Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (73.14 MB, 112 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>PL PO PAT (UP NIty i by] aye YIi li</small>
Chuyén nganh : Luat Hinh su.
Mã số: 5.05.14
Người hướng dẫn khoa học :
PGS, PTS, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Ngoc Hịa,Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Ha Nội.
MỤC LỤC
1.2. Lịch sử lap pháp hình sự Việt Nam về chế định quyết định hình
1.3. Các nguyên tác quyết định hình phạt
2.1. Căn cứ thứ nhất - Các quy định của Bộ Luật Hình sự
2.2. Căn cứ thứ hai - Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
<small>tội phạm</small>
<small>2.3. Căn cứ thứ ba - Nhân thân người phạm tội</small>
2.4.- Can cứ thứ tư - Các tình tiết tang nặng, giảm nhe trách nhiệm
<small>hình sự</small>
3.1. Quyết định hình phạt nhẹ hơn luật quy định
3.2. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội3.3. Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án
3.4. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
<small>phạm tội chưa đạt</small>
3.5. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
3.6. Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
<small>90oY102</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">LUẬT HOC, PHO HIỆU TRƯỞNG TRUONG DAI HỌC LUAT HÀ NỘI;
Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã và đang tổn tại trong xã hội
trì trật tự xã hội là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước ta. Pháp luật nói chung và
pháp luật hình sự nói riêng là một trong những cơng cụ chủ yếu mà Nhà nướcdùng để đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bằng việc xác định những hành vinguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và qui định hình phạt đối với người thực
hiện tội phạm ấy, Bộ luật hình sự đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các cơ quan
điều tra, truy tố, xét xử xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt
kẻ phạm tội và không để oan người vơ tội. Trong q trỉnh áp dung pháp luật hình
sự để xử lý người phạm tội thì giai đoạn quyết định hình phạt là một giai đoạn rất
quan trọng trong q trình xét xử của Tịa án. Bởi vì mục đích của việc Nhà nướcáp dụng hình phạt đối với người phạm tội là nhằm cải tạo, giáo dục người bị kếtán trở thành người có ích cho xã hội, phịng ngừa riêng và phịng ngừa chung. Dođó nếu Tịa án quyết định một hình phạt đúng pháp luật, cơng bằng, nghiêm minhvà hợp lý sé tạo tiền dé và điều kiện cho việc đạt được mục đích của hình phat.Ngược lại nếu Tòa án quyết định một hinh phạt khong đúng pháp luật, khơngcơng bằng, khơng hợp lý thì khơng có khả năng đạt được mục đích của hình phạt.Chính vi vai trị quan trong của giai đoạn quyết định hình phạt như đã nói ở trêncho nên việc nghiên cứu vấn đề quyết định hình phạt là một trong những nhiệm
đề lý luận về quyết định hình phat sé là cơ sở khoa hoc cho q trình xây dung vấp dụng pháp luật hình sự về vấn đề quyết định hình phạt. Hiện nay tình hìnhnghiên cứu, thực tiễn 4p dung và những qui định của Bộ luật hình sự về vấn déquyết định hình phat đang có những tồn tại sau đây:
Về luật thực định: Bộ luật hình sự được Quốc hội thơng qua ngày 27/6/1985
và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1986. Qua hơn 10 năm thi hành, Bộ luật hình
sự đã phát huy được tác dụng to lớn trong cơng tác đấu tranh phịng, chống tội
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">phạm. Trong tinh hình hiện nay, trước những thay đổi về kinh tế- xã hội va trướcnhững diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm và đặc biệt là yêu cầu của công
tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu thi một số qui định của Bộ luật hình sự
nói chung và các qui định về vấn đề quyết định hinh phạt nói riêng to ra bất cập,
khơng phù hợp với thực tế đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó một yêu cầu
đặt ra là các quy định của Bộ luật hình sự nói chung và các quy định về quyết
Về thực tiễn áp dụng : Trong thực tiễn 4p dụng pháp luật hình sự khi quyếtđịnh hình phạt cho thấy hình phạt trong một số bản án mà Tòa án đã tuyên cho kẻ
hình phạt trong những trường hợp đặc biệt như: Quyết định hình phạt trong trường
hơn luật quy định; quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và trongtrường hợp có nhiều bản án; quyết định hình phạt đối với người chưa thành niênphạm tội . Trong những trường hop này việc quyết định hình phat cịn có sai lầm
hoặc do nhận thức còn khác nhau về cùng một vấn đề. Những sai lầm trong quátrình áp dụng pháp luật hình sự khi quyết định hình phạt trong thực tiễn nói trêncịn có ngun nhân là nhiều vấn đề từ thực tiễn nảy sinh mà công tác nghiên cứulý luận và luật thực định chưa dap ứng được kip thời.
Tình hình nghiên cứu: Mặc dù vấn đề quyết định hình phạt đã dược nghiêncứu và đề cập ở khá nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về khoahọc pháp lý và một số sách chuyên khảo, song vấn đề quyết định hình phạt vẫn
chưa được nghiên cứu một các đầy đủ, tồn điện và có hệ thống. Một số vấn đề
lý luận về quyết định hình phạt phải được nghiên cứu sâu mới dap ứng được
những đòi hỏi và yêu cầu của việc xây dựng, hoàn thiện và 4p dụng pháp luật
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">thực định.
Từ những tồn tại nêu trên về cả ba phương diện: Luật thực định, thực tiễn ấpdung và tình hình nghiên cứu cho thấy vấn dé quyết định hình phạt phải đượcnghiên cứu một cách đầy đủ, tồn diện, có hệ thống trên cả bình diện rộng và sâu.
Quyết định hình phạt là một vấn đề lớn trong khoa học luật hình sự, do đó bước
đầu luận án chỉ nghiên cứu và giải quyết những vấn dé sau đây: Khái niệm, ý
định hinh phạt nhẹ hơn luật quy định, quyết định hình phạt trường hợp phạm
Cơ sở phương pháp luận của đề tài luận án là các luận điểm của Triết họcMac-Lé nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trongquá trình nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lêninvà của Dang Cong sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật và chính sách hinh sựcủa Nhà nước ta. Phương pháp nghiên cứu là đi từ cái chung đến cái riêng, cái cụ
trình nghiên cứu tác giả có khảo sát hoạt động thực tiễn của các cơ quan điều tra,truy tố, xét xử đặc biệt là khâu quyết định hình phạt của Tịa án, nghiên cứu một
số vụ án điển hình để phục vu cho việc nghiên cứu đề tài.
Với mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu nêu trên thi luận an sẽ làmột cơng trình nghiên cứu vấn đề quyết định hình phạt một cách có hệ thống,tồn diện, một số vấn đề bước đầu được nghiên cứu sâu đồng thời có giới thiệu so
sánh với Bộ luật hình sự một số nước. Với mục đích khiêm tốn tác giả mong rằng
luận án sẽ là một cơng trình chun khảo góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứunhững cơ sở khoa học và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung hồn thiện Bộ luật hình sự.Luận án cũng là một công trỉnh làm phong phú lý luận khoa học pháp lý hình su,
gop phần nâng cao nhận thức cho những cán bộ trực tiếp 4p dụng luật hình sự
Từ mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu nêu trên bố cục của luận
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Chương 1
I.1.Ý NGHĨA CUA QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHAT
thống trị trong xã hội mà Nhà nước là người đại diện, do đó tội phạm mang bảnchất giai cấp sâu sắc.Khi một người thực hiện mot tội phạm thì người ấy phải chịu
<small>một trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước - Do là trách nhiệm hinh sự. Trach</small>
nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý mà đặc trưng của nó là việc kẻ
phạm tội phải chịu một chế tài nghiêm khắc nhất của Nhà nước - Đó là hình phạt.Điều 2 của Bộ luật hình su qui định rõ: "Chỉ người nào phạm mot tội đã được luậthình sự qui định mới phải chịu trách nhiệm hình su . Hình phạt phải do Tồ ấnquyết định". Trong hoạt động xét xử của Tồ án có hai khâu cơ bản là khâuđịnh tội danh và khâu quyết định hình phạt. Định tội danh là xác định về mặt
pháp lý sự phù hợp biện chứng khách quan giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã
được thực hiện trong thực tế với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quiđịnh trong Bộ luật Hình sự. Sau khi đã xác định được hành vi của người phạm tộicấu thành tội phạm gi, được qui định tại điều khoản nào của Bộ luật hinh sự thì
Tồ án chuyển sang khâu tiếp theo là quyết định một hình phạt cho người phạm
qui định của luật hình sự dé lựa chon và xác định loại hình phạt cụ thể vớimức độ cụ thể để áp dụng cho người phạm tội.
