Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (78.81 MB, 133 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Hà Nội - 2000
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">MỤC LỤC
CHƯƠNG I
1.1 Tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngồi...s-.ss«e<sess 11.1.1 Khái niệm đầu tư nước ngoài và tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước
<small>¡49077 :... eetssteettertseeteeteteeeeeseel</small>
1.1.2 Các yếu tố cơ bản của quan hệ tranh chấp trong đầu tư nước ngoàisen len 6 A BỦI Hi SN HE Si XGI XS 5 HƠI B 1H 1 1 H1 TN 31M Ï tú kW Os SE SỐ 101.1.3 Giải quyết tranh chấp trong đầu tư nước ngoài ...l41.1.4 Vấn đề luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp ... 151.2 Đầu tư nước ngoài và tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngồi
tad 4 o8) 0 ...e.. .20
1.2.2 Thực trang va nguyên nhân tranh chấp trong đầu tư nước ngoài tại
¡ái 0h cc vm desc 1... E6 "3... .'rv.. 23
1.3 Một số cơ chế quốc tế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thươngmiại, đấu fur trên thể giÏỚi,...ecsocec co EhYesv0Ysss2gsskiGseasbissssfb EssecciEi 27
CHUONG II
HƯỚC ngoài Ù YIệL HT oss e nen ese. cớ gà th ngà nh wn Men we are LN 352.1.1 Cơ sở hiến định của việc giải quyết tranh chấp trong đầu tư nước
2.1.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp trongđầu tư nước ngoài ở Việt Nam...ccsceece.e..., BO
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">2.1.3 Các quy định về đề giải quyết tranh chấp thương mại đầu tư trong các
Điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham BÌ4... c2. cv ng neo 49
2.2 Thực tiên giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở
Việt In... an...
2.2.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Toà ấắn...cccscseseereses 562.2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Trọng tài..:... 642.2.3 Giải quyết tranh chấp thơng qua thương lượng, hồ giải... 702.2.4 Hạn chế tranh chấp bằng biện pháp hành chính... Xácmài LCE SỐ malay AEE KẪHEEEcis né en co th th mg nà ngưnggntaNđVlinnntotgis0v010001001799599401460-17lÊ2.3.1 Nhận xét về hệ thống pháp luật...-...-.« 762.3.2 Về các thiết chế giải quyết tranh chấp...- 812.3.3 Về thực hiện pháp luật...- eae ee enaeeens 85
CHUONG II
3.1 Sự cần thiết phải hồn thiện pháp luật và các phương thức giảiquyết tranh chấp trong đầu tư nước ngoài ở Việt nam... „883.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các phương thức giảiquyết tranh chấp trong đầu tư nước ngoài ở Việt Nam... ....00
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật.. ` "...
90 96
:3.2.3 Nang cao hiệu quả thực hiện pháp luật giải quyết tranh chấp trong đầu
ITU NƯỚC nØOÀI... c2 Qnn eee SH» nh ect tena kh he 104
MST THÂN nh execs teergeoysgscenmmans samen scammers. smnevarssmecmewasa masse L22179BEG41019H0T0715//00708 110IDanh mục tai liệu tham Khao... cecsscesscesccssesetscsseccscesssencsssessnneseens 112
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">1.1. Đầu tư nước ngoài và vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh vựcđầu tư nước ngoài là một trong nhữngvấn đề được nhiều người quan tâm
trong giai đoạn hiện nay. Nó giữ vai trị quan trọng trong q trình hội
nhập nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới. Từ khi bước vào
thiện tích cực mơi trường đầu tư nước ngồi nhằm thu hút nguồn vốn
tư nước ngoài vào nước ta đã tăng nhanh đáng kể. Tuy nhiên từ năm1997 nguồn vốn này bát đầu bị chững lại và giảm sút. Nguyên nhânkhách quan là do cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trong khu vực.Nguyên nhân chủ quan là do môi trường đầu tư ở nước ta, trong đó cóvấn đề pháp lý cịn nhiều điều bất cập. Vì thế vấn đề tạo ra lợi thế cạnhtranh cho môi trường đầu tư đang ngày càng trở nên bức bách.
Tại cuộc gặp gỡ với hơn 800 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
phủ Việt nam coi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi là một bộ
lợi cho nhà đầu tu và tạo thêm sức cạnh tranh cho Việt Nam trong khu
mới này điễn ra cả trong lý luận và thực tiễn, trong luật nội dung, luật tố
Việt Nam, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Bộluật dân sự năm 1995, Luật đầu tư nước ngoài năm 1996, Luật Thươngmại năm 1997... Bên cạnh đó là việc nước ta:tham gia và ký kết các điềuước quốc tế song phương và đa phương. Chỉ riêng lĩnh vực đầu tư nước
<small>'” Hoàng Thế Lién- về các phương thức giải quyết tranh chap chủ yếu: tại Việt nam trong lĩnh vực kinh</small>
<small>tế và đầu tư nước ngoài. Thang tin KHPIL,- Bo Tư Phap-so 5/1999</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">ngồi trong vịng 10 năm qua nước ta đã ký kết Hiệp định bảo hộ va
khuyến khích đầu tư với gần 40 nước trên thế giới. Các Hiệp định này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hoạt động đầu tư nước
<small>ngoài trong những năm qua.</small>
Cùng với việc xây dựng hệ thống pháp luật đầu tư nước ngồi,
cơng cuộc cải cách về mat tổ chức cũng được thực hiện rất khẩn trương
trong xu thế hội nhập. Các Toà kinh tế trong hệ thống Toà án nhân đânđược thành lập; tiếp đó là sự ra đời của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt
nam, các Trung tâm trọng tài kinh tế. Các tổ chức này góp phần đáp ứngnguyện vọng của các nhà kinh doanh trong giai đoạn hiện nay. Quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp ngày càng được đảm bảomột cách thiết thực hơn trong các quy định pháp luật và trong thực tiễn
đảm bảo thi hành pháp luật. Những nguyên tac cơ bản của tố tụng kinh
tế được áp dụng va dang phát huy hiệu qua. Các phương thức giải quyếttranh chấp thông thường trên thế giới như đàm phán, thương lượng hoà
giải, trọng tài, toà án đã được công nhận về mặt pháp lý và áp dụngtrong thực tiễn ở Việt Nam.
1.2 Tranh chấp (kể cả tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước
_ngoàI) là một hiện tượng bình thường khách quan trong xã hội. Xã hội
càng phát triển tranh chấp càng trở nên đa đạng và phức tạp. Có thể nóitrong mọi nền kinh tế đều tổn tại vấn đề tranh chấp và giải quyết tranhchấp. Việc giải quyết tốt tranh chấp sẽ là một trong những tác nhân thúc
hệ xã hội trong hoạt động đầu tư nước ngoài nên các tranh chấp phát
phạm vi và cách thức giải quyết.
Cần phải nói rằng, chất lượng của hệ thống pháp luật và năng lực
tài phán của các thiết chế tài phán còn hạn chế nên việc giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực này cịn gặp rất nhiều khó khăn và ít hiệu quả.
pháp, các tổ chức thiết chế cũng như cơ chế áp dụng pháp luật. Đặc biệtvấn đề đầu tư nước ngoài và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực nàygần như còn mới cả về lý luận và thực tiễn. Các khái niệm cơ bản củapháp luật như pháp luật kinh tế, hợp đồng kinh tế, tranh chấp kinhtế...còn chưa được thống nhất về mặt lý luận. Vì thế thực tế áp dụng cácquy định pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều vướng mắc Điều nàygây ra khơng ít hoang mang cho các nhà đầu tư nước ngồi. Bên cạnhđó hàng loạt các vân đề liên quan đến thẩm quyển của các cơ quan tố
tụng, hiệu lực của phán quyết trọng tài, pháp luật áp dụng, trọng tài
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">viên... còn chưa được giải quyết một cách thoả đáng làm các nhà đầu tư<small>nước ngoài ai ngại khi tiếp xúc với pháp luật Việt Nam. Thực tế cho</small>
thấy số vụ việc được đưa đến các cơ quan thẩm quyền để giải quyếtkhác xa nhiều so vơí số vụ tranh chấp xảy ra trên thực tế. Đây là điều
mà chúng ta cần nghiêm túc xem xét trên tất cả các khía cạnh của vấn
đề để hồn thiện hệ thống pháp luật và chính sách đầu tư.
