “rất tốt” (8%), 20 bệnh nhân giảm đau ở mức “tốt” (80%, 2 bệnh nhân giảm đau ở mức “trung bình” (8%) và 1 bệnh nhân giảm đau ở mức “kém” (4%). Trong nhóm đối chứng, 1 bệnh nhân báo cáo giảm đau ở mức 'tốt', 5 bệnh nhân báo cáo giảm đau 'trung bình', 4 bệnh nhân báo cáo giảm đau ở mức 'kém'. Kết quả này cho thấy gabapentin kết hợp với acyclovir có hiệu quả trong giảm đau ở bệnh nhân zona [58]. Tuy nhiên nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi được thực hiện bởi Bulilete.O và cộng sự năm 2019 chỉ ra rằng việc bổ sung gabapentin vào phương pháp điều trị Zona thơng thường trong vịng 72 giờ kể từ khi phát ban không giúp giảm đáng kể cơn đau do zona cấp tính và khơng có hiệu quả trong dự phòng biến chứng đau sau zona. Cụ thể 75 bệnh nhân đã hoàn thành nghiên cứu, 33 người trong nhóm sử dụng gabapentin và 42 người trong nhóm đối chứng. Tổng cộng có 9,5% bệnh nhân trong nhóm gabapentin và 18,2% trong nhóm chứng báo cáo bị đau sau 12 tuần [23].

Không chỉ được báo cáo có hiệu quả trong giảm đau ở bệnh nhân zona, gabapentin cịn được một số tác giả báo cáo có hiệu quả trong việc giảm đau thần kinh và triệu chứng đau ở bệnh nhân xuất hiện biến chứng đau sau zona khi dùng ít nhất ba lần mỗi ngày, do thời gian bán thải ngắn, dẫn đến sự dao động rõ rệt về nồng độ trong huyết tương [20], [35]. Đối với người cao tuổi, hiệu quả đã được chứng minh của gabapentin, cùng với xu hướng tương tác thuốc thấp, khiến gabapentin trở thành phương pháp điều trị hàng đầu cho bệnh đau dây thần kinh sau zona (PHN) ở người cao tuổi, những người thường dùng một hoặc nhiều loại thuốc khác để điều trị các bệnh kèm theo. Trong các nghiên cứu lâm sàng, gabapentin với công thức bảo vệ dạ dày và dùng 1 lần mỗi ngày đã được chứng minh là giúp giảm đau nhanh chóng, có ý nghĩa lâm sàng và có liên quan đến tỷ lệ ngừng thuốc thấp do tác dụng phụ,

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

chóng mặt và buồn ngủ (lần lượt là 10%, 11% và 5%) [38]. Tác giả Rauck và cộng sự cũng tìm ra rằng gabapentin với cơng thức bảo vệ dạ dày và dùng 1 lần mỗi ngày có hiệu quả trong giảm đau ở bệnh nhân mắc đau sau zona. Tác giả tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, ở tuần 10, kết quả bệnh nhân ở nhóm dùng gabapentin có điểm đau giảm nhiều hơn so với nhóm chứng (37,0% so với 29,1%; p= 0,0025). Nhiều bệnh nhân ở nhóm dùng gabapentin cho thấy tình trạng bệnh được cải thiện hơn so với nhóm chứng (44% so với 33%; p = 0,003) và đáp ứng với điều trị (54% so với 41%; p = 0,001). Ngay từ ngày thứ 2, nhóm sử dụng gabapentin giảm đau nhiều hơn so với nhóm chứng (6,6% so với 1,6%; p = 0,0017). Thời gian trung bình để điểm đau giảm một điểm hoặc nhiều hơn là bốn ngày đối với nhóm dùng gabapentin và sáu ngày đối với nhóm chứng (p <0,0001) [65]. Hiệu quả của gabapentin trong giảm đau ở người cao tuổi mắc biến chứng đau sau zona cũng được tác giả Kanodia và cộng sự báo cáo trong một nghiên cứu nhằm xác định hiệu quả và độ an toàn liên quan đến liều dùng của gabapentin trong việc giảm đau do biến chứng đau sau zona cấp tính ở bệnh nhân cao tuổi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các bệnh nhân dùng gabapentin đã giảm đáng kể trong thang điểm VAS so với nhóm bệnh nhân dùng giả dược có ý nghĩa (p<0,0001). Hiệu quả của gabapentin trong điều trị cơn đau cấp tính liên quan đến bệnh zona trong mỗi lần đánh giá (tuần 1, 2, 3 và 4), gabapentin với liều 600mg/ngày và 900mg/ngày tốt hơn liều 300mg/ngày trong mỗi lần khám. Tuy nhiên, khơng có sự khác biệt nào được ghi nhận giữa nhóm gabapentin 600mg/ngày và nhóm 900mg/ngày tại mọi thời điểm đánh giá (p>0,05). Kết quả của nghiên cứu này cho thấy gabapentin có hiệu quả trong điều trị biến chứng đau sau zona trong đó liều 600 mg/ngày là liều phù hợp hơn cả về tính an tồn và hiệu quả [45].