Quyết định hình phạt là một giai đoạn trong hoạt động xét xử của Toà án Cơ quan nhân danh Nhà nước chính thức xác định về mặt pháp lý một người bịcoi là có tội và tuyên hinh phat cho người ấy. Quyết định hình phat là một hoạtđộng mang tính chất chính trị, pháp lý và đạo đức, bởi vì việc Tồ án tun hình
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">-phạt cho người phạm tội là thể hiện sự đánh giá và lên án của Nhà nước và xãhội đối với tội phạm do người ấy đã thực hiện.
Quyết định hình phạt có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo cơ sở, tiền đề cho việc
đạt được mục đích của hinh phat. Nhà nước áp dụng hình phạt đối với ngườiphạm tội có đạt được mục đích hay khơng, hiệu quả của hình phạt đạt được ởmức độ cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định hình phạt. Khi Nhà
phạt chính là kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong muốn: đạt được khi áp dụng
hình phạt đối với người đã thực hiện tội phạm . Điều 20 của Bộ luật hình sự
nước ta qui định: ” Hình phat khơng chỉ nhằm mục đích trừng trị người phạm lộimà còn nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức Iuân theopháp luật và các qui tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm lội mới.Hình phạt cịn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật. đấu tranh chống
pháp luật hình sự nước ta về chế định quyết định hình phat, vi đây là lần đầu tiên
thức và cơ sở pháp lý cho quá trỉnh áp dụng hình phạt cho người phạm tội.
Theo qui định của điều 20 Bộ luật hình sự thì hình phat có mục đích: Đối vớingười phạm tội hình phạt có mục đích trừng trị và giáo duc cải tạo họ trở thành
người có ích cho xã hội; đối với những thành viên khơng vững vàng trong xã hộihình phạt có mục đích ngăn ngừa họ phạm tội; đối với những thành viên kháctrong xã hội hình phạt có tác dụng giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật, động viênhọ tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống và phịng ngừa tội phạm. Như vậy
mục đích của hình phạt ln ln có hai mặt: Trừng trị và cải tạo giáo dục. Haimặt này có liên quan với nhau, hỗ trợ nhau. Việc quyết định hình phạt phải dambao cho hình phạt đã tun có kha năng đạt được hai mục đích này. Trừng tri vàcai tao piáo duc là hai mặt của một thể thống nhất. Khi quyết định hình phạt Tồ
án khơng được coi nhẹ mặt nào. Nếu coi nhẹ mặt cải tạo, giáo dục, xem hình
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">phat như là phương tiện chủ yếu là để trả thù tội phạm thì sẽ dẫn đến việc quyếtđịnh hình phạt quá nặng. Và nếu như vậy sẽ tạo ra tâm lý ở người phạm tội là họ
mang tư tưởng là mình phải chịu một hình phạt khơng tương xứng với hành viphạm tội , từ đó họ khơng tin tưởng vào cơ quan xét xử và thí hành án. Một
chính người phạm tội và những người khác, ý thức coi thường pháp luật, không
tạo ra được sự tin tưởng đồng tinh cần thiết để giáo dục đông đảo quần chúng
nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống và phịng ngừa tội phạm.
hình phạt đúng.
Để tạo tiền dé và cơ sở đạt được mục dich của hình phat thì việc quyết định
mà Tồ án đã tun cho người pham tội có dam bao cho hình phạt đạt được mụcđích đã đặt ra hay khơng? Nếu hình phat Tồ ấn đã tuyên cho người phạm tội
có đủ cơ sở và tiền dé để dam bao cho việc 4p dụng hình phạt đạt được mục đích
đã dat ra thì đó là hình phat đúng. Ngược lại, hình phạt mà Toa 4n đã tuyên cho
người phạm tội không tạo ra tiền dé và cơ sở để dam bao cho việc đạt được mụcđích của hình phạt thì đó là hình phạt sai.
thức pháp luật của đại đa số quần chúng nhân dân.
càng cao khi kết quả đạt được trong thực tế càng gần với mục đích được xác
gồm: Người đã chấp hành xong hình phạt khơng phạm tội mới, khơng tái phạm ;
động thái của tỉnh hình phạm tội ; chỉ số tái phạm và diễn biến tội phạm trong
Căn cứ vào những tiêu chí trên chúng ta có thể đánh giá xem xét hiệu
bảo và nâng cao hiệu quả của hình phạt. Những yếu tố đảm bảo và nâng cao hiệuqua của hình phạt bao gồm: Một là những yếu to thuộc về phương diện lập pháp :Đó là những điều kiện tác động ở giai đoạn xây dựng hệ thống hình phạt và từng
<small>_Tong thuật kết qua dé tài nghiên cứu “ Mol số căn cứ lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu qua của hìnhphat trong luật hình sự Việt Nam " của Viện Nghiên cứu khoa học phấp lý- Bộ Tư pháp (Hình phạt trongluật hình sự Việt Nam- Nhà Xuất bản chính trị quốc gia 1995, tr 27-42.)</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">đến tình hình phạm tội.
Trong các yếu tố dam bao và nâng cao hiệu quả của hình phat nói trên
đúng. Việc chấp hành hình phạt chỉ có điều kiện phát huy được tác dụng khiTịa án quyết định hình phạt đúng. Nếu quyết định hình phạt khơng đúng sẽ tạo
ra tâm lý hồi nghi, không tin tưởng vào pháp luật ở người phạm tội do đó việc
Những yếu tố xã hội khác đảm bảo hiệu quả của hình phạt như: Giáo dục ýthức pháp luật cho công dân, những biện pháp củng cố kết quả đạt được sau khichấp hành hình phat ...sẽ không thể phát huy được tác dụng khi quyết định hình
lý hồi nghi khi Tồ án quyết định hình phạt q nhẹ hay q nang, khơng tương
xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân
Qua sự phân tích mối quan hệ giữa những yếu tố đảm bảo và nâng cao hiệu
HÌNH PHAT.
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Cùng với những chế định khác của luật hình sự, chế định quyết định hìnhphạt cũng đã được đề cập và qui định trong luật hình sự Việt Nam trước khi Nhànước ta ban hành Bộ luật hình su . Nhung do điều kiện lịch sử và trinh độ lập
pháp cho nên nội dung của chế định quyết định hình phạt chỉ được dé cập ở mứcđộ chung chung, các qui định về các vấn dé cụ thể cịn tan mạn,do đó chưa hinh
xử của ngành Toà án , chỉ có một số vấn dé được qui định trong một các phấp
lệnh, sắc lệnh về hình sự. Vi vậy trước khi có Bộ luật hình sự chế định quyết định
hình phạt chưa hình thành một chế định riêng biệt trong luật hình sự.
Sau đây chúng tơi xin nêu khái qt một số nội dung của chế định quyết
định hình phạt đã được đề cập trong luật hình sự Việt nam trước khi có Bộ luật
<small>hình sự:</small>
Về các ngun tắc và căn cứ quyết định hình phat: Qua các qui định cu
thể của các văn bản pháp luật hình sự, chưa có sự phân biệt giữa ngun tắcquyết định hình phạt với căn cứ quyết định hình phạt. Tại Điều 10 của Sắc luậtsố 03/ SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời cộng
hịa Miền Nam Việt Nam qui định: "Khi xét xứ Toad án dựa vào lương tri cách
mạng và căn cứ vào những điều khoản của sắc luật này, vào tính chất và mức độ
nguy hại của tội phạm, vào lai lịch của kẻ phạm lội, và những tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội mà quyết định hình phạt mội cáchnghiêm minh" hoặc "Chúng ta phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy haicủa phạm pháp để phân biệt phạm pháp nặng, phạm pháp nhẹ. Chúng ta cũngcan cứ vào người phạm pháp tuổi. bản chất, có tiền án hay khơng, khả năng cải
Trích ban tổng kết và thảo luận báo cáo cơng tác ngành Tịa án Nhân dân năm 1959. Hệ thong hóa luật lệ
<small>hình su, tập 1, tr 76</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">nguyên tac quyết định hình phạt cũng được thể hiện qua mot số qui định cụ thể ởnhững khía cạnh khác nhau. Ví dị “Khi xu thì xứ đúng người, dung lội dung
dung chính sách, dung pháp luật...Hình phat phải phù hợp với chính sách. phải
lối xử lý nói chung và đường lối xử lý một số loại tội phạm và một số đối tượngphạm tội nói riêng.
