Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (48.86 MB, 85 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sựMã số : 5.05.07
Người hướng dân khoa học: TS. Dinh Trung Tung
HÀ NỘI - 2001
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>là do1.2.1.3.1.4.</small>
ÁN DÂN SỰ
Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự
Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự
DÂN SỰ
Các yêu cầu của việc xã hội hóa thi hành án dân sự
Các kiến nghị về xã hội hóa thi hành án dân sự
<small>6367767881</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Xuân Hồng
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Trong tiến trình đổi mới đó của đất nước, vấn đề cải cách hành
chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền với mục đích xâydựng một nền hành chính, tư pháp vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, hiệu
lực, đáp ứng và phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới và phát triển đất
nước có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Thị hành án dân sự có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình giảiquyết vụ án nói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung. Bản án, quyếtđịnh của tòa án chỉ là những phán quyết trên giấy, nếu nó khơng được thựcthi trên thực tế. Hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói
riêng có hiệu quả sẽ góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật,bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần củng cố bộ máynhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu này đã trở thànhmột nguyên tắc Hiến định: "Các bản án và quyết định của Tịa án nhân dânđã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và
đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành" (Điều 136 Hiến pháp 1992).
Trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thi hànhán dân sự đã bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập, cần được khắc phục. Biểu hiệntập trung của những tồn tại đó là số lượng án tồn đọng đang có xu hướngngày một gia tăng. Theo thống kê, số lượng án tồn của năm 1999 chuyển
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có nhiều: về cơ chế, điều kiệncon người, các quy định của pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật... Tuynhiên, nguyên nhân sâu xa nhất là hoạt động thi hành án dân sự chưa bấtkịp với sự chuyển đổi mạnh mẽ và hội nhập quốc tế của đất nước, mà nền
tảng là sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa kéo theo sự thay đổi các quan hệ xã hội về dân
sự, kinh tế, hành chính...
Việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án đã được đặt
ra trong thời gian qua, đặc biệt là việc chuyển công tác thi hành án từ Tòa
án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ từ năm 1993. Hiện
nay một số giải pháp cũng đang tiếp tục được triển khai thực hiện, như đào
tạo, nâng cao năng lực cho các chấp hành viên, cán bộ thi hành án; tăng
cường cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho cơ quan thi hành án; sửa đổi,bổ sung các quy định pháp luật về thi hành án, trước hết là Pháp lệnh thihành án dân sự và các van bản liên quan... Tuy nhiên, các giải pháp này cịn
mang tính chất đơn lẻ, tình thế, thiếu đồng bộ. Thực tế cho thấy, các giải
pháp mà chúng ta đã áp dụng trong thời gian qua chưa giải quyết triệt để
những tồn tại trong hoạt động thi hành án dân sự. Vì vậy, cần dựa trên tínhchất, đặc thù của thi hành án dân sự và những điều kiện kinh tế - xã hội
Trong thi hành án dân sự, quan hệ giữa các bên mang đậm tính dân
trực tiếp hay thực hiện thay các bên trong quan hệ đó. Tuy nhiên, hoạt động
thi hành án hiện đang do Nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án đảm
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">kénh của bộ máy nhà nước. Cơ chế tổ chức và hoạt động đó lại càng khơng
phù hợp khi Nhà nước ta đang thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ một số linh
vực hoạt động của cơ quan nhà nước, đặc biệt là các hoạt động thuộc lĩnh
vực kinh tế, dân sự, văn hóa, thể thao... Vì vậy có thể nói, xã hội hóa thi
hành án dân sự là giải pháp cần thiết, vừa có tính lâu dài, phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa giải quyết những vướng
mắc trước mắt hiện nay trong cơng tác này. Điều đó cho thấy tính cấp thiết
của việc nghiên cứu đề tài và tác giả đã lựa chọn vấn đề này để làm luận<small>văn thạc sĩ luật học.</small>
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đề xuất các giải pháp xã hội hóa hoạt
động thi hành án dân sự với mục đích:
- Tăng cường hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự;
- Tạo điều kiện để nhân dân tham gia và giám sát hoạt động thi
hành án dân sự;
- Giảm chi phí về nhân lực và ngân sách cho Nhà nước.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các
quy định pháp luật về thi hành án dân sự, chủ trương cải cách hành chính,cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Thi hành án dân sự là lĩnh vực tương đối rộng, không chỉ là hoạtđộng của cơ quan thi hành án mà còn bao gồm cả việc thực hiện bản án,quyết định của các bên không thông qua cơ quan thị hành án, do đó cần
nhiều cơng trình nghiên cứu với quy mơ và thời gian thích hợp. Về phầnminh, dé tài chủ yếu nghiên cứu vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự với
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">kinh tế, lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp; quyết định của Trọngtài được thi hành theo Pháp lệnh thi hành án dân sự. Phạm vi nghiên cứu
được giới hạn ở cơ sở lý luận và thực tiễn về xã hội hóa, thực trạng cũng
như các giải pháp nhằm xã hội hóa thi hành án dân sự.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng HồChí Minh, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước và phápluật, luận văn đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể,
như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh,
phương pháp điều tra khảo sát, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm.
5. Tình hình nghiên cứu và những điểm mới của việc nghiên cứu
xử như điều tra, truy tố. Hoạt động thi hành án, đặc biệt là thi hành án dân
sự chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Những năm gần đây, trong
tiến trình đẩy mạnh cải cách tư pháp, khi thực tiễn hoạt động thi hành án
đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, thì hoạt động thi hành án dân sự mới
<small>thực sự được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Đã có một số cơng trình</small>
nghiên cứu và bài viết trên các tạp chí về hoạt động thi hành án và thi hànhán dân sự, như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Những cơ sở lý luận và
thực tiễn về chế định Thừa phát lại", mã số 95-98-114/DT do Viên Nghiên
cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">sự Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước đang được thực hiện:
Việt Nam trong giai đoạn moi", mã số 2000-58-189 do Bộ Tư pháp chủ trì,
trong đó có vấn đề về xã hội hóa thi hành án dân sự. Một số luận án và cơng
trình nghiên cứu khác, như: Luận văn Thạc sĩ luật học "Cø sở lý luận và
thực tiên nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự" của tác giả Trần Văn
Quảng; Luận văn thạc sĩ luật học "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án
dân sự, thực tiên áp dụng và hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Cơng
Long; Giáo trình mơn Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội
và các trường đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết trên các Tạp chíDân chủ và pháp luật, Tạp chí luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật v.v...
Các cơng trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến một lĩnh vực cụ
thể về một vấn dé cụ thể hoặc dé cập đến vấn dé mang tính tổng thể như hoànthiện tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự nói chung. Riêng về vấn đề xã
hội hóa thi hành án dân sự, nói chung cịn là vấn đề mới, mặc dù bước đầu đã
được các nhà nghiên cứu và những người làm công tác thi hành án quan tâm.
- Về mặt lý luận, luận văn đưa ra một số quan điểm về thi hành ándân sự và xã hội hóa thi hành án dân sự, góp phần bổ sung, làm phong phúthêm hoạt động nghiên cứu khoa học về thi hành án dân sự.
