Tải bản đầy đủ (.pdf) (188 trang)

Luận án tiến sĩ Luật học: Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (46.06 MB, 188 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUAN AN TIEN SI LUAT HOC

| Người hướng dan khoa học: 1. TS. Lê Thi Son

2. TS. Nguyễn Văn Hiện

| HÀ NỘI - 2000

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là cơng trình

nghiên cứu của riêng tơi. Các kết quả nêu

trong luận án là trung thực và chưa từng

được ai cơng bố trong bất kỳ cơng trình

nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Quang Tiệp

Ñ

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

NHUNG TU VIET TAT TRONG LUẬN AN

1. ANQG — : Anninh quốc gia

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

IILelals11.2.1.2.1.2.1.| Petes| eae1.2.4.1.2.5,

Chương 3: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG ĐỒNG PHAM

Trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạmhoàn thành

38102114114

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham

gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm

Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự của những

người đồng phạm

Trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm

chưa hồn thành

Trách nhiệm hình sự đối với người thực hành trong các

giai đoạn thực hiện tội phạm

Trách nhiệm hình sự đối với người xúi giục trong cácgiai đoạn thực hiện tội phạm

Trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong cácgiai đoạn thực hiện tội phạm

Trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức trong các

giai đoạn thực hiện tội phạm

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

166170 -174180

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi

xướng và lãnh đạo từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986)đến nay đã giành được những thắng lợi to lớn và quan trọng, đưa đất nước ta

thốt khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã hội, giữ vững thế ổn định

và phát triển. Sự nghiệp đó đang được triển khai ngày càng sâu rộng, tạođiều kiện thuận lợi để nước ta chuyển sang thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện

đại hóa, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn cịn khơng ít

những hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội, trong đó tình hình tội phạm

nói chung, tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm nói riêng đang có xu

hướng gia tăng, len lỏi vào các cơ quan nhà nước ở các cấp, các ngành, trên

nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước và xã hội. Các vụ án có đồng phạm chiếm

tỷ lệ cao trong nhóm các tội xâm phạm ANQG, nhóm các tội phạm về thamnhững, bn lậu; tội cướp tài sản của công dân và tội gây rối trật tự công

cộng. Đáng chú ý, số vụ án đặc biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG hoặc gây

thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản XHCN, thời gian phạm tội kéo dài, liên

quan đến nhiều đối tượng có chức vụ ở các cơ quan, tổ chức khác nhau, gây

ảnh hưởng xấu về chính trị đều được thực hiện bằng hình thức phạm tội này.

Trong đồng phạm, sự tập trung sức lực, trí tuệ, sự phối hợp, tương

trợ lẫn nhau giữa những kẻ phạm tội cho phép chúng không chỉ thực hiện

tội phạm một cách thuận lợi, mà trong nhiều trường hợp có thể gây ranhững thiệt hại nghiêm trọng hơn, dễ dàng che giấu dấu vết của tội phạm đểtránh khỏi sự điều tra, khám phá của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Về mặt

tâm lý, những kẻ đồng phạm do dựa dẫm vào nhau nên quyết tâm phạm tội

thường là cao hơn so với các trường hợp phạm tội riêng lẻ. Chúng cũng

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

thường là những tên có nhân thân xấu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, cókhả năng lơi kéo nhiều người vào hoạt động phạm tội.

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử từ khi thi hành BLHS năm 1985

hiện hành (ngày 1-1-1986) đến nay cho thấy, do chưa có sự nhận thức

thống nhất về bản chất pháp lý của chế định đồng phạm, cho nên các cơquan bảo vệ pháp luật vẫn cịn bị lúng túng, mắc phải thiếu sót trong việcgiải quyết một sơ vụ án có đồng phạm. Thực tiễn cơng tác đấu tranh phịng,chống tội phạm cũng đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa họcluật hình sự phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về mat lý luận như: khái niệm

đồng phạm, người đồng phạm, các loại người đồng phạm, các hình thứcđồng phạm và cơ sở phân loại chúng, trách nhiệm hình sự trong đồng phạm,các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, tự ý nửa chừng chấmđứt việc phạm tội trong đồng phạm. Trong khi đó, chế định đồng phạm lạilà một trong những chế định phức tạp của luật hình sự mà xung quanh nó vềmặt lý luận, vẫn cịn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách tồn diện và có hệ thống những

vấn đề lý luận, cũng như thực tiễn áp dụng của chế định đồng phạm, để trên

cơ sở đó giải quyết các vướng mắc về đồng phạm mà thực tiễn xét xử đã đặt

ra, góp phần hướng dẫn thi hành quy định của BLHS về đồng phạm, đảm bảo

sự nhận thức thống nhất và đúng đắn các quy phạm pháp luật hình sự của chế

định này là vấn đề mang tính cấp bách, khơng những có ý nghĩa quan trọngvề mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.

2. Tình hình nghiên cứu

Đồng phạm là một đề tài có nội dung phong phú và phức tạp nên

được các nhà hình sự học trên thế giới và trong nước quan tâm.

Các nhà hình sự học Xơ viết trước đây đã có nhiều cơng trìnhnghiên cứu về đồng phạm như P.Ph. Tennốv nghiên cứu về trách nhiệmhình sự trong đồng phạm; Ph.P. Burơtrắc nghiên cứu về những vấn đề tội

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

phạm học, xã hội học của đồng phạm; E.A. Kharsác nghiên cứu về đồngphạm đối với vị thành niên ... GS.TS V. Xơnagiơ đã có cơng trình nghiên

cứu về đồng phạm trong luật hình sự của Tiệp Khác; nhà hình sự học Lý

Quang Xán cũng đã nghiên cứu về đồng phạm trong luật hình sự Trung

Quốc. Trong các cơng trình trên, đồng phạm đã được nghiên cứu từ góc độ

của xã hội học, tội phạm học, khoa học luật hình sự trên cơ sở quan điểm

lập pháp hình sự và thực tiễn áp dụng luật hình sự của mỗi nước.

Ở nước ta, một số nhà hình sự học đã nghiên cứu về chế định đồng

phạm. D6 là những cơng trình nghiên cứu của các tác gia như:

- Vấn đề đồng phạm (Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1986) của luật gia Đặng

<small>Văn Doãn.</small>

- Khái niệm người thực hiện tội phạm và khái niệm người đồng

phạm (Tạp chí Luật học, số 1/1995, Trường Đại học Luật Hà Nội); Về cácgiai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm (Tạp chí Luật học, số 3/1998,

Trường Đại học Luật Hà Nội) của TS Lê Thị Son.

- Một số hình thức đặc biệt của tội phạm (trong sách Tội phạm học,luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1995); Đồng phạm (trong sách Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Nxb Cơng an nhân dân, Hà Nội, 1991) của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa.

- Về chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam - một số vấnđề lý luận và thực tiên (Tập san Tòa án nhân dân số 2/1988); Chế định đồng

phạm (trong sách Hồn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn

xây dựng Nhà nước pháp quyền - Một số vấn đề cơ bản của Phần chung.

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999); Dinh tội danh đốt với tội phạm có

đồng phạm (trong sách Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật

hình sự, tập I. Nxb Cơng an nhân dân, Hà Nội, 1999) của TSKH Lê Cảm.

- Quyết định hình phat trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạmtội chưa đạt và đồng phạm (trong sách Tội phạm học, luật hình sự và luật tố

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

tang hình sự Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995) của TS VõKhánh Vĩnh...

Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến một số khía cạnhcụ thể của đồng phạm, chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc,tồn diện, có hệ thống về đồng phạm dưới góc độ của luật hình sự ViệtNam. Vì vậy, đồng phạm vẫn đang là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứumột cách sâu sắc hơn trong khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn

áp dụng luật hình sự ở nước ta.

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của

<small>luận án</small>

* Mục đích:

Trước u cầu của cuộc đấu tranh phịng, chống tội phạm nói chungvà tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm nói riêng, mục đích của luậnán này là làm sáng to về mặt lý luận một cách có hệ thống và tồn diệnnhững vấn đề về đồng phạm, để từ đó góp phần giải quyết các vướng mắc

liên quan đến việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về đồng phạm

<small>` tA 9 + 4</small>

va nâng cao hiệu qua của nó.

* Nhiệm vu:

Với mục đích trên, tác giả luận án đặt ra cho mình các nhiệm vụ chủ

yếu sau đây:

Về mặt lý luận: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chế định

đồng phạm trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Làm sáng tỏ bản chấtpháp lý của chế định đồng phạm trong luật hình sự nước ta, đồng thời sosánh với các quy phạm tương ứng của chế định này trong luật hình sự củamột số nước trên thế giới.

Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm

pháp luật hình sự của chế định đồng phạm trong thực tiễn xét xử; đồng thời,

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

trên c7 sở những vướng mắc, thiếu sót mà thực tiễn xét xử đã đặt ra để phân

tích vì mặt lý luận và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp

dụng sác quy phạm pháp luật hình sự về đồng phạm.

* Đôi tượng nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu chế định đồng phạm mà cụ thể là các vấn đề

như: khái niệm đồng phạm, khái niệm người đồng phạm, các loại người

đồng phạm; các hình thức đồng phạm và cơ sở phân loại chúng; trách nhiệmhình sự đối với đồng phạm hoàn thành và đồng phạm chưa hoàn thành, tự ý

nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của những người đồng phạm và việc áp

dụng các quy phạm của chế định đồng phạm trong thực tiễn xét xử.* Pham vi nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu các vấn đề nêu trên của chế định đồng phạm

dưới góc độ luật hình sự đúng như tên gọi của luận án.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lénin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng ta về Nhà nước,pháp luật, tội phạm và hình phạt; những thành tựu của các khoa học: Triếthọc, luật hình sự, lơgic hoc, lich sử các học thuyết chính tri và pháp lý...

