Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (73.12 MB, 113 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>28 2K i ok 2k ok ok</small>
Mã sơ : 50514
Người hướng dân khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đức Thuận<small>TRUNG TAM THONG TIN THU - `TRƯỜNG ĐẠI HOC. LUAT HÀ 1,</small>
Foi xin chau thanh eam ou su tướng dau ahiét tinh va
? ‘ z ^ a eo, Sood oe ¢ + ` On
cam ou cae thay, giao da giang day, eae tít ughtéu
<small>~ 7POn en z x x# ` z Ä on</small>điều tra, Oiéu kiém sat, Soa au eang các ban đồng aghtép
<small>os ^ ® me, en’ “ ` ^ ean ^ °+^%4 fen’ `</small>đa giúp tôi những Biên tức va ditu kiéu cau thiét dé hoau
<small>Ludn du Thae sy Laat hoe- Bat người trong tố tung tình sự COiệt Ham</small>
Chương I Nhạn thức chung về biện pháp bắt người trong tố tung<small>hình sự Việt Nam</small>
Ll. Khái niệm bắt nguoi trong tố tụng hình suLAL. Khái niệm bắt người
1.1.2. Cơ sở của việc phan định các trường hop bắt ngườitrong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.2.1. Cơ sở lý luận1.1.2.2. Cơ sở thực tiên
<small>{.I..3. Bắt người trong môi quan hệ với các biện pháp ngăn</small>
chan khác trong tố tụng hình sự
1.2 Mục đích, ý nghĩa của biện pháp bat người trong tố
<small>tung hình sự</small>
<small>LD. Mục dich cua biện pháp ngăn chan bat nguoi</small>
1.3 Những yêu cầu đôi với việc áp dụng biện pháp bắtngười trong tố tụng hình sự
1.3.1 Yêu cầu về chính trị1.3.2. Yéu cầu về pháp luat1.3.3. Yêu cầu về nghiệp vu
<small>2.1. Những quy định về bắt người trước khi có Bộ luật tốtụng hùth sự</small>
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>Ot Gia Lim - ao hoe Luat khod 5</small>
2.2. Quy định cua Bo luật tố tụng hình sự hiện hành và
thực tiên áp dụng 422.2.1. Bat bị can, bị cáo để tạm giam 4422.2 Bat người trong trường hop khan cáp 522.2.3. Bat người phạm tôi quả tang hoặc đang bị truy nã 642.2.4. Bat người đối với những đôi tượng đặc biệt 71EU Những việc cần lam sau khi bắt người và thục tế áp
luật trong áp dụng biện pháp bắt người 973.4, Tang cường sự hướng dân, chỉ đạo, kiểm tra và nang
cao chất lượng công tác kiểm sát tuân theo pháp luật
<small>trong việc áp dụng biện pháp bắt người</small>
Kết luận 106
<small>Danh mục tài liệu tham khảo</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><small>Lain an Fhae sy Ludt hoe - Bat người trong tố tang hinh sự viet Olam</small>
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khácnhất trong hệ thống biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự. Các quy định về nhữngbiện pháp này tại chương V - BLTTHS là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành
<small>có hành vi gây khó khan cho quá trình giải quyết vụ án hình sự. Việc quy địnhnhững biện pháp ngăn chặn trong TTHS cũng còn là một phương tiện góp phần</small>
đảm bảo thực hiện các quyền tự do, dân chủ của công dân, hạn chế và ngăn ngừa
<small>sự xâm phạm một cách tuỳ tiện, trái pháp luật đến quyền và lợi ích hợp pháp của</small>
họ. Trong số những biện pháp ngăn chặn mà BLTTHS quy định thì “bat người”
<small>có một vị trí rất quan trọng, bởi lẽ đây là một biện pháp ngăn chặn có tính chất</small>
cưỡng chế rất nghiêm khắc, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các quyền cơbản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật qui định mà quan trọng nhất làquyền "tu đo về thân thể".
<small>Từ khi BLTTHS có hiệu lực (01/01/1989) đến nay, VKSNDTC, Toà ánnhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Bộ Tư pháp đã kịp thời ban</small>
hành nhiều văn bản dưới luật như thông tư, chỉ thị, công văn... hướng dẫn áp
<small>dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp bắt người. Do đó, thực tiễnáp dụng các biện pháp này nói chung và biện pháp bat người nói riêng đã có</small>
những chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả đáng kể. Tuy nhiên donhiều nguyên nhân khác nhau việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó cóbiện pháp bắt người trong thời gian gần đây đã bộc lộ những hạn chế và vi phạmcần phải kịp thời khắc phục.