tội chưa đạt và đồng phạm, quyết định hình phạt đối với người chưa thành niênphạm tội, quyết định hình phạt nhẹ hơn luật qui định, nói chung cũng đã được
hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đã qui định "Đổi với bị can cónhiều hành vi phạm pháp hoặc có một hành vi phạm pháp nhưng phạm nhiều lội,
khi xét xử nói chung trong những trường hợp thấy can thiết và có thể. Tồ án nên
phân tích và kết luận rõ đối với từng hành vi định tội và quyết định hình phat cụthể cho từng hành vi rồi quyết định hình phat chung bắt bi can phải chấp hành"
<small>(3) Thơng tư hướng dan số 556/Ttg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sự lãnh daodối với việc bat, giữ, truy tố, xét xử. Hệ thống hóa luật lệ hình sự, tap |, tr 76</small>
“ Trích han tổng kết và thao luận báo cáo cơng tác ngành Tịa án Nhân dân năm 1959. Hệ thống hóa luật
<small>lệ hình sự, tap 1, tr 76.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">hoặc "Poi với trường hợp bị can bị xử về nhiều tội, trừ khi bị xử tit hình hoặcchung thản thì hình phat tổng hợp bắt bị can phải chấp hành it nhất cũng phảibăng hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tun cho từng tơi vànhiều nhất là bằng tổng số đã tuyên cho từng toi cộng lại nhưng không duoc
định tội khi bị cáo có nhiều hành vi phạm nhiều tội (trường hop nào nên xử mộttội, trường hợp nào xử nhiều tội), khi bị cáo có một hành vi nhưng phạm nhiều
tội, cách thức tổng hợp hình phạt bằng phương pháp thu hút và phương pháp
<small>cộng toàn bộ các hinh phạt.</small>
Trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án cũng được hướng dẫn cụ
thể chia làm hai loại: Trường hop một người đang phải chấp hành một bản án mà
lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này ; trường hợp một người đangchấp hành một bản án mà lại phạm tội mới
Nói chung về nguyên tắc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án gần giốngvới qui định hiện hành của Bộ luật hinh sự.
án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người, có hướng dẫn về việcquyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nhưng chỉ ở loại tộigiết người, chưa khái quát nên được thành nguyên tắc: "Về hậu quả giết người đãthành thương bị xứ nặng hơn giết người chưa dat vì hậu quả nghiêm trong hơn.Cũng vì lễ đó trong những trường hợp giết người chưa đại. những trường hop
<small>da gây thương tích nặng thường bị xứ phạt nặng hơn những trường hợp chi gây</small>
thương tích nhẹ. Những trường hop chỉ gây thương tích nhẹ thường bị xứ phat
<small>(5) He thống hóa luật lệ hình sự, tập 1, tr 139, 140.(6) Hệ thống hóa luật lệ hình sự, tập 1, tr 28.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Đối với vấn dé quyết định hình phat trong đồng phạm chưa có van ban quiđịnh ngun tắc quyết định hình phạt, do đó chưa có cơ sở pháp lý thống nhất
để áp dụng trong thực tiễn. Chi có trong một số pháp lệnh (như Pháp lệnh trừng
trị các tội phan cách mạng ngày 30/10/1967, Pháp lệnh trừng trị céc tội xâmphạm tài san XHCN ngày 21/10/1970) có nêu ra nguyên tắc xử lý mot số loại tộiphạm trong đó có nguyên tắc đối với những vụ phạm tội có đồng phạm như
<small>sau: “Có phán biệt giữa các hình thức cộng phạm khác nhau (như nghiêm tri</small>
bọn phạm lội có tổ chức để phan biệt với các hình thức cộng phạm giản don); có
<small>phan biệt giữa các vai trị khác nhau trong cộng phạm (như nghiêm trị bọn cam</small>
ddu...); có phan biệt giữa hành vi "oa trữ" tức là hành vi chứa chấp tiêu thụcủa gian - là cộng phạm ( nếu có hứa hẹn trước) với hành vi "oa trữ"- không là
<small>cộng phạm. mà là một hành vi phạm lội riêng biệt (nếu khơng có hứa hẹn</small>
Về van đề quyết định hình phat đơi với người chưa thành niên phạmtội, chưa có văn bản pháp luật hình sự nào chính thức qui định nguyên tắc xử lý,nguyên tắc quyết định hình phat đối với người chưa thành niên phạm tội. Chỉ có
tổng kết số 452/ HS2 ngày 10/8/1970 về thực tiễn xét xử loại tội giết người:chuyên đề sơ kết kinh nghiệm xét xử các vụ án về người chưa thành niên phạm
<small>tội (kèm theo công văn số 37/NCPL ngày 16/1/1971) có nêu đường lối chung và</small>
một số vấn dé cụ thé khi xử lý người chưa thành niên phạm tội như: Độ tuổi,
mức xử phạt, nguyên tắc xử lý : “Nói chung cần truy tố, xét xử những trường hợp
giết người mà can phạm từ 14 tuổi trở lên. Tuy nhiên vì nhận thức của các can
<small>phạm con non not cho nên cần xứ phat nhẹ hơn so với người lớn. Mức hình phạt</small>
đơi với can phạm này nói chung chỉ nên từ nên từ khoảng 15 năm tà xuống. Đối
<small>với. các can phạm đã có tit 16 tuổi trịn trở lên cho đến dưới 18 tuổi mot it cũng</small>
<small>(7) Hệ thong hóa luật lệ hình sự, tap 1, tr 29,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">có thể xứ nhẹ hơn một phần so với can phạm đã lớn, và đối với tất cả các loại
Đối với trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn luật qui định cũng đã
được dé cập và hướng dẫn trong ban tổng kết thực tiễn vận dụng các tình tiết tangnang. giảm nhẹ trong cơng tác xét xử về hình sự ngày 16/1/1976 cua Toà án
Nhân dân tối cao như sau: “Về các trường hợp cần xu nhẹ. nói chung mức hìnhphat cũng nam trong phạm ví của chế tài. Nhưng cũng khơng loại trừ khả năngcó những trường hợp cá biệt mà ngay giới han tối thiểu của chế tài cũng là quá
nghiêm khắc. Trong những trường hợp ấy, Tồ án có quyền giảm nhẹ hình phạt
dưới mức tối thiểu và cũng có quyền chuyển sang mot loại hình phạt khác nhẹ
những tình tiết đặc biệt nào quyết định. Thơng thường phải là trường hợp tập
trung nhiều tình tiết giảm nhẹ đáng kể vừa thuộc về đặc điểm cụ thể của hành vi
Qua nghiên cứu lịch sử của chế định quyết định hình phạt trước khi Nhànước ban hành Bộ luật hình sự nhận thấy: Nội dung của chế định quyết định hình
sự và các văn bản hướng dẫn đường lối xét xử của Tòa án nhân dân tối cao màcòn chưa day đủ, do đó chưa hình thành một chế định độc lập trong luật hình sựViệt Nam. Phần lớn các vấn đề của chế định này chưa được quy định trong các
dưới hình thức văn bản hướng dẫn đường lối xét xử của Tịa án nhân dân tối cao,
hành Bộ luật hình sự - Bộ luật đầu tiên của Nhà nước ta . Bộ luật hình sự nướccộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thong qua ngày
27/6/1985và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1986, đã tạo cơ sở pháp lý vô cùng
quan trong trong cuộc đấu tranh phịng chống tội phạm. Việc ban hành Bộ luật
bản pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất đó là Quốc hội, do đó đã
tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất để Tòa án quyết định hình phạt cho người phạmtội. Các quy định của Bộ luật hình sự về chế định quyết định hình phat vừa dambao tính kế thừa, tính hiện thực và tinh dự báo. Sự ra đời của Bộ luật hình sự có ý
nghĩa quan trong cả về phương diện lập pháp và phương diện 4p dụng pháp luật.Từ đây các cơ quan bao vệ pháp luật đã có trong tay công cụ pháp lý quan trọng
để đấu tranh một cách có hiệu quả với tội phạm. Sự ra đời của Bộ luật hình sự
đã tạo tiên dé quan trọng để Tồ án tun một hình phạt đúng người, đúng tội,đúng pháp luật và đạt tới mức công lý.