Luận án được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sựcủa Nhà nước, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự, các bảnán, quyết định hình sự của Tịa án nhân dân các cấp, các tài liệu pháp lýkhác ở trong và ngoài nước.

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứngvà chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án đặc biệt coi trọng các phương pháp hệ

thống, lịch sử, lơgíc, phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo, kết hợp vớiphương pháp điều tra xã hội học để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệmthực tiễn ở trong và ngoài nước.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

5. Những đóng góp mới của luận án

Đây là cơng trình chun khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sựViệt Nam nghiên cứu một cách tồn diện và có hệ thống chế định đồng

phạm, cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự của chếđịnh này. Trên cơ sở đó, tác giả luận án đã đưa ra các luận điểm khoa học

về chế định đồng phạm và một số quy định có liên quan đến chế định này

trong pháp luật hình sự Việt Nam, cũng như những giải pháp nhằm nâng caohiệu quả áp dụng các quy phạm tưong ứng. Trong luận án này, lần đầu tiên:

1- Hệ thống hóa sự hình thành va phát triển các quy phạm pháp luậthình sự Việt Nam về đồng phạm; phân tích nội dung cụ thể của chế định

này trước yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay.

2- So sánh, đối chiếu chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt

<small>Nam với chế định đồng phạm trong luật hình sự của một số nước trên thế</small>

giới, để từ đó vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự của các

4. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, làm sáng tỏ về mặt lý luậncác quy phạm của chế định đồng phạm và một số chế định có liên quan,

đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy

phạm của chế định này trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa lý luận và thựctiễn quan trọng dưới đây:

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Về lý luận: Luận án là cơng trình nghiên cứu lý luận đầu tiên đề cậpđến việc làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệ thống chế định đồng

phạm trong luật hình sự Việt Nam với những đóng góp mới về mặt khoa

học đã được nêu trên. Trong quá trình viết luận án, tác giả đã công bố

những kết quả nghiên cứu trong các tạp chí chuyên ngành (Tự ý nứa chừngchấm dứt việc phạm tdi trong đồng phạm. Tạp chí Cơng an nhân dân, số1/1997, Viện Khoa học Công an, Hà Nội, 1997, tr. 31-33; Hoàn thiện chếđịnh liên quan đến tội phạm trong luật hình sự Việt Nam hiện nay. Tạp chíTịa án nhân dân, số 5/1998, Hà Nội, 1998, tr. 7-8; Khái niệm tội phạm có tổ

chức. Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/1999, Hà Nội, 1999, tr. 32-34; Hồn

thiện quy định của Bộ luật hình sự về xúi giục thực hiện tội phạm. Tạp chí

Tịa án nhân dân, số 4/1999, Hà Nội, 1999, tr. 14-16...) và những kết qua đó

đã được tham khảo trong q trình xây dựng BLHS mới.

Về thực tiễn: Luận án góp phần vào việc xác định đúng đắn cáctrường hợp đồng phạm trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử, cũng nhưviệc áp dụng một cách chính xác các quy phạm pháp luật hình sự của chế

định đồng phạm nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phịng, chống tội phạmnói chung và các tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm nói riêng.

Ngồi ra, luận án có thể được sử dụng với tính chất làm tài liệu

tham khảo trong cơng tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sởđào tạo bậc đại học về chuyên ngành luật và các viện nghiên cứu về khoa

học pháp lý.

7. Bố cục của luận án

Luận án có 173 trang. Ngồi phần mở dau, kết luận, phụ lục và danh

mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 chương với 8 mục.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Chương I

KHÁI NIỆM DONG PHAM

VÀ CÁC LOẠI NGƯỜI DONG PHAM1. 1. KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ

1.1.1. Khái niệm đồng phạm

Một tội phạm cụ thể có thể do một người thực hiện, nhưng cũng cóthể do nhiều người thực hiện. Khi tội phạm do nhiều người thực hiện có thể

có đồng phạm, cũng có thể chỉ là trường hợp những người thực hiện tội phạm

đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau. Khi nào có đồng phạm,khi nào khơng có đồng phạm, vấn đề phụ thuộc vào nhận thức, quan niệm

về đồng phạm như thế nào trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.

Trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, Quốc triều hình luật (Bộluật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhàLê nước ta (1428-1788) đã đề cập đến vấn đề đồng phạm tại các Điều 35,

36, 116, 411, 412, 454, 469, 539. Bộ luật không quy định khái niệm về

đồng phạm. Tính đồng phạm mới được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tệi

phạm: "Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu,

người a tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả người trong một nhà cùng

phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng" [39, 46]. Phạm vi đồng phạm không

những bao gồm người khởi xướng, kẻ chủ mưu, người a tòng, thủ phạm,

tòng phạm, kẻ đồng mưu, kẻ xúi giục mà còn bao gồm cả những ngườithuộc phạm trù liên quan đến tội phạm như quy định tại Điều 412: "Nhữngkẻ mưu phản nước theo giặc thì xử chém, nếu đã hành động thì xử tội bêuđầu, kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội [39, 153].

Hồng Việt luật lệ (Luật Gia Long) được khắc in lần đầu năm 1812.

Mặc dù chịu ảnh hưởng Luật Thanh Triều khá nặng nề, nhưng nhiều điềuluật, trong đó có các điều luật quy định về đồng phạm vẫn tiếp thu quy định

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

của Bộ luật Hồng Đức mà khơng có bước tiến đáng kể nào về kỹ thuật lập

pháp. Ví dụ: Điều 29 quy định "Phàm cùng phạm tội thì lấy người tạo ý đầu

tiên làm thủ, những người tùy tùng giảm một bậc. Nếu mọi người trong mộtnhà cùng phạm tội thì buộc tội một mình tơn trưởng” [30, 181].

Từ năm 1858 đến trước Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp xâmlược nước ta cho nên hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự của

nước ta nói riêng lúc đó chịu ảnh hưởng tư duy pháp lý của hệ thống pháp

luật châu Âu lục địa. Hồng Việt hình luật được ban hành ngày 3-7-1933

chỉ có hiệu lực ở miền Trung, đã có hẳn chương IX quy định về chế định

đồng phạm với tên gọi: Nhiều người đồng một tội đại hình hoặc trừng trị -

tùng phạm. Tuy nhiên, Bộ luật này cũng khơng có khái niệm về đồng phạm.Tính đồng phạm vẫn chỉ dừng ở nguyên tắc trừng trị tội phạm: “Khi nào

nhiều người đồng can một tội đại hình hoặc trừng trị mà xét rõ là đáng tội,

quan tòa án phải xét trong những người ấy hoặc một người hoặc nhiềungười là chánh yếu phạm, còn những người khác thời cho là tùng phạm, mà

nghĩ xử tội bằng phần nửa tội người chánh yếu phạm” [7, 273].

Sau Cách mạng tháng Tám, chế định đồng phạm tiếp tục hình thành

và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật

nước ta nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Chế định đồng phạm được

ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật hình sự, nhưng mới chỉ được xem xét ởmột số khía cạnh nhất định, vẫn chưa có quy định về khái niệm đồng phạm.

Trong các Sắc lệnh do Nhà nước ta ban hành ngay sau ngày Cáchmạng tháng Tám thành cơng nhằm bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ,

bảo vệ các thành quả cách mạng vừa giành được, bảo vệ trật tự xã hội mớivà các quyền công dân, phạm vi đồng phạm được quy định rộng, bao gồmcả hành vị oa trữ tức là hành vi chứa chấp, tiêu thụ của gian, khơng phânbiệt có hứa hẹn trước hay khơng. Ví dụ: Tại Điều 2 Sắc lệnh số 27-SL ngày

28-2-1946 về truy tố các tội bắt cóc, tống tiền, ám sát quy định: "Những

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

người tòng phạm hoặc oa trữ những tang vật của tội phạm trên cũng bị phạtnhư chính phạm" [45, 79]. Thời gian này, do chịu ảnh hưởng của tư duy

pháp lý châu Âu lục địa, các văn bản pháp luật hình sự của nước ta vẫn sử

dụng các khái niệm chính phạm, tòng phạm. Thuật ngữ đồng phạm đã xuất

hiện lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 223 ngày 17-11-1946 về truy tố các tội

hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ: "Người phạm tội cịn có thể bị xử, tịchthu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản. Các đồng phạm và tòng phạmcũng bị phạt như trên" [45, 104]. Nhưng đồng phạm ở đây được hiểu tương

ứng với thuật ngữ coauteur của luật hình sự Pháp với nghĩa là đồng thực

hành [71, 60]. Trong các văn bản pháp luật hình sự được ban hành ở thời

điểm trước và sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi nhưSắc lệnh số 133-SL ngày 20-1-1953 trừng trị những tội phạm đến an toàn

Nhà nước, đối nội và đối ngoại; Sắc lệnh số 267-SL ngày 15-6-1956 trừng

trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác

xã, của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch nhà nước,

tính đồng phạm được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tội phạm "Nghiêm trịbọn chủ mưu, cầm đầu, bọn ngoan cố; khoan hồng đối với những người bị

lừa phinh, bị ép buộc, lầm đường" [45, 193].

Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồngphạm đã bắt đâu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các báo cáo tổng kếtcủa ngành Tòa án. Trong Báo cáo tổng kết cơng tác năm 1963 của Tịa án

nhân dân tối cao đã đưa ra khái niệm cộng phạm: "Hai hoặc nhiều ngườicùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc

giúp sức, hoặc trực tiếp cùng tham gia tội phạm để cùng đạt tới kết quả

phạm tội" [44, 30]; hoặc trong giáo trình hình luật XHCN của Trường cao

đẳng kiểm sát Hà Nội đã nêu ra khái niệm hoàn chỉnh hơn: "Hai hoặc

nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm thì gọi là cộng

phạm" [27, 167].