Thực trạng này địi hỏi phải có sự nghiên cứu cả về mặt lý luận
và thực tiễn vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước
ngoài. Xuất phát từ nhu cầu này chúng tôi đã chọn dé tài "Giải quyéttranh chấp trong lĩnh vực đầu tu nước ngoài ở Việt nam- thực trang vàphương hướng hoàn thiện” làm dé tài nghiên cứu luận văn cao học.
Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việtnam đang là vấn đề thời sự trong giai đoạn hiện naý/ Sự quan tâm này
xuất phát từ nhu cầu thực tiễn thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngồi
hồn thiện mình trên mọi lĩnh vực trong quá trình hội nhập. Giải quyết
tốt mối quan tâm này dang là một nhu cầu bức bách.
Trong những năm gần đây đã có nhiều cơng trình và bài viết
nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vấn đề đầu tư nước ngồi và giải
quyết tranh chấp kinh tế nói chung. Một số tác giả đi sâu nghiên cứu
các vấn đề về giải quyết tranh chấp theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.Ví dụ cơng trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài,hoà giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam của TS.DươngThanh Mai; về giải quyết tranh chấp kinh tế và việc tham gia Cơng ướcNiu-c 1958 của TS.Hà Hùng Cường; về các phương thức giải quyếttranh chấp chủ yếu tại Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư nướcngoài của TS. Hoàng Thế Liên; về các vấn-đề cơ bản trong việc soạn
nhân làm hạn chế tác dụng của trọng tài kinh tế và những giải pháp
khắc phục của TS. Dương Đăng Huệ, về giải quyết tranh chấp kinh tếbằng toà án của ThS.Đào Văn Hội; về trọng tài thương mại Việt Nam
của ThS. Dương Văn Hậu...
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có bài viết, cơng trình nghiên
cứu nào mang tính tổng thể và dé cập trực tiếp đến vấn dé giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngồi ở Việt Nam. Vì thế đề tài
luận văn cao học này về cơ bản là mới, chưa được nghiên cứu một cáchtổng thể, toàn diện.
<small>t2}</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Kết quả của đề tài là sự tiếp thu có chọn lọc và kế thừa kết quả
nghiên cứu của các cơng trình đã được đưa ra nhằm nghiên cứu mộtcách tổng thể hơn vấn đề này trong thực tiễn và lý luận.
Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn giải
quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt nam tronggiai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần
hồn thiện hệ thong phap luật và các thiết chế về giải quyết tranh chấptrong lĩnh vực đầu tư nước ngồi nói riêng và giải quyết tranh chấp
kinh tế nói chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu khái quát vấn đề lý luận về tranh chấp trong lĩnh
vực đầu tư nước ngồi.
+ Nghiên cứu, phân tích thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành
và các phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nướcngoài của Việt Nam.
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các phương thức giải quyếttranh chấp ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằmbước đầu góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và các phương thứcgiải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Với các mục đích và nhiệm vụ trên đây, đề tài chủ yếu đề cậpkhái quát vấn đề lý luận về tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngồinói chung va vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh này dưới góc độthực tiễn. Đề tài không đi sâu nghiên cứu vấn đề giải quyết tranh chấpmà một bên tham gia là Chính phủ hoặc cơ quan cơng quyền. Tác giảtiếp cận vấn đề dưới góc độ phân tích thực trạng hệ thống pháp luậthiện hành cũng như tình hình, nguyên nhân và thực tiễn giải quyếttranh chấp trong lính vực này. Trên co sở đó, đưa ra một số nhận xétđánh giá và các kiến nghị về hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng nhưcác thiết chế giải quyết tranh chấp trong dân. tur nước ngoài ở nước ta.
4.2. Cơ cấu của Luận án
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Luận án gồm Phân mở đầu, 3 Chương, Phần kết luận, Danh mục
tài liệu tham khảo đã được sử dung và Phần phụ lục, cụ thể như sau:
- Phan mở dau;
- Chương I: Mot số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài;
- Chương II: Pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong
lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt nam;
<small>- Chương II: Phương hướng hoàn thiện pháp luật và các phương</small>thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại<small>Việt Nam;</small>
- Phần kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục.
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
-Lê nin về nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh và các đườnglối chính sách của Đảng cộng sản Việt nam, nhất là các quan điểm đổimới trong quá trình hội nhập. Cụ thể, trong quá trình thực hiện luậnán, tác giả dùng phương pháp phân tích tổng hợp để làm rõ các vấn đểpháp lý liên quan đến lý luận và thực tiễn vấn đề giải quyết tranh chấptrong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Phương pháp phân tích thực tiễn,phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh đốichiếu là các phương pháp được áp dụng đều khắp để trình bày các
thiện. Luận văn đã kết hợp nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, vận dụng tư tương đổi mới
của Đảng và Nhà nước trong q trình hội nhập.
-Luận án lần đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thốngvề vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoàiở Việt nam.
- Tác giả luận án phân tích được thực trạng hệ thống pháp luật
hiện hành và thục tiên giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu
tư nước ngoài.
- Từ thực tiễn trên, đưa ra được một số kiến nghị liên quan đến
vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tu nước ngoài ở<small>Việt nam.</small>
<small>wn</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Trong q trình nghiên cứu và hồn thành luận án, tác giả nhậnđược sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dân khoa học Hà Hùng Cường,TS luật học, Thứ trưởng Bộ Tư pháp; của TS. Dương Thanh Mai- Phó
viện trưởng Viện NCKH pháp lý Bộ Tư pháp;
Tác giả luận án xin chân thành cam ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và
quý báu này.
Lời cam ơn xin được gửi đến các thay cô giáo Khoa sau dai hocTrường Đại học Luật Hà Nội; các cơ quan Bộ Kế hoạch và Đầu tu,Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam, Toà án nhân dân tốt cao, Toàán nhân dân Thành phố Hà nội, Toà phúc thẩm Toà án tối cao tại Hànội, Văn phịng Chính phủ, các bạn đồng nghiệp của Viện NCKH
pháp lý Bộ Tư pháp, đặc biệt là Thư viện Bộ.
TÁC GIÁ LUẬN VĂN
Đỗ Thị Ngọc
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">CHƯƠNGI _
1.1.1 Khái niêm đầu tư nước ngoài và tranh chấp trong lĩnh vựcdau tư nước ngoài
Tranh chấp là một hiện tượng khách quan trong xã hội. Nền kinh tếcàng phát triển, tranh chấp càng trở nên đa dạng và phức tạp. Trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh, tranh chấp đã trở thành một hiện tượng bìnhthường đối với mọi nền kinh tế. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, người tavẫn chưa tìm ra được một khái niệm thống nhất về tranh chấp kinh tế,' đặcbiệt là khái niệm về loại tranh chấp này trong pháp luật.:Vì thế, việc tìm
nhân nước ngồi, đặc biệt là có sự tham gia của Chính phủ các nước vàkhả năng áp dụng pháp luật nước ngồi trong q trình giải quyết tranh
biệt xuất phát từ nhu cầu tiếp nhận và yếu tố văn hoá- pháp luật khác
trong những nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ sự ảnh hưởng của
Pháp luật về giải quyết tranh chap kính tế - Tap IW - Phen HH - Chương 1. Kỷ yến của
<small>Dự án VIEI94I003. Tr 45</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">nền kinh tế kế hoạch hoá. Pháp luật điều chỉnh DTNN còn mới và đang
thiện. Và giống với các nước, lý luận về tranh chấp trong lĩnh vực ĐTNNthường ít được chú ý hơn việc hồn thiện cơ chế và pháp luật điều chỉnhvấn đề giải quyết loại tranh chấp này.
Khái niệm về tranh chấp trong lĩnh vực DTNN liên quan mật thiếtvới khái niệm về đầu tu trực tiếp của nước ngoài (FDI). FDI là nguồn vốnrất quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới trong đó có nước ta. Đây làmột yếu tố quan trọng tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước
lên tới 65 đến 70 ti USD. Do vậy cần tăng kha năng thu hút và huy độngcó hiệu quả nguồn vốn nước ngồi. Đặc biệt trong q trình quốc tế hốnền kinh tế và hội nhập thì FDI là một hình thức hợp tác tất yếu và là hìnhthức đầu tư có hiệu quả cao.