1.3. CÁC NGUN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
Quyết định hình phạt là một giai đoạn quan trọng trong hoạt động xét xử
của Toà án, là một khâu then chốt trong cả quá trình hoạt động tố tụng hình sựcủa các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử nhằm đấu tranh chống và phòng ngừa
là những tư tưởng chỉ đạo, là sợi chỉ do xuyên suốt trong quá trinh Toà ấn ap
chê định quyết định hình phạt cùng với các nội dung khác nó phải được nhậnthức một cách đầy đủ, tồn điện va sâu sắc, nó phải được thấm nhuần trong khiấp dụng các chế tài hình sự để quyết định hình phạt. Việc nghiên cứu làmsáng to các ngun tắc quyết định hình phạt góp phần vào việc nhận thứcđược sâu sắc bản chất, nội dung của chế định quyết định hình phạt tạo tiền đề
để quyết định hình phạt đúng pháp luật.
Nếu nhận thức khơng đúng các nguyên tắc quyết định hình phạt sẽ dẫn đếnviệc 4p dụng khơng đúng các qui phạm pháp luật hình sự và do đó. dẫn đến việcquyết định hình phạt sai. Bởi vì các nguyên tắc quyết định hình phạt là nhữngnguyên lý, những tư tưởng được thể hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong
<small>các qui phạm pháp luật hình sự, mà các qui phạm pháp luật hình sự lại là căn cứ</small>
pháp lý để Toà án dựa vào đó để quyết định hình phạt. Do đó nhận thức đúngcác nguyên tắc quyết định hỉnh phạt sẽ giúp nhận thức đúng và áp dụng đúng các
<small>qui phạm pháp luật hình sự.</small>
Quyết định hình phạt là một chế định của luật hình sự, do đó mối quan hệgiữa các ngun tắc quyết định hình phạt với các nguyên tắc của luật hình sự là
chung, cịn các ngun tắc quyết định hình phạt là cái riêng. Các nguyên tắc củaLuật hinh sự là các nguyên tắc chung nhất đặc trưng cho tất cả các chế định của
<small>luật hinh sự, còn các nguyên tắc quyết định hinh phạt là nguyên tắc riêng đặc</small>
trưng cho chế định quyết định hinh phạt. Nếu như các nguyên tắc chung của luật
hình sự thi các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo chomột giai đoạn hoạt động của Tồ án trong q trình 4p dung pháp luật hinh sự,đó là giai đoạn quyết định hình phat. Do đó giữa hai loại nguyên tắc trên đềuđược tồn tại một cách khách quan và giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ vớinhau, có phần thâm nhập bổ sung cho nhau trong quá trình áp dụng pháp luật
<small>hình sự vào thực tiễn. Khi 4p dụng những qui định của luật hình sự về quyết</small>
định hình phạt phải thấm nhuần những nguyên tắc chung của luật hình sự, đồng
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">thời cũng phải xuất phat từ những nguyên tac đặc thù của chế định quyết địnhhình phạt. Có như vậy thi việc 4p dụng các qui phạm pháp luật hinh su mớichính xác và đạt hiệu quả cao.
Vậy các nguyên tắc quyết định hình phạt là gì? Nguyên tắc theo tiếng Việt
được hiểu là "điểu co bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong mot loại việc
<small>hoặc quá trinh.</small>
Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư trởng chi đạo xun
suốt q trình Tồ án áp dụng các qui phạm pháp luật hình sự để quyết định
hình phạt đơi với người phạm! tội.
Giữa các nguyên tắc quyết định hỉnh phạt với các qui định cu thể (Điềuluật) của Luật hình sự có mối quan hệ khăng khít với nhau. Trong hoạt độnglập pháp các nguyên tắc quyết định hình phạt có vai trị xác định và định hướngcho việc xây dưng các qui phạm pháp luật hình sự. Nghĩa là các qui định cụ thểtrong luật phải thể hiện được tinh thần của nguyên tắc một cách trực tiếp hoặcgián tiếp, tuyệt đối không được trái với nguyên tắc. Trong thực tiễn 4p dung luật
hình sự phải xuất phát từ tỉnh thần tư tưởng chi dao của các nguyên tắc để hiểu
đúng và áp dụng đúng qui phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống. Khi Tồ ángiải thích một Điều luật nào đó để quyết định hình phạt cũng phải xuất phát từ tư
tưởng chỉ đạo của các nguyên tắc quyết định hình phạt để giải thích cho chính
xác, cụ thể nhằm làm sáng tỏ nội dung của Điều luật.
Các qui định của luật hình sự về quyết định hình phạt là sự biểu hiện cu thểtinh thần và tư tưởng chỉ đạo của các nguyên tắc quyết định hình phat. Trong Bộluật hình sự các Điều luật thể hiện các nguyên tắc quyết định hình phạt được quiđịnh cả ở phần chung và phần các tội phạm cụ thểnhư các Điều: 2, 3, 15, 17, 20,
<small>21, 37, 38, 39, 41, 42, 59, 60, 61, 62, 63,... Như vậy nguyên tắc quyết định</small>
hinh phạt là những tư tưởng chỉ đạo được thể hiện trong các qui phạm pháp luậthinh sự.
<small>(10) Từ điển Tiếng Viet. Vien Ngôn ngữ học - 1992, tr 668</small>
Quyết định hình phạt là việc Tồ án lựa chọn hình phạt cụ thể để áp dụng đốivới người phạm tội, do đó bản chất của các ngun tắc quyết định hình phạt doban chất, mục dich của hình phạt quyết định. Bởi vì mục đích của hình phat là cáiđích cần phải đạt đến khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Do đó mụcđích này sẽ chi phối và quyết định đến việc qui định loại, mức hình phạt, bản
Các nguyên tắc quyết định hinh phat là một nội dung quan trọng củachính sách hình sự của Nhà nước ta. Do đó nội dung của các nguyên tắc quyếtđịnh hình phạt phải phù hợp với chính sách hình sự nói riêng và các chính sáchchung của Nhà nước nói chung. Chính sách hình sự cũng chỉ là một loại chínhsách của Dang và Nhà nước, muốn thực hiện có hiệu quả thì nó phải được thựchiện một cách đồng bộ trong tồn bộ chính sách chung của Nhà nước và phảiphù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Căn cứ vào tiêu chuẩn là các nguyên tắc quyết định hình phạt phải là
những tu tưởng chủ đạo (duoc qui định trực hoặc gián tiếp trong luật) quá trình
<small>Toa án áp dụng hình phạt đối với người phạm tội và các nguyên tắc đó phải phù</small>
hợp với các nguyên tắc chung của luật hình sự, chúng tơi xác định có ba nguyên
tắc quyết định hình phạt sau đây: Nguyên tắc pháp chế XHCN; nguyên tắc nhânđạo XHCN; nguyên tắc cá thé hố hình phạt.
Các ngun tắc trên tạo thành một hệ thống các ngun tắc quyết định hìnhphat mà Tồ án phải tuân thủ khi lựa chọn và xác định loại và mức hinh phat cụ
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạothành một hệ thống thống nhất. Cùng với nguyên tắc chung của luật hinh sự, cácnguyên tắc quyết định hình phạt góp phần định hướng chỉ đạo q trình áp dụngpháp luật hình sự vào cơng cuộc đấu tranh phịng chống tội phạm
1.3.1.Nguyén tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tac cơ
bản trong hoạt động của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội. Điều 12, Hiến
pháp năm 1992 qui định: “Nhà nước quan lý xã hội bang pháp luật, không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xãhội. 16 chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm
chính chấp hành Hiên pháp và pháp luật đấu tranh chống và phòng ngừa lộiphạm. các vi phạm hiến pháp và pháp luật". Nguyên tắc pháp ché xã hội chủnghĩa còn là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự. Với tính chấtlà một ngun tắc của luật hình sự, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa cũnglà một nguyên tắc quan trọng định hướng hoạt động xét xử của Tồ án khiquyết định hình phạt. Trong các nguyên tắc quyết định hình phạt thì nguyên tắcpháp chế. xã hội chủ nghĩa có vai trị quan trọng hàng đầu, vi phạm nguyên tắcpháp chế. thi cũng có nghĩa là vi phạm các nguyên tắc khác ở những mức độkhác nhau. Tư tưởng cơ bản bao trùm của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa khi quyết định hình phạt là Tồ án phải triệt để tn thủ các qui định của
<small>luật hình sự.</small>
án quyết định hình phạt qua những nội dung sau đây:
Nội dung thứ nhất của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là Tòa án chỉ
được áp dụng hình phạt đối với người đã thực hiện tội phạm. Điều 2 Bộ luật hình
<small>sự qui định rõ :“ Chi người nào phạm mội tội được luật hình sự qui định mới</small>
phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt" Sau khi đã tiến hành xét xử mộtcách công khai, Tồ án có đủ cơ sở pháp lý để kết luận hành vi của một người đãcó đủ yếu tố cấu thành mội tội phạm cụ thể được qui định trong luật hình su, thiTồ án mới có quyền áp dụng hình phạt đối với người đã thực hiện tội phạm ấy.