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

Về mặt lập pháp hình sự, trong các văn bản pháp luật hình sự banhành lúc đó như Pháp lệnh ngày 30-10-1967 trừng trị các tội phản cách

mạng, Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sảnXHCN, Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản của

công dân vẫn chưa đưa ra khái niệm về đồng phạm, nhưng nhận thức và quy

định về đồng phạm có bước tiến bộ đáng kể. Đáng chú ý nhất là trong các

văn bản pháp luật hình sự nói trên đã phân biệt được các hành vi che giấuphần tử phản cách mạng, chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản XHCN, tài sản

riêng của công dân mà đặc điểm là kẻ chứa chấp, che giấu, tiêu thụ không

bàn bạc trước, thỏa thuận trước với phần tử phản cách mạng hoặc với kẻchiếm đoạt là các tội riêng biệt (tội che giấu phần tử phản cách mạng; tộichứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản XHCN bị chiếm đoạt; tội chứa chấp hoặc

tiêu thụ tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt) với các trường hợp cộng

phạm của các tội phản cách mạng, các tội xâm phạm tài sản XHCN, các tộixâm phạm tài sản riêng của công dân, trong đó kẻ chứa chấp, che giấu, tiêu

thụ đã hứa hẹn trước, thỏa thuận trước với phần tử phản cách mạng, kẻ đi

chiếm đoạt với vai trò xúi giục, giúp sức hoặc nhiều khi với vai trò chủ

mưu, cầm đâu. Như vậy, so với Sắc lệnh số 27-SL ngày 28-2-1946, phạm viđồng phạm đã được thu hẹp hơn, đã khắc phục được hạn chế coi hành vi oa

trữ không phân biệt có hứa hẹn trước hay khơng là hành vi đồng phạm của

các văn bản pháp luật hình sự ban hành ngay sau Cách mạng tháng Tám.Luật hình sự của các nước XHCN (trước đây) nói chung chịu ảnhhưởng luật hình sự của Liên Xô (trước đây). Chế định đồng phạm, kháiniệm đồng phạm cũng được quy định tương tự như trong luật hình sự củaCộng hịa XHCN Xơ viết Liên bang Nga. Ví dụ: Điều 17 BLHS của Cộng

hịa XHCN Xô viết Liên bang Nga quy định: “Sự cố ý cùng tham gia thực

hiện một tội phạm của hai hay nhiều người là đồng phạm” [58, 37]; Điều 13

BLHS của CHND Mông Cổ cũng quy định tương tự như vậy. Riêng BLHS

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

ban hành năm 1979 cũng như BLHS sửa đổi năm 1997 của CHND Trung

Hoa còn quy định thêm “hai hoặc nhiều người vô ý thực hiện một tội phạm

thì khơng phải là đồng phạm” [10, 13], [74, 6]. Tuy nhiên, quan niệm vềđồng phạm nói trên cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, các nhà hình sựhọc tiến bộ vẫn phải tiếp tục kế thừa và phát triển nó.

Trong khoa học luật hình sự, một số nhà hình sự học Liên Xơ (trước

đây) khơng hoàn toàn thừa nhận quan niệm trên mà giữ quan điểm cho rằng

đồng phạm không những xảy ra trong trường hợp phạm tội với lỗi cố ý mà

cịn có thể xảy ra trong trường hợp phạm tội với lỗi vô ý. Đại biểu cho

trường phái này là các nhà hình sự học Liên Xô (trước đây) A.N. Torainhin

và M.D. Sargôrơtxki. Để luận chứng cho luận điểm của mình, A.N. Tơrainhin

đưa ra một ví dụ: Ba người thợ săn tên là A, B, V trên đường từ rừng trở về

nhà thì nhìn thấy một người nơng dân đang ngồi dùng tẩu hút thuốc ở gốccây phía xa. A đề nghị B hãy trổ tài thiện xạ của mình bắn rơi cái tẩu màngười nơng dân đang hút. B nhất trí nhưng với điều kiện V phải để cho B

dùng vai minh làm bệ ti súng. V đồng ý, B ngắm tấu bóp cị, kết qua khơng

trúng tdu mà lại trúng đầu làm người nơng dân chết. Với ví dụ này, Giáo sưA.N. Tơrainhin cho rằng ba người thợ săn phải bị truy cứu trách nhiệm hình

sự vì đồng phạm tội vơ ý làm chết người, trong đó A có hành vi vơ ý xúi giục,

V có hành vi vơ ý giúp sức và B có hành vi vơ ý làm chết người [54, 111].

Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này của Giáo sư A.N. Tơrainhin vì

trong trường hợp này A, B, V đồng phạm tội giết người với lỗi cố ý giántiếp. Ca A, B, V đều nhận thức được việc dùng súng ban cái tdu mà người

nông dân đang hút 26 thể làm người nông dân chết; họ khơng mong muốn

nhưng có ý thức để mặc cho việc chết người xảy ra.

Ơng M.D. Sargơrơtxki thì cho rằng “Đồng phạm có thể xảy ra đối

với các tội phạm vơ ý khi lỗi đối với hành vi là cố ý cịn lỗi đối với hậu quả

là vơ ý” [54, 112]. Chúng ta khơng thể đồng tình với quan điểm của ông

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

M.D. Sargôrơtxki vì rằng, lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hànhvi khách quan bao gồm hai bộ phận cấu thành là hành vi và hậu quả do

hành vi gây ra. Do đó, khơng thể có những loại lỗi khác nhau đối với hànhvi khách quan trong CTTP cơ bản, cu thé trong trường hợp này, khơng thé

có loại lỗi đối với hành vi là cố ý và lỗi đối với hậu quả là vô ý trong loại tội

phạm vô ý.

Quan điểm của hai nhà hình sự học người Nga nói trên phù hợp vớiquan điểm chính thống của luật hình sự các nước tư bản khi quy định khái

niệm đồng phạm: "Là khi một người phối hợp với người khác cùng thực

hiện một hành vi phạm tội hoặc khi một người tìm cách xúi giục người khác

phạm tội hoặc đề nghị người khác thực hiện tội phạm” [9, 83]. BLHS củaVương quốc Thụy Điển thừa nhận cả hình thức lỗi vơ ý trong đồng phạm tạiĐiều 4 chương 23 - phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội và đồng phạm:

“khi xét xử từng người đồng phạm phải căn cứ vào việc người đó tham giathực hiện tội phạm do cố ý hay vơ ý” [9, 84]. Luật hình sự của các nước tư

bản khác tuy khơng có quy phạm định nghĩa về đồng phạm nhưng khoa họcluật hình sự và thực tiến xét xử các nước đó vẫn thừa nhận có lỗi vơ ý trong

đồng phạm. Giáo sư người Pháp Giang Lacguyé trong sách Luật hình sựxuất bản năm 1994 đã định nghĩa “đồng phạm là trường hợp người chính

phạm thực hiện hành vi phạm tội một mình hoặc cùng với những người chính

phạm khác do bị xúi giuc, giúp sức của người đồng phạm khác” [71, 60].

Khái niệm này xuất phát từ quan điểm quy tội khách quan, tức là xác định

đồng phạm chỉ căn cứ vào biểu hiện bên ngoài, phản ánh dấu hiệu khách

quan “cùng phạm tội” mà khơng cần xem xét lỗi của những người đó. Theo

quan điểm này, thì có cả vơ ý xúi giục, vô ý giúp sức, vô ý thực hiện tội

phạm mà ông A.N. Torainhin đã đề cập ở phần trên.

Thực tiễn xét xử của Cộng hòa Pháp cũng đã thừa nhận có đồngphạm đối với các tội vơ ý. Ví dụ: một chiếc xe trượt tuyết chạy đua. Trên

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

xe, bên cạnh lái chính cịn có lái phụ. Trong quá trình đua, chiếc xe đâm

vào lề đường làm chết một người đứng xem. Tòa thượng thẩm Sămbêri đã

phán xử rằng lái chính khơng một mình điều khiển chiếc xe mà người láiphụ cũng góp phần điều khiển cho nên cả hai người đều chịu trách nhiệm là

đồng phạm của vụ vô ý làm chết người [19, 19].

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng tộiphạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, chúngtôi không chấp nhận quan điểm của hai nhà hình sự học người Nga nói trên

cũng như quan điểm của luật hình sự tư sản về có lỗi vơ ý trong đồng phạm,

bởi lẽ:

Về mặt khách quan: Trường hợp thực hiện tội phạm vô ý, hành vi

phạm tội của mỗi người, tuy có mối liên hệ khách quan về thời gian, không

gian, nhưng lại hoàn toàn độc lập với nhau về ý thức đối với hậu quả. Buộctội và quy kết đồng phạm trong trường hợp này cũng là một dạng của buộc

tội khách quan. Tổng hợp hành vi, kết quả phạm tội của từng người rõ ràng

là phép cộng giản đơn, số học. Nó hồn tồn khác về chất so với trường hợptổng hợp hành vi phạm tội theo quan niệm đồng phạm của chúng ta, phải làtổng thể các hành vi phạm tội có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lạitrong sự vận động đan xen vào nhau, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau để gây

ra hậu quả phạm tội chung.

Về mặt chủ quan: Trường hợp phạm tội vô ý, mỗi người phạm tộivới lỗi vô ý đã lựa chọn và thực hiện hành vi, vì khơng thấy trước hậu quả

nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc thấy trước nhưng tin rằng hậu quảđó khơng xảy ra hay có thể ngăn ngừa được, tức là đều khơng có ý thức lựa

chọn một xử sự phạm tội. Do tính chất như vậy, giữa những người phạm tộivơ ý cũng khơng có mối liên hệ về mặt chủ quan. Nó khác về chất so vớitrường hợp đồng phạm theo quan niệm của chúng ta: giữa những ngườiphạm tội có mối liên hệ cùng cố ý, nói cách khác cùng có ý thức lựa chọn

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

một xử sự phạm tội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của

mình mà cịn biết và mong muốn sự cố ý của những người đồng phạm khác.