FDI đã tồn tại từ rất lâu. Từ thời tiền tư bản các công ty như Mobil
điền nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu cho chính quốc. Sau chiến tranh
hướng và phạm vi rộng hẹp khác nhau. Hầu như trên thế giới chưa có mộtquan niệm chung, thống nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ những
L PTS. Nguyễn Khắc Than; PTS. Chu Văn Cấp- Những giải pháp chính trị kinh tế nhằmthu hút có hiệu quả đầu ne trực tiếp nước ngồi vào Việt nam.Nhà xuất bản Chính trị<small>Quốc gia.Hà nội 1996. tr.7-16.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đâu tư nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
năm 60 của thế kỷ 20, các nhà kinh tế học quốc tế đã cố gắng xây dựngnhững mơ hình lý luận nhằm giải thích nguồn gốc, đặc điểm và tác độngcủa FDI tới quá trình phát triển kinh tế. Lý thuyết hiện đại về FDI rất đadạng. Mỗi lý thuyết chỉ phản ánh một vài khía cạnh nhất định của FDI.Vídụ, lý thuyết về danh mục đầu tư quốc tế nghiên cứu FDI với tư cách là sựlưu chuyển của dòng vốn quốc tế trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo; lýthuyết lợi thế độc quyền của FDI được xây dựng trên cơ sở cạnh tranhđộc quyền; lý thuyết chu kỳ vòng đời sản phẩm được sử dụng để giải thíchxuất khẩu va FDI trong các ngành cơng nghiệp với sản phẩm được đa danghố. Tuy nhiên nó khơng giải thích được hiện tượng đầu tư lẫn nhau.!
Thông thường, FDI được hiểu là sự vận động của một số loại vốnnhất định của một nước sang nước khác nhằm thực hiện hoạt động đầu tư.
FDI không chỉ là vốn mà còn bao gồm cả kỹ thuật, cơng nghệ, bí quyết kỹ
thuật, sản xuất kinh doanh, năng lực marketing. Về bản chất có thể nóiFDI là một q trình di chuyển cơng nghệ và vốn từ nước nọ đến nước kiatrên phạm vi toàn cầu. FDI gắn bó với q trình chuyển dịch cơ cấu và
cơng nghiệp hố đất nước, trên cơ sở đó tiến tới hội nhập khu vực và quốctế.
Trên thế giới hiện nay người ta quan tâm nhiều đến việc thu hút FDIhơn là tập trung nghiên cứu lý luận về FDI. Việc chuyển trọng tâm này
Uruguay vấn đề FDI chỉ lần đầu được đề cập đến trong chương trình nghịsự của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). FDI đượcđưa ra thảo luận vào giữa những năm 1950 khi Nghị quyết về đầu tư quốc
L PTS. Nguyễn Hồng Sơn- “Những lý thuyết liên đại về FDI “ in trong báo cáo kết quảnghiên cứu nhiệm vu cấp Bộ : Đầu ur trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế. Viên<sub>ghién cứu nhiệm vụ cấp Bị re tiếp § P é</sub>
<small>kinh tế thế giới 1996.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>Đó Thị Ngọc — Giải quyết tranh chap trong lĩnh vực đầu tt nước ngoài 6 Việt Nam. ...</small>
vấn đề đầu tư được quy định trong 3 Hiệp định: Hiệp định về các biện
pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs); Hiệp định chung về
trí tuệ (TRIPs). GATT đã đưa vấn dé đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phạm
cấp dịch vụ. Các hiệp định trên đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của GATTvà WTO trong đó có một loạt vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngồi. Vì lýdo này các tranh chấp liên quan đến vấn đề đầu tư và thương mại sẽ đượcgiải quyết theo thủ tục mới quy định tại các Hiệp định ký tại vòng đàm
và thương mại quốc tế. Thành hay bại của WTO chính là thành hay bại
của q trình giải quyết tranh chấp.'
Điều 2 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 quy định: đầu tưtrực tiếp nước ngoài là việc Nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam
của Nhà đầu tư nước ngoài phải gắn với hoạt động đầu tư nhất định. Như
<small>' Thomas L. Brewer. Thủ tục giải quyết tranh chấp đầu tt quốc tế, một cơ chế dang</small>phát triển nhằm phục vụ đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tr.5-10. Tài liệu Hội thảo về luật<small>kinh tế quốc tế của Viện quan hệ quốc tế năm 1997.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><small>Đồ Thị Ngọc ~ Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
vậy quan niệm về FDI gắn liền với sự vận động của nguồn vốn hoặc tàisản của nhà đầu tư nước ngoài sang nước khác với mục tiêu kinh doanh
<small>sinh lợi nhuận.</small>
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hoạt động kinh tế
quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Dĩ nhiên cũng như nhiều loại hoạtđộng kinh tế khác, đầu tư nước ngoài cũng có thể làm phát sinh tranhchấp. Do đó có thể nói, ranh chấp trong lĩnh vực ĐTNN là một dạng củatranh chấp kinh tế. Tranh chấp kinh tế (gọi tắt là TCKT) hiểu theo nghĩachung thông thường là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể kinh tế trong
tức là các tranh chấp phát sinh trong quá trình ký kết, thực hiện và chấm
chấp dân sự và tranh chấp thương mại.' 5
diều kiện pháp luật của chúng ta cịn chưa được hồn thiện trong giai đoạn
<small>A33 1</small>
chuyển đổi. Hiện nay ở nước ta các khái niệm “pháp luật kinh tế”, "quan
<small>' Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế - Tập IV plan IT, chương I- Ky yếu Dự án</small>
<small>V)E/94/003.Tr.45-50.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>Đô Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dau tut nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
hệ pháp luật kinh tế” vẫn chưa được giải quyết thoả đáng về mặt lý luận.Tranh chấp kinh tế trong pháp luật thường được gắn với hợp đồng kinh tế.
Vì thế nó đã khơng đáp ứng được sự đa dạng của các loại tranh chấp trongnền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó trong những năm gần đây cùng với
học pháp lý có đưa ra sử dung các thuật ngữ như luật kinh doanh, luật
thương mại. Về bản chất có thể đồng tình với quan niệm của tác giả PhạmHữu Nghị (trong bài viết: "Về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước
rằng ranh chấp kinh tế là mâu thuẫn hay xung đột về quyền và nghĩa vụgiữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tu cách là chủ thể kinh doanh.Những tranh chấp này phản ánh sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các
Tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngồi khơng chỉ đơn thuần làmột dang của tranh chấp kinh tế mà còn gắn liên với yếu tố nước ngoài.Yếu tố nước ngoài là vấn đề được đề cập nhiều trong các loại văn bản phápluật khác nhau của Việt Nam.
dân sự (BLDS) Việt Nam khơng chỉ có yếu tố chủ thể mà cịn bao gồm cảyếu tố về sự kiện pháp lý và khách thé của quan hệ dan su’. Quan hệ dânsự có yếu tố nước ngoài phải đáp ứng một trong ba yếu tố trên, cụ thể là:là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài, quan hệ phát sinh ở nước ngoài
“Yếu tố nước ngoài” trong các quy định của pháp luật kinh tế ở Việt
F Bình luận khoa học một số vấn đề cơ ban của Bộ Luật Dân sự NXB. Chính trị Quốc
<small>gia. Hà Nội 1997, Tr.364-372.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>Đô Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tr nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
Điều 87 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 về giảiquyết các tranh chấp kinh tế có nhân tố nước ngoài mới chỉ đề cập đến yếu
triển của nền kinh tế thị trường ngày càng đa dạng phong phú thì sự “hạnhẹp” này là điều sẽ gây cho những người tHực thi pháp luật khơng ít khókhăn trong việc xác định, phân loại và xét xử tranh chấp. Khắc phục đượcđiểm hạn chế này cũng sẽ góp phần mở rộng thẩm quyền giải quyết tranhchấp của các cơ quan tài phán kinh tế Việt Nam góp phần hài hồ hố
pháp luật trong q trình hội nhập.