- Trên cơ sở luận cứ về lý luận cũng như thực tiễn thi hành án dân
sự, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp
nói chung và thi hành án nói riêng, luận văn đưa ra các giải pháp đồng bộ
về xã hội hóa thi hành án dân sự phù hợp với điều kiện trước mắt, vừa có
thể áp dụng cho hoạt động thi hành án dân sự trong thời gian tới.
- Những vấn đề được làm sáng tỏ trong luận văn có thể góp phầncho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, trong đó
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mo đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận về xã hội hóa thi hành án dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, xã hội hóa là làm cho cái gì đó, việc gì đótrở thành của xã hội (Đại Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Bách khoa, Hà
nhau, tùy từng mối quan hệ mà nó được xem xét. Ví như xã hội hóa tương
cho nó trở thành của tồn dân, cộng đồng, ví dụ: xã hội hóa tư liệu sản xuất.
Chủ nghĩa Mác - Lénin về Nhà nước và pháp luật đã chỉ rõ, Nhà
nước và xã hội là hai hiện tượng có quan hệ với nhau, giữa chúng vừa có sự
khác biệt, vừa có sự thống nhất. Sự thống nhất thể hiện ở chỗ, trong xã hộicó giai cấp thì có Nhà nước; cịn sự khác biệt thể hiện ở chỗ, khái niệm xã
hội rộng hơn khái niệm nhà nước, xã hội giữ vai trò quyết định, là cơ sở cho
triển nhất định trong lịch sử, được xây dựng trên một phương thức sản xuất
cịn ở góc độ hẹp, Nhà nước là bộ máy quyền lực bao gồm hai yếu tố: bộ
cấu thành xã hội và hoạt động Nhà nước cũng là một dạng hoạt động của xãhội. Nhà nước là người đại diện cho xã hội, chức năng xã hội của Nhà nước
ngày càng được thể hiện rõ nét, đặc biệt đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa
với bản chất là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, xã hội hóa
trong trường hợp nào đó lại đồng nhất với nhà nước hóa khi Nhà nước đó
thực sự đại diện cho tồn xã hội.
Xã hội hóa khơng chỉ phân biệt với Nhà nước hóa mà cịn phân biệt
của cả cộng đồng, xã hội. Đây là trường hợp thường thấy trong việc cải tạo
Xã hội hóa cũng khơng đồng nhất với tư nhân hóa. Đây là hai khái
hội hóa là nhằm xóa bỏ tư nhân hóa, chống tập trung, độc quyền. Cịn dưới
Hiện nay xã hội hóa được nhac đến nhiều với ý nghĩa như một giải
- Tổ chức và huy động toàn dân quan tâm, tham gia vào một hoạt
động nào đó;
- Tăng cường trách nhiệm của cá nhân, của cộng đồng vào mộtcơng việc nào đó, theo đó Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay thực hiện
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">- Có cơ chế, hình thức tổ chức để các cá nhân, tổ chức phi nhà nước
đảm nhiệm một số công việc đang do các cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện.
Như vậy, ngoài ý nghĩa là một biện pháp cải cách tổ chức, hoạt
động của bộ máy Nhà nước, xã hội hóa cịn thể hiện tính dân chủ trong hoạt
động quản lý nhà nước, thực hiện một cách hữu hiệu các quyền, nghĩa vụ và
phát huy nguồn lực của nhân dân.
1.1.2. Xã hội hóa thi hành án dân sự1.1.2.1. Khái niệm thi hành án dân sự
Về đặc thù, tính chất của thi hành án nói chung và thi hành án dân
sự nói riêng cịn có ý kiến khác nhau. Có quan điểm cho rằng, đây là một
giai đoạn tố tụng, trong khi có ý kiến lại cho đây là một hoạt động thuộchoạt động quản lý hành chính nhà nước.
chung và thi hành án dân sự nói riêng là một giai đoạn nằm trong q trình
giải quyết vu án, theo đó, giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét xử là
giai đoạn chuẩn bị cho q trình xét xử, cịn q trình thi hành án là giai
đoạn hậu xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án trên thực tế
và có quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng trước. Theo đó, khái niệm
thi hành án được hiểu “là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng
kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có
Với ý kiến xem thi hành án dân sự là hoạt động quản lý hành chính
nhà nước thì cho rằng, q trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của
Tòa án chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước. trong đó
Tịa án đã xác định quyền, nghĩa vụ của các bên. Còn việc thi =ành phán
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">quyết đó lại là một giai đoạn khác, khơng thuộc q trình tố tụng, đặc biệt
kể từ khi cơng tác thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án nhân dân
các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ.
Theo chúng tơi, cần có cách nhìn nhận rộng hơn về thi hành án, đặc
biệt là thi hành án dân sự. Khác với thi hành án hình sự, thi hành án dân sự
mang đậm tính chất "tu", tính dân sự, theo đó các bên có quyền tự thi hành,thỏa thuận, định đoạt các quyền, nghĩa vụ đã được tòa án quyết định. Vì
vậy, thi hành án dân sự cần được hiểu không chỉ là một hoạt động của cơ
quan nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án, mà còn bao gồm cả sự thựchiện của bản thân các bên có quyền, nghĩa vụ theo bản án, quyết định của
tịa án. Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự được hiểu theo nghĩa rộng là sựthực hiện các bản án, quyết định về dân sự của tòa án, cụ thể là sự thựchiện các quyền, nghĩa vụ dân sự (chủ yếu là các quyền, nghĩa vụ về tài sản)
của các bên theo phán quyết của tịa án.
Với tính chất là hoạt động của cơ quan nhà nước, chúng tôi tấn
thành với quan điểm của PGS.TS Lê Minh Tâm cho rằng, thi hành án (đặc
biệt là thi hành án dân sự) không phải là giai đoạn tố tung, bởi vì thi hànhán có mục đích khác với mục đích tố tụng; tố tụng là quá trình đi tìm sựthật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra cách giảiquyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình
tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật Lê Minh Tâm: Thử bàn mấy vấn dé lý luận về
thi hành án, Tạp chí Luật học, số 2/2001). Tuy nhiên, hoạt động này gắn kếtvới q trình tố tụng trước đó, nó vừa thể hiện tính chất tố tụng tư pháp, vừathể hiện tính chất quản lý hành chính nhà nước. Nó thể hiện quyền lực nhà
nước về tư pháp (cơ quan thi hành án có quyền ra các quyết định cưỡng chế,chấp hành viên hoạt động độc lập, cơ quan thi hành án có quyền u cầu
Tịa án giải thích, xem xét lại bản án, có quyền hỗn, tạm đình chỉ, đình chỉ
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">thi hành...), nhưng cũng mang nhiều yếu tố của hoạt động quản lý hànhchính nhà nước, như: sự phối hợp của các ngành, chính quyền địa phương,sự thỏa thuận của các đương sự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo, kháng
nước có thẩm quyên nhằm thi hành bản án, quyết định về dân sự theo quy
định của pháp luật.