Về phương diện lý luận, bắt người với tư cách là một biện pháp ngăn chặn
<small>trong TTHS từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu được nhiều người quan tâm.Ngay từ khi chưa có BLTTHS đã khơng ít tác gia đã dé cập đến biện pháp này</small>
<small>aft</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><small>Oda Gia Lim - Cao hoe Ludt khoa 5</small>
như hai tác gia Pham quang Mỹ, Pham Hữu Ky với cuốn "Những điều cần biếtvề bat, giữ, khám xét" - Nhà xuất bản Công an nhân dân (1983) hay các tác gia
<small>Phạm Thái, Đặng Văn Doãn, Võ Quang Nhạn.... với các bài viết đăng tải trên</small>
một số ấn phẩm khác như tập san Toà án (nay là tạp chí Tồ án nhân dân), tạpchí Pháp chế xã hội chủ nghĩa (nay là tạp chí Dan chủ và pháp luật). Tác phẩmvà bài viết của các tác giả nêu trên hầu hết mới tiếp cận với biện pháp bắt ngườitrong mối quan hệ với các biện pháp cưỡng chế khác trong tố tụng như "bắt,giam, giữ, khám xét" và chủ yếu đề cập đến nội dung, thủ tục, thẩm quyền áp
<small>dụng nói chung mà chưa thực sự tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống và</small>
đầy đủ biện pháp đó với tư cách là một biện pháp ngăn chặn độc lập.
Gần đây đã có những cơng trình nghiên cứu tương đối hệ thống và côngphu về các biện pháp ngăn chặn như "Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ,tạm giam.. đúng pháp luật” của tác giả Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Ngun -
<small>NXB Chính trị quốc gia 1993; cuốn “Những biện pháp ngăn chặn trong luật</small>
TTHS Việt Nam" của tác giả Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân 1997;cuốn “Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu qua của chúng"của tác giả Nguyên Vạn Nguyên - Nxb Công an nhân dân 1995,
Mặc dù đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về biện pháp bắt người như
<small>vậy, nhưng nhìn chung đa số chỉ đề cập đến biện pháp này trong một giới hạnnhất định như là một phần nhỏ của phạm vi nghiên cứu lớn (xem xét biện pháp</small>
bắt người trong mối quan hệ tổng thể với các biện pháp cưỡng chế tố tụng hoặc<small>với các biện pháp ngăn chặn khác). Po đó, nội dung nghiên cứu gần như chỉ taptrung vào một số khía cạnh như giải thích các quy định của pháp luật TTHS hiện</small>hành, phản ánh những hạn chế, vướng mắc có thể gặp phải trong thực tiễn áp
<small>dụng một cách riêng lẻ hay đưa ra những hướng dẫn khơng chính thức việc áp</small>
dụng trong thực tiễn các quy định của luật về biện pháp bắt người. Do vậy, việc
<small>nghiên cứu chưa thật toàn điện và đầy đủ. Có thể nói gần như chưa có một cơngtrình nghiên cứu độc lập có hệ thống về biện pháp "bắt người” trong TTHS ViệtNam.</small>
<small>2</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><small>nan in Shaesg -Uuật học - Đất ngusi trong tố tang hink sự oiệt Han</small>
thi hành luật tố tụng hình sự, nhanh chóng hồn thiện BLTTHS phù hợp với quyđịnh của BLHS, với tình hình phát triển của đất nước, nâng cao hơn nữa tính khathi và hiệu quả áp dụng của biện pháp này cũng như toàn bộ hệ thống các biệnpháp ngăn chặn đã quy định. Đây thực sự là một yêu cầu cấp thiết và cũng chính
là động cơ thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài "Bắt người trong TTHS Việt Nam" làm
đối tượng nghiên cứu của Luận án tốt nghiệp cao học.
<small>2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu</small>
<small>Việc nghiên cứu Luận án tập trung chủ yếu vào mục đích tìm ra những</small>
khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như thực tế ápdụng biện pháp ngăn chặn này trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửcác vụ án hình sự ở các địa phương. Từ đó, đưa ra những kết luận và đề xuất cácgiải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hồn thiện các quy định của pháp luật TTHSvà nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS.
Với mục dich đó, tác giả của Luan án tập trung giải quyết một số nhiệm<small>vụ sau đây:</small>
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm bắt người nói chung và bắt người trongTTHS nói riêng; cơ sở phân định các trường hợp bắt người trong TTHS; mốiquan hệ giữa biện pháp bắt người với với các biện pháp ngăn chặn khác; mụcdich, ý nghĩa và những yêu cầu đối với việc áp dụng biện pháp bắt người trong
<small>- Nghiên cứu làm rõ những quy định trước day cũng như của luật TTHS</small>
hiện hành về biện pháp bắt người và thực tiễn áp dụng để tìm ra những hạn chế,vướng mắc trong quy định và áp dụng cùng những nguyên nhân dẫn đến hạn chếvà vướng mắc đó;
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệuquả của việc áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS.
3. Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
<small>Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định của luật TTHS về biệnpháp ngăn chặn bat người và thực tiên áp dụng những quy định định đó trong</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><small>On Gia Lam - Cao hoe Ludt khod 5</small>
quá trình tiến hành tố tung đối với các vu án hình sự xay ra trong những năm gầndây ở các địa phương. Tuy nhiên, vì lý do thời gian cho nên trong khuôn khổLuận án này, tác giả chỉ nghiên cứu để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về biệnpháp bắt người trong TTHS, những quy định của pháp luật trước va sau khi cóBLTTHS về biện pháp này, thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người trong tố tụngchủ yếu dựa trên cơ sở số liệu tổng kết trong thời gian từ năm 1996 đến năm2000 của các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương và một số địa phương điển
<small>4. Phương pháp nghiên cứu</small>
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của triết học Lênin về Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cácphương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong q trình nghiên cứu, đó là:phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp; hệ thống hoá các văn bản pháp luật, cácsố liệu tổng kết của các cơ quan tiến hành tố tụng; khảo sát thực tiễn áp dụng
<small>Mác-Bộ Cơng an, các cơ quan điều tra, Tồ án các cấp.</small>
<small>Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về bắt người trong TTHSsẽ giúp cho cán bộ làm công tác nghiên cứu và công tác thực tiễn đấu tranh</small>
bất người; cơ sở phân định các trường hợp bắt người trong TTHS; sự phát triển,sự tiến bộ trong quá trình pháp điển hố pháp luật TTHS về bắt người, mối quan
<small>hệ tác động qua lại giữa biện pháp này với những biện pháp ngăn chặn khác;</small>
những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của luật TTHSvề bắt người. Việc nghiên cứu một cách tổng thể về biện pháp ngăn chặn này cịncó tác dụng bổ sung ngày càng hoàn thiện và đầy đủ hơn những kiến thức lý luậnvề biện pháp bắt người trong khoa học luật TTHS Việt Nam.
<small>4</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><small>Luan dan Thae sy Ludt học - Bat người trong tố tang hinh sự viét am</small>
<small>những quy định chưa hợp lý của luật TTHS hiện hành về biện pháp ngăn chặn</small>
này. Những kết luận, giải pháp, kiến nghị được đưa ra trên cơ sở kết quả nghiêncứu sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật TTHS về biệnpháp bắt người cũng như hạn chế những vi phạm pháp luật trong quá trình áp
<small>dụng, nang cao hiệu qua thật sự của biện pháp nay trong TTHS.</small>
Trong chương này trình bày những quy định về bắt người trước và sau khicó Bộ luật Tố tụng hình sự; phân tích so sánh các trường hợp bắt người cụ thể;
<small>thực trạng tình hình áp dụng biện pháp bắt người trong những năm gần đây:</small>
những ưu điểm, nhược điểm trong quy định, những vướng mắc, khó khăn trong
<small>q trình thực hiện, ngun nhân của tình trạng đó.</small>
Chương HH: Mot số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu qua áp dụng biệnpháp bat người trong TTHS.
Chương này trình bay một số giải pháp khắc phục những tồn tại và vướngmắc trong quá trình áp dụng biện pháp bắt người phục vụ điều tra, truy tố xét
<small>“ ~“ ow * ` ^ $: oA ” » “CA J tA x 2</small>
<small>xư...; một số kiến nghị nham nâng cao hiệu qua cua việc áp dụng biện pháp bit</small>
<small>người trong thực tiễn.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><small>On Gia Lam - Cao hoe Luat khod 5</small>
Để phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ
<small>lọt tội phạm, không làm oan người vơ tội, BLTTHS được ban hành quy định trình</small>
tự, thủ tục khởi tố điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; quy định chứcnang, nhiệm vụ, quyền han, mối quan hệ giữa các co quan tiến hành tố tụng,quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tổ chức và cơng dân trong TTHS. Theo đóq trình TTHS bao gồm tổng hợp nhiều hành vi tố tụng do các chủ thể khácnhau thực hiện, muốn đạt được mục đích của TTHS khơng chỉ địi hỏi ở hoạtđộng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cịn có sự tham gia bắt buộccủa những người có liên quan, của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và côngdân, nhất là của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, không phải trong mọi trườnghợp người bị nghỉ thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo.... đều tự giác thực hiện cácnghĩa vụ của mình mà nhiều khi họ cịn cố tình vi phạm pháp luật, trốn tránh,
<small>gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm.</small>
<small>Do vậy việc ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa ho gây khó khăn cho</small>