Khơng chỉ có hiệu trong giảm đau trong bệnh zona và biến chứng đau sau zona, gabapenin còn được một số tác giả báo cáo có hiệu quả trong giảm

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

yếu tố nguy cơ gây ra biến chứng đau sau zona. Tác giả Johnson và Higa khuyến cáo điều trị sớm bệnh zona bằng thuốc kháng virus và thuốc giảm đau thích hợp (trong đó có gabapentin) là hiệu quả để kiểm soát các triệu chứng cấp tính và có thể giảm nguy cơ xuất hiện biến chứng đau sau zona [41].

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của điều trị bằng gabapentin cùng với valacyclovir hydrochloride để phòng ngừa chứng đau dây thần kinh sau zona ở bệnh nhân mắc bệnh zona cấp tính. Kết quả cho thấy tổng cộng có 133 bệnh nhân (tuổi trung bình 64,6 tuổi) được đưa vào nghiên cứu. Tỷ lệ chung của biến chứng đau sau zona tại thời điểm 6 tháng là 9,8%. Kết quả này cho thấy sự kết hợp của gabapentin và valacyclovir được dùng cấp tính ở những bệnh nhân zona làm giảm tỷ lệ xuất hiện biến chứng đau dây thần kinh sau zona [52]. Kết quả khả quan trong dự phòng biến chứng đau sau zona khi kết hợp gabapentin kết hớp vơi acyclovir cũng được báo cáo trong nghiên cứu của Nath tại Ấn Độ năm 2016. Trong nhóm can thiệp (gabapentin kết hợp với acyclovir) có 2 bệnh nhân xuất hiện biến chứng đau sau zona, trong khi đó ở nhóm chứng có 4 bệnh nhân xuất hiện biến chứng này [58]. Nghiên cứu của Ghanavatian và cộng sự năm 2019 nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả của gabapentin trong giảm nguy cơ xuất hiện biến chứng đau sau zona ở bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường và không tiểu đường. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến chứng đau sau zona xuất hiện ở 7 bệnh nhân bị bệnh thần kinh ngoại vi do tiểu đường có sử dụng gabapentin (n=62, 11,3%) so với 26 bệnh nhân không dùng gabapentin trước (n=50, 52,0%) (OR = 0,12; 95% CI: 0,05-0,31; p<0,001); Trong khi đó biến chứng đau sau zona phát triển ở 11 bệnh nhân mắc bệnh thần kinh ngoại vi khơng do đái tháo đường có sử dụng gabapentin (n=109, 10,1%) so với 108 bệnh nhân không dùng gabapentin (n=217, 49,8%) (OR = 0,11; 95% CI: 0,06-0,22; p<0, 001). Tác giả cho rằng sử dụng gabapentin làm giảm đáng kể nguy cơ xuất hiện biến chứng đau sau zona [32]. Tuy nhiên nghiên cứu của Lee và cộng sự cho rằng gabapentin khi sử

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

dụng liều thấp lại khơng có khả năng dự phòng biến chứng đau sau zona. Tác giả tiến hành nghiên cứu tiến cứu ngẫu nhiên có đối chứng với 120 người tham gia được chẩn đốn mắc bệnh zona cấp tính, từ 50 tuổi trở lên và có cơn đau ở mức độ vừa đến nặng. Tất cả bệnh nhân được điều trị bằng valacyclovir và acetaminophen. Một nửa số người tham gia được chỉ định vào nhóm gabapentin và nhận thêm gabapentin 300 mg ba lần một ngày. Cường độ đau ở mỗi lần khám và tỷ lệ mắc biến chứng đau sau zona ở cả hai nhóm đều được đo lường. Tổng số 52 và 49 bệnh nhân trong nhóm gabapentin và nhóm đối chứng tương ứng đã hồn thành 12 tuần theo dõi. Mặc dù tỷ lệ biến chứng đau sau zona cao hơn ở nhóm chứng nhưng sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê (6,1% so với 3,8%, p= 0,67) [53]. Mặt khác, có bằng chứng khoa học chỉ ra rằng nếu bệnh nhân được điều chỉnh liều gabapentin cao hơn và có hiệu quả hơn, việc sử dụng thuốc giảm đau opioid trong biến chứng đau sau zona có thể giảm [40].