1.1.2.2. Khát niệm xã hội hóa thi hành án dân sự
Như trên đã nêu, xã hội hóa là làm cho cái gì đó, việc gì đó trở
thành của xã hội. Vì vậy, một cách giản đơn, có thể xem xã hội hóa thi
hành án dân sự là làm cho việc thi hành bản án, quyết định về dân sự của
Tịa án trở thành cơng việc của xã hội. Trên cơ sở quan niệm về thi hành án
mà có thể hiểu xã hội hóa ở các góc độ khác nhau: Nếu thi hành án dân su
được hiểu theo nghĩa rộng là sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bên
theo phán quyết của Tịa án, thi xế hội hóa thi hành án dan sự là việc vận
Cũng như xã hội hóa nói chung, về hình thức, xã hội hóa thi hành án
dân sự thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, xã hội hóa thi hành án dân sự là tạo môi trường pháp lý
để xã hội, cộng đồng tham gia vào hoạt động thi hành án dân sự, trong đó
thái độ của xã hội, của cộng đồng trong việc giáo dục, thuyết phục ngườiphải thi hành án thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình theo bản án,quyết định của Tòa án. Đồng thời cộng đồng xã hội phải có trách nhiệm
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">giúp đỡ đối với các bên đương sự trong việc thi hành bản án, quyết định
của Tòa án; giúp đỡ cá nhân, tổ chức là người có chức năng thực hiện việc
thi hành án.
Thứ hai, xã hội hóa thi hành án dân sự là tạo cơ sở cho các bên liên
quan đến thi hành án chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo
phán quyết của Tịa án cũng như xác định rõ trách nhiệm của họ để thực
hiện các quyền, nghĩa vụ đó, mà bản chất là xem việc thi hành án như một
loại hình dịch vụ pháp lý cơng.
Thứ ba, xã hội hóa thi hành án phải tạo ra một cơ chế tổ chức và
đang do cơ quan nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án thực hiện cho cá
nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện. Đây là nội dung trọng tâm, đảm bảocho việc xã hội hóa. Các cá nhân, tổ chức này hoạt động với tư cách là tổ
chức xã hội nghề nghiệp, được Nhà nước trao cho quyền lực công trong lĩnh
vực tư pháp, hoạt động mang tính dịch vụ, nhưng phải bảo đảm những tiêu
Cuốt cùng, xã hội hóa thi hành án dân sự khơng tách rời, làm giảm,mà góp phần nâng cao hiệu qua quản lý nhà nước đối với hoạt động thihành án dân sự; bảo đảm quyền, lợi ích của các bên đương sự, của cộngđồng và của toàn xã hội.
Nhu vậy, xá hội hóa thi hành án dân sự là việc nâng cao tráchnhiệm của các bên có quyền, nghĩa vụ, của cộng đồng và của toàn xa hội
trong việc thi hành án; từng bước chuyển hoạt động thi hành án dân sựcho cá nhân, tổ chức thực hiện nhằm thi hành kịp thời, đúng đắn các bản
án, quyết định dân sự của Tòa án theo quy định của pháp luật, bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, lợi ích của Nhà nước và của tồn
xã hội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Lý luận Mác - Lénin về Nhà nước và pháp luật đã chỉ rõ, với sự phát
triển của lực lượng sản xuất, Nhà nước hình thành như một quy luật tất yếu,
nhưng đến một lúc nào đó, Nhà nước sẽ tiêu vong, các chức năng của Nhà
rất lâu dài, song những gì mà lịch sử xã hội loài người trải qua đã chứng
minh quy luật đó. Từ Nhà nước chiếm hữu nơ lệ, Nhà nước phong kiến, Nhànước tư bản, đến Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một quá trình mà chức năngxã hội của Nhà nước ngày càng đóng vai trị quan trọng. Và đến một lúc nàođó, khi xã hội khơng cịn giai cấp, chức nang giai cấp của Nhà nước khơngcịn, thì Nhà nước sẽ khơng cịn đúng với ngun nghĩa của nó như là bộ
máy chun chính giai cấp và sẽ trở thành một tổ chức xã hội rộng lớn. Như
vậy, có thể nói, xã hội hóa cơng việc Nhà nước có tính quy luật khách quan.
việc của xã hội, trở thành người "bao cấp” cho xã hội, làm thay các chức
năng mà đáng lý xã hội phải có trách nhiệm thực hiện và có thể thực hiện
tốt hơn. Xét điều kiện nước ta trong những năm trước đây, thì cơ sở kinh tế-xã hội chưa cho phép Nhà nước trực tiếp thực hiện tất cả các công việc màlẽ ra phải do chính xã hội đảm nhận. Vì vậy, việc Nhà nước bao sân, can
thiệp một cách cứng nhắc vào các quan hệ xã hội đã gây nên tình trạng trìtrệ, chậm phát triển, tạo nên sự cồng kénh, quá tải trong công việc của bộ
máy nhà nước cần được giải quyết.
Hiện nay, với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý kế hoạch tập trung, bao cấp,
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">tạo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia các giao lưu dân sự, kinh tế. Đâycó thể nói là một biểu hiện sinh động và rõ nét nhất của việc xã hội hóatrong lĩnh vực phát triển kinh tế - lĩnh vực đóng vai trị quyết định trong đời
sống xã hội. Trên cơ sở nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,nhiều lĩnh vực trước đây vẫn được coi là chỉ thuộc chức năng của các cơquan nhà nước đã được giao cho cá nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện.Những lĩnh vực mà chúng ta đã và đang tiến hành xã hội hóa mạnh mẽ là
Như chính tên gọi của nó, hoạt động thi hành án dân sự mang đậm
tính chất dân sự. Mac dù phán quyết của Tịa án có giá trị bat buộc đối với
các bên trong một vụ án cụ thể, nhưng về bản chất đó mới chỉ là sự phân xửnhân danh nhà nước nhằm xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ tranh chấp. Hoạt động xét xử là hoạt động của nhà nước, có tính chất
cơng, mang tính quyền lực nhà nước về tư pháp và không thể chia sẻ cho cánhân, tổ chức nhân danh nhà nước thực hiện. Tuy nhiên, sau khi Tòa án đã
sự của thi hành án dân sự thể hiện ở các điểm:
- Các quyền, nghĩa vụ mà các bên đương sự phải thi hành theo bảnán, quyết định của Tịa án là mang tính "tư” (khơng có tính chất cơng). Khácvới hình phạt trong thi hành án hình sự có tính bắt buộc thực hiện bởi cơ
- Sau khi có bản án, quyết định của Tịa án, các bên đương sự hồn
cơ quan thi hành án. Cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành khi có đơn
yêu cầu của người được thi hành án, trừ trường hợp vì lợi ích cơng cộng thìcơ quan thi hành án mới chủ động thi hành.
- Dù các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự đã được phân
định, định đoạt trong bản án, quyết định của Tòa án, nhưng tại bất kỳ giai
đoạn nào của thi hành án, các bên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận vớinhau và tự định đoạt các quyền và nghĩa vụ theo một cách khác đi so vớibản án về phương thức thi hành, thậm chí về nội dung thi hành... Cơ quan
thi hành án phải tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận đó.
Tuy nhiên, trong thi hành án dân sự, nhiều trường hợp cũng thực thiquyền lực nhà nước về tư pháp. Ví dụ: trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng
chế thi hành án chẳng hạn. Vì vậy, có quan điểm cho rằng, trong tình hình
hiện nay, khi chúng ta đặt vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự phải chăngsẽ chia sẻ cả quyền lực nhà nước về tư pháp?
Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, quyền lực nhà nướcnói chung và quyền lực tư pháp nói riêng bat nguồn từ nhân dân; cơ quan
quyền, của cơ quan cảnh sát v.v... để thực thi công việc được giao. Đặc biệt
trong thi hành án dân sự, việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trướchết thuộc về các bên có quyền và nghĩa vụ; ngay cả sau khi cơ quan thi
hành án đã thụ lý thi hành, thì nhiều hoạt động cũng không cần phải sử
dụng quyền lực tư pháp, như: tống đạt các quyết định, giấy tờ, xác minh tàisan của người phải thi hành án v.v... [36, tr. 116].
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Cần nói thêm rằng, trong hoạt động quản lý xã hội của nhà nước tahiện nay cịn mang nặng tính bao cấp của nhà nước, nhiều hoạt động thuộclĩnh vực dân sự - kinh tế, dich vụ công cộng..., vẫn do cơ quan nhà nướctrực tiếp thực hiện. Trong hoạt động tố tụng, sự bao cấp này cũng thể hiệnkhá rõ nét từ hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ đến thi hành án. Điềunày đã gây nên sự quá tải trong việc giải quyết các tranh chấp, dẫn đến tìnhtrạng tồn đọng, chậm trễ, thiếu chính xác trong hoạt động của bộ máy nhà
nước nói chung và tư pháp nói riêng. Ngày nay chúng ta đang xây dựng nhà
nước pháp quyền, đề cao nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần có cáchnhìn mới về việc phân định trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết cơng việc
phục vụ lợi ích của cộng đồng. Theo chúng tôi, cần xác định rõ hơn tráchnhiệm của nhà nước, của cá nhân các bên trong các quan hệ dân sự -tế, theo
đó, trong các quan hệ dân sự-kinh tế, trách nhiệm hàng đầu trước hết làthuộc về các bên với những nguyên tắc đặc thù đã được ghi nhận trong Bộ
luật dân sự: trung thực, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm. Nhà nước không
làm lấy. Vai trò của Nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định chỉ là trọngtài, là người làm chứng cho giao dịch của các bên, bảo đảm những điều kiện
nhất định cho việc thực hiện các giao dịch đó.
hiện nay cũng không thể làm thay một cách có hiệu quả tồn bộ hoạt động
trong lĩnh vực này. Việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa ántrước hết phải do các bên thực hiện; nhà nước chỉ nên đóng vai trị trung
nhà nước hành nghề trong việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tịấn với tính chất là hoạt động dịch vụ pháp lý cơng. Có như vậy mới giảmthiểu gánh nặng về nhân lực, ngân sách cho nhà nước, tạo sự chủ động, pháthuy nguồn lực nhân dân, tăng cường hiệu quả trong hoạt động thi hành án.Đây cũng là cách làm mà nhiều quốc gia đã áp dụng thành công.
Về thực trạng tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự với những tồn
đây, chúng tôi xin nêu một số lợi ích chủ yếu mà xã hội hóa thi hành án dân
<small>sự đem lại.</small>
Thứ nhất, xã hội hóa sẽ làm giảm khối lượng công việc của cơ quan thi
Số liệu thống kê cho thấy, số việc tồn đọng chuyển từ năm trước
sang năm sau đang ngày càng tăng và hiện nay đã chiếm quá nửa vụ việc
xã hội hóa với các lý do:
- Thực hiện xã hội hóa với việc giới hạn tối đa loại việc cơ quan thị
hành án chủ động thi hành cũng như hình thức miễn, giảm thi hành án (đối
với các khoản trực tiếp nộp ngân sách nhà nước) sẽ góp phần làm giảm
lượng án tồn đọng do người phải thi hành án khơng có điều kiện thi hành
đối với khoản cơ quan thi hành án chủ động thi hành. Mat khác, trách
nhiệm xác minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án và phải nộpphí thi hành án, trước khi yêu cầu thi hành án, người được thi hành án phảicân nhắc, xem xét hiệu quả của việc thi hành án, nếu xét thấy người phải thihành án khơng có điều kiện thi hành, thì họ sẽ khơng u cầu cơ quan thi
hành án thi hành. Như vậy, lượng việc phải thi hành giảm di, cơ quan thi
hành án sẽ có điều kiện tập trung chấp hành viên, cán bộ thị hành án cũngnhư kinh phí để tổ chức thi hành có hiệu quả những việc cịn lại.
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">- Do tồn tại như một loại hình dịch vụ cơng, nên khi thực hiện xã hộihóa, tính chất, phương cách thi hành án, lề lối, thái độ phục vụ trong thi hànhán dân sự sẽ tốt hơn. Như thế sẽ tránh được sự quan liêu, cửa quyền, sách
nhiễu, một hiện tượng dang tiém ẩn trong hoạt động thi hành án dân sự hiệnnay. Khi đã được xã hội hóa, các tổ chức, cá nhân có chức năng thi hành án
sẽ cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở nâng cao hiệu quả thi hành án để bảo vệ
uy tín cho tổ chức mình. Và như vậy sẽ tạo thêm sự lựa chọn cho người dântrong thi hành án, phù hợp với điều kiện, khả năng cụ thể của mình.
Thứ hai, xã hội hóa góp phần làm giảm gánh nặng về nhân lực vàchi phí tài chính của Nhà nước cho hoạt động thi hành án dân sự.
Tổng biên chế của các cơ quan thi hành án hiện nay đã thực hiện lên
đến 4.212 người, trong đó có 1.778 chấp hành viên (số liệu tính đến tháng 6
năm 2001) với số kinh phí cấp cho hoạt động của cơ quan thi hành án làhơn 90 ty đồng, bao gồm kinh phí cho hoạt động thường xuyên, kinh phicho xây dựng trụ sở và kinh phí mua sắm tài sản cố định. Nếu thực hiện xã
hội hóa, hoạt động thi hành án sẽ do cá nhân, tổ chức xã hội đảm nhận; họ
không phải là công chức nhà nước, tự trang trải cho hoạt động của mình.Như vậy, xã hội hóa thi hành án dân sự sẽ giảm được tối đa số biên chế
cũng như kinh phí cho hoạt động thi hành án, góp phần khắc phục tình trạng
cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả của bộ máy nhà nước ta hiện nay.
Thứ ba, xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự sé khuyến khíchnhân dân tham gia vào lĩnh vực thi hành án dân sự, nâng cao tính tích cực,
tu chủ của nhân dân, chia sé trách nhiệm với Nhà nước, góp phần tăng
Cuối cùng, xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự góp phần tạo
Toàn bộ những điều trên đây góp phần nâng cao hiệu quả hoạt độngthi hành án dân sự, góp phần kiện tồn bộ máy nhà nước ta.