<small>q trình giải quyết vụ án là một việc làm cần thiết, đó cũng chính là lý do màBLTTHS quy định các biện pháp ngăn chặn mà các co quan tiến hành tố tụng,</small>
người có thẩm quyền có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo, người chưa bị khởi tốvề hình sự, trong đó có biện pháp bắt người. Trong từ điển tiếng Việt của nhàxuất ban Đà Năng, năm 1998 (in lần thứ 6), trang 44 có xác định "bat" có nghĩalà nắm lấy, giữ lại không để cho tự đọ hoạt động hoặc cử động. Theo đó có thểthấy rằng bắt người là một thuật ngữ dùng để chỉ một hành vi tác động vàoquyền tự do về thân thể của một người nào đó ở những mức độ nhất định nhưngdam bảo được sự chủ động của người thực hiện hành vi trong việc nắm giữ vô
<small>hiệu hod sự chống cự hay sự tự do hgạt động của đối tượng bị bắt. Về ban chat,6</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><small>Lada đu Thaesg Ludt học - Bat người trong tố tang hink su viét Waa</small>
đây là một hành vi mang tính chất cưỡng chế dùng quyền lực của chu thể thựchiện hoặc dựa vào quyền lực khác để buộc đối tượng bị áp dụng phải tuân theonhằm dat một mục đích nào đó. Nếu là bắt đúng pháp luật thì quyền lực bat buộcmà chủ thể thực hiện việc bắt sử dụng là quyền lực của Nhà nước và việc bátngười trong trường hợp này nhằm đạt được mục đích tố tụng. Như vậy việc batđược thực hiện đối với người phạm tội. Việc bắt người phạm tội được thực hiệntheo các quy định của pháp luật TTHS gọi là bat người trong TTHS. Trong từ
điển luật học Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội 1999 trang 36 đã nêu mot khái
niệm về bat như sau: “Bắt: một trong những biện pháp ngăn chặn mà cơ quandiéu tra, VKShoặc Toà án áp dụng khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gaykhó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiép tục phạm toi cũng như khithấy can thiết để đảm bảo việc thi hành dn". Cách hiểu như trên về bắt ngườitrong TTHS là chưa đầy đủ, khơng bao hàm hết mục đích của bắt người cũng
<small>như phạm vi đối tượng áp dụng biện pháp này, đồng thời cũng không xác định</small>
được đầy đủ thẩm quyền quyết định áp dụng, thẩm quyền bắt, không phù hợp vớitính thần các Điều 61, 62, 63, 64 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo chúng tơi,
căn cứ áp dụng, mục đích, thẩm quyền áp dụng, phạm vi áp dụng, đối tượng ápdụng biện pháp này. Với quan điểm nêu trên, khái niệm bat người trong TTHS
có thể được hiểu như sau:
Bắt người là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS do những người cóthẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện đối với bị can, bị cáa hoặc đối với
<small>người chưa bi khởi tố về hình sự nhdm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn netta</small>
người phạm tội trốn tránh pháp luật, tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khókhăn, can trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Việc xác định chính xác khái niệm về bắt người trong TTHS có một ý
<small>nghĩa hết sức quan trọng. Về mặt lý luận, từ khái niệm này sẽ chỉ ra được những</small>
hạn chế hoặc thiếu sót trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiệnhành, góp phần bổ sung và hồn thiện pháp luật cũng như những quan điểm lýluận về biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp bắt người nói riêng. Về thực
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>Ot Gia Lam - Cao hoe Ludt khod 5</small>
tiễn, giúp các cơ quan va người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật cóđiều kiện thuận lợi hơn trong việc vận dụng nâng cao hiệu quả việc áp dụng biệnpháp bắt người trong đấu tranh phòng chống tội phạm.
1.1.2. Cơ sở của việc phân định các trường hop bắt người trong tố tụng
<small>hình sự Việt Nam</small>
1.1.21. Cơ sở lý luận- Quy định của Hiến pháp
Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định: "quyền của công dân không tách rời
Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”.
Theo đó, ngồi việc quy định trong Hiến pháp và các dạo luật về cácquyền cơ ban của công dân và đảm bảo cho cơng dan thực hiện dược các quyền
<small>đó, Nhà nước cũng xác định cho công dân các nghĩa vụ kèm theo và địi hỏi</small>
cơng dân phải làm trịn các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Việc
<small>xâm phạm một cách trái pháp luật đến các quyền cơ bản của công dân là việclàm vi phạm pháp luật, việc công dan từ chối thực hiện nghĩa vụ hoặc vi phạmcác nghĩa vụ được quy định cũng là vi phạm pháp luật. Ca hai loại vi phạm nàytuỳ thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm đều bị xử lý với các hình thức khác</small>
nhau. Tất cả đều cùng hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện một nhà nước trongđó xã hội được quản lý bằng pháp luật, pháp luật được tuân thủ triệt để, đảm bảodược sự công bằng xã hội trên cơ sở tôn trọng các quyền con người.
Mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là sự tồn tại tấtyếu như là sự tồn tại hai mặt của một vấn đề vơ cùng quan trọng đó là quyền con
<small>người mà trong đó bất kỳ sự hạn chế hoặc vi phạm một mặt nào cũng đều dẫn tới</small>
ảnh hưởng đến mặt kia của vấn đề. Các quyền cơ bản của cơng dân có thể bị tác
<small>động đến nếu cơng dân không thực hiện hay thực hiện không đây đủ các nghĩavụ đối với Nhà nước và xã hội. Công dân có quyền tự do cá nhân - quyền tự do</small>
cá nhân được hiểu theo nghĩa rộng là các quyển và nghĩa vụ của công dân theoquy định của pháp luật được thể hiện ý chí, nguyện vọng, làm theo ý muốn của
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>~“tuận du “Thạc sỹ uất hoe - Bat aquéi trong tố tang hinh sự viet Aan</small>
mình trên cơ sở khơng can trở làm ảnh hưởng tới quyền lợi của những ngườikhác và của cộng đồng'. Quyền và nghĩa vụ của công dân được Hiến pháp, phápluật bao đảm thực hiện và phải thực hiện trong khuôn khổ cho phép làm sao vừathể hiện được sự tôn trọng các quyền công dân nhưng cũng đồng thời đảm bảodược các nghĩa vụ tương ứng. Với quan điểm lý luận đó Hiến pháp và luật đã cụthể hố các quyền và nghĩa vụ cơ ban của cơng dan trong đó có quyền bat khaxâm phạm về thân thể: "Cơng dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đượcpháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bịbat, nếu khơng có quyết định của Tồ án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩncủa VKS nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bat và giam giữngười phải đúng pháp luat..."*.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một quyền rất cơ bản của cơngdân trong đó xác định khơng ai có thể xâm phạm đến thân thể của người khác vìbất kỳ lý do gì, vì thân thể con người thường gắn liền với vấn đề tính mạng, sứckhoẻ, tự do, danh du, nhân phẩm của họ. Tuy nhiên, điều đó chỉ được thực hiện
<small>đối với công dân ý thức được đầy đủ trách nhiệm và thực hiện tốt những nghĩa vụ</small>
của mình trước xã hội và cộng đồng, Không ai bị bắt - nếu họ khơng vi phạmpháp luật, khơng phạm tội. Điều đó cho thấy quan điểm nhất quán của Nhà nướcta trong việc bảo hộ quyền bất khả xâm phạm của công dân về thân thể đồng thờicũng thể hiện thái độ kiên quyết, triệt để trong việc đấu tranh chống những hành
<small>vi vi phạm pháp luật mà thực chất là vi phạm các nghĩa vụ của công dân. Nhưvậy, ngay trong Điều 71 Hiến pháp 1992 chúng ta đã xác định được một cơ sở lý</small>
luận và pháp lý cơ bản để không chỉ nhận thức được rằng quyền bất khả xâmphạm về thân thể của cơng dân có thể bị tác động (cơng dân có thể bị bắU màcịn thấy rõ cơ sở để phân định các trường hợp bắt người theo tố tụng hình sự.Đối với trường hợp bình thường (bắt bị can, bị cáo để tạm giam) phải có quyếtđịnh (lệnh viết) của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS hay khơng cầnthủ tục đó trong trường hợp phạm tội quả tang.
- Quy dinh của BLHS.
<small>"Tir điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội. 1999.* Điều 71 Hiến pháp 1992.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><small>On Gia Lim - Cac hoe Ludt khoá 5</small>
Theo Điều 8 BLHS 1999 thi tội phạm là một hành vi nguy hiểm cho xã hộimà tính nguy hiểm cho xã hội của nó là gây ra hoặc đe doa gây ra hậu quả xâu
<small>cho xã hội, gây thiệt hại trực tiếp cho người bị hại, cho lợi ích Nhà nước, lợi ích</small>
cộng đồng. Việc ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa hành vi phạm tội gây hau qualàm thiệt hại các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, ngăn chặn hành vi trốntránh, gâykhó khăn cho q trình xử lý trách nhiệm của người phạm tội luôn làvấn đề cấp bách và cần thiết - đây cũng chính là cơ sở lý luận cho việc phân địnhcác trường hợp bắt người. Tuỳ thuộc vào tính chất của tội phạm, tình hình diễnbiến thực tế của hành vi phạm tội, yêu cầu của công tác điều tra, truy tố, xét xửvà thi hành án hình sự mà có thể bắt người theo các trường hợp khác nhau như
bát bình thường, bắt khẩn cấp, bắt quả tang.