Nội dung thứ hai của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là khi quyết
định hình phạt Tồ án chỉ được lựa chọn và xác định những hình phạt đã được
nghiêm khắc nhất của Nhà nước được dùng để áp dụng đối với những người đã
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">thực hiện tội phạm. Do đó chỉ có luật hình sự mới được qui định loại chế tài này
để áp dụng cho người phạm tội. Như vậy khi quyết định hình phạt Tồ án không
được căn cứ vào những biện pháp cưỡng chế mà khơng phải là hình phạt và
khơng được luật hình sự qui định để áp dụng cho người phạm tội. Trong hệ
thống pháp luật của Nhà nước qui định rất nhiều loại chế tài có mức độ nghiêm
khắc khác nhau như chế tài hành chính (cảnh cáo, phạt tiền...) chế tài dân sự (buộc bồi thường thiệt hại ...) chế tài kỷ luật (cảnh cáo, buộc thôi việc ....). Trong
số các loại chế tài này thì chỉ có chế. tài luật của luật hình sự ( hình phạt) mớiđược áp dụng cho người phạm tội. Nếu trong khi quyết định hình phạt, Tồ áncăn cứ vào các chế tài khơng phải là hinh phạt để áp dụng cho người phạm tội thi
khơng đạt được mục đích của hình phạt. Trong phần chung cua Bộ luật hình sự
đã qui định cụ thể (từ Điều 21 đến Điều 32) các loại hình phạt chính và hình phạt
ap dụng đối với người đã thực hiện tội phạm đó.
định hình phạt Tồ án phải tn thủ các qui định của Bộ luật hình sự về nội dung,phạm vi, điều kiện 4p dụng các loại hình phạt. Khi qui định các loại hình phạt luật
hình sự đã qui định cụ thể nội dung từng loại hình phạt (với tính chất, mức độnghiêm khắc khác nhau) phạm vi áp dụng ( đối với những tội phạm nào 2 đối
tội phạm chỉ được tuyên một hình phạt chính hoặc chỉ được áp dụng hình phạtcải tạo không giam giữ đối với những người phạm tội ít nghiêm trọng (điều24); khơng được áp dung hình phat chung thân, tử hình đối với người chưa
phạm tội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Nội dung thứ tư của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là khi quyếtđịnh hình phạt, Tồ án phải căn cứ vào các qui định của luật hình sự về quyếtđịnh hình phạt để lựa chọn loại hình phạt cụ thể với mức độ cụ thể để áp dụngcho người phạm tội và hình phat đó phải tương xứng với tinh chat và mức độ
các tình tiết tăng nặng, giam nhẹ trách nhiệm hình su.
1.3.2. Nguyên tắc nhán đạo xã hội chủ nghĩa
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân đạo là một trong những giátrị cao đẹp. Tư tưởng nhân đạo duoc thể hiện trong mọi hoạt động của bộ máynhà nước và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực phápluật. Nhân đạo theo giải thích của từ điển tiếng Việt là " dao đức thé hiện ở sự
quyền con người, thể hiện thái độ nhân từ, đại lượng khoan dung, từ thiện đối vớicon người, thái độ chăm lo đến con người và coi con người là một giá trị tuyệtđối. Nguyên tắc nhân đạo cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của luậthình sự việt nam, nó được thể hiện trong nhiều chế định của luật hình sự như:Nguyên tắc xử lý tội phạm, quyết định hình phạt, miễn và giảm hình phạt, tráchnhiệm hình sự của người chưa thành niên v..v..
Nguyên tắc nhân đạo XHCN được thể hiện trong quá trình Toà án quyếtđịnh hinh phạt đối với người phạm tội qua những nội dung sau đây:
Nội dung thứ nhất của nguyên tắc nhân đạo xã chủ nghĩa thể hiện khi Tồ
án quyết định hình phạt đối với người phạm tội là: Khi 4p dụng hình phạt đối vớingười phạm tội Toà án thể hiện thái độ khoan hồng, đặt mục đích cải tạo, giáodục họ trở thành người có ích cho xã hội lên hàng đầu. Đây là tư tưởng rất quantrọng, nó chi phối q trình Tồ án lựa chon và xác định loại và mức hình phat
<small>(11) Từ điển Tiếng Việt. Viện Ngôn ngữ hoc - 1992, tr 702.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">cụ thê cho người phạm tội. Bởi vì trong các mục đích của hình phat thì mục dichcai tạo, giao dục người phạm tội là mục đích cơ bản nhất, chủ yếu nhất. Khiquyết định hình phat mà Tồ án q thiên về mục đích trừng trị thì việc 4p dụnghình phạt sẽ khơng đạt được mục đích. Đúng như Các Mac đã nói "Cu lịch su lanly trí đều vác nhận như nhau cái sự that là: Sự tàn nhân không đếm xia tới bất kỳsự khác biệt nào, làm cho sự trừng phat trở nên hồn tồn vơ hiệu. bởi vi sự tànnhân thủ tiêu su trừng phat với tu cách là kết qua của pháp ludt. Nhấn mạnh tutương nhân đạo, khi quyết định hình phat Toa án khơng được coi nhẹ mặt thứ hailà bao vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của cơng dân khác. Khi quyết địnhhình phạt Tịa án phải xử lý một cách hài hồ hợp lý hai mặt: Nhân đạo đối vớingười phạm tội và bảo vệ lợi ích của nhà nước và xã hội, sao cho hai mặt này phùhợp với việc đạt mục đích cải tạo, giáo dục con người và đạt được những u cầucủa cơng tác đấu tranh phịng, chống tội phạm. Hai mặt trên là một thể thốngnhất, do đó khơng được q đề cao mặt này, coi nhẹ mặt khác, đồng thời cũngkhông được đặt chúng đối lập nhau, sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt sai.
Nội dung thứ hai của nguyên tắc nhân đạo XHCN thể hiện trong khi Tồ án
thân của người phạm tội trong phạm vi luật định. Các đặc điểm tốt về nhân thân
người phạm tội thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Lao động sản xuất, công
tác, học tập, hoạt động xã hội, thái độ đối với mọi người, lối sống , công lao đóng
góp đối với Tổ Quốc .Trong các biểu hiện tốt của nhân thân kẻ phạm tội cần chú
<small>phạm tội.</small>
Nội dung thứ ba của nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa khi quyết định
hình phạt là Toà án phải cân nhắc các đặc điểm tâm, sinh lý của người phạm tội,
hình, tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ nữ cĩ thai khiphạm tội họộc khi xét xử (Điều 27); khi xử phạt tù cĩ thời han,Toa án cho ngườichưa thành niên duoc hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đãthành niên phạm tội; phạm tội do trình do lạc hậu, phạm tội vì hồn cảnh đặc biệtkhĩ khăn mà khơng do tự minh gây ra được xử nhẹ hơn...
Noi dung thứ tw của nguyên tắc nhân đao xã hội chủ nghiã là khi quyết
định hình phạt Tịa án cần lựa chọn một hình phạt cụ thể, thích hợp, đảm bảo đạt
duoc mục đích trừng trị và cải tạo, pláo dục người phạm tội.