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">1.2.3. Chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước
Với chủ trương xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp, xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời gian quaĐảng và Nhà nước ta đã thực hiện xã hội hóa nhiều lĩnh vực hoạt động củabộ máy Nhà nước. Chủ trương đó bắt nguồn từ bản chất tốt đẹp của chế độ,của Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Bài học dựa vào dân,lấy dân làm gốc đã được Đảng ta đúc rút từ thực tiễn cách mạng và truyềnthống tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc. Ngày nay, trong công cuộc đổimới xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng ta tiếp tục huy động sức mạnh,nguồn lực của tất cả các tầng lớp nhân dân, coi đây là yếu tố quyết địnhđảm bảo cho thắng lợi của mọi nhiệm vụ cách mạng. Từ thực tiễn mười lămnăm đổi mới, Đảng ta đã rút ra bài học: Đổi mới phải dựa vào dân, vì lợi íchcủa dân, phù hợp với thực tiễn luôn luôn sáng tao [3, tr. 81]. Xã hội hóa cáccơng việc Nhà nước là hình thức, biện pháp nhằm thực hiện chủ trương pháthuy sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện Đảng ta chủtrương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng xác định: "Thực hiện phương
dân số, kế hoạch hóa gia đình và các mặt xã hội khác, hướng vào nâng cao
văn hóa, xã hội vẫn nang tính chất hành chính, y lại, trơng chờ vào kinh phíNhà nước, chưa có phân biệt rõ cơ quan hành chính cơng quyền với các đơn
vị sự nghiệp về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động... ". Để khác phục tình
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">trạng này Chính phủ đưa ra giải pháp: "... thực hiện Nghị định khuyến khíchcác thành phần kinh tế tham gia và áp dụng bước đầu cơ chế mới đối với
các đơn vi sự nghiệp làm dich vu công theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương 7. Chủ trương này có liên quan đến cuộc sống và lợi ích của mọi gia
đình, nên cần làm thí điểm với sự chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm trước
khi mở rộng”.
Tại Nghị quyết đại hội lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục chủ trương đẩy
quan điều tra, cơ quan thi hành án theo nguyên tắc gọn đầu mối. Thành lậpCảnh sát tư pháp" và: "Cai cách hệ thống tư pháp, bao đảm các quyền dânchủ của công dân, tăng cường các tổ chức hỗ trợ tư pháp. Nâng cao việc
giám sát của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước... Hỗ trợ và khuyếnkhích các tổ chức hoạt động khơng vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích củadân. Những tổ chức này có thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện một số
nhiệm vụ, cung cấp một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng.
vụ quan trọng hon" (3, tr. 339].
Chủ trương trén của Dang đã được Nhà nước triển khai thực hiện
trên thực tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao, văn hóa.
phương hướng và chủ trương xã hội hóa các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y
tế, văn hóa; Nghị định của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa
đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao... Trong
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">lnh vực thi hành án dân sự, Chi thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của
Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành
quần chúng, của các đồn thể trong hoạt động thi hành án là một giải pháp
quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
Như vậy, có thể nói, trong tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư
pháp nói chung, vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự đã bước đầu được
1.3. SƠ LƯỢC LICH SỬ XÃ HỘI HÓA THI HANH ÁN DÂN SU
VIỆT NAM
1.3.1. Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Dưới chế độ phong kiến, hoạt động thi hành án đặc biệt là thi hànhán dân sự chưa được coi trọng; các luật lệ lúc bấy giờ chưa phân định rõ
giữa thi hành án và xét xử. Một số bộ luật lớn cũng như các văn bản khác
các hoạt động có tính chất tư pháp.
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">Dưới chế độ thực dân, hoạt động thi hành án dân sự được thực
hiện bởi tổ chức Thừa phát lại. Chế định Thừa phát lại xuất hiện ở Việt
Nam cùng với sự đơ hộ của thực dân Pháp. Nhìn chung, Thừa phát lại
được tổ chức ở Việt Nam, với nhiệm vụ: Tại phiên tịa, Thừa phát lại có
nhiệm vụ thơng báo tòa khai mạc và bế mạc, gọi các đương sự, nhân
chứng, thi hành lệnh giữ trật tự; ngồi Tịa án, Thừa phát lại tống đạt giấytờ theo yêu cầu của Tịa án, thi hành án văn có hiệu lực pháp luật, triệu
tập đương sự, lập các vi bằng theo quy định của pháp luật, phát mạiđộng sản hay bất động sản... Về tổ chức, Thừa phát lại (huissier) là cônglại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản lý, hành nghề trên cơ sởquy định của pháp luật, được hưởng thù lao của khách hàng theo biểu giáquy định. Tổ chức Thừa phát lại chủ yếu tồn tại, hoạt động ở các thành
phố lớn, còn ở các vùng nơng thơn việc thi hành án do chính quyền cơ sở
đảm nhiệm.
Tổ chức Thừa phát lại đã hình thành, tồn tai ở Việt Nam trước
1.3.2. Thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
1.3.2.1. Giai đoạn từ 1945 - 1950
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, tổ chức thi hành án
đân sự đã được được hình thành và tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát
lại và Ban tư pháp xã. Trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về việc cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung,Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn
quốc, nếu những đạo luật ấy "không trái với các nguyên tắc độc lập củaNhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa", chế định Thừa phát lại
tiếp tục được duy trì. Tại Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 của Chủ tịchChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quy định: Trongcác xã, thị xã hoặc khu phố, chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký đều chịu tráchnhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tịa án; ở những nơinào đã có Thừa phát lại nêng, thì đương sự có quyền nhờ Thừa phát lại
riêng thi hành mệnh lệnh. Sắc lệnh cũng quy định: Các bản tồn sao hoặc
trích sao bản án hoặc mệnh lệnh do các phòng lục sự phát cho các người
đương sự để thi hành các án, hoặc mệnh lệnh của các Tịa án hộ đều phải có
thể thức thi hành, ấn định như sau: "Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự
Có thể nói, trong giai đoạn này, vấn đề xã hội hóa thi hành án dân
Nhà nước cũ sang cơ chế tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước mới.
Cơ chế này vừa bảo đảm tính linh hoạt, quyền chủ động và định đoạt chocác bên đương sự, vừa bảo đảm thực hiện bởi tác động của Nhà nước.
1.3.2.2. Giai đoạn từ năm 1950 đến tháng 10 năm 1992
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về
"cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng”. Theo quy định này, việc thi hành
<small>án dân sự do Thừa phát lại và Ban tư pháp xã thực hiện trước đây được thay</small>
thể bằng thẩm phán Tòa án huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chánh án. Sự
kiện này đã làm thay đổi căn bản cơ chế, tổ chức hoạt động thi hành án dânsự. Thi hành án dân sự từ chỗ căn cứ vào yêu cầu của đương sự đã trở thành
trách nhiệm của Nhà nước. Tòa án chủ động thi hành án dân sự mà khôngchờ yêu cầu của người được thi hành án.
Tiếp đó, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 đã xác định: "Tại các
Tòa án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi
hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường vàtài sản trong các bản án, quyết định hình sự" (Điều 24), đồng thời Luậtcũng xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của chấp hành viên, tạo cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.
Theo quy định, chánh án Tòa án nhân dân địa phương có trách
nhiệm quản lý, chỉ đạo chấp hành viên của Tịa án mình; đơn đốc, kiểm tra,
hướng dẫn cơng tác thi hành án của Tịa án nhân dân cấp dưới; chỉ đạo công
tác thống kê, sơ kết, tổng kết công tác thi hành án, giải quyết khiếu nại về
thi hành án và xây dựng, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ chấp hành viên.