Trên thực tế khái niệm về tranh chấp đầu tư dường như được mặcnhiên sử dụng trong các văn bản pháp lý và thiết chế quốc tế liên quan đếnvấn đề đầu tư. Và người ta chú ý đến việc hoàn thiện cơ chế giải quyết loạitranh chấp này hơn là tìm hiểu khái niệm về nó. Xu hướng này có lẽ là
hợp lý khi các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp. Trong bối
cảnh q trình quốc tế hố ngày càng tăng, những bất đồng đơn lẻ trong
nước chủ nhà và nước có nhà đầu tư; và theo phản ứng dây chuyền rất dễ
Từ những năm 1960, nhiều cơng trình nghiên cứu đã và đang tìm
bản nước ngồi mang đến, dau tư nước ngồi cịn là hiện hữu của sự tước
<small>f} John M. Rothgeb- Đầu tr nước ngồi ngồi và xung đột chính trị ở các nước dang</small>phát triển. Connecticut: Praeger,1996.tr.5
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">nhà khơng phụ thuộc vào ý nguyện và chính sách đầu tư của Chính phủ
nước đó.
Có thể nói rằng tranh chấp trong lĩnh vực DTNN, xét theo nghĩa
trong một loạt các lợi ích liên quan trong các mối quan hệ xã hội phức tạpđa dạng và tế nhị. Việc nhận thức đúng và thoả đáng các tranh chấp đầu tư
vì lẽ đó có tầm quan trọng đặc biệt. 7
nghiên cứu nào dua ra định nghĩa chi tiết về tranh chấp đầu tư nước ngoài.Chỉ biết rằng DTNN là q trình chuyển vốn (bao gồm cả cơng nghệ va
các yếu tố khác của sở hữu trí tuệ) và/hoặc nguyên vật liệu từ một nước
'! Boswell & Dixon. Đánh giá cơng trình nghiên cứu: sự bất bình đẳng về kinh tế có<small>phải là lý do dẫn đến các mâu thuần chính trị in trong World Politics (chính tri thế giới)số XLI, tháng 7/1989.Tr.431-470</small>
<small>? Thuật ngữ Latinh inter partes (giữa các bên có liên quan) và erga omnes (lợi ích cộng</small>đồng) là khái niệm hiện dang được dùng phổ biến trong luật quốc tế hiện dai. Q trình<small>tồn cầu hố và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dẫn đến hiện tượng một vấn đề</small>phát sinh giữa hai quốc gia hoặc thậm chí giữa một tổ chức của quốc gia này với quốcgia khác cũng có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.
3R_ Bernhardt (biên tập) Từ điển bách khoa Công pháp quốc té Amsterdam:
<small>Elsevier,1995,tập IL. Tr.435</small>
<small>* Công ước về giải quyết các tranh chấp dâu tt giữa các quốc gia va công dân các quốc</small>
<small>gia khác có hiệu lực pháp luật từ 14/10/1966. Tính đến 21/3/2000 có 149 quốc gia đã ký</small>
trong dé 131 quốc gia đã phê chuẩn Công ước này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">niệm “đầu tư” cũng như khái niệm "tranh chấp đầu tư”. Theo một nhà
nghiên cứu thì lý do của việc này là ở chỗ những người soạn thảo Cơngước muốn về lâu dài ICSID có thẩm quyền rộng trong việc xét xử cáctranh chap.’
<small>Tuy nhiên với những phân tích trên đây theo chúng tơi tạm thời có</small>
thể quan niệm rằng: tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài là nhữngmâu thuần, bất đồng phan ánh sự xung đột về lợi ích giữa các bên chủ thểtrong q trình thực hiện hoạt động đầu tư nước ngồi.
Về bản chất tranh chấp ở đây khác căn bản với vấn đề khiếu nại, tố
chấp là đối tượng điều chỉnh của luật tư và thường được giải quyết thông
qua thương lượng hoà giải giữa các bên, hoặc trọng tài, hoặc toà án theo sựthỏa thuận giữa các bên và theo quy định của pháp luật. Còn đối tượng của
11/12/1998) là các quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyếtđịnh kỷ luật cán bộ, cơng chức của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩmquyền có kha năng trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của
hoặc đe doa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước , quyền, lợi ích hợp pháp
của điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo) là việc xác minh, kết luận và ra quyết
<small>‘Jean Monnet. Các cơ chế giải quyết tranh chấp kính tế quốc tế.</small>
<small><lprograms!JeanMonnet!papers!97/97-13-Part-3.hitml>Tr.5-6.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tt nước ngồi ở Việt Nam ...</small>
định giải quyết của người giải quyết khiếu nại. Giải quyết tố cáo là việcxác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người
giải quyết tố cáo. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhànước xem xét, xác minh, quyết định bằng con đường hành chính và là đối
1.1.2 Các yếu tơ cơ bản của quan hệ tranh chấp trong đầu tư nước
Xét theo nghĩa rộng cĩ ba loại tranh chấp trong DTNN, đĩ là:
- Tranh chấp phát sinh giữa nước chủ nhà (NCN) và nước cĩ nhà đầu tư,gọi tắt là nước đầu tư (NĐT);
- Tranh chấp giữa nước chủ nhà và nha đầu tư nước ngồi (NĐTNN); và
Tranh chấp giữa nước chủ nhà và nhà đầu tư là tranh chấp thuộc đốitượng điều chỉnh của Luật cơng pháp quốc tế, trọng đĩ các bên tranh chấp(ratione personae) là quốc gia cĩ chủ quyền. Đối tượng tranh chấp của loạinày (ratione materiae), ngồi các vấn đề xuất phát từ quan hệ giữa hai
những vấn đề phát sinh từ đầu tư tư nhân. Một số nhà nghiên cứu khơngcho loại tranh chấp này là hình thức tranh chấp đầu tu.
Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngồi và Chính phủ (trực tiếp hoặcthơng qua các cơ quan Chính phủ) nước chủ nhà là loại hình tranh chấpchủ yếu và tương đối phức tạp cịn nhiều vấn đề lý luận và thực tiên về mặtpháp lý chưa được giải quyết một cách thộ đáng. Nguyên nhân chính là
<small>‘Sun Nanshen. "So khảo về tranh chấp đầu tư giữa Trung quốc với bên nước ngồi vàcác phương thức giải quyết” in trong “các vấn dé pháp lý của ĐTNN tại Cộng hồ nhân</small>
<small>dân Trung hoa". Hongkong 1988.Tr.206</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam...</small>
do các bên tranh chấp không phải là chủ thể của một hệ thống pháp luật.
Nước chủ nhà với tư cách là một quốc gia có chủ quyền thuộc đối tượng
điều chỉnh của công pháp quốc tế trong khi NĐTNN là chủ thể của tư
pháp quốc tế. Các quốc gia thường thoả thuận tại Hiệp định bảo hộ đầu tư
về giải quyết các tranh chấp đầu tư (ICSID).
Trong các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư thường quyđịnh loại tranh chấp giữa Công ty và Chính phủ và giữa các Chính phủ với
nhau. Tranh chấp giữa các Nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước chủnhà rất dễ trở thành tranh chấp giữa hai Chính phủ. Tuy nhiên, vấn đề
trọng tâm trong các Hiệp định vẫn là tranh chấp giữa nhà đầu tư với Chính
dụng để chỉ loại tranh chấp này'.
dân) NCN là loại hình tranh chấp thuần tuý mang tính dân sự kinh tế vàthường được giải quyết tại các cơ quan giải quyết tranh chấp của NCN
hoặc trọng tài quốc tế nếu các bên khơng có thoả thuận khác. Loại tranh
chấp này tương đối đa dạng về quy mơ và tính chất, dễ dẫn đến ngừng
có thể phát sinh trên cơ sở bất đồng ngôn ngữ, quan điểm, phong tục...củamỗi nước khác nhau.
* Các bên tranh chap và đôi tượng tranh chap
Trong cả lý luận và thực tiễn, đối tượng tranh chấp không phải là vấn đềgây tranh cãi lớn. Vấn đề tương đối phức tạp và tế nhị, nhất là trong quan
hệ với các nước mà trong đó có các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tham
‘Thomas L. Brewer.Tài liệu đã dẫn. Tr.21
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dau tit nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
quá trình dam phan ký kết hợp đồng đầu tư, NDTNN có xu hướng muốnlơi kéo các cơ quan quản lý nhà nước của NCN vào quan hệ hợp đồng vaép các cơ quan này phải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp vi
phạm hợp đồng. Chẳng hạn ở Trung quốc lý do chính của tình trạng này làở chỗ bên nước ngồi khơng hiểu hoặc cố tình khơng hiểu rằng theo Luật
của Trung quốc thì bên tham gia hợp đồng đầu tư là doanh nghiệp hoặc
công ty Trung quốc với tư cách là một thực thể kinh tế có tư cách phápnhân độc lập (thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tư) chứ không phải là cơquan nhà nước của Trung quéc.'