Giữa những người đồng phạm tồn tại mối liên hệ tác động tương hỗ và ảnhhưởng lẫn nhau về mặt tâm lý.

Các nước thuộc hệ thống Änglơ-Săcxơng có quan niệm về đồng

phạm khác với các nước XHCN trước đây. Ví dụ, quan niệm về đồng phạmcủa pháp luật Vương quốc Anh rất rộng: được coi là đồng phạm bất cứngười nào có cảm tình và tỏ ý tán thành hành vi phạm tội [19, 23]. Chúng

tôi không tán thành quan điểm này. Dù rằng, cảm tình, tán thành tội phạm

là biểu hiện không tốt nếu xét về mặt đạo đức, nhưng những biểu hiện nàymà không chuyển biến thành hành vi che giấu tội phạm, khơng tố giác tộiphạm thì cũng không thể cấu thành tội phạm độc lập được, lại càng khôngthể là hành vi đồng phạm.

BLHS hiện hành của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 27-6-1985

với bốn lần sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS

được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1989, ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992và ngày 10-5-1997 (sau đây gọi tắt là BLHS 1985), tại Điều 17, quy định:“Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”.

Việc BLHS lần đầu tiên ghi nhận chế định đồng phạm trong đó quy

định khái niệm đồng phạm, đánh dấu một bước phát triển về chất trong hoạt

động lập pháp hình sự ở nước ta. Thuật ngữ đồng phạm được sử dụng thaythế cho thuật ngữ cộng phạm được sử dụng trong các văn bản pháp luật

hình sự trước đây, mặc dù bản chất pháp lý khơng thay đổi, nhưng chính

xác hơn. Đồng phạm ở đây chỉ sự kiện đồng phạm, quan hệ đồng phạm,

người đồng phạm bao gồm cả người thực hành, người tổ chức, người xúi

giục, người giúp sức, khác với nghĩa đồng phạm chỉ người đồng thực hành

trong Sắc lệnh số 223 ngày 17-11-1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm,

biển thủ cơng quỹ hoặc trong luật hình sự các nước tư bản.

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

Theo nội dung của khái niệm quy định tại Điều 17, đồng phạm doi

hỏi phải có những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ về mặt khách quan và chủquan giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm.

Những dấu hiệu về mặt khách quan

Về mặt khách quan, trước hết đồng phạm đòi hỏi có hai người trở

lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm, tức là đềuphải có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiệnmột hành vi phạm tội cụ thể. Đây là vấn đề khơng có vướng mắc về lý luậncũng như thực tiễn xét xử, nhưng từ dấu hiệu trên và qua nghiên cứu thực

tiễn xét xử có thể rút ra hai nhận xét sau đây: |

Một là: Trong các vụ án có nhiều người tham gia thực hiện, nếu chỉ

có một người thỏa mãn các điều kiện của chủ thể của tội phạm còn người

khác hoặc những người khác không thỏa mãn các điều kiện của chủ thể thìvụ án đó khơng có đồng phạm. Trường hợp này được coi như trường hợp

phạm tội riêng lẻ. Ví dụ: Thị H làm nghề bán nước tại nhà, đồng thời

chuyên bán tép Hêrôin cho con nghiện. Một lân, thị nhờ cháu L 13 tuổi, ở

quê lên choi, giao tép Hêrơin cho con nghiện thì bị Cơng an huyện T.L,

thành phố H.N bat quả tang. Do cháu L chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hìnhsự, nên chỉ có thị H bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán tráiphép chất ma túy theo quy định tại Điều 185đ BLHS 1985.

Hai là: Trong các vụ án có nhiều người tham gia thực hiện, néu có

hai người trở lên thỏa mãn các điều kiện chủ thể của tội phạm và các dấu

hiệu khác của đồng phạm, còn những người khác không thỏa mãn các dấu

hiệu của chủ thể của tội phạm, thì vụ án đó vẫn được xác định là có đồng

phạm. Người nào khơng thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của tội phạm thì khơng

được coi là người đồng phạm. Ví dụ: tại Bản án số 842/HSPT ngày

28-3-1998 của Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí

Minh đã kết luận 6 tên: Nguyễn Văn Ng, Lê Đức S. Nguyễn Van Th,

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

Nguyễn Tấn Ð, Lâm Văn U, Trần Van Ð đã khống chế, ham dọa buộc cháu T

chưa đầy 16 tuổi phải cho chúng giao cấu trái ý muốn của nạn nhân, nhưngvì Nguyễn Văn Ng và Trần Văn Ð chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự

nên chỉ có 4 tên Lê Đức S, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Tấn D, Lâm Văn Uđồng phạm tội hiếp dâm trẻ em.

Từ thực tiễn xét xử hình sự, qua nghiên cứu 500 vụ án do Tòa án cáccấp xét xử trong hai năm 1997, 1998 cho thấy, trong 181 vụ án có đồngphạm có 638 người đồng phạm; trung bình một vụ án có đồng phạm có 3,52người tham gia. Trong các vụ án có đồng phạm thì phần lớn các vụ án do từ2 đến 4 tên tham gia thực hiện, trong đó số lượng 2 tên tham gia chiếm tỉ lệcao trong các tội cướp giật tài sản của cơng dân (83,3%), nhóm các tộiphạm ma túy (78,5%), tội giết người (66,7%), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

của công dân (66,6%), tội trộm cắp tài sản của cơng dân (56%), nhóm các

tội phạm về tham nhũng (36,3%); số lượng từ 3 đến 4 tên chiếm tỉ lệ cao

trong nhóm các tội xâm phạm ANQG (56,25%), tội hiếp dâm (50%), tội gâyrối trật tự công cộng (44,4%), tội cướp tài sản của công dân (42,1%); số lượng

9 tên trở lên thường có trong nhóm các tội phạm về tham những (18,2%), tội

gây rối trật tự công cộng (16,8%), tội cố ý gây thương tích (9,3%) và tội

trộm cắp tài sản của công dân (8%) (xem phụ lục: bảng 1.1). Nghiên cứuđặc điểm này có thể giúp chúng ta định hướng đúng trong cơng tác phịng,

chống tội phạm hiện nay.

Tỷ lệ những người đồng phạm trong sự so sánh với những người

phạm tội cùng lứa tuổi nói chung, chưa được Tòa án nhân dân tối cao tổng

kết, có số liệu chính thức. Trong 181 vụ án có đồng phạm được chúng tôi

nghiên cứu, những người đồng phạm ở lứa tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi là 30 người so với 32 người phạm tội cùng lứa tuổi; những người đồng

phạm từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là 26 người so với 33 người phạm tộicùng lứa tuổi. Theo số liệu của Viện Thiện cứ ttrà- ngó ¿Pháp luật:

<small>ma </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

-những người đồng phạm ở lứa tuổi vị thành niên chiếm từ 75 - 80% trong sốnhững người phạm tội cùng lứa tuổi [49, 124]. Day là vấn dé cần chú ý

trong cơng tác giáo dục, phịng ngừa tội phạm ở lứa tuổi này.

Dấu hiệu khách quan thứ hai của đồng phạm là cùng tham gia thựchiện tội phạm.

Cùng tham gia thực hiện tội phạm có nghĩa là trong đồng phạm, mỗi

người (có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm) phải có hành vi tham gia

vào việc thực hiện tội phạm hoặc là hành vi trực tiếp thực hiện hoặc là hành

vi tổ chức hoặc là hành vi xúi giục hoặc là hành vi giúp sức. Nếu trong vụán có nhiều người tham gia, mà người nào khơng có một trong những loạihành vi này thì khơng thể coi người đó cùng thực hiện tội phạm với những

người khác và tất nhiên không thể là người đồng phạm. Người đó, mặc di

thực hiện hành vi liên quan đến tội phạm nhưng không phải là hành vi cùng

tham gia thực hiện nên không phải là hành vi đồng phạm mà chỉ có thể cấu

thành những tội độc lập trong trường hợp luật định.

Trong một vụ đồng phạm, có thể có đủ bốn loại hành vi: hành vi

thực hành, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức, nhưng cũngcó thể khơng có đủ bốn loại hành vi. Hành vi thực hành là hành vi trungtâm, thiếu hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức, đồng phạm

vẫn có thể xảy ra, nhưng thiếu hành vi thực hành thì khơng có đồng phạm.

Một người đồng phạm có thể tham gia thực hiện tội phạm với một loại hànhvi nhưng cũng có thể tham gia với nhiều loại hành vi khác nhau. Ví dụ: tại

Bản án số 13/HSPT ngày 20-5-1998, của Tòa án nhân dân tỉnh YB, tên N

cùng với các tên L, Th, K đánh bạc tại phòng đợi tàu L.G. Khi bị thua hết

tiền, N thấy có sự gian lận nên chạy về gọi P và H đi giúp N lấy lại số tiền

thua bạc. Sau đó, N vào nhà anh L ở ga lấy một con dao bầu rồi cùng P và

H đến đám bạc. N phân công P đứng chặn ở cửa, rồi cùng H dùng dao xôngvào hô tất cả ngồi im. N, P, H lấy được 1.320.000đ, một nhẫn vàng 5 phân,

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

một đồng hồ rađô, một máy ảnh. Chúng đem đồng hồ, máy ảnh bán cho Y

là chủ hiệu cầm đồ. Tên Y biết là đồ cướp của đám bạc nhưng vì tham rẻ

nên vẫn mua với giá 600.000đ.