Ngày 28/8/1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự ra đời đã tạo cơ sở
pháp lý về quyền tự định đoạt của các bên đương sự và là một nguyên tắcquan trọng trong thi hành án dân sự. Bên cạnh quy định quyền tự định đoạtcủa đương sự, Pháp lệnh năm 1989 cũng có những quy định về quyền chủđộng thi hành án của cơ quan thi hành án trong những trường hợp nhất định,
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">nhằm bảo vệ kip thời lợi ích của Nhà nước, quyền va lợi ích hop pháp của
tập thể và cơng dân (Ví dụ: những bản án, quyết định về trả lại tài sản, hoặc
bồi thường thiệt hại tài sản XHCN, phạt tiền, tịch thu, án phí; những bản án,
quyết định của Tịa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay).
Nhu vậy, kể từ nam 1950, thi hành án dân sự chính thức do Tòa ánđảm nhận; người trực tiếp thi hành là chấp hành viên - cơng chức thuộc Tịấn. Trong thời gian dài chúng ta quan niệm rằng, mọi bản án, quyết định
nhân danh Nhà nước là bắt buộc thi hành; coi hoạt động thi hành án dân sựlà trách nhiệm của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức khi tranh chấp đã
được Tòa án ra phán quyết. Đây cũng là tình trạng chung trong hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước ta những năm trước đây, khi Nhà nước thực hiện chủ
trương xây dựng nền kinh tế tập trung bao cấp. Chỉ sau khi có Pháp lệnh thihành án dân sự 1989 thì quyền tự định đoạt của các bên đương sự bắt đầuđược ghi nhận. Theo đó, trừ những bản án, quyết định mà cơ quan thi hành
án chủ động thi hành, số còn lại, người được thi hành án phải có đơn u
1.3.2.3 Giai đoạn từ tháng 10 năm 1992 đến nay
Tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong đó có việccải cách nền hành chính, cải cách tư pháp, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hộikhóa IX ngày 6/10/1992 đã thơng qua Nghị quyết về việc bàn giao cơng tác
thi hành án từ Tịa án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ.Trên cơ sở đó, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 ra đời đã tạo ra bước
ngoặt về tổ chức và hoạt động của công tác thi hành án dân sự ở nước ta,theo đó cơng tác thi hành án dân sự được chuyển từ Tòa án nhân dân sang
các cơ quan thuộc Chính phủ.
Địa vị độc lập của chấp hành viên, quyền tự định đoạt của các bên
lập với hai loại cơ quan: cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự và cơ
quan thi hành án dân sự. Mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động được xác lập
theo Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 được củng cố, hồn thiện và tồn tại
cho đến nay.
Tóm lại, vấn dé xã hội hóa thi hành án dân sự đã được thực hiện ởnước ta trong nhiều năm trước đây. Tùy từng thời kỳ mà việc xã hội hóa thi
thi hành án cịn mang nhiều dấu ấn của tổ chức thi hành án nước ngồi(Cộng hịa Pháp); trong thời kỳ đấu tranh thống nhất TỔ quốc và xây dựng
xã hội chủ nghĩa với chủ trương xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung,
xã hội hóa thi hành án chủ yếu thể hiện khía cạnh ban chất nhà nước - Nhà
nước của toàn dân, Nhà nước thực hiện cũng chính là xã hội thực hiện. Hiện
nay, với đường lối đổi mới, trên cơ sở nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa mà chúng ta đang chủ trương xây dựng, xã hội hóa thi hành
án đã thể hiện ở những điểm rõ nét hơn, cụ thể hơn. Tuy vậy, như trên đã
bên đương sự trong thi hành án dân sự. Vì vậy, vấn đề đặt ra là, cần chuyểnđổi căn bản cơ chế thi hành án dân sự mang nặng tính bao cấp của Nhà
nước như hiện hành sang một cơ chế mới, theo đó thi hành án dân sự cầnđược xem như là một loại hình dịch vụ pháp lý cơng, Nhà nước chỉ đóng vai
trị quản lý và đảm bảo quyền lực tư pháp khi cần thiết.
Về tổ chức, ở Nhat Bản thi hành án dân sự trước đây do Thừa phátlại đảm nhận (theo Luật số 51 năm 1890 kèm theo Quy chế Thừa phát lại,Quy chế thu lệ phí Thừa phát lại). Đến 1966, khi Luật chấp hành viên ra đời,
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">thì chế định Thừa phát lại khơng cịn, thay vào đó là chế định Chấp hànhviên. Hiện nay co quan thi hành án Nhat Bản gồm hai bộ phận: Tòa thihành án và chấp hành viên. Tòa thi hành án là một bộ phận của Tịa án sơ
hành án, đặc biệt là các quyết định về kê biên tài sản (bất động sản, máy
bay, tàu thuyền...); quyết định việc hỗn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án.Tòa thi hành án giải quyết các khiếu nại về thi hành án, có quyền tiến hành
kiểm tra việc thi hành án, có quyền yêu cầu lực lượng cảnh sát, cơ quan nhà
Cơ quan thi hành án là một cơ quan tư pháp độc lập thuộc Tòa án sơ
thẩm. Người trực tiếp thi hành án là các chấp hành viên. Chấp hành viên là
công chức nhà nước hoạt động dưới sự giám sát của Tòa thi hành án. Năm1997 Nhat Bản có 520 chấp hành viên (ở Tokyo có 45 chấp hành viên,
trong đó 2/3 số chấp hành viên chuyên về bất động sản, 1/3 chuyên về động
sản và 5 nhân viên điều hành).
Chấp hành viên hoạt động trong phạm vi địa hạt thuộc thẩm quyền
viên phải quyết toán ngay cho người yêu cầu thi hành án, nếu thiếu, thì yêu
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">cầu người yêu cầu nộp đủ, nếu thừa thì phải trả lại. Chấp hành viên được
hưởng một tỷ lệ nhất định trên số lệ phí thu được, trường hợp khơng đủ đểhoạt động thì ngân sách nhà nước cấp bổ sung.
người bị hại, sau đó bắt người gây ra thiệt hại bồi hồn cho Chính phủ.
Như vậy, xã hội hóa thi hành án dân sự ở Nhật Bản chủ yếu xác
định quyền hạn, nghĩa vụ của các bên đương sự. Sự tham gia đó thể hiện ở
trách nhiệm cung cấp các thơng tin về thi hành án và phải chịu các chi phí,
lệ phí thi hành án. Mặc dù cơ quan thi hành án là một cơ quan nhà nước,
song hoạt động của nó dựa trên kết quả cơng việc mà nó thực hiện. Đó lànguồn tài chính bảo đảm cho hoạt động của cơ quan thị hành án được lấy từ
đương sự. Nhà nước chỉ đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật
chất và kinh phí hoạt động cũng như đảm bảo tính quyền lực nhà nước
trong hoạt động của cơ quan thi hành án, chấp hành viên.
1.4.2. Cộng hòa Liên bang Đức
Về tổ chức, theo luật Đức, Tòa án khu vực là cơ quan chịu tráchnhiệm thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.Hệ thống Tòa án của Cộng hòa liên bang Đức gồm: Tòa án khu vực, Tòa án
<small>viên thi hành án.</small>
Địa vị pháp lý của chấp hành viên được quy định trong Luật chấphành viên, Quy chế chấp hành viên. Tuy là công chức nhưng chấp hànhviên thực hiện cơng việc của mình một cách độc lập, có con dấu nêng, cóvăn phịng riêng mang tên chấp hành viên tại Tòa án, được hưởng mộtkhoản lương cố định. Chấp hành viên có nghĩa vụ tiếp đương sự tại văn
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">phòng của minh hai lần mỗi tuần. Chấp hành viên có nghĩa vụ bảo quản hồsơ, lưu giữ hồ sơ các vụ đã được thi hành trong năm năm tiếp theo.