Sự hiểu nhầm về các bên tranh chấp là hệ quả của sự hiểu nhầm vềcác bên ký kết hợp đồng đầu tư đặc biệt là khi có các doanh nghiệp nhà
nước có nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó
tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở hạch tốn độclập chứ khơng phải là cơ quan hành chính nhà nước. Trong trường hợpphát sinh tranh chấp thì các doanh nghiệp này phải tự tìm cơ chế để bảo vệquyền lợi của mình và độc lập chịu trách nhiệm về các hành vi của mình
chứ không phải là cơ quan nhà nước.
Vấn đề cần phải nhận thức là do hệ thống pháp luật kinh tế ở các
các DNNN không phải lúc nào cũng được xác định rõ ràng trong pháp luật
<small>' Luật xí nghiệp liên doanh giữa Trung quốc với bên nước ngồi, Điều 1.</small>
* Xót về cấu trúc doanh nghiệp có vốn đầu tr nước ngồi ở Việt nam, doanh nghiệp nhà<small>nước chiếm 213, các doanh nghiệp tt nhân mới chỉ có 140 dự án liên doanh(.. .). Việt</small>nam muon tí tiên vốn FDI để vực dậy các DNNN thua lỗ song trên thực tế sự gắn ghép<small>này không dem lại kết quả nhit mong muốn- (Xem "xu hướng vận động của nguồn vốnđâu tc trực tiếp nước ngồi trong bối cảnh khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu A" củaTrần Minh đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế số 264 tháng 5/2000).</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22"><small>Đổ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dducnt nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
và trên thực tế. Bên cạnh đó ảnh hưởng của cơ chế cũ vẫn còn, trong mộtthời gian vẫn còn lẫn lộn giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng
kinh doanh. Tình trạng này đã và đang được khắc phục nhưng không phảikhông để lại những dấu ấn nhất định. Trong trường hợp phát sinh tranhchấp thì vấn đề cần xác định là liệu các cơ quan nhà nước có phải chịutrách nhiệm quốc tế do vi phạm hợp đồng hay khơng. Nhìn chung cácnước phát triển có xu hướng coi vi phạm hợp đồng kiểu này phải chịutrách nhiệm quốc tế. Ngược lại các nước đang phát triển cho rằng đâykhông phải là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế và vì vậy khơng phải chịutrách nhiệm quốc tế. '
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường xuất hiện dưới hai tư cách khácnhau. Đó là: cơ quan tiếp nhận và quản lý cơng trình BOT sau khi đượcchuyển giao theo hợp đồng hai bên đã ký kết; là cơ quan nhà nước tiếnhành quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng thực hiện pháp luật bảo vệ lợiích của dân cư và các bên hữu quan theo quy định của pháp luật. Thông
phóng mặt bằng và đền bù quyền sử dụng đất. Trường hợp có tranh chấpxảy ra thì quan hệ giữa hai bên doanh nghiệp BOT và cơ quan quản lý nhà
Nhìn chung trong bất cứ loại hình hoạt động kinh tế nào cũng vậy,
<small>‘Yao Meizhen, bảo hộ pháp lý dau ne quốc tế in trong niên giám luật quốc tế Trung</small>
<small>quốc. Tr.136</small>
? Lê Đăng Doanh. Quan hệ giữa doanh nghiệp BOT và cơ quan quản lý nhà nước. Tài
<small>liệu hội thảo các Dự án lớn về hạ tang cơ sở của Nhà pháp luật Việt pháp. Hà nội 1997</small>
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><small>Đồ Thi Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dau tr nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
xác định đúng tính chất nội dung cũng như đối tượng của tranh chấp để có
Tranh chấp giữa các Chính phủ với nhau thường liên quan đến việcthực hiện Hiệp định. Đối tượng của tranh chấp giữa Chính phủ và nhà đầu
nước nhận đầu tư áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính đối với đầu
tư nước ngồi. Trong một số Hiệp định quy định cụ thể đối tượng tranhchấp là việc hiểu và giải thích Hiệp định như trong Hiệp định giữa Việt
Tranh chấp giữa xí nghiệp liên doanh và cơ quan quản lý các cấp
tế trong trường hợp không giải quyết được thơng qua thương lượng, hồ giảithì được thoả thuận giải quyết bằng trọng tài. Trong các Hiệp định bảo hộđầu tư song phương quy định khá chi tiết về thủ tục chọn trọng tài cũng nhưchi phí mà các bên phải chịu nếu lựa chọn hình thức giải quyết này. Đối với
tranh chấp giữa NCN và NDTNN thì xu hướng chung là phía NDTNN va
chính phủ của họ thường muốn đưa ra xét xử tại ICSID, trong khi các nướcchủ nhà lại muốn xét xử tại các cơ quan giải quyết tranh chấp trong nước
<small>Hoàng Phước Hiép-Mot số vấn dé ly luận và thực tién ký kết các Hiệp định về ký kết vàbdo hộ đầu nt nước ngồi của Việt nam- Thơng tin KHPL số chun dé" Mốt quan hệgiữa diéu tớc quốc tếcủa CHXHCN Việt Nam</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><small>D6 Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tí nước ngồi ở Việt Nam ...</small>
của họ như toà án hay trọng tài. Lý do chủ yếu của vấn đề này là ở chỗ cácnhà đầu tư nước ngoài chưa cảm thấy yên tâm đối với cơ chế giải quyết
tranh chấp tại nước chủ nhà. Đối với tranh chấp giữa NDTNN và cá nhân, tổ
chức NCN thì có nhượng bộ, thoả hiệp nhất định nhưng thường được các
Phương thức giải quyết cả ba loại tranh chấp đầu tư nhìn chung docác bên thoả thuận. Tuy nhiên chọn phương thức nào và chi tiết thoả thuận
đến đâu lại phụ thuộc vào thái độ của các nước có quan hệ đầu tư, nhà đầu
tư nước ngoài và nước chủ nhà cũng như hệ thống pháp luật thực định và
hiệu quả của quá trình tố tụng ở nước chủ nhà. Phương thức giải quyết
tranh chấp thường được quy định ngay trong các Hiệp định bảo hộ đầu tư
hoặc hợp đồng đầu tư. Thông thường có các phương thức giải quyết truyền
thống sau: thương lượng, hoà giải, trung gian hoà giải, trọng tài và toà án.
Một lần nữa cần nói đến thực tế là các nước chủ nhà ln có ý hướng nộimuốn chọn hệ thống cơ quan xét xử của nước mình, trong khi các nhà đầu
tư nước ngồi lại có ý hướng ngoại, tìm cơ chế giải quyết tranh chấp ở
ngồi nước chủ nhà.
1.1.4 Vấn đề luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp
Luật áp dụng dé giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nướcngoài là một vấn đề hết sức phức tạp. Nguyên tắc chủ đạo trong tư pháp
quốc tế là đối với các tranh chấp thuộc lĩnh vực dân sự và kinh tế, luật áp
dụng nói chung do các bên thoả thuận trong hợp đồng. Trong trường hợpcác bên khơng thoả thuận hoặc có thoả thuận nhưng khơng rõ ràng thì cơquan xét xử áp dụng một số nguyên tắc thơng dụng như /ex fori (luật củatồ án nơi xét xử); /ex loci actus (luật nơi thực hiện hành vi giao dich); /exrei sitae (luật nơi có tài san); lex loci delicti (luật nơi thực hiện hành vi viphạm); hoặc ex aequo et bono (theo nguyên tắc luật công lý và lẽ phải tự
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu ut nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
nhiên).' Thực tiễn gần đây cho thấy ở một số nước như Mỹ có xu hướng đadạng hố luật áp dung, khơng phụ thuộc vào các nguyên tắc truyền thốngmà căn cứ vào quyền lợi thực sự của các bên tranh chấp. Thực tiễn này
mới phát sinh trong khoảng [5 năm trở lại đây nhưng thực tiễn áp dụng
của tồ án cịn chưa thống nhất.