Trong vụ án này, hành vi đánh bạc được cơ quan điều tra tách ra đểgiải quyết bằng vụ án khác. Xét trong vụ án đồng phạm cướp tài sản riêng

của cơng dân, N vừa có hành vi tổ chức (chủ mưu), vừa có hành vi xúi giục

hai tên P, H phạm tội, vừa có hành vi thực hành. H có hành vi thực hànhcùng N dùng vũ lực chiếm đoạt tiền, tài sản của những người đánh bạc. P cóhành vi giúp sức: giữ cửa. Tên Y không thực hiện một trong bốn hành vi: tổ

chức, xúi giục, giúp sức, thực hành mà chỉ thực hiện hành vi tiêu thu tài sản

do cướp mà có là hành vi liên quan đến tội phạm và cấu thành tội chứa chấp

hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Bằng việc tham gia vào một tội phạm với ít nhất một trong bốn hành

vi: hành vi thực hành, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức,mỗi người đồng phạm đều có hành vi nguy hiểm trong mối liên kết thống

nhất với nhau, tức là có mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ

phận của một hiện tượng thống nhất, đó là đồng phạm. Hành vi của người

này hỗ trợ, bổ sung cho hành vi của người khác và ngược lại; hành vi của

mỗi người là bộ phận, một khâu của hoạt động phạm tội chung nhằm thực

hiện một tội phạm nhất định để thu được kết quả phạm tội chung thống

nhất. Hậu quả của tội phạm là kết quả chung do hoạt động của những người

tham gia vào việc thực hiện tội phạm đưa bí, Nói cách khác, hành vi của

mỗi người đồng phạm có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội

chung. Hành vi của người thực hành hoặc của những người đồng thực hành

là nguyên nhân trực tiếp phát sinh hậu quả, còn hành vi của người tổ chức,

người XÚI giục, người giúp sức thông qua hành vi của người thực hành màgây ra hậu quả. Vấn đề quan hệ nhân quả trong đồng phạm là vấn đề phứctạp mà lý luận luật hình sự phải quan tâm giải quyết vì nó liên quan đến

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

việc xác định đồng phạm, người đồng phạm. Chỉ được coi là người đồng

phạm nếu hành vi của người đó có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm

tội chung Như vậy, người đồng phạm có thể tham gia từ giai đoạn chuẩn bị

phạm tội, nhưng cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra, chưa hoàn

thành về mặt pháp lý và chưa kết thúc trên thực tế, nhưng khơng thể có việc

tham gia sau khi tội phạm đã kết thúc, bởi lẽ hành vi đó khơng thể có mối

quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội chung mà chỉ có thể cấu thành một

tội phạm độc lập khác Vấn đề trở nên phức tạp khi trả lời câu hỏi, có thể có

hành vi đồng phạm mới xuất hiện sau khi tội phạm đã hoàn thành về mặtpháp lý nhưng chưa kết thúc trên thực tế hay không? Để trả lời câu hỏi này,

theo chúng tôi cần phân biệt khái niệm tội phạm hoàn thành với khái niệmtội phạm kết thúc. Tội phạm hoàn thành là một khái niệm pháp lý chỉ hành

vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong CTTP nhất

định được quy định tại Phần các tội phạm của BLHS. Còn tội phạm kết thúc

là một khái niệm để chỉ tội phạm không được thực hiện trong thực tế nữamà không kể lý do gì. Tội phạm có thể kết thúc trước khi tội phạm hồnthành, cũng có thể kết thúc cùng với thời điểm tội phạm hoàn thành hoặc

kết thúc sau thời điểm tội phạm hoàn thành. Từ thời điểm tội phạm hoànthành cho đến khi tội phạm kết thúc là giai đoạn tội phạm hoàn thành.Trong giai đoạn này, tội phạm vẫn còn đang tiếp diễn, cho nên về mặt lý

luận vẫn có thể xuất hiện hành vi đồng phạm; hành vi này vẫn có thể có mối

quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội chung. Tuy nhiên, do vấn đề có thể

có hành vi đồng phạm mới xuất hiện sau khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa “

kết thúc là vấn đề rất phức tạp về mặt lý luận, nên một số Tòa án đã lúng

túng khi gặp các trường hợp này. Ví dụ: Vũ Văn D là bảo vệ tại chợ KhoĐỏ, thành phố H.D. Khoảng 8 giờ sáng ngày 12-4-1996, D nghe thấy chị L

là người đi chợ kêu mất xe đạp, D cùng với anh T đuổi theo tên gian đangđạp chiếc xe trộm cắp được đi về phía bến xe. Khi đuổi kịp, D bắt được tên

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

trộm; D bảo anh T quay lại tìm chị L ra nhận xe. Cịn lại mình D, tên trộm

khai tên là Th, bạn của người mà D có quen biết, xin D tha sau này sẽ cám ơn.

D đã để cho tên Th đem xe đạp đi mất. Cho đến nay, Tòa án nhân dân thành

phố H.D vẫn chưa xét xử được vụ án này vì các cơ quan bảo vệ pháp luậtđịa phương chưa thống nhất được ý kiến về định tội danh đối với Vũ Văn D.

Có ba loại ý kiến sau: Ý kiến thứ nhất cho rằng, Vũ Văn D phạm tội lợi

dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vì đã cố ý làm trái, tạođiều kiện cho Th tẩu thốt vì mục đích vụ lợi, xâm phạm lợi ích của cơng

dân. Ý kiến thứ hai cho rằng, D đồng phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài

sản do người khác phạm tội mà có, vì khi bắt được Th, D đã giữ chiếc xe

đạp mà Th trộm cắp, sau đó tạo điều kiện cho Th đem xe đạp đi tiêu thụ. Ý

kiến thứ ba cho rằng, D phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi

hành công vụ và đồng phạm tội trộm cắp tài sản riêng của cơng dân với vai trị

người giúp sức. Chúng tôi cho rằng, D đồng phạm tội trộm cắp tài sản riêng

của cơng dân với vai trị người giúp sức, bởi lẽ về mặt khách quan, Th đang

trong quá trình chuyển dịch tài sản (tức là tội phạm chưa hồn thành và cũng

chưa kết thúc) thì được D giúp sức cho tội phạm trộm cắp hoàn thành; về mặtchủ quan tuy khơng có sự bàn bạc, thống nhất ý chí từ trước nhưng khi được

Th hứa sẽ cám ơn, D đã biểu hiện sự thống nhất ý chí bằng việc tha cho Th đi.

Xét về mặt lý luận luật hình sự, bản chất của sự liên kết thống nhấtgiữa vai trị của những người đồng phạm cịn có nhiều ý kiến khác nhau.

Đáng chú ý là quan điểm của các nhà hình sự học người Nga M.D.

Sargơrơtxki và I.P.Malakhév khi các ông cho rằng, hành vi của người tổ

chức, người xúi giuc, người giúp sức có mối quan hệ nhân quả với hành vi

của người thực hành; nói cách khác, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành

vi giúp sức là nguyên nhân của hành vi thực hành [66, 28].

Chúng tôi không tán thành quan điểm này, bởi lẽ trong đồng phạm,những hành vi đồng phạm được thực hiện trong mối liên kết thống nhất.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Mỗi người đồng phạm thực hiện vai trị của mình trong hoạt động phạm tộichung, cho nên đều có sự tác động nhất định đến hành vi phạm tội của nhữngngười đồng phạm khác. Nhưng nếu cho rằng, phạm vi tác động tới mức tất

yếu gây ra hành vi phạm tội của người khác, thì lại là tư duy siêu hình ma

chủ nghĩa Mác - Lênin đã bác bỏ. Khoa học luật hình sự Việt Nam cũng đã

khơng thừa nhận quan điểm cho rằng, hành vi phạm tội của một người hồn

tồn phụ thuộc vào hồn cảnh, trong đó có hành vi của những người phạmtội khác. “Nếu quả là xử sự của con người hoàn toàn phụ thuộc vào ngoạicảnh thì điều đó có nghĩa, trong cùng một điều kiện sống khơng thể có

nhiều loại xử sự khác nhau và cũng khơng thể có hai loại xử sự trái ngược

nhau” [29, 85]. Xét về mặt tâm lý xã hội, nhà tâm lý học người Mỹ GordonOlport (1897-1967) đã chứng minh ảnh hưởng của nhóm đến hành vi mà ơng

gọi là sự quyến rũ xã hội nhưng ông vẫn “rất coi trọng vai trị của cá nhân

trong nhóm - những cá nhân với các đặc điểm và hành vi của mình” [28, 60].

Đúng là người thực hành chịu sự tác động nhất định của người tổ chức,

người xúi giục, người giúp sức nhưng người thực hành vấn có tự do ý chí.Tu do ý chí của con người như Angghen đã chỉ rõ “Tu do không phải là ở

trong sự độc lập tưởng tượng ra đối với những quy luật tự nhiên mà là ở

trong sự nhận thức những quy luật đó và ở trong các khả năng do sự nhậnthức trên mà có - vận dụng những quy luật đó một cách có kế hoạch vàonhững mục đích nhất định” [2, 190-191]. Như vậy, hành vi của người thựchành không phải là tất yếu phát sinh do ảnh hưởng của những người đồngphạm khác như là kết quả với nguyên nhân trong mối quan hệ nhân quả. Ví

dụ: trong vụ án buôn bán ma túy xuyên quốc gia do Vũ Xuân Trường cầm

đầu, vợ và em ruột của Vũ Xuân Trường là Nguyễn Thị Lụa và Vũ ThườngKiệt chịu ảnh hưởng rất lớn của Y. Tuy nhiên, dù Trường rất gia trưởng,

cũng không thể nhận xét hành vi phạm tội của Trường là nguyên nhân tất

yếu dẫn đến kết quả là hành vi phạm tội của Lua và Kiệt.