Chấp hành viên được hưởng lương và số tiền thù lao được tính trên
phần trăm (15%) trên số tiền lệ phí thi hành án do người được thi hành ánnộp khi yêu cầu thi hành án, được nhận các khoản tiền thanh toán các chi
phí khác như: di lại, sao chụp tài liệu... Chấp hành viên tự trang trải cho
hoạt động của văn phịng của mình. Khi khơng thể thi hành được theo đơn
yêu cầu, thi chi phí mà chấp hành viên đã bỏ ra trên thực tế đáng lẽ được
người yêu cầu thanh tốn sẽ do Tịa thi hành án thanh tốn từ quỹ của Tòa
án. Tất cả các chấp hành viên phải mở tài khoản tại ngân hàng để phục vụ
cho cơng việc của mình (gọi là tài khoản cơng vụ), mọi hoạt động thu chi từ
việc thi hành án đều phải được thực hiện thông qua tài khoản này.
Trong trường hợp chấp hành viên không thực hiện tốt chức năng của
mình thì có thể bị chánh án Tịa án khu vực trực tiếp phụ trách chấp hành
viên ra quyết định kỷ luật.
Khi thực hiện nhiệm vụ chấp hành viên có quyền yêu cầu lực lượng
cảnh sát, cơ quan công quyền khác hỗ trợ để áp dụng biện pháp cưỡng chế
cần thiết, có quyền khám nhà, xác minh tài sản. Chấp hành viên có quyền
yêu cầu cảnh sát áp giải đương sự theo giấy triệu tập đến cơ quan thi hành
án, nếu đương sự có tình trốn tránh, báo gọi nhiều lần khơng đến.
Như vậy, xã hội hóa thi hành án dân sự ở Đức thể hiện ở hình thức
tổ chức cơ quan thi hành án dưới dạng bán công. Cơ quan Thi hành án (vănphòng chấp hành viên) là một bộ phận trực thuộc Tịa án, chấp hành viên làcơng chức nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nhưng phải
động (trường hop khơng thu được phí va chi phí thi hành án).
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">1.4.3. Cộng hòa Pháp
Về tổ chức, ở Cộng hòa Pháp, thi hành án dân sự do tòa thi hành ánvà tổ chức Thừa phát lại đảm nhiệm. Theo Đạo luật năm 1991 về cải cáchthủ tục thi hành án, tại Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng có các thẩm phánthi hành án, được chánh tịa chỉ định và ủy quyền phụ trách thi hành án.
Trong lĩnh vực thi hành án, thẩm phán thi hành án có trách nhiệm kiểm tra,
giám sát tính hợp pháp hợp lệ của quá trình thi hành án, cho phép tiến hànhcác biện pháp kê biên bảo tồn, quyết định thời hạn tạm đình chỉ, đình chỉthi hành án, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình
Cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp thi hành án dân sự là tổ chức Thừa
phát lại. Thừa phát lại được thiết lập ở 3 cấp: Hội đồng Thừa phát lại cấptinh, Hội đồng Thừa phát lại cấp vùng và Hội đồng Thừa phát lại quốc gia.
Về hoạt động, Thừa phát lại có hai nhóm cơng việc: nhóm cơng việc
độc quyền và nhóm công việc không độc quyền:
- Trong lĩnh vực độc quyền, Thừa phát lại là người duy nhất có thẩm
quyền thực hiện công việc tống đạt các văn bản, quyết định, giấy triệu tậpra tịa, các văn bản trong q trình tố tụng, bản án, quyết định của Tịa án.Ngồi ra, Thừa phát lại cịn có trách nhiệm, thậm chí nghĩa vụ phải thông
đi kiện; khi bản án đã được tống đạt đến cho đương sự, Thừa phát lại phải
chỉ dẫn cho họ biết các khả năng kháng cáo, khiếu nại. Tất cả các hoạt động
này đều được quy định rất cụ thể, nếu không tuân thủ các quy định đó đều
bị coi là vơ hiệu.
Một hoạt động có tính độc quyền thứ hai của Thừa phát lại là thi
hành các bản án, quyết định của Tòa án. Việc chuyển bản án, quyết định đã
có hiệu lực cho Thừa phát lại có giá trị như giao quyền thi hành án mà
không cần giấy ủy quyền riêng (Điều 507 Bộ luật tố tụng dân sự). Quá trình
thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nếu việc thị hành án gặp khó khăn
do có hành vi chống đối, Thừa phát lại có thể u cầu can thiệp của lực
lượng cơng quyền.
- Đối với lĩnh vực không nam trong phạm vi độc quyền, Thừa phátlại làm những công việc như: soạn thảo các văn bản tư chứng thư, tư vấn,
tham gia tố tụng, gợi ý cho thân chủ những điều nên làm như, hỗ trợ doanhnghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc đề phòng các trườnghợp rủi ro khơng thanh tốn tiền, bán đấu giá tài sản, làm các biên bản xácnhận một tình huống pháp lý xảy ra tại một thời điểm xác định v.v... Có thểnói đây là các hoạt động bổ trợ cho các hoạt động khác như: công chứng
viên, luật sư...
Thừa phát lai được trả thù lao cho cơng việc của mình. Trong thihành án, thù lao được tính theo tỉ lệ khoản nợ được thu hồi do pháp luật quyđịnh; ngoài thù lao, người được thi hành án cũng phải trả các khoản chi phíkhác, như chi phí cưỡng chế thi hành án... Riêng trường hợp Thừa phát lại
thực hiện công việc với tư cách là trợ lý tư pháp do thẩm phán giao, thì chínhthẩm phán sẽ ấn định thù lao cho Thừa phát lại và chỉ rõ bên đương sự nào
phải tạm ứng trước, nếu đương sự không phải trả, thì Nhà nước trực tiếp trả
thù lao cho Thừa phát lại. Trong lĩnh vực không độc quyền, thù lao do hai
Về trách nhiệm, như trên đã nêu, Thừa phát lại hành nghề theo quychế tự do, độc lập với chính quyền, khơng phải tuân thủ cấp trên hay một
nhà chức trách nào trong thi hành nhiệm vụ. Thừa phát lại chỉ chịu sự giám
sát, chịu trách nhiệm trước Tịa án và Viện cơng tố bên cạnh Tịa án sơ
thẩm có thẩm quyền rộng bởi những sai phạm trong chuyên môn. Trong khithi hành nhiệm vụ, nếu Thừa phát lại gây thiệt hại cho đương sự thì phải bồi
thường. Nếu Thừa phát lại có hành vi khơng trung thực, vi phạm pháp luật
nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện với tính chất là dịch vụ cơng. Tuy
nhiên, bên cạnh đó, Nhà nước vẫn tạo ra các điều kiện cần thiết đảm bảo
sự vừa có trách nhiệm đồng thời thực hiện được quyền của mình theo phánquyết của Tịa án ở giai đoạn thi hành án. Trách nhiệm ở ché, họ phải trả
các chi phí, thù lao cho việc thực hiện cơng việc này với tính chất là chi trả
cho một dịch vụ công; quyền hạn ở chỗ, họ có quyền u cầu thi hành phán
quyết của Tịa án và khi được yêu cầu, Thừa phát lại không được từ chốiu cầu đó, đồng thời trong q trình thi hành án, Nhà nước, trực tiếp là
viên thi hành án vừa có nhiệm vu thi hành án vừa có nhiệm vu tống đạt giấy
tờ, thực hiện các lệnh bắt giữ. Nhân viên thi hành án của Tịa án nào thì thi
hành bản án của Tịa án đó. Nhân viên thi hành án của Tịa cấp dưới khơng
những bản án này do nhân viên thi hành án Tòa án tối cao thi hành.