Nhìn chung, để giải quyết sự xung đột pháp luật và bảo vệ quyền lợi
trong việc lựa chọn pháp luật để áp dụng. Giải quyết vấn dé này, tư phápquốc tế thường có ba phương pháp:”
Thứ nhất, xây dựng và áp dụng các quy phạm thực chất thống nhdt.Đây là các quy phạm do các quốc gia thoả thuận xây dựng bằng cách kýkết các điều ước quốc tế hoặc công nhận và áp dụng những tập quán quốctế nhất định để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như đưa ranhững biện pháp và hình thức chế tài có thể áp dụng đối với bên vi phạm
pháp luật. Xu hướng chung của các nước hiện nay là xây dựng các quy
các quan hệ có yếu tố nước ngồi. Các quy phạm thực chất thống nhất
được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế như Công ước Pari năm 1883về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Vác-sa-va năm 1929 vềvận tải hàng không, Công ước Chicago năm 1944 về hàng không dândụng... Các nước hiện nay có xu hướng ký kết điều ước quốc tế, xây dựng
các quy phạm thực chất thống nhất đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và
giao thông vận tải quốc tế.
EI. Sykes & M.C. Pryles. Luật xung đột quốc tế và Liên bang. NXB.
<small>Butterworths,1981. Tr.20- 3].</small>
? E.I.Sykes & M.C. Pryles. sdd.tr.31-33
3 Xem giáo trình tư pháp quốc tế- trường Đại học luật Hà nội. NXB. Công an nhân dân
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">Thứ hai, xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột. Đây là việc
chọn pháp luật của nước này hay nước khác để xác định quyền và nghĩa vụ
của các bên đương sự khi khơng có quy phạm thống nhất. Việc lựa chọn
này được tiến hành trên cơ sở chỉ dẫn của quy phạm xung đột. Có thể nói
nước ta hệ thống các quy phạm này nằm rải rac trong các văn bản nhưLuật hơn nhân và gia đình 1986 (Điều 52), Bộ luật dân sự (phần thứ 7), Bộ
ước Lahay năm 1955 về pháp luật áp dụng trong mua bán quốc tế các loại
động sản, các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các nước... Thơng thường
khi có sự khác nhau giữa quy định của luật trong nước với các quy địnhcủa các điều ước quốc tế. thì luật pháp các nước thường công nhận ưu thế
đều quy định rằng luật nước ngồi sẽ khơng được áp dụng nếu nó khơng
phù hợp với trật tự cơng cộng và luật pháp nước mình và có những biện
pháp phân biệt đối xử với cơng dân nước mình. Nước ta cũng khơng nằmngồi ngun tắc này. Điều 827, 828 Bộ luật dân sự Việt nam quy định:“.,pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên cóthoả thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy địnhcủa Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của CHXHCN Việt nam...”Pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế cũng chỉ được áp dụng, nếu việc ápdụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó khơng trái với ngun tắc cơ bảncủa pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>Đỏ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tu nước ngoài ở Việt Nam...</small>
Thứ ba, áp dụng nguyên tắc luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
<small>tương tu. Thơng thường khi khơng có quy phạm thực chất thống nhất hoặc</small>
quy phạm xung đột để điều chỉnh mối quan hệ xã hội có yếu tố nước ngồicác cơ quan có thẩm quyền thường lựa chọn hệ thống pháp luật của mộtquốc gia nào đó hoặc của chính mình để áp dụng. Việc lựa chọn này đượcthực hiện trên nguyên tắc áp dụng Luật diéu chỉnh các quan hệ xã hộitương tự phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật và đường lối
chính sách của nước mình.
Hiện nay trong tư pháp quốc tế đ trình nhất thể hố các quy tắcluật áp dụng chủ yếu mới chỉ diễn ra ở tầm khu vực, hoặc có ở tầm quốc tếthì chỉ điều chỉnh một số loại quan hệ nhất định. Hiện chưa có Công ướcquốc tế nào điều chỉnh luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp đầu
Trong quan hệ đầu tư, luật áp dụng đối với từng loại tranh chấp có
khác nhau và vẫn dựa trên nguyên tắc thoả thuận. Đối với tranh chấp giữa
quốc tế và các quy phạm phù hợp của pháp luật trong nước.!
Trường hợp tranh chấp giữa nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngồiđược đưa ra xét xử tại ISCID thì luật áp dụng được quy định tại Điều 42-Công ước Oa-sinh-ton, trong đó quy định: Hội đồng trọng tài ISCID raquyết định giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật theo các bên
<small>‘Vi dụ Hiệp định Hà lan- Nigeria (1992), Diéul2 (5) quy định: Cơ quan xét xử raquyết định trên cơ sở Hiệp định này và các thoả thuận thích hợp khác giữa hai bên kýkết, quy phạm pháp luật quốc tế. và các quy định phù hợp khác của pháp luật trong</small>
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">thoả thuận. Trong trường hợp các bên khơng thoả thuận thì Hội đồng ápdụng luật của Nước thành viên Công ước là một trong các bên tranh chấp
(kể cả quy định về pháp luật xung đột) và các quy định được áp dụng khác
của pháp luật quốc tế. Tuy nhiên các quy định nêu trên không ảnh hưởng
đến thẩm quyền của Hội đồng trong việc ra quyết định về tranh chấp trêncơ SỞ ex aequo et bono nếu các bên thoả thuận.
Luật áp dụng trong tranh chấp giữa NDTNN và cá nhân, tổ chứctrong nước của nước chủ nhà có thể do các bên thoả thuận trong hợp đồng
thường được các bên thoả thuận để điều chỉnh mối quan hệ này. Để thuậnlợi cho việc giải quyết tranh chấp, trong quá trình giao kết hợp đồng các
tài.' Ví du các bên chon trọng tài Singapore xét xử theo quy tắc tố tụngcủa phòng thương mại quốc tế (ICC). Cịn luật nội dung thì về nguyên tắcphải là luật của nước nhận đầu tư trừ trường hợp đặc biệt như BOT.
Thoả thuận trọng tài được xem như một giao kết độc lập với hop
hiện trong thư từ, telex, fax giữa các bên với nhau. Thoả thuận này phảiđược lập thành văn bản. Trong trường hợp hợp đồng khơng có hiệu lực
hầu hết các nước và các điều ước quốc tế về thod thuận trọng tai thì thoả
Điều 3 Quy tắc tố tụng trong nước của VIAC. Và như vậy việc xây dựng
' Xem giáo trình Luật thương mại quốc tế của trường Đại học luật Hà nội. NXB công
<small>an nhân dân.Tr. 165.</small>
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><small>Đồ Thị Ngoc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tit nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
thoả thuận trọng tài mà trong đó bao gồm cả việc chọn luật áp dụng sẽ làcơ sở pháp lý vững chác hơn để bên bi vi phạm được bảo vệ quyền lợi
<small>trước cơ quan tài phán.</small>
1.2.1 Tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển
việc thực hiện chiến lược kinh tế xã hội và phát triển kinh tế quốc dân.
tế nước nhà. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết các mục
cố và tăng cường sức mạnh kinh tế, nâng cao vị trí của Việt nam trong khuvực và trên thế giới. '
hướng công nghiệp hố (CNH), hiện dai hố (HDH). Thơng qua các dự án
<small>° Nguyễn Ngọc Tháo. Một số vấn đề vé dau ne trực tiếp nước ngoài ở Việt nam. Tạp chí</small>
<small>quan lý nhà nước 7/2000</small>
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">vực, nhất là trong lĩnh vực dầu khí, viễn thông và công nghệ sinh hoc.’Khu vực đầu tư nước ngoài đến nay thu hút khoảng 30 vạn lao động trực
tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp trong các lĩnh vực xây dựng, dịch vụ.Đội ngũ người lao động, cán bộ được đào tạo, nâng cao năng lực quản lývà tiếp cận với tác phong công nghiệp. Cho đến nay trên 70 nước và vùng
lãnh thổ đã có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam.?
Theo số liệu trong báo cáo tổng kết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì ở
Việt Nam, đầu tư của các nước ASEAN chiếm 24,56% vốn đầu tư đăng
bình quân của thời kỳ 1991-1995 khoảng 80%. Vốn đăng ký năm 1996 là
82% của năm 1996. Năm 1998 tốc độ vốn đăng ký giảm nhanh, chỉ đạtkhoảng 1,7 tỉ USD và ước tính cả năm bằng 40% năm 1997. Số vốn đầu tư
nam 1998 chiếm 51,8% tổng vốn dang ky.’