Bên cạnh đó, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không chỉ thể hiệnbằng việc gây thiệt hại thực tế cho đối tượng bị tác động mà ngay cả khi đangcòn trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội - Tuy nhiên không phải bất kỳ trường hợpchuẩn bị phạm tội nào cũng đòi hỏi chủ thể của hành động đó phải chịu tráchnhiệm hình sự. Vấn đề trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra trong trường hợp tội phạmmà người đó chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệtnghiêm trong’. Theo Điều 8 BLHS thì: "Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm
<small>gay nguy hại rất lớn cho xã hội mà niức cao nhất của khung hình phạt đốt với tộiấy là đến 15 năm tù; tội phạm đặc tiệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy haiđặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là</small>
trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình". Với mức nguy hiểm cao như vậycho xã hội thì dù rằng tội phạm đang ở trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện, vấndé ngăn chan kip thời không để tội phạm được thực hiện trong thực tế là một van
bắt người đặc biệt "bắt người trong trường hợp khẩn cấp".J.1.2.2. Cơ sở thực tiên 4
Cơ sở thực tiễn của việc phân định các trường hợp bắt người<small>trong THSxuất phát từ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và từ</small>
<small>* Xem điều 17 BLHS 1999.</small>
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>Ludn du Shae sj Ladt hoe - Bat người trong tố tang hinh sự viét (Jun</small>
thực tế diễn biến tình hình phạm tội. Đối tượng cần áp dung biện pháp ngăn chặncũng rất đa dạng có thể là người đã được xác định một tư cách tơ tụng nào đónhư bị can, bị cáo nhưng cũng có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, do đóu cầu của việc ngăn chặn đối với họ cũng ở những mức độ cần thiết khác nhaunhằm đảm bao được mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng như hiệu qua
<small>áp dụng biện pháp này.</small>
<small>Trước hết đối với bị can, bị cáo - đây là những đối tượng đã có một tư cách</small>
tham gia tố tụng cụ thể, việc đảm bảo sự có mặt của họ trong quá trình tố tụng đểphục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án về hình sự là cần thiết.
Tuy vậy, để thực hiện được yêu cầu đó cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng
nhiều biện pháp ngăn chặn khác nhau. Việc bắt đối với họ không chỉ đơn thuầndụng chạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của họ mà còn hạn chế cácquyền cơ bản khác như tự do đi lại, tự do cư trú.... bởi lẽ mục dich bắt người ởday không chỉ là ngăn chặn họ trốn tránh pháp luật, tiếp tục phạm tội, ngăn ngừahành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án mà còn để tạm giam họ phục vụcho quá trình tiến hành tố tụng. Do vậy, muốn bắt bị can, bị cáo để tạm giam cơquan tiến hành tố tụng phải xác định được day đủ các diéu kiện áp dụng để loạitrừ những trường hợp bắt không cần thiết, người ra lệnh phải có thẩm quyềntheo quy định của pháp luật, nếu là lệnh của người có thẩm quyền thuộc cơ quanđiều tra thì phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp mới có hiệu lực thi hành,việc bắt người phải tuân thủ day đủ các quy định về thủ tục và nguyen tắc luật đãxác định.