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

Trong thực tiễn xét xử, khi xem xét vai trò của từng người đồng

phạm trong mối quan hệ với những người đồng phạm khác và với vụ án có

đồng phạm nói chung, chúng ta cần phải xác định những yếu tố sau đây:

- Hành vi của người đồng phạm đó đã ảnh hưởng tới hành vi của

những người đồng phạm khác như thế nào và ngược lại chịu ảnh hưởng củanhững người đồng phạm khác ở mức độ nào.

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người đồng phạm với hậu

quả chung của tội phạm.

- Mức độ tham gia của người đồng phạm đối với hoạt động phạmtội chung.

Những dấu hiệu về mặt chủ quan

Dấu hiệu chủ quan của đồng phạm là sự cùng cố ý của những ngườitham gia thực hiện một tội phạm. Thiếu dấu hiệu cùng cố ý, thì mặc dùhành vi của những người phạm tội thỏa mãn dấu hiệu khách quan như đãtrình bày ở trên, vẫn khơng có đồng phạm mà chỉ là hình thức nhiều người

cùng phạm một tội.

Sự cùng cố ý thể hiện sự liên kết thống nhất về mặt chủ quan giữa

những người đồng phạm, đó chính là mối liên hệ, tác động tương hỗ và ảnhhưởng lẫn nhau về mặt tâm lý giữa những người đồng phạm. Khi thực hiện

hành vi nguy hiểm cho xã hội, địi hỏi mỗi người đồng phạm khơng chỉ cố ý

với hành vi của mình mà cịn nhận thức va mong muốn sự cố ý của nhữngngười đồng phạm khác.

Về mat lý trí, cùng cố ý địi hỏi phải thỏa mãn ba điều kiện.

- Mỗi người đồng phạm nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội

của hành vi của mình.

- Mỗi người đồng phạm nhận thức được người khác cũng có hành vi

nguy hiểm cho xã hội cùng với mình (ít nhất một người). Điều kiện này có

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

cơ sở thực tiễn ở chỗ: trong các vụ án đặc biệt nguy hiểm xâm phạm

ANGQG, do yêu cầu giữ bí mật cao, cho nên chúng thường hoạt động đơn

tuyến, chỉ biết hoặc là người chỉ huy, hoặc là người liên lạc. Việc chỉ biết

một người đủ để người đó cùng tham gia thực hiện tội phạm với cả tổ chứcphạm tội. Đây là đặc điểm mang ý nghĩa thực tiễn to lớn: từ mối liên hệ của

một tên đồng phạm với một tên đồng phạm khác, nếu làm tốt cơng tác xác

minh, điều tra thì có thể khám phá ra cả một tổ chức phạm tội. Ví dụ: anh

D.T.B là lính ngụy cũ tự thú với chính quyền về hành vi của tên Vng A S

- móc nối anh vào tổ chức phản động và giao cho anh nhiệm vụ rải truyền

đơn phản cách mạng. Từ nguồn tin về quan hệ này, ta đã phát hiện ra tổ

chức phản động mang tên phục quốc quân ở Biên Hịa do tên Hồng Việt Tcầm đầu.

- Mỗi người đồng phạm thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội

của hành vi của mình cũng như hậu qua chung của tội phạm mà họ tham

gia thực hiện.

Về ý chí: Những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động

phạm tội chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu

quả xảy ra.

Kết quả nghiên cứu 500 vụ án cho thấy, trong các vụ án có đồng

phạm, hình thức lỗi cố ý trực tiếp là chủ yếu chiếm tới 99,45%, cịn hình thứclỗi cố ý gián tiếp chỉ chiếm có 0,55%. Ví dụ: khi xét xử phúc thẩm vụ ánhình sự mà Bản án hình sự sơ thẩm só 230/HSST ngày 10-9-1997 của Tịa

án nhân dân tỉnh T.N bị kháng cáo, Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao

tại thành phố Hồ Chí Minh, tại Bản án số 330/HSPT ngày 16-3-1998, đã kếtluận: hành vi đe dọa, đánh rượt đuổi tới cùng của hai bị cáo Nguyễn Văn S,

Lê Văn H đối với nạn nhân Nguyễn Văn X đã dồn nạn nhân đến đường

cùng (nạn nhân là người địa phương khác, trong đêm tối, nơi vắng vẻ,

khơng người qua lại, trước mặt là dịng kênh sâu); do sợ hãi nạn nhân phải

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

mang xe đạp nhảy xuống kênh. Khi đồn nạn nhân nhảy xuống kênh, hai bị

cáo bỏ mặc cho nạn nhân ngụp lặn, chết đuối.

Bản án đã kết luận, hai bị cáo Nguyễn Văn S và Lê Văn H đồngphạm tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp, bởi lẽ Nguyễn Văn S và Lê VănH đều biết hành vi đuổi đánh nạn nhân, buộc nạn nhân phải nhảy xuống

kênh sâu là nguy hiểm cho xã hội, không mong muốn nạn nhân X chếtnhưng vì căm tức X, nên cùng bỏ mặc để X chết đuối.

Trong khoa học luật hình sự cịn có những quan điểm khác về bảnchất của sự cùng cố ý trong đồng phạm. Điển hình là quan điểm của nhàhình sự học người Nga Ph.G. Burotrac về việc ““có thể có trong đồng phạm

mối liên hệ chủ quan một chiều giữa những người cùng tham gia thực hiện

tội phạm” (66, 48). Để luận chứng cho luận điểm của mình, ơng đưa ra các

ví dụ về sự giúp sức bí mật như người giúp sức giúp người thực hành thựchiện hành vi phạm tội mà người thực hành khơng hề biết việc mình đã sử

dụng sự giúp sức của người khác khi thực hiện hành vi phạm tội. Nhà hình

sự học người Nga M.Đ. Sargơrơtxki cũng tán thành quan điểm về sự xúigiục được ngụy trang để người bị xúi giục không nhận thức được và chorằng “xúi giục người khơng hiểu biết gì về sự việc là dễ nhất” [66. 48].

Chúng tôi không tán thành quan điểm trên, bởi lẽ bản chất của sựliên kết thống nhất về mặt chủ quan trong đồng phạm chính là mối liên hệ,

tác động tương hỗ và ảnh hưởng lẫn nhau về mặt tâm lý giữa những người

đồng phạm đòi hỏi mối liên hệ chủ quan hai chiều giữa những người đồng

phạm. Những hành vi xúi giục, giúp sức bí mật là mối liên hệ chủ quan mộtchiều hồn tồn khơng thỏa mãn dấu hiệu chủ quan của đồng phạm. Trongtrường hợp này, người xúi giục một chiều, người giúp sức một chiều phải

chịu trách nhiệm hình sự độc lap. về hành vi xúi giục phạm tội hoặc giúpsức phạm tội của mình. Điều luật viện dẫn cho trường hợp này sẽ là điềuluật xác định tội mà người đó xúi giục hoặc giúp sức cũng như điều luật

quy định về xúi giục thực hiện tội phạm hoặc giúp sức thực hiện tội phạm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

Mối liên hệ chủ quan hai chiều giữa những người đồng phạm khác

han với trường hợp xúi giuc bắc cầu. Day là trường hợp hành vi xúi giụcngười khác để người này xúi giục người khác nữa thực hiện tội phạm. Ví

dụ: C xúi giục L đi lấy trộm trục xe của hợp tác xã để bán cho C. L

không đi mà lại xui X đi lấy trộm về bán cho L, sau đó L bán lại cho C.Trong ví dụ này, C có mối liên hệ chủ quan hai chiều với L; L lại có mối

liên hệ chủ quan hai chiều với X; nhưng giữa C và X hồn tồn khơng cómối liên hệ chủ quan nào. Tòa án địa phương đã cho rằng C không đồngphạm tội trộm cắp tài sản XHCN với lý do C không xúi giục X và cũng

không biết mặt X [44, 30]. Thực ra, nhận định như vậy khơng đúng vì

khơng nhất thiết người đồng phạm phải biết rõ tất cả những người đồng

phạm khác.

Với những tội phạm luật hình sự quy định mục đích phạm tội là dấu

hiệu bắt buộc của CTTP thì những người đồng phạm về tội đó phải cùng

mục đích. Trong cấu thành các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG,

mục đích chống chính quyền nhân dân là dấu hiệu định tội, vì vậy để xác

định đồng phạm các tội phạm này, phải chứng minh được những người

phạm tội có cùng mục đích chống chính quyền nhân dân. Cùng mục đíchchống chính quyền nhân dân, qua thực tiễn đấu tranh chống các tội đặc biệt

nguy hiểm xâm phạm ANQG, thể hiện:

- Khi thực hiện hành vi phạm tội, những người đồng phạm đều

nhằm làm suy yếu, tiến tới lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính tri.

- Biết rõ mục đích chống chính quyền nhân dân của người khácnhưng vì động cơ cá nhân, vụ lợi, hận thù giai cấp... đã chấp nhận mục đích

và cùng tham gia thực hiện tội phạm với người cố mục đích đó. Ví du: A là

cán bộ Bộ đội biên phịng có nhiệm vụ bảo vệ an ninh bờ biển, biết B và C

là ngụy qn cũ đang tìm cách trốn ra nước ngồi để chống chính quyền

nhân dân. Do B và C đã hối lộ A một số lượng tiền lớn, A đã làm ngơ,

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

không bat giữ khi B và C vượt biên trốn ra nước ngoài. Trong trường hợp

này, A đã chấp nhận mục đích chống chính quyền nhân dân của B và C,bằng hành vi giúp sức dưới dạng không hành động, đã đồng phạm tội trốnđi nước ngồi nhằm chống chính quyền nhân dân. Trường hợp tự nguyệntiếp nhận mục đích chống chính quyền nhân dân nói trên cần được phânbiệt với trường hợp người lái thuyền biết rõ mục đích chống chính quyềnnhân dân của bon phan động nhưng vì bi đe dọa, khống chế buộc phải chởchúng trốn đi nước ngoài là trường hợp cưỡng bức về tinh thân. Nếu khơng

chứng minh được mục đích chống chính quyền nhân dân thì khơng thể quy

kết đồng phạm về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG. Vi dụ: Trong

vụ án phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội xảy ra tại thành

phố H năm 1993, các tên Trần Mạnh Q và Lê Thiện Q bị bắt khi đang vận

chuyển chất nổ từ tỉnh D.N về thành phố H để phá hoại tượng đài Bác Hồ,

Nhà lưu niệm Bác tại bến Nhà Rồng. Trần Mạnh Q và Lê Thiện Q khai

những người bán chất nổ cho chúng là Trần Thị H và Bùi Gia L. Do không

chứng minh được H và L có mục đích chống chính quyền nhân dân nên

H và L chỉ bị xét xử về tội mua bán trái phép chất nổ được quy định tại

Điều 96 BLHS 1985.