<small>' Xem báo cáo của Dự án VIE/9SIOIS về mơi trường đầu tư nước ngồi ở Việt nam- conđường đi tới khu đầu tr ASEAN(AIA); Hà nội 1999. Tr.18-19</small>
? Nguyễn Ngọc Thảo, tài liệu đã dẫn. Tr.33
? PSG. Võ Thanh Thu - Tình hình đầu tc trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong năm1998 và giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI. Tạp chi phát triển Kinh tế số 101 tháng
<small>3/4999,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
Trong những năm qua phần lớn các doanh nghiệp đầu tư nướcngoài thuộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hình thức đầu tư chủ yếu là liêndoanh chiếm 61% số dự án và 70% vốn đầu tư; hình thức 100% vốn nướcngồi có xu hướng gia tăng. Thời kỳ đầu chiếm chưa đầy 10% dự án. Đếncuối năm 1998 đã chiếm 30% số dự án và 20% vốn đầu tư đăng ký. Đặcbiệt năm 1999 số dự án của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tăng
phần phụ lục). Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 7,1% số dự
án và 10% số vốn đầu tư chủ yếu là trong lĩnh vực dịch vụ viễn thơng vàthăm đị khai thác dầu khí. Sau Nghị định 83-CP của Chính phủ ban hành
ngày 23/11/1993 kèm theo quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng xâydựng -kinh doanh- chuyển giao (BOT). Hình thức này chiếm 8,17% và
dự án với số vốn đầu tư là 1.316.595.000, vốn pháp định là 41 1.810.000USD.!
Có thể nói nguồn vốn đầu tư TTNN tại Việt nam trong những năm
Văn Khải đã khẳng định tại cuộc gặp gỡ với hơn 800 doanh nghiệp có vốn
<small>' Xem phụ lục J, II, TH</small>
<small>IS)ho</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tế nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
biệt của nhà nước ta đối với loại hình kinh tế này. Xu hướng của chúng ta
chú trọng hơn tới hoạt động đầu tư của các tập đồn lớn, các cơng ty đa
quốc gia.' Việc chúng ta tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp định Việt-Mỹ
1.2.2 Thực trạng và nguyên nhân tranh chấp trong đầu tư nước ngoàitại Việt Nam
Đầu tư nước ngoài là vấn đề nhậy cảm. Do đó mặc dù tranh chấptrong lĩnh vực đầu tư nước ngồi là hiện tượng bình thường trong q trìnhvận hành nền kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng nhưng thuhút khơng ít sự chú ý của các nhà đầu tư nói chung và ảnh hưởng trực tiếptới hiệu quả hoạt động đầu tư. Vấn đề cốt yếu là chúng ta đón nhận nó như
của DTNN đối với nền kinh tế quốc dan là không thé phủ nhận. Tuy nhiêntranh chấp và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này là vấn đề cần bàn.”Có thể do ảnh hưởng lâu dài của cơ chế hành chính quan liêu ở nước ta, vàcũng xuất phát từ bản chất của con người Việt Nam là thường giải quyếtvấn đề trên tinh thần hợp tác, thiện chí và tơn trọng lẫn nhau nên việc đưavụ viéc ra xét xử ở cơ quan tồ án hoặc trong tài rất hạn chế. Vì thế việc
cơ quan nào đứng ra đảm nhận việc này. Bên cạnh đó do chính sáchkhuyến khích tối đa nguồn vốn đầu tư nước ngồi nên các loại tranh chấp
dưới đạng giải quyết khiếu nại của các bên tranh chấp. Và đường như cácbên thường không phân biệt tranh chấp và khiếu nại. Chỉ riêng 5 tháng (từ
' Báo cáo tổng kết đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam 1988-1998<small>* Về tình hình tranh chấp xin xem thêm Chương I, nuục 2.2.4</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><small>Đố Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
tháng 3 đến tháng 8/1998), đường dây nóng “tại Bộ Kế hoạch Dau tư đãtrực tiếp nhận gần 1.400 kiến nghị của các chủ đầu tư trong đó có 57 kiến
nghị liên quan đến các vấn đề khiếu nại, tố cáo cần giải quyết.' Còn bao
nhiêu vụ việc phát sinh từ thực tế và đối với bên tiếp nhận đầu tu? Con số
liên quan đến đầu tư nước ngoài được đưa đến Toà án và trọng tài giảiquyết trong những năm qua (xem các số liệu này ở Chương II). Tính
lý giải quyết năm 1996 là 440 vụ, năm -1997 là 630 vụ, năm 1998 là 1020vụ, năm 1999 là 1280 vụ. Như vậy số vụ tranh chấp có yếu tố nước ngồivà số vụ án liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư ở các tồ án nóichung cịn q ít. Số vụ việc được đưa đến Trung tâm TTQTVN là 03 vụ.
quản lý kinh tế, về thực trạng pháp luật của chúng ta. Nhưng đây là mộtthực trạng liên quan đến rất nhiều vấn đề bất cập của môi trường đầu tưnước ngoài của Việt nam hiện nay. Điều này sẽ được làm rõ hơn ở chươngII, mục 2.3 của luận văn này.
Sơ bộ, có thể thấy một số nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp
trong lĩnh vực DTNN như sau: |
Điều này đã làm tăng thêm sự phức tạp trong quản lý điều hành hoạt độngđầu tư và dẫn đến việc tăng số lượng tranh chấp đầu tư giữa các Chính
phủ với nhau, giữa các Cơng ty và Chính phủ và giữa các Công ty với<small>nhau.</small>
' Báo cáo của Bộ Kế hoạch Đầu tư về hoạt động của Trung tâm hướng dan và xử lý<small>đầu te trực tiếp nước ngoài</small>
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">Thứ hai, việc thiếu kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư cũngnhư của các nhà đầu tư dẫn đến thiếu kinh nghiệm trong đàm phán ký kếthợp đồng cũng làm phát sinh tranh chấp ở nước ta và các nước khác trênthế giới (theo thống kê có khoảng 30% số dự án khơng thực hiện được là
do mâu thuẫn nội bộ, tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh không
giải quyết được và việc điều hành kém hiệu qua của Hội đồng quản tri.!Việc giải thể Công ty liên doanh Việt nam- Thăng Long 24? là một ví dụđiển hình. Đây là Công ty liên doanh với Công ty Kotobuko holding củaNhật Bản được cấp phép đầu tư từ năm 1995. Công tác quản lý lỏng lẻo đã
hợp đồng đã ký kết, không quản lý được các khoản chi, và trong suốt quátrình hoạt động (4 năm) khơng thực hiện quyết tốn, vi phạm nghiêmtrọng pháp luật Việt Nam. Với một công ty như thế nhưng đã hoạt động
được đến 4 năm liền thì quả là điều khó hiểu. Nó khơng chỉ thể hiện sựthiếu kinh nghiệm của chúng ta trong lĩnh vực DTNN mà còn là sự vôtrách nhiệm và khả năng quản lý kém của một số cán bộ trong hoạt độngđầu tư nước ngoài. Sự yếu kém này nhiều khi gây ra những hậu quả đáng
Thứ ba là hệ thống pháp luật của chúng ta cịn chưa hồn thiện.
luật khi ký kết hợp đồng khiến cho các bên đã đơn giản khi soạn thảo nộidung hợp đồng. Điều đó cho phép hiểu điều khoản hợp đồng thế nào cũngđược và dẫn đến việc không lường trước được các khó khăn và hậu quả có
Vũ Huy Hồng. Xung quanh việc giải quyết tranh chấp trong các xí nghiệp có vốn
<small>đầu tư nước ngồi. Tạp chí tài chính số 10/1994</small>
<small>° Báo Đầu tur số 38 ra ngày 10 thang 5 năm 1999</small>
<small>h2 mn</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35"><small>Đỏ Thi Nuọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tr nước ngồi ở Viết Nam ...</small><sub>LINK [ity 1 § \ 5 :</sub>
thể xảy ra. Vì thé khi thực hiện dé dẫn đến vướng mắc và thiệt hai chonhau làm phát sinh tranh chấp'.