Cá thể hĩa hình phạt là một trong những nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc
đặc thù của chế định hình phạt. Tư tưởng bao trùm của nguyên tắc này là: Khiquyết định hình phạt Tịa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xãhội của tội phạm, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹtrách nhiệm hình sự để lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng cho ngườiphạm tội sao cho hợp lý, cơng bằng và nhân đạo tạo tiền dé cho việc đạt duocmục đích của hình phạt. Nguyên tắc cá thể hĩa hình phạt địi hỏi : Dù trong khiquyết định hình phạt phải xuất phát từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa vànguyên tắc nhân đao xã hội chủ nghiã nhưng phải gắn với hành vi phạm tội cụ
thể và con người cụ thể.
Nội dung của nguyên tắc cá thể hĩa hinh phạt duoc thể hiện ở trong luật hình
dung của nguyên tắc cá thể hĩa hình phạt được thể hiện cả ở phần chung và phần
(nguyên tắc xử lý tội phạm), Điều 8 (phân loại tội phạm nghiêm trọng và tội phạm
ít nghiêm trọng), Điều 15 khỏan 3 (trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt, Điều 17 khoan 4 (nguyên tắc trách nhiệm hình sựtrong đồng phạm), từ Điều 21 đến Điều 32 (quy định hệ thống hình phat, nội
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">dung, điều kiện áp dụng các loại hình phạt) và đặc biệt nguyên tắc cá thể hóa hình
phat duoc thể hiện rõ nét và tổng hợp nhất ở Điều 37 Bộ luật hình sự quy định các
hình phat duoc thể hiện ở chế tài của các tội phạm cu thể. Việc quy định này tao
Nội dung cua nguyên tắc cá thé hóa hình phat cịn duoc thể hiện khi Tịa
quyết định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Những tư tưởng của nguntắc cá thể hóa hình phạt được thể hiện trong luật mang tính tổng quát, trừu tương,
do đó chúng khơng thể hàm chứa hết những tỉnh tiết phạm tội cụ thể do những
con người cụ thể thực hiện. Do đó, tiếp tục q trình cá thể hóa hình phạt, xuất
phát từ các quy định của luật hình sự, Tòa án sẽ đi từ cái chung đến cái cu thể đểcân nhắc các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội đã thực hiện, cân nhắc những
đặc điểm cụ thể của nhân thân người phạm tội và cân nhắc những tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt. Khi cá thể hóa hìnhphạt, Tịa án vẫn phải tn thủ các u cầu đòi hỏi của luật, cái đặc thù ở đây là
sự cụ thể hóa các quy định của luật vào trường hợp phạm tội cụ thể và con ngườicụ thể.
của Tịa án khi quyết định hình phạt. Ngược lại, cá thể hóa hình phạt của Tịa ánlà q trình đưa các quy phạm pháp luật hình sự (cá thể hóa hình phạt trong luật)vào thực tiễn. Hai mặt của quá trình thể hiện nguyên tắc này phai duoc coi trọngnhư nhau, không được xem nhẹ mặt nào. Nếu coi nhẹ mặt cá thể hóa hình phattrong luật sẽ khơng tạo ra duoc cơ sở pháp lý đúng đắn để định hướng cho Tòa ánkhi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Nguoc lại, nếu coi nhẹ mặt cá théhóa hình phạt của Tịa án thì ngun tắc cá thể hóa hình phạt khơng được thực
hiện triệt để khi quyết định hình phạt .
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Chương 2
Các ngun tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng
hoạt động xét xử của Tịa án khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Dé cu
Về góc độ Triết học căn cứ là một hiện tượng thể hiện ra như một điều kiệncần thiết, một điều kiện để tồn tại một hiện tượng khác và dùng để giải thích hiện
tượng này. Trong luật hình sự các căn cứ để quyết định hình phạt là điều kiện cần
thích làm sáng tỏ bản chất, nội dung của các nguyên tắc quyết định hình phạt nóiriêng và tồn bộ chế định quyết định hình phạt nói chung. Như vậy các căn cứquyết định hình phạt là những u cầu của luật có tính bắt buộc mà Tòa án phải
tuân thủ khi lua chon và xác định hinh phat cụ thể cho người phạm tội.
Trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước Việt nam khơng có văn bảnpháp luật hình sự nào dùng thuật ngữ "căn cứ quyết định hình phạr", thuật ngữ
này chỉ được dùng trong các Thông tư hướng dẫn, Báo các tổng kết hướng dẫn
đường lối xét xử của Tòa án nhân dan tối cao. Hiện nay Điều 37 Bộ luật hình sựqui định các căn cứ quyết định hình phạt, nhưng lai dùng với tiêu dé là "Nguyén
tắc quyết định hình phat". Đối chiếu giữa tên gọi và nội dung của Điều luật là
không phù hợp với nhau. Nội dung của Điều 37 Bộ luật hình sự chỉ ra những căncứ mà Tòa án phải tuân thủ khi quyết định hình phạt, chứ khơng phải là nhữngngun tắc quyết định hình phạt- với tính chất là những tư tưởng chỉ đạo khiquyết định hình phạt. Do đó tên gọi của Điều 37 Bộ luật hình sự hiện hành cần
dung của Điều luật.
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">Vay các căn cứ quyết dinh hình phạt là những u cầu, doi hoi có tính bat
buộc do luật hình sự qui định mà Tịa án phải tun thủ khí quyết dinh hìnhphạt doi với người phạm lội.
luật hình sự qui định, nó có tính bắt buộc chung đối với Tòa án khi áp dụng hinhphạt đối với người phạm tội .
hình phạt.
Theo qui định của Điều 37 Bộ luật hình sự hiện hành thì các căn cứ quyếtđịnh hình phạt bao gồm: 1. Các qui định của Bộ luật hình sự; 2. Tính chất, mức độ
tiết tang nang, giảm nhẹ trách nhiệm hình su.
Để có thể áp dụng chính xác những căn cứ trên đây khi quyết định hình phạt
cũng như mối liên hệ giưã những căn cứ này với nhau. Các căn trên vừa có tính
quyết định hình phạt.
Về căn cứ quyết định hình phạt, Bộ luật hình sự của một số nước cũng qui
Điều 57, chương IV của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa qui
vào những qui định có liên quan trong Bộ luật hình sự "."Khi có các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ đã được qui định trong Bộ luật hình sự cần phải cân nhắc, đánhgia chúng trong khi ra bản án trong phạm vi khung hình phat mà luật pháp qui
dinh"(Diéu 58). Hoặc trong Điều [ Bộ luật hình sự của Thụy Điển qui định” Hình
phạt được quyết định căn cứ vào kết qua xét xử và khung hình phạt áp dụng, tùy
quyết định hình phạt, miễn và giảm hình phạt).
Qua việc qui định các căn cứ quyết định hình phạt của Bộ luật hình sự của
Trung Quốc và Thụy Điển cho thấy: Dù qui định căn cứ này hoặc căn cứ khác
nhưng trong luật đã chỉ rõ những cơ sở pháp lý cụ thể mà Tòa án phải tuân thủ khi
quyết định hình phạt, đây là yêu cầu cao nhất mà Tòa án phải tuân thủ khi lựa
chọn và xác định cho người phạm tội một hình phạt cụ thể. Trong các căn cứ đểquyết định hình phạt thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
bao giờ cũng là căn cứ có tính quyết định để Tòa án cân nhắc khi quyết định hìnhphạt. Trong Bộ luật hình sự của Trung Quốc qui định rõ các tinh tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chỉ có giá trị tăng, giảm trong phạm vi khung hìnhphạt đã được xác định. Qui định này giống với qui định của Bộ luật hình sự Việt
Sau đây chúng tơi phân tích nội dung, bản chất, ý nghĩa pháp lý của từngcăn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 37 Bộ luật hình sự:
2.1. CĂN CU THỨ NHẤT - CÁC QUY. ĐỊNH CUA BỘ LUẬT HÌNH SỰ.
Đây là một căn cứ có tinh bao trùm, căn cứ này bao dam cho việc thực hiệnnguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Tịa ấn khiquyết định hình phạt nói chung, đồng thời nó bảo đảm tính thống nhất và tínhpháp chế trong khi áp dụng các căn cứ khác. Căn cứ này có tính chất "địnhhướng” và "định tinh" cho việc quyết định hình phạt cũng như cho việc vận dụngcác căn cứ khác. Bởi vì các căn cứ khác ở mức độ này hay mức độ khác cũng đề
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">được cụ thể hóa trong các các quy định của luật hình sự. Khi quyết định hình phatthi các quy định của luật bao giờ cũng là tiêu chuẩn pháp lý cao nhất để dam baocho Toa án quyết định được một hình phạt đúng, tạo kha năng lớn nhất để đạt
được mục đích của hinh phạt.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự tức là căn cứ vào các quy định
trong ca phần chung và phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Xét về giai đoạn
quyết định hình phạt trong hoạt động xét xử,Tòa án phải căn cứ vào những nhómquy định sau đây của Bộ luật hình sự :
Nhóm quy định chung về trách nhiệm hình sự bao gồm: Cơ sở của tráchnhiệm hình sự (Điều 2); Nguyên tắc xử lý (Điều 3); Hiệu lực của Bộ luật hình sựvề thời gian và không gian (Điều 5, Điều 6, Điều 7); Về tội phạm (Điều 8); lỗi(Điều 9, Điều 10); Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (Điều 11, Điều
12, Điều 13, Điều 14); Trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm lội,
phạm tội chưa đạt (Điều 15); Đồng phạm (Điều 17).