Đối với những tội phạm luật hình sự Việt nam quy định động cơ

phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của CTTP, thì những người đồng phạm về tội

đó phải có cùng động cơ phạm tội. Ví dụ: tội buộc người lao động thôi việctrái pháp luật, tội sử dụng trái phép tài sản, tội báo cáo sai trong quản lýkinh tế, động cơ vụ lợi được quy định là dấu hiệu định tội thì những ngườiđồng phạm các tội đó phải có cùng động cơ vụ lợi.

Qua nghiên cứu 181 vụ án có đồng phạm với tổng số 638 người

đồng phạm do Tòa án các cấp xét xử trong hai năm 1997, 1998, động cơ vụ

lợi xảy ra phổ biến với 432 người chiếm tỷ lệ 66,3%, tiếp theo là động cơ

lưu manh với 97 người chiếm tỷ lệ 15,2%; 69 người có động cơ tư thù

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

chiếm tỷ lệ 10,8%; 29 người có động cơ thỏa mãn dục vọng chiếm ty lệ 4,5%;18 người có những động cơ khác như muốn hưởng lạc ở nước ngoài, hiếu

kỳ ... chiếm tỷ lệ 2,9%; 2 người có động cơ che giấu tội phạm khác chiếm

tỷ lệ 0,3%. Có thể rút ra nhận xét là khi đất nước ta chuyển sang cơ chế thị

trường thì do tác động của quy luật lợi ích, cho nên tỉ lệ những người đồng

phạm với động cơ vụ lợi chiếm tỉ lệ rất cao.

Đối với những tội phạm, mục đích và động cơ không phải là dấu

hiệu bắt buộc của CTTP, thi khi tham gia vào việc thực hiện tội phạm,

những người đồng phạm có thể có những mục đích và động cơ khác nhau.

Trong những trường hợp này, nhân tố liên kết hành vi của những người

cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm để đạt tới kết quả chung, là sựmong muốn thực hiện tội phạm; sự mong muốn này có thể xuất phát từ

những động cơ và mục đích khác nhau ở những người đồng phạm.

Thực tiễn xét xử cho thấy, từ khi khái niệm đồng phạm được quyđịnh trong BLHS đầu tiên của nước ta, bản chất pháp lý của khái niệm đồng

phạm đã được nhận thức thống nhất hơn so với trước. Tuy nhiên, một số

Tòa án vẫn mắc phải một số thiếu sót sau:

Thứ nhất: Một số Tịa án khơng sử dụng thuật ngữ đồng phạm được

quy định tại Điều 17 BLHS 1985 mà vẫn sử dụng thuật ngữ cộng phạm

trước đây, cá biệt có Tịa án sử dụng thuật ngữ tòng phạm là thuật ngữ ta sửdụng sau Cách mạng tháng,Tám. Qua nghiên cứu của chúng tôi, số bản án

mắc sai phạm này chiếm tỉ lệ 2,73%, trong số bản án xét xử các vụ án có

đồng phạm. Ví dụ: tại Bản án số 552/HSST ngày 22-4-1998 của Tòa ánnhân dân thành phố H.N xét xử vụ Trần Văn T và đồng bọn đồng phạm tội

hiếp dâm đã kết luận: “Ở vụ án này có tính chất cộng phạm có nhiều người

tham gia”.

Thứ hai: Một số Tòa án nhận thức chưa đúng bản chất pháp lý củakhái niệm đồng phạm, cho nên nhiều vụ án có đồng phạm lại nhận định là

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

khơng có đồng phạm dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc là khơng có đồng phạm

lại nhận định là có đồng phạm, gây thắc mắc trong nhân dân. Ví dụ: Tòa ánnhân dân thành phố H.P ngày 24-8-1995 xét xử sơ thẩm hình sự vụ án

Nguyễn Thị Th phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân đã nhận

định vụ án khơng có đồng phạm trong khi lời khai của bị cáo, của nhữngngười bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án có day đủ cơ sở kết luận

Trần Văn B, Giám đốc xí nghiệp đá M.D đã cùng với Th trong việc lừa đảo,chiếm đoạt của 7 người bị hại 36.150 USD. Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân

dân tối cao đã quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Ở ví

dụ khác thì ngược lại, anh T chỉ là người xem chứ khơng có hành động gìgây rối lại bị Tòa án nhân dân huyện K.B kết luận đồng phạm tội gây rối

trật tự cơng cộng. Vì vậy, Tịa án nhân dân tỉnh Ð. L tại Bản án số 38/HSPT

ngày 12-12-1997 đã tuyên bố bị cáo T không phạm tội và đình chỉ vụ ánđối với bị cáo.

Thứ ba: Trong giới luật gia, vẫn có người có quan niệm sai lầm khi

cho là có thể có đồng phạm trong những trường hợp phạm tội với lỗi vơ ý

như có ý kiến cho rằng có đồng phạm tội vi phạm các quy định về an tồn

giao thơng vận tải (khoản 3 Điều 186 BLHS 1985), trong ví dụ sau: Anh

Đào Trọng Q đèo vợ là chị L bằng xe máy. Đi cùng chiều với xe máy của

anh Đào Trọng Q là xe máy do H lái chở Nguyễn Đức Q. Hai xe vượt lẫn

nhau ba, bốn lần; lần cuối xe máy của anh Đào Trọng Q xin vượt, H khôngcho vượt, cố ý trêu ghẹo, chèn ép, khi hai xe áp sát vào nhau, Nguyễn ĐứcQ ngồi sau dùng chân đạp vào chị L làm hai xe ngoắc vào nhau dẫn đến xe

anh Đào Trọng Q đâm vào gốc cây làm anh Đào Trọng Q chết, chị L bịthương nhẹ [33]. Thực ra, trong vụ án này, H phạm tội vi phạm các quy

định về an tồn giao thơng vận tải (Điều 186 BLHS 1985) còn Nguyễn ĐứcQ phạm tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp, bởi lẽ Q nhận thức được việc

hai xe đi với tốc độ cao mà bất ngờ đạp vào xe sẽ dẫn đến đảo tay lái, có

khả năng làm chết người nhưng thờ ơ đối với hậu quả chết người xảy ra.

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

Cũng do nhận thức không đúng về bản chất pháp lý của khái niệmđồng phạm, nhiều người đã nhầm lẫn đồng phạm là hình thức phạm tội đặcbiệt với tội phạm. Ví dụ, dịch giả Văn Tùng dịch sách của nhà luật họcTrung Quốc Lý Quang Xán ngay ở bìa cuốn sách đã gọi là “Bàn về tộiđồng phạm” [53]; có tác giả cũng có sai lầm tương tự khi viết: “Viéc nghiêncứu vấn đề đồng phạm trong hình luật, tức là nghiên cứu tính chất nguy

hại nghiêm trọng đối với xã hội của đồng phạm, đặc điểm của loại tội

này...” [37, 144].

Từ thực tiễn nói trên và qua phân tích khái niệm đồng phạm được

quy định tại Điều 17 BLHS 1985, chúng tôi thấy, nguyên nhân của tình trang

trên có nhiều nhưng có ngun nhân là do khái niệm đồng phạm cịn khiếm

khuyết, chưa chính xác về mặt khoa học. Cụm từ hai hoặc nhiều người có

sai sót lặp lại, bởi vì nhiều người đã bao hàm cả trường hợp hai người.

Khắc phục nhược điểm này, BLHS (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày21-12-1999 (sau đây gọi tắt là BLHS 1999) tại Điều 20 quy định: "Đồng

phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Tuy nhiên, trong khái niệm này thuật ngữ trường hợp được sử dụng có

ngoại diên quá rộng. Theo légic hình thức, thì việc đưa ra khái niệm là một

thao tác lôgic nhằm vạch ra nội hàm của khái niệm đó và phương pháp phổ

biến là phương pháp định nghĩa theo quan hệ giống - loài, tức là quy kháiniệm đồng phạm vào khái niệm khác có ngoại diện rộng hơn bao hàm cả

ngoại diện đồng phạm. Khái niệm có ngoại diện rộng hơn chính là hình thức

phạm tội, bởi lẽ hình thức phạm tội có thể do một người thực hiện, có thể do

nhiều người thực hiện nhưng khơng có đồng phạm hoặc có thể do hai người

trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm (đồng phạm). Vì vậy,

quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng: “Nâng cao chất lượng xây

dựng pháp luật với những quy định cụ thể, dé hiểu, dé thực hiện” [20, 130],dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tơi, có thể đưa ra khái niệm

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

về đồng phạm như sau: Đồng phạm là hình thức phạm tội do hai người trở

lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm.

Khái niệm này có cùng bản chất với các dấu hiệu đã phân tích ở trên.

1.1.2. Ý nghĩa của khái niệm đồng phạm

Chế định đồng phạm nói chung và khái niệm đồng phạm nói riênglần đầu tiên được quy định trong BLHS của nước ta có ý nghĩa về mặt lậppháp hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hìnhsự Của nước ta.