Bên cạnh đó, q trình chuyển đổi và hội nhập ln địi hỏi chúngta vừa làm vừa thử nghiệm nhằm thích ứng với cơ chế và chính sách mới.Để đạt được mục tiêu hài hồ hố pháp luật và phù hợp với đặc điểm củanền kinh tế nước ta, sự thay đổi các chính sách pháp luật là không thểtránh khỏi. Tuy nhiên những thay đổi này cũng là một trong những
nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước
ngồi.Vụ tranh chấp về địi bồi thường thiệt hại của công ty Creapro
Cơng ty Creapro International (Pháp) là đối tác nước ngồi của cơngty liên doanh Nhà Bè Sapa (NBS). Công ty NBS được thành lập theo Giấy
bạt có sử đụng gỗ làm cán và cọng dù nhằm mục đích xuất khẩu. Thời hạn
hoạt động của công ty theo giấy phép là 20 năm. Ngày 16/4/1998 Cơng ty
có đơn gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin
cho rằng sau khi được cấp giấy phép đã gặp các cản trở trong việc xuấtkhẩu sản phẩm do Chỉ thị 286 TTg nêu trên. Vì thế cơng ty đã bị mất
<small>LVđ Mạnh Hồng- Toà kinh tế với việc giải quyết tranh chấp kinh tế hiện nay. Thông</small>
<small>tin KHPL- Bộ Tư pháp xố 5/1999. tr.36</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">Đâ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực ẩn tr nước ngoài ở Việt Nam ...
khách hàng và mất các đơn đặt hàng trong năm 1997 va 1998. Bên cạnh
đó việc thay đổi biểu thuế xuất khẩu theo Quyết định 615A/TC/TCT/QDngày 10/6/1995 nâng thuế suất đánh vào đồ. gỗ xuất khẩu lên 10% làm
đối với đầu tư của nhà đầu tư.
chế điều chỉnh. Những vấn dé này sẽ được nêu cụ thể hơn ở Chương IIdưới đây. Vấn đề giải quyết tranh chấp đầu tư có ý nghĩa đặc biệt quan
giao giữa các Chính phủ. Vì thế việc hoàn thiện các thiết chế trong lĩnh
vực này là thiết thực cấp bách.
* Cơ chế giải quyết tranh cháp WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức duy nhất có một cơchế giải quyết tranh chấp được chấp nhận chung dựa trên nguyên tắc mọithành viên đều có một phiếu bầu ngang nhau. Tổ chức này có ý nghĩaquan trọng đối với cả vấn đề đầu tư và giải quyết tranh chấp. Hiệp định
<small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu ur nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
cho việc giải quyết các tranh chấp trong một khung thời gian nhanh chóng
và có thể dự liệu được. Mục đích chính của cơ chế giải quyết tranh chấp
này là đảm bảo có một giải pháp đồng thuận đối với một tranh chấp. Nếu
một bên tranh chấp đồng ý giải quyết tranh chấp trong giai đoạn thamkhảo ý kiến thì tranh chấp đó coi như giải quyết xong. Trong Điều 2 của
quan được thành lập theo Hiệp định đều có những hoạt động liên quan đến
vấn đề thủ tục giải quyết tranh chấp đầu tư. Những vấn đề cơ bản về giảiquyết tranh chấp được quy định trong Bản ghi nhớ về giải quyết tranh
chấp và 5 thoả thuận có tầm đặc biệt quan trọng: Hiệp định thành lập tổchức WTO; Hiệp định thuế quan và thương mại (GATT 1994); Hiệp địnhvề các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại(TRIM); Hiệp định
sở hữu trí tuệ (TRIPs). Quá trình giải quyết tranh chấp thường bắt đầu với
yêu cầu tham vấn. Khi có tranh chấp phát sinh, các bên phải tiến hànhtham vấn song phương trong thời gian không quá 60 ngày. Đây là sự
cơng việc điều tra trong khoảng thời gian 6 tháng hoặc 9 tháng đối với
lên DSB. Trong bản báo cáo nêu những phát hiện trong quá trình điều travà đưa ra phán quyết về việc liệu có sự vi phạm một thỏa thuận hay không.DSB sẽ thông qua hoặc bác bỏ bản báo cáo này dựa trên nguyên tắc đồngthuận phủ quyết. Như thế bản báo cáo sẽ được thông qua trừ khi có mộtquyết định nhất trí rằng bản báo cáo này sẽ bị bác bỏ. Nếu một hoặc các
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tit nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
cơ quan phúc thẩm bao gồm 7 thành viên thường trực. Cơ quan này sẽ đưa
tạp. Điều đặc biệt là quyết định được đưa ra dựa trên nguyên tắc đồng
thuận phủ quyết.
Các quyết định WTO về giải quyết tranh chấp có tính chất cưỡngchế. Các nước thành viên của WTO đều bị ràng buộc tuân thủ quy trìnhgiải quyết tranh chấp của các Hiệp định GATT và WTO. Nếu nước thuakiện khơng thực hiện quyết định của WTO thì nước thắng kiện có quyền
quan cao hơn mức theo MEN hoặc đình chỉ cho nước thua kiện tiếp tục
Mức độ trả đũa ngang bằng mức độ thiệt hại mà bên nguyên phải gánh
cơng bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được với các bên tranh
chấp, phù hợp với các Hiệp định thương mại có liên quan. Nó cho phép
các bên tự đánh giá về tính hữu ích của việc áp dụng các biện pháp giảiquyết tranh chấp sẽ tiến hành và ưu tiên khuyến khích các bên tranh chấpđạt được các giải pháp thỏa thuận phù hợp thơng qua các hình thức tư vấn,
chấp của nó ln cần thiết trong hiện tại và cho cả tương lai.* Cơ chế giải quyết tranh chấp ICSID
<small>' Xem giáo trình Luật thương mại quốc tế. Sách dã dân. Tr.292-293; tài liệu hội thảocủa Bộ Tư pháp về cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
Trung tâm quốc tế giải quyết tranh chấp đầu tư ICSID được thànhlập trên cơ sở Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc giavà công dân của các quốc gia khác năm 1965. Đây là một tổ chức giải
Nhóm ngân hàng thế giới với tư cách là một Diễn đàn giải quyết tranh
tâm là kết quả của gần 2 thập kỷ đàm phán nhằm thiết lập một tổ chức đầutư quốc tế trong khuôn khổ Ngân hàng thế giới. Nó có ý nghĩa quan trọngtrong việc giải quyết tranh chấp đầu tư vì trong hầu hết các Hiệp định đầu
Trung tâm có nhiệm vụ hỗ trợ cho việc giải quyết tranh chấp bằng thương
đưa tranh chấp đến giải quyết tại ICSID; tranh chấp phải là tranh chấp giữanhà nước là thành viên của Công ước ICSID với kiều dân của nước thànhviên khác; là tranh chấp pháp lý phát sinh trực tiếp từ hợp đồng đầu tư.Trọng tài ICSID mang tính chất phi biên giới và phán quyết của trọng tàikhơng bị xem xét bởi bất cứ Tồ án quốc gia nào trừ Uỷ ban ad-hoc của
bên không phải là thành viên của Công ước. Tuy nhiên vấn đề đặt ra làhiệu lực của phán quyết trọng tài đối với các quốc gia này. Vì thế Điều 20
f Giáo trình luật thương mại quốc tế. Sách đã dan. Tr.290
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40"><small>Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dau tt nước ngoài ở Việt Nam ...</small>
Về nguyên tắc ICSID được chấp nhận rộng rãi nhưng trên thực tếhoạt động của tổ chức này còn hạn chế. Trong 30 năm đầu tồn tại nó chỉ
vai trò quan trọng của tổ chức này được đánh giá là đã xây dựng mộtnguyên tắc xét xử khách quan trong việc xét xử các tranh chấp đầu tu!* Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN
Uy ban liên hợp quốc về Luật thương mại quốc té(UNCITRAL) như:Công ước New york 1958, Các quy tắc trọng tài(1976), Các quy tắc hoàgiai(1980), Hướng dẫn việc điều hành trọng tài theo quy tắc củaUNCITRAL(1982) và Luật Mẫu UNCITRAL(1985). Văn bản đặc biệtquan trọng là Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp được ký ngày20/11/1996. Mục tiêu của Nghị định thư là thiết lập một quy trình giải
gồm toàn bộ hợp tác kinh tế trong ASEAN. Cơ quan giải quyết tranh chấpASEAN bao gồm: Ban thư ký ASEAN; Hội nghị các quan chức kinh tếcao cấp (SEOM); Hội nghị các bộ trưởng kinh tế (AEM) ASEAN và Ban
gian không quá 290 ngày. Khi phát sinh tranh chấp các nước thành viên có
f Thomas L. Brewer. Tài liệu đã dan.Tr.22-23
<small>31</small>
</div>