Tổng quan tài liệu đã cho thấy hiệu quả của việc sử dụng gabapentin trong giảm đau ở bệnh nhân zona, bệnh nhân mắc biến chứng đau sau zona cũng như có tác động nhất định trong dự phòng biến chứng đau sau zona, tuy nhiên kết quả giữa các nghiên cứu trong lĩnh vực này cịn có sự khác biệt và chưa thống nhất. Chính vị vậy, việc tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu

<b>quả của gabapentin trong giảm mức độ đau ở bệnh nhân zona là cần thiết. </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

<b> ƯƠN 2 </b>

<b> Ố TƯỢN V P ƯƠN P P N N ỨU 2.1. ối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu </b>

<i><b>2.1.1. Đối tượng nghiên cứu </b></i>

Gồm 44 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh zona mức độ vừa và nặng và điều trị nội trú tại Khoa Da liễu - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, tiêu chuẩn chẩn đoán theo quy định hiện hành của Bộ Y tế [1].

<i>2.1.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân </i>

- Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán xác định là zona mức độ vừa và nặng - Thời gian bi bệnh từ và dưới 7 ngày

- Khơng phân biệt tuổi, giới tính

- Khơng bị bệnh lý thần kinh và các bệnh da khác

- Bệnh nhân chưa được dùng bất kỳ một phương pháp giảm đau nào - Tự nguyện và đồng ý tham gia nghiên cứu.

<i>2.1.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: </i>

- Bệnh nhân có chống chỉ định với các thuốc sử dụng trong nghiên cứu. - Bệnh nhân có tiền sử dị ứng với gabapentin hoặc biệt dược tương đương. - Phụ nữ có thai, đang cho con b .

<i><b>2.1.2. Địa điểm nghiên cứu </b></i>

Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Da liễu - BV Trung ương Thái Nguyên

<i><b>2.1.3. Thời gian nghiên cứu </b></i>

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 7/2022

<b>2.2. Phương pháp nghiên cứu </b>

<i><b>2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: </b></i>

Mục tiêu 1: Nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang được sử dụng để khảo sát một số yếu tố liên quan và mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh zona tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Mục tiêu 2: Nghiên thử nghiệm lâm sàng tự so sánh trước sau khơng có nhóm chứng được thực hiện nhằm đánh giá kết quả giảm đau trong bệnh zona vừa và nặng bằng gabapentin.

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<i><b>Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nghiên cứu </b></i>

Chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn chọn mẫu tham gia nghiên cứu

Khai thác thông tin, khám lâm sàng ghi chép vào bệnh án nghiên cứu

Điều trị bệnh nhân theo phác đồ nghiên cứu

<small>Khảo sát một số yếu tố liên quan và mô tả </small>

<small>đặc điểm lâm sàng của bệnh zona </small>

<small>Đánh giá kết quả giảm đau trong bệnh zona vừa và </small>

<small>nặng bằng gabapentin. </small>

1. <small>Theo dõi bệnh nhân trong và sau quá trình điều trị </small>

<small>2. Hẹn tái khám theo lịch 3. Điền các thông tin vàobệnh án nghiên cứu</small>

Đánh giá kết quả giảm đau trong và sau điều

trị

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

<i><b>2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 2.2.2.1. Cỡ mẫu </b></i>

Chọn mẫu thuận tiện

Chọn mẫu toàn bộ các bệnh nhân đáp ứng theo tiêu chuẩn chọn mẫu vào nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn được 44 bệnh nhân để tiến hành nghiên cứu.

<i><b>2.2.2.2. Phương pháp chọn mẫu </b></i>

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện

<i><b>2.2.2.3. Quy trình thu thập số liệu </b></i>

1. Liên hệ với khoa Da liễu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trình bày mục tiêu nghiên cứu, đề nghị khoa hỗ trợ thu thập số liệu.