Nhóm các quy định chung về hình phạt và quyết định hình phạt bao gồm : Mụcđích của hình phạt (Điều 20); Nội dung, điều kiện, phạm vi áp dụng các loại hình
phạt (từ Điều 21 đến Điều 32); Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiềutội hoặc tổng hợp hinh phat của nhiều bản án (Điều 41, Điều 42, Điều 43); Các
quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, Các quy định đối với quân nhânphạm tội.
Nhóm qui định chung về miễn hình phạt ở Điều 48, khoản 2, Bộ luật hình sự .
căn cứ của ban an.
pháp lý để miễn trách nhiệm hình sự hoac miễn hình phạt cho người phạm tội hay
phạt đối với người phạm tội?
phép áp dụng đối với người phạm tội.
XÃ HỘI CUA TOI PHAM.
Cân nhắc tinh chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là sự đánh
do" nguy hiểm cho xã hội phản ánh ranh giới nào trong các ranh giới nêu trên củatội phạm nói chung? Nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự cho thấy,
khơng có quy định cụ thể nào xác định ranh giới giữa tính chất và mức độ nguyhiểm cho xã hội của tội phạm. Còn trong giới khoa học pháp lý hiện nay có ba
loại ý kiến khác nhau về vấn đề này :
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: Giữa các nhóm tội này với các nhóm tội
khác, giữa các tội phạm trong cùng một nhóm; giữa những trường hợp phạm tội ởcác khung hình phạt khác nhau trong cùng một tội phạm là có sự khác nhau về
tính chất nguy hiểm. Còn giữa những trường hợp phạm tội khác nhau trong cùngmột khung hình phạt của mot tội phạm cu thé chỉ khác nhau về mức độ nguyhiểm.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng : Giữa các nhóm tội này với các nhóm tội khác;giữa các tội trong cùng một nhóm là có sự khác nhau về tính chất nguy hiểm. Còn
Loại ý kiến thứ ba cho rằng : Chỉ có giữa các nhóm tội phạm này với cácnhóm tội phạm khác là có sự khác nhau về tinh chất nguy hiểm. Còn giữa các tội
<small>trong cùng một nhóm, giữa các khung hình phạt trong cùng một tội và giữa các</small>
trường hợp phạm tội trong cùng một khung hình phạt chỉ có sự khác nhau về mức
Chúng tôi đồng tỉnh với ý kiến thứ nhất cho rằng : Giữa các khung hình phạt
<small>trong cùng một tội (như khung | với khung 2 hoặc khung 3...), giữa các tội trong</small>
cùng một nhóm (như tội cướp với tội trộm...), giữa các nhóm tội với nhau (nhưgiữa nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia với nhóm tội xâm phạm các quyềntự do dan chủ của cơng dan...) là có sự khác nhau về chất. Còn đối với các trường
”” Xem Lê Cam- Về bản chất pháp lý của " qui phạm nguyên tắc quyết định hình phat” tại điều 37 BLITS
<small>Việt Nam- Tạp chí Tòa an nhân dân số I+2-1989,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><small>hợp phạm tội khác nhau trong cùng một khung hình phạt thi khơng có sự khác</small>
Khi nhà làm luật xác định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thông
qua việc xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể (bao gồm cấu thành tội phạm cơ
ban, cấu thành tội phạm tang nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ) đã dự liệu ởnhững loại cấu thành tội phạm đó những loại và mức hình phạt nhất định tươngxứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó. Vi vậy khi quyết định hình
phạt Tịa án phải xem xét một cách khách quan tồn diện tất cả những tình tiết cóliên quan để đánh giá, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm duoc xác định bởicác tình tiết sau đây : Tính chất của quan hệ xã hội (là khách thể của tội phạm) bị
xâm hại hoặc đe dọa bị xâm hại; tính chất của hành vi khách quan, trong đó bao
gồm cả tính chất của phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội: tính
chất và mức độ của hậu quả tội phạm; tính chất và mức độ lỗi; mục đích, động cơcủa người có hành vi phạm tội; hồn cảnh chính trị- xã hội lúc và nơi xảy ra hành
<small>xã hội của tội phạm, còn khi xây dựng luật nhà làm luật dã đánh giá và xác định tính chất nguy hiểm choxã hội của tôi phạm thông qua việc xây dung các cấu thành tội phạm cụ thể. Bởi vì khi quyết định hình phạtTịa án chỉ lựa chon và xác định loại hình phạt cu thể với mức độ cụ thể để tuyên cho người phạm tội trongphạm vi một khung hình phạt. Cịn việc định tội danh vã xác định khung hình phạt khơng thc phạm vicủa quyết định hình phat. Do đó ý kiến này cho rằng Điều 37 qui định khi quyết định hình phạt Tịa án căncứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vị phạm toi dé quyết dinh hình phat là khơng</small>
<small>chính xác (xem Ngun Ngọc Hịa- Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam- Tạp chí Tịa án nhândan số 1-1993.)</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">vi phạm tội; nhân thân của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội; những tình tiếtlang nặng, giảm nhẹ khác.
2.3. CAN CU THỨ BA - NHÂN THÂN NGƯỜI PHAM TOI
Nhân thân người phạm tội không những là đối tượng nghiên cứu của khoahọc luật hình sự mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
<small>như: Tội phạm hoc, xã hội học... Nhân thân là phạm trù xã hội phức tap, duoc</small>
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc và mục đích nghiên cứu củatừng ngành khoa học cụ thể. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, nhân thân đượcnghiên cứu với tính chất là một căn cứ để quyết định hình phạt.
Nhân thân bao gồm nhiều mặt, thể hiện những đặc điểm, đặc tính xã hộikhác nhau, thể hiện tính cá biệt và tính khơng lặp lại của mỗi con người cụ thể.Đúng như Mác nói : "Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hitu củacá nhân riêng Diệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
Trong khoa học luật hình sự, nhân thân người phạm toi là tổng hopnhững đặc điểm mang tính chất xã hội của người phạm tội, mà những đặc điểm
này có anh hưởng đơi với việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phathoặc tha miên trách nhiệm hình sự hay hình phạt.
Khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội với tính chất là một căn cứ đểquyết định hình phat, cần làm sáng tổ những vấn dé sau đây :
2.3.1. Giữa hai căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tôi
phạm với nhân thân người phạm tội thì căn cứ nào có tính quyết định ?
cho xã hội của tội phạm. Bởi vì, hình phạt với tính chất là một chế tài nghiêm
1! Mắc - Ang- ghen tuyển tap, tập |, NXB Sư thật, Hà Nội, 1980, tr 257
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">khác nhất của Nhà nước luôn luôn là hậu quả pháp lý của tội phạm chứ khôngphái là hậu qua pháp lý của nhân thân người phạm tội. Hơn nữa, tội phạm còn làthước đo duy nhất của trách nhiệm hinh sự, là cơ sở để luật quy định loại và mức
hình phạt cho mỗi tội phạm . Mặc dù tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm là căn cứ có tính quyết định nhưng khi quyết định hình phạt, Tòa ánphải thấy đựơc mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, hỗ
<small>trợ cho nhau giữa hai căn cứ. Tội phạm là một hiện tượng khách quan, còn nhân</small>
thân người phạm tội là một hiện tượng chủ quan. Nếu như hiện tượng khách quanquyết định quá trình lựa chọn loại và mức hinh phat cu thể cho người phạm tội,thi hiện tượng chủ quan cũng có ảnh hưởng đến q trình lựa chọn đó. Bởi vì giữahành vi phạm tội với những đặc điểm thuộc về nhân thân của người thực hiệnhành vi đó ln ln có một quan hệ qua lại, trong một số trường hợp, những đặcđiểm thuộc về nhân thân quyết định việc thực hiện hành vi phạm tội .