Bên cạnh đó, việc kịp thời ngăn chặn tội phạm ngay từ giai đoạn chuẩn bị
<small>thực hiện cũng như ngăn ngừa người có hành vi phạm tội chạy trốn, gây khókhăn cho quá trình điều tra, khám phá và xử lý hành vi phạm tội là cần thiết và</small>cấp bách. Hanh vi chuẩn bị thực hiện tội phạm bản thân nó đã chứa dung mam
mống có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội và nhiều khi từ lúc có hành độngchuẩn bị phạm tội đến thời điểm tội phạm được thực hiện là khoảng thời gian ratngắn, liền kể, nếu khơng ngăn chặn bằng cách bắt ngay người có hành vi chuẩn
<small>bi phạm tội thì tội phạm tất yếu sẽ xảy ra, hậu quả mà nó mang lại cho xã hội sẽ</small>
<small>II</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>On Gia Lim - Cao học Ludt khố 5</small>
sẽ khơng dat được mục đích ngăn chan. Do vậy về điều kiện (căn cứ) bắt, thẩmquyền ra lệnh bat, thủ tục bắt phải quy định rộng rãi hơn để dam bảo yêu cầu
"khẩn cấp" của trường hợp bắt người này. Ngoài ra, trong trường hợp hành vi
phạm tội đã được thực hiện nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa đủ căn cứ xácđịnh người đã thực hiện hành vi đó mà mới thu thập được các tài liệu để nghingờ về một người nào đó đã thực hiện tội phạm nên đã tiến hành các hoạt động
cần thiết để kiểm tra, xác minh và kết quả đã xác định những nghi ngờ đó là
đúng, nếu khơng bắt ngay người phạm tội, họ sẽ bỏ trốn hoặc tiêu huỷ các chứngcứ của vụ án, cho nên việc bắt đối với họ cũng khơng thể trì hỗn được; trườnghợp tội phạm xảy ra với sự có mặt của người bị hại hoặc người khác và nhữngngười này đã tận mắt chứng kiến hành vi, đã nhận thức được chính xác nhữngđặc điểm để có thể xác định người đã thực hiện tội phạm và phản ánh lại nhữngđặc điểm đó, xác nhận trước cơ quan có thẩm quyền đúng là người đã thực hiện
<small>tội phạm, sự xác nhận đó là có cơ sở và xét thấy cần ngăn chặn ngay nếu khơng</small>
người đó sẽ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm. Yêu cầubát đối với họ cũng cấp bách như các trường hợp đã nêu trên.
Đối với những hành vi đang dién ra thoả mãn các dấu hiệu khách quan của<small>một cấu thành tội phạm nào đó mà ai nhìn thấy cũng xác định được đây là hành</small>
<small>ngay sau đó kẻ phạm tội bị phát hiện hoặc bị đuổi bat sau khi thực hiện tội phạm</small>
lại có những đặc điểm khác hẳn so vưi các trường hợp được nêu ở phần trên.Thứ nhất, các trường hợp này đã xác định chính xác một vấn đề rất cơ bản
<small>là hành vi xảy ra trong thực tế là hành vi phạm tội.</small>
Thứ hai, người thực hiện hành vi đó, người bị phát hiện hoặc bị đuổi bat làngười đã thực hiện tội phạm. Việc ngăn chặn ngay không để hành vi phạm tội đó
<small>gây hậu quả xấu cho xã hội hoặc hạn chế một phần hậu quả của tội phạm cũngnhư ngăn ngừa việc người phạm tội chạy trốn, xoá dấu vết gây khó khăn cho việc</small>
xác định khám phá tội phạm là một u cầu có tính cấp bách hơn hẳn so với
<small>trường hợp khác, cần phải thực hiện ngay lập tức mà không lệ thuộc vào bất kỳ</small>
điều kiện và thủ tục phức tạp nào. Có như vậy mới đạt được mục đích ngăn chặn.
<small>TỆ ộ</small>
<small>I2</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17"><small>Ludn du Cftae sự Ludt hee - Bat người trong tố tung hial sự piệt am</small>
Đây chính là cơ sở thực tiễn để quy định trường hợp bat người phạm tội qua
Việc xác định rõ ràng, cụ thể cơ sở lý luận va thực tiễn dé phan định cáctrường hợp bắt người hiện nay theo quy định của luật TTHS có một ý nghĩa rấtquan trọng, khơng chi tạo điều kiện cho việc áp dụng biện pháp bat đúng phápluật, kip thời, nhanh chóng mà cịn đảm bảo sự tôn trọng các quyền cơ bản củacông dan, tránh sự tác động một cách trái pháp luật đến các quyền này, qua đó
<small>cũng cho thấy sự tơn trọng các quyền con người của Nhà nước ta thông qua các</small>
chế định pháp luật cụ thể.
1.1.3. Bắt người trong mối quan hệ voi các biện pháp ngăn chặn kháctrong tố tụng hình sự
Nghiên cứu về tính chất và căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng của các
biện pháp ngăn chặn cụ thể như bắt người, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm có thể thấy giữa bắt người với các biện phápngăn chặn khác luôn tồn tại mối quan hệ tác động qua lại với nhau.Bắt người va
<small>các biện pháp ngăn chặn cịn lại có chung một bản chất - đều là những biện pháp</small>
cưỡng chế tố tụng được thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước, đềuluôn gắn liền với sự tác động và hạn chế các quyên tự do cá nhân của đối tượngáp dụng, được áp dung trong TTHS nhằm mục dich chung là ngăn chặn tội<small>phạm, ngăn ngừa người phạm tội trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó</small>khăn, can tro việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự hoặc tiếp tục phạmtội. Sở dĩ biện pháp bắt người và một số biện pháp cưỡng chế tố tụng khác được
<small>quy định thành một nhóm gọi là những biện pháp ngăn chặn là vì các biện phápnày khi áp dụng đều có chung mục đích ngăn chặn, phịng ngừa.Trong mối quan</small>
hệ với các biện pháp ngăn chặn khác, bắt người thường là tiền dé cho việc áp
luật TTHS của ta nếu xác định bắt người là một biện pháp ngăn chặn độc lập có
<small>lẽ cũng là chỉ nhằm xác định gianh giới về mặt hình thức của sự tác động đến</small>
các quyền tự do cá nhân của đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn mà thôi.