Trong chế định đồng phạm, khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ

bản, khái niệm xuất phát, để từ đó xác định các quy phạm khác của chế

định đồng phạm về những loại người đồng phạm, các giai đoạn thực hiệntội phạm trong đồng phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tộiphạm trong đồng phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sựtrong đồng phạm. Bên cạnh các quy phạm khác của chế định đồng phạm,

khái niệm đồng phạm cùng với CTTP là cơ sở pháp lý để phân biệt những

hành vi đồng phạm với những hành vi liên quan đến tội phạm và truy cứutrách nhiệm hình sự những người đồng phạm. Việc nhận thức đúng dankhái niệm đồng phạm và xác định chính xác đồng phạm trong thực tiến xétxử là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN

trong lnh vực hình sự, nguyên tắc xử lý được quy định tại Điều 3 BLHS

1999 nhằm xử lý đúng người, đúng tội, không kết tội oan và không để lọt

tội phạm. Như vậy, khái niệm đồng phạm có ý nghĩa thống nhất về mặt

nhận thức trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử.

Về mặt lý luận, khái niệm đồng phạm được quy định trong BLHS, là

cơ sở lý luận cho việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề khác mang tính đặc

thù đối với đồng phạm như các giai đoạn thực hiện tội phạm, các hình thức

đồng phạm, tổ chức phạm tội ...

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

Bên cạnh những ý nghĩa nói trên, khái niệm đồng phạm cịn có ý

nghĩa trong việc xác định tính nguy hiểm cho xã hội của đồng phạm khi so

sánh với các hình thức phạm tội khác như hình thức phạm tội riêng lẻ, hình

thức phạm tội do nhiều người thực hiện nhưng khơng có đồng phạm.

Nghiên cứu 500 vụ án được lựa chọn theo xác suất do Tòa án các

cấp xét xử trong hai năm 1997, 1998 cho thấy, 293 vụ án phạm tội riêng lẻ,207 vụ án có nhiều người tham gia trong đó 181 vụ án có đồng phạm. Tínhtheo ty lệ phần trăm thì các vụ án phạm tội riêng lẻ chiếm 58,6%; các vụ áncó đồng phạm chiếm 36,2%; các vụ án có nhiều người tham gia nhưngkhơng có đồng phạm chiếm 5,2%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũngphù hợp với số liệu của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật: số vụ áncó đồng phạm chiếm khoảng 35 - 37% [49, 124].

Tiếp tục nghiên cứu đồng phạm đối với từng nhóm tội phạm, loại tộiphạm, chúng ta rút ra nhận xét sau đây: Các vụ án có đồng phạm chiếm tylệ cao trong nhóm các tội xâm phạm ANQG (62,9%) (riêng nhóm tội đặc

biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG, các vụ án có đồng phạm chiếm tỷ lệ caohơn), nhóm các tội phạm về tham nhũng (52,1%), tội cướp tài sản của công

dân (70,3%) và tội gây rối trật tự cơng cộng (57,5%). Riêng đối với nhóm

các tội phạm về ma túy, tỷ lệ các vụ án có đồng phạm thấp (21,5%); điềunày cho thấy, công tác điều tra thường chỉ khám phá ra các vụ án nhỏ, ít tập

trung làm rõ các tổ chức phạm tội, nhóm phạm tội hoạt động trên lĩnh vực

- Đối với các loại tội phạm, nhóm tội phạm có tính chất nguy hiểm

cho xã hội cao thì thường được thực hiện bằng hình thức đồng phạm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

- Đối với các tội phạm nói chung, thì các vụ án phạm tội trongtrường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có ý nghĩa chính trị xấu, phần lớn cũng

được thực hiện bằng hình thức đồng phạm.

- Trong trường hợp phạm tội bằng hình thức đồng phạm, sự tập

trung sức lực, trí tuệ, sự phối hợp, tương trợ lẫn nhau giữa những kẻ phạm

tội cho phép chúng không chỉ thực hiện tội phạm một cách dễ dàng hơn mà

trong nhiều trường hợp có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng hơn, dễ

dàng che giấu dấu vết của tội phạm để tránh khỏi sự điều tra, khám phá của

các cơ quan bảo vệ pháp luật. Về mặt tâm lý, những kẻ đồng phạm do dựad4m vào nhau nên quyết tâm phạm tội thường là cao hơn so với các trường

hợp phạm tội riêng lẻ. Đây cũng là một đặc điểm cần chú ý là đối với cácvụ án được thực hiện bằng đồng phạm, nếu đã làm rõ được một người đồng

phạm thì có thể làm rõ được các người đồng phạm khác.

Tuy nhiên, xét về mặt lý luận luật hình sự, quan điểm của các nhà

hình sự học về tính nguy hiểm cho xã hội của đồng phạm trong sự so sánh

với hình thức phạm tội riêng lẻ lại khơng thống nhất. Có ba loại quan điểm

chủ yếu sau đây:

Quan điển thứ nhất: đồng phạm ln ln có tính nguy hiểm cho

xã hội cao hơn so với hình thức phạm tội riêng lẻ. Nhà hình sự học Liên Xơ

(trước đây) M. A. Sơnhâyđơ thậm chí cịn cho rằng: "Trong mọi trường hợp

phải coi đồng phạm là hình thức phạm tội nguy hiểm hơn và vì vậy, phải

chịu trách nhiệm hình sự cao hơn” [66, 18].

Quan điển thứ hai: cho rằng đồng phạm không ảnh hưởng gì đến tínhchất và mức độ nguy hiểm của tội phạm; nó khơng có tính nguy hiểm choxã hội cao hơn so với hình thức phạm tội riêng lẻ. Tiêu biểu cho quan điểm

này là nhà hình sự học Liên Xô (trước đây) M. Ð. SargôrớtxkI [66, 18].

Quan điểm thứ ba: đồng phạm thường có tính nguy hiểm cho xã hội

cao hơn so với hình thức phạm tội riêng lẻ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

Chúng tôi cho rằng quan điểm thứ ba là đúng dan bởi lẽ nó được

luận chứng bằng cả cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Như đã phân tích ở

trên, thì so với hình thức phạm tội riêng lẻ, nhìn chung đồng phạm ảnh

hưởng lớn hơn tới tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm. Tuy nhiên,

nếu tuyệt đối hóa và cho rằng đồng phạm ln có tính nguy hiểm cho xã

hội cao hơn so với hình thức phạm tội riêng lẻ thì lại là sai lầm. Thực tiễn

xét xử đã chứng minh có khơng ít trường hợp người phạm tội riêng lẻ thựchiện tội phạm với quyết tâm phạm tội cao, liều lĩnh, gây thiệt hại rất lớn cho

xã hội chẳng kém gì nhiều người đồng phạm thực hiện tội phạm tương tự.

Ví dụ, tử tù Trần Thị Ch ở tỉnh B.T đã một mình gây ra 50 vụ cướp, giếtngười ở 17 tỉnh, thành phố từ miền Trung trở vào với 5 người chết và tài sảnbị chiếm đoạt trị giá khoảng 50 cây vàng.

Luật hình sự Việt Nam cũng đã thể hiện quan điểm này nên đã

khơng coi tình tiết đồng phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sựđược quy định tại Điều 48 BLHS 1999 và chỉ quy định tình tiết đồng phạmlà tình tiết định khung tăng nặng hình phạt của một số rất ít tội phạm xuất

phát từ đặc điểm của những tội phạm đó như tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ

em, tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm trẻ em với tình tiết nhiều người hiếp một

người, nhiều người cưỡng dâm một người. Luật hình sự Việt Nam chỉ quy

định tình tiết phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

được quy định tại Điều 48 và là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt

của 76 điều luật trong BLHS 1999.

Trong mối quan hệ với luật tố tụng hình sự, khái niệm đồng phạm

có ý nghĩa là một trong những cơ sở để thực hiện nhiều chế định của luật tốtụng hình sự như chế định chứng cứ (xác định những vấn đề phải chứng

minh trong vụ án hình sự, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ) chế định

vật chứng ... Ví dụ: Việc xử lý vật chứng được quy định tại khoản 2 Điều 58Bộ luật tố tụng hình sự có liên quan chặt chẽ với khái niệm đồng phạm, bởi

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

vì nếu xác định được chủ sở hữu vật chứng gồm vật, tiền bạc là người giúp

sức thì vật, tiền bạc đó khơng cịn thuộc phạm trù sở hữu của người khác màphải bị tịch thu.

Ngoài ra, khái niệm đồng phạm cịn có ý nghĩa là cơ sở lý luận chomột số ngành khoa học pháp lý có liên quan đến khoa học luật hình sự nhưtội phạm học, tâm lý học tư pháp... trong khi nghiên cứu những vấn đề về

tội phạm có tổ chức, tội phạm trong vị thành niên, vấn đề đồng phạm dưới

góc độ tâm lý học để.đề xuất những biện pháp phịng, chống tội phạm có

hiệu quả thiết thực hơn.

1,2. CÁC LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHAM

1.2.1. Khái niệm người đông phạm

Khái niệm đồng phạm đã được phân tích ở trên cho thấy hành vi củamỗi người đồng phạm khơng thể nào hồn tồn giống nhau mà mỗi người

đồng phạm có vai trị, tính chất và mức độ tham gia phạm tội khác nhau. Dù

có sự khác biệt như vậy, mỗi loại người đồng phạm vẫn có điểm chung họ

là người đồng phạm dé phân biệt với người thực hiện tội phạm trong trường

chủ mưu cũng phải cùng một tội, cịn người tịng phạm thì giảm một bậc”

[39, 170]. Hồng Việt hình luật cũng khơng có quy phạm định nghĩa vềngười đồng phạm mà chỉ có quy định về hai loại người đồng phạm là chánhyếu phạm và tùng phạm [7, 275]. Các văn bản pháp luật hình sự do Nhà

</div>

×