2.3.2. Phan biệt những dấu hiệu đặc trưng cho chủ thể của tội phạm với
Mặc dù đều gắn với một con người cụ thể đã thực hiện tội phạm, nhưng khái
niệm chủ thể của tội phạm và khái niệm nhân thân người phạm tội là hai khái
niệm hoàn toàn khác nhau. Chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu
thành tội phạm - cơ sở của trách nhiệm hình sự. Các dấu hiệu của chủ thể tội
phạm như : Tuổi, năng lực trách nhiệm hinh sự (hoặc các dấu hiệu đặc trưng cho
chủ thể đặc biệt của tội phạm như : giới tính, quốc tịch, chức vụ, qun hạn...) có
vai trị là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm - cơ sở củaviệc định tội danh. Cịn nhân thân người phạm tội khơng phải là một trong bốnyếu tố cấu thành tội phạm mà chỉ là một trong những căn cứ quyết định hình phạt.
Các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội như : Tiền án, tiền sự, hồncảnh gia đình, thành phần xã hội,... có vai trị trong việc cá thể hóa hinh phạt đối
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><small>| Z ~ ` , s. . ” Pony</small>
với người phạm tội.
phạm tội được quy định là dấu hiệu bat buộc để định tội danh thì khong duoc cânnhác chúng (với tính chất là những đặc điểm thuộc về nhân thân) khi quyết định
<small>hinh phat.</small>
xem xét, cân nhac, đánh giá khi quyết định hình phạt ?
Những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có rất nhiều, nhưng
khơng phải tất cả những đặc điểm đó đều được cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Theo chúng tơi, tiêu chuẩn để xác định đặc điểm nào thuộc về nhân thân người
phạm tội cần phải được xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt phải dựa vàomột trong hai tiêu chí sau đây :Một là những đặc điểm thuộc về nhân thân ngườiphạm tội có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội; hai là những đặc điểmthuộc về nhân thân người phạm tội có liên quan đến việc đạt được mục đích củahình phạt.
Dựa vào hai tiêu chuẩn trên có thể phân chia các đặc điểm thuộc về nhân
thân người phạm tội cần đựơc cân nhắc xem xét khi quyết định hình phạt thanh ba
<small>nhóm sau đây :</small>
a. Nhóm những đặc diém thuộc về nhân than người phạm tội có ảnh
hướng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Đây là những đặc điểm
mà khi có ở người phạm tội thi làm tăng họăc giảm mức độ nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm. Những đặc điểm này được luật quy định thành những tỉnh tiếtđịnh khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như :Phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chunnghiệp, tự thú, thật thà hối cải, lập cơng chuộc tội...
b. Nhóm những dặc điểm thuộc về nhan than người phạm tội phản ảnh
kha năng cải tạo giáo duc họ trở thành người có ích cho xã hội. Day là những
i) Trong một số cấu thành tội phạm của BLHS có qui định dấu hiệu nhân thân là tinh tiết dinh tội như tội<small>kinh doanh trái phép (Điều 168), Tôi trốn thuế (Điều 169), Tội lừa dối khách hành (Điều 170) v.v..</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">đặc điểm có liên quan đến việc đạt được mục đích của hình phạt. Cân nhắc nhữngđặc điểm này dam bao cho Tòa án lựa chọn được hình phạt cụ thể cho ngườiphạm tội sao cho tạo khả năng lớn nhất để đạt được các mục đích của hinh phat.Những đặc điểm thuộc nhóm này bao gồm : Thành phần xã hội, nghề nghiệp, tháiđộ đối với lao động, thái độ chính trị, điều kiện hồn cảnh sinh sống của ngườiphạm tdi...
hoàn cảnh đặc biệt của họ. Cân nhắc những đặc điểm thuộc nhóm này khi quyếtđịnh hình phạt giúp cho Tịa án lựa chọn được hình phạt cụ thể sao cho hình phạtđó có tính thực tế, tính khả thi, phù hợp với các quy định của luật hình sự và tạođiều kiện, kha năng lớn nhất để dat duoc mục dich cải tạo giáo dục họ. Những đặc
điểm thuộc nhóm này bao gồm : Những người mắc bệnh hiểm nghèo, người già
yếu, phụ nữ có thai hay đang ni con nhỏ, là người có hồn cảnh đặc biệt khó
nhiệm hinh sự và nhân thân người phạm tội cũng là một trong những cơ sở để
đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, trong số các
tinh tiết tang nặng và giảm nhe trách nhiệm hình sự có những tỉnh tiết thuộc về
nhân thân người phạm tội. Do vậy, nếu xem xét, cân nhắc một cách tổng thể các
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">căn cứ quyết định hình phạt thì căn cứ thứ tư này đã thuộc về một phần nội dungcủa căn cứ thứ hai và căn cứ thứ ba.
Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết
Nghiên cứu các tỉnh tiết tăng nang , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tinhchát là một căn cứ để quyết định hình phạt theo chúng tôi cần làm sáng tỏ những
Trong khoa học luật hình sự đã xác định ba loại tinh tiết có ý nghĩa về pháp
lý hình sự để xác định và đánh giá tội phạm đó là : Tình tiết định tội, tỉnh tiết định
và đánh giá đúng đắn trách nhiệm hình sự của người phạm tội, các cơ quan điềutra, truy tố và xét xử phải xác định được chính xác, đầy đủ ba loại tình tiết trên.
Tình tiết định tội là tỉnh tiết nêu lên dấu hiệu đặc trưng, điển hình của một
loại tội phạm nhất định, phản ảnh bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
đó, là cơ sở, ranh giới để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Ví dụ :“Người nào dùng vũ lực, de dọa dùng ngay tức khắc vũ lực họác có hành vi kháclàm cho người bị tấn cơng lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm
Tình tiết định khung là tinh tiết phan ánh tính nguy hiểm cho xã hội cua tộiphạm tăng lên hoặc giảm xuống đáng kể so với trưởng hợp bình thường (cấuthanh tội phạm cơ bản) trong phạm vi một tội phạm cụ thể ; tinh tiết định khung
là cơ sở, là ranh giới để phân biệt mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tôi
phạm trong phạm vi một tội phạm cu thể, do đó nó là dấu hiệu bat buộc của cấuthành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ của tội phạm đó.
Có hai loại tình tiết định khung : Tình tiết định khung giảm nhẹ và tỉnh tiếtđịnh khung tăng nặng. Tinh tiết định khung tang nang là tinh tiết phan ánh mứcđộ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên so với trường hợp bìnhthường (cấu thành tội phạm cơ bản) trong phạm vi một tội phạm cu thể, vi vaytinh tiết định khung tăng nặng là dấu hiệu bat buộc của cấu thành tội phạm tăngnặng của tội phạm đó. Ví dụ : tinh tiết “Có 16 chức hoặc có tính chất chunnghiệp” là tinh tiết định khung tăng nặng của tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩađược quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 129 Bộ luật hình sự. Tình tiết định khunggiảm nhẹ là tinh tiết phản ánh mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạmgiảm xuống so với trường hợp bình thường (cấu thành tội phạm cơ bản) trongphạm vi một tội phạm cu thể, vì vậy tỉnh tiết định khung giảm nhẹ là dấu hiệu bắtbuộc cua cấu thành tội phạm giảm nhẹ của tội phạm đó. Ví du: “Pham tdi trongtrạng thái tinh than bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trong củanạn nhân doi với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó” làtinh tiết định khung giẩm nhẹ của tội giết người được quy định tại khoản 3 Điều
101 Bộ luật hinh sự.
Tình tiết tăng nặng và giảm nhe trách nhiệm hình sự là tinh tiết phan ảnh tộiphạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên hodc giảm xuống trong phạm vimột khung hinh phạt. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sựkhông được quy định trong các cấu thành tội phạm cụ thể ma quy định trongphần chung của Bộ luật hình sự, Điều 38 quy định các tỉnh tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự, Điều 39 quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
</div>