Theo pháp luật tố tụng Singapore, khi thi hành án, nhân viên thi
hành án có các quyền sau:
- Nhân viên thi hành án phải thi hành đúng pháp luật, công khai vàkhông được tham nhũng; phải thực hiện bất kỳ cơng việc gì theo u cầu
của tịa. Trường hợp cán bộ thi hành án có hành vi tiêu cực sẽ bị xử lý theo
quy định của pháp luật hoặc bị chuyển cơng tác.
- Sau khi có bản án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì
người được thi hành án làm đơn gửi Tịa án theo mẫu in sắn. Người được thi
hành án phải nộp trước một khoản tiền lệ phí thi hành án. Số tiền đó được
trả thù lao cho nhân viên thi hành án (50 S$/giờ) và trang trải cho việc tổ
chức thi hành án. Ngoài ra người được thi hành án còn phải nộp tiền bảo
hiểm, bảo đảm cho việc khắc phục những hậu quả xấu có thể xảy ra trong
quá trình cưỡng chế thi hành án.
Theo pháp luật Singapore, trong trường hợp người phải thi hành án
là cá nhân thực sự khơng có tài sản để thi hành án thì có thể làm đơn u
cầu Tịa án quyết định tun bố phá sản. Nếu được Tòa án tuyên bố phá sảnthì hoạt động thi hành án đối với họ chấm dứt.
Như vậy, ở Singapore, vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự chủ yếu
thể hiện ở trách nhiệm của các bên đương sự, theo đó họ phải chịu một
khoản lệ phi, chi phí cho việc thi hành án. Nhân viên thi hành án là công
chức nhà nước, được Nhà nước đảm bảo những điều kiện vật chất, kinh phícho hoạt động thi hành án; việc thu phí, chi phí chỉ hỗ trợ nhất định, giảm
bớt phần nào kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hoạt động thi hành án.
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">Hệ thống cơ quan thi hành án ở Thụy Điển thuộc hệ thống các cơ
thi hành án khu vực. Trong mỗi cơ quan thi hành án có giám đốc, chấp
hành viên, nhân viên thanh tra và nhân viên hành chính.
Thi hành án dân sự Thụy Điển bao gồm cả thi hành dân sự và thi
hành về thuế, thi hành án giản lược. Theo thủ tục thi hành án giản lược, cơ
quan thi hành án được phép đưa ra thi hành những văn bản có giá trị thị
hành là giấy tờ mà trong đó những quyền pháp lý được quy định rõ ràng
theo Luật thi hành án. Đối với những văn ban này, cơ quan thi hành án có
theo mức do pháp luật quy định. Ngồi lệ phí thi hành án, người phải thi
hành án cịn phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án, nếu có.
1.4.6. Nhận xét
Qua xem xét mơ hình và tổ chức hoạt động thi hành án dân sự một
công chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà hưởng
lương từ thù lao do thực hiện công việc thi hành án. Các nước này có quanniệm: xem thi hành án là loại dịch vụ công, Nhà nước không nên trực tiếp
thu phí.
Mặc dù cơ chế tổ chức và hoạt động khác nhau, nhưng nhìn chung
các quốc gia đều đảm bảo hiệu lực thi hành bản án, quyết định của Tòa án,trong đó đáng chú ý là vai trị của Tịa án trong quá trình thi hành án là rấtlớn, như: giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thi hành án,
quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, kiểm tra, giám sát quá
trình thi hành án..., đồng thời có cơ chế xác định trách nhiệm của các cơ
quan liên quan trong việc thi hành án, đặc biệt là trách nhiệm của co quan
cảnh sát. Chính vì vậy, cho dù cơ quan thị hành án không phải là một cơ
quan thuộc hệ thống cơ quan nhà nước, nhưng khơng vì thế mà giảm hiệu
quy định xác định rõ trách nhiệm và quyền định đoạt của của đương sự
trong q trình thi hành án, đó là việc thu lệ phí và chi phí thi hành án, xác
định trách nhiệm xác minh điều kiện của người phải thi hành án của ngườiyêu cầu...
Về chức năng, nhiệm vụ, cơ quan thi hành án ở các nước cũng cósự khác nhau. Nhìn chung, chức năng chính của cơ quan thi hành án làthi hành các bản án, quyết định dân sự của Tịa án (dân sự theo nghĩa rộng),
ngồi ra cơ quan thi hành án cũng thi hành quyết định của trọng tài,
quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, cá biệt cịn thi hành các văn
bản đã được cơng chứng, chứng thực các khoản thuế (Đức, Thụy Điển...).
Ngoài nhiệm vu thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan thi
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">hành án còn thực hiện một số công việc khác, như tống đạt các văn bản,
lập các chứng thư, bán đấu giá tài sản, tư vấn cho khách hàng... (Pháp,
<small>Đức, Nhật...).</small>
Tóm lại, xã hội hóa thi hành án dân sự được thực hiện ở hầu hết các
quốc gia. Tuy nhiên, tùy điều kiện và quan niệm khác nhau của từng quốc
gia mà việc xã hội hóa thi hành án dân sự ở các nước thể hiện ở hình thức
và mức độ khác nhau, như: xã hội hóa một cách tồn diện, theo đó thi hành
án dân sự do tổ chức phi nhà nước đảm nhiệm, khơng dùng kinh phí nhà
nước; hoặc xã hội hóa ở mức độ nhất định, theo đó thi hành án dân sự do cơ
quan nhà nước thực hiện, nhưng được thu lệ phí và các chi phí về thi hànhán, đồng thời xác định trách nhiệm của đương sự trong việc cung cấp thôngtin, xác minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án... Xã hội hóanhưng vẫn đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động thi hành án với các yếu tố
như: sự can thiệp và sử dụng quyền lực nhà nước, kể cả biện pháp bắt giam;
ý thức tơn trọng pháp luật nói chung và phán quyết của Tịa án nói riêng;
<small>Chương 2</small>
Như trên đã nêu, thi hành án dân su là sự thực hiện các quyền, nghĩavụ của các bên theo phán quyết của Tịa án, nó không chỉ thông qua hoạt
động của các cơ quan nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án mà cịn
quan thi hành án.
đó, hình thành hai loại cơ quan về thi hành án: Cơ quan quản lý công tác thi
hành án dân sự và cơ quan thị hành án dân sự.
2.1.1. Về cơ quan quản lý nhà nước công tác thỉ hành án dân sự
Chính phủ thống nhất quản lý cơng tác thi hành án dân sự trong
phạm vi cả nước. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác
thành phố thuộc tinh thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác thi hành
án dân sự ở địa phương theo quy định của Chính phủ; cơ quan tư pháp địa