2. Xác định bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn mẫu.

3. Mời bệnh nhân tham gia nghiên cứu và kí vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu.

4. Lập hồ sơ bệnh án, khai thác các thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu.

5. Thăm khám bệnh nhân trên lâm sàng một cách tồn diện và điền các thơng tin vào bệnh án nghiên cứu.

6. Tham gia điều trị bệnh nhân theo phác đồ của nghiên cứu. 7. Theo dõi bệnh nhân trong và sau quá trình điều trị.

8. Các bệnh nhân được hẹn tái khám theo định kỳ bởi nghiên cứu viên. 9. Tổng hợp dữ liệu nghiên cứu của từng bệnh nhân và điền thông tin

<i>vào bệnh án nghiên cứu. </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

<b>2.3. Biến số và chỉ tiêu nghiên cứu </b>

<i><b>2.3.1. Biến số nghiên cứu </b></i>

<b>Biến số ịnh nghĩa/cách đo lường <sup>Phương pháp </sup>thu thập thông tin </b>

Tuổi Năm: Tính từ năm sinh đến năm nghiên cứu

Phỏng vấn, ghi vào bệnh án mẫu

Thời gian bị bệnh

Tính từ thời điểm xuất hiện triệu chứng cho đến khi vào viện. Được tính ≤ 3 ngày, >3 ngày

Diện tích tổn thương

Diện tích tổn thương do zona. Được tính < 1%, 1% - 2% và > 2%

Thăm khám trực tiếp trên bệnh nhân, ghi vào bệnh án mẫu

Tổn thương cơ bản

Các tổn thương do zona xuất hiện ở bệnh nhân. Bao gồm: Mảng da viêm đỏ, mụn nước thành chùm, bọng nước - mụn mủ, mụn nước lưu vong, vảy tiết

Vị trí tổn thương

Phỏng vấn, thăm khám trực tiếp trên bệnh nhân, ghi vào bệnh án mẫu

Mức độ đau Điểm đau của bệnh nhân từ 0 –

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

10 theo thang điểm Linkert

Phỏng vấn, thăm khám trực tiếp trên bệnh nhân, ghi vào bệnh án mẫu

Triệu chứng toàn thân

Triệu chứng bao gồm: Sốt, hạch phụ cận, mệt mỏi

Bệnh kèm theo Các bệnh khác cùng tồn tại với bệnh zona tại thời điểm nhập viện Thời gian ngủ Thời gian ngủ trong 24h của bệnh

nhân

Mức độ bệnh Phân loại mức độ của bệnh zona. Phân loại theo 2 mức: vừa, nặng

Thăm khám trực tiếp trên bệnh nhân, ghi vào bệnh án mẫu

Kết quả điều trị Đánh giá theo giảm mức độ bệnh, mức độ đau, cải thiện giấc ngủ và lành tổn thương. Kết quả chung được phân loại: Tốt, khá,vừa và kém

Phỏng vấn trực tiếp trên bệnh nhân, ghi vào bệnh án mẫu

Sự hài lòng Mức độ bệnh nhân hài lòng với kết quả điều trị. Được phân loại: Rất hài lòng, hài lòng và khơng hài lịng.

<i><b>2.3.2. Chỉ tiêu nghiên cứu </b></i>

<i><b>Mục tiêu 1: Khảo sát một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh zona tại bệnh viện Trung ương Thái nguyên </b></i>

<i><b>*Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: </b></i>

- Tuổi - Giới

- Nghề nghiệp

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

- Thời điểm (mùa) bị bệnh

<i><b>*Đặc điểm lâm sàng </b></i>

- Thời gian bị bệnh

- Thời điểm xuất hiện đau

- Tổn thương cơ bản dát đỏ, mụn nước, bọng nước.

- Vị trí tổn thương da: Đầu mặt cổ, sườn lưng, bụng, chân… - Tỷ lệ của các thể lâm sàng

- Các triệu chứng toàn thân: sốt, mệt mỏi, sưng hạch…

- Tỷ lệ xuất hiện các bệnh lý kèm theo: Tim mạch, tiêu hóa, hơ hấp… - Mức độ tổn thương: Nhẹ, vừa, nặng

- Mức độ đau: vừa, nặng - Mức độ bệnh: vừa, nặng.

<i><b>*Một số yếu tố liên quan đến mức độ đau của bệnh nhân </b></i>

- Liên quan giữa tuổi với mức độ đau - Liên quan giữa giới tính với mức độ đau

- Liên quan giữa thời gian bị bệnh với mức độ đau

- Liên quan giữa tiền sử chấn thương/phẫu thuật cùng bên với tổn thương zona với mức độ đau

- Liên quan giữa xuất hiện triệu chứng đau tiền triệu và mức độ đau

<i><b>Mục tiêu 2: Đánh giá kết quả giảm đau trong bệnh zona vừa và nặng bằng gabapentin </b></i>

*Đánh giá kết điều trị và ngày thứ 5 (D5), 10 (D10), 15 (D15) và 20 (D20).Với các nội dung sau:

- Thay đổi điểm đau trung bình. - Thay đổi mức độ đau theo tuổi - Thay đổi mức độ đau theo giới tính

- Thay đổi mức độ đau tiền sử chấn thương/phẫu thuật cùng bên với bên bệnh

</div>

×