Nếu nghiên cứu cụ thể, đầy đủ các qu* định của BLTTHS về các biện pháp ngăn<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small>On Gia Lim - Cao học Ludt khoa 5</small>
chan như đối tượng áp dung, điều kiện (căn cứ áp dung), mục đích cu thé của
việc áp dụng, chúng ta có thể đưa ra một kết luận chắc chắn rằng sẽ khơng có bátngười độc lập (bat chỉ dé bat) mà bắt người thường gắn với một mục đích nhấtđịnh nào đó, từ đó cho thấy bat người thường là biện pháp ngăn chặn đi liềntrước hoặc là tiền đề cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
- Bắt người với tạm giam:
Bat bị can, bị cáo để tạm giam là một trường hợp bắt người cụ thể có mục
đích. Đây là trường hợp bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tồán quyết định đưa vụ án ra xét xử để tạm giam phục vụ cho việc điều tra, truy tỐ,xét xử và thi hành án hình sự. Hành vi bat ở đây thường di liền với hành vi tạmgiam đối với người bị bắt và trong thực tế thường được thực hiện dựa trên hìnhthức văn bản là: Lệnh bắt và tạm giam bị can, bị cáo.
- Bắt người với tạm giữ:
Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tội quả tang để phục vụ việcđiều tra xác minh lý do đã dẫn đến việc người đó bị bắt. Người bị bắt trong
về hình sự, họ bị bắt do yêu cầu ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa sự trốn tránh
<small>pháp luật hoặc hành vi gây cản trở cho việc điều tra, khám phá tội phạm. Muốn</small>
khang định họ có phạm tội hay không, cần phải tiến hành các hoạt động cần thiếtđể xác minh làm cơ sở để quyết định việc khởi tố đối với họ. Trong nhiều trườnghợp việc tạm thời cách ly họ với xa hội để đảm bảo khách quan cho việc xác
<small>minh hành vi của họ là cần thiết, do đó cần phải tam giữ đối với họ.</small>
- Bắt người với các biện pháp ngăn chặn khác:
Đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tộiquả tang nếu có đủ căn cứ để khởi {@ họ với tư cách là bị can thì tuỳ trường hợpnếu xét thấy khơng cần thiết áp dụng biện pháp tạm giam nhưng cũng không thể
để họ hồn tồn tự do được, cơ quan có thẩm quyên có thể quyết định áp dụng
biện pháp ngăn chặn khác như cấm di khỏi nơi cư trú, cho bảo lĩnh, đặt tiền hoặctài sản có giá trị để bảo đảm.
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>Luan du Shae sg Laat hoe - Bat người trong tố tang hinh sự piệt Vam</small>
Đối với bị can, bị cáo được tại ngoại, kể cả những bị can, bị cáo bị ápdụng biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc khác mà tiếp tục phạm tội hoặc chuẩnbị thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, vắng mặt theo giấy triệu tập, gây khókhăn cho quá trình giải quyết vụ án thì các cơ quan có thẩm quyền có thể raquyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn để bắt tạm giam đối với họ.
1.2. Muc đích, ý nghĩa của biện pháp bắt người trong TTHS1.2.1. Mục đích của biện pháp ngăn chặn bắt người
<small>Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố tụng đều nhằm</small>
dat được mục đích chung mà điều 61 BLTTHS đã quy định. Vì vậy, mọi trườnghợp áp dụng biện pháp bắt người đều phải đạt được các mục đích sau đây:
- Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm:
<small>nhiệm hình sự thực hiện do cố ý hoặc vô ý xâm hại các quan hệ xã hội được luật</small>
hình sự bảo vệ. Việc ngăn chặn không để cho tội phạm xảy ra hoặc không đểhành vi phạm tội gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội là một đòi hỏi cấp bách.
Việc bắt người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng, người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tộiphạm thì bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra khám phá tội phạm hoàn toàn
<small>phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.</small>
- Ngăn chặn việc bi can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho cơng tác điều tra,
<small>IrILy tố và Xót Xử. `BỊ can, bị cáo là người tham gia tố tụng ở các giai đoạn khác nhau của quá</small>
trình giải quyết vụ án. Họ chính là đối tượng của hoạt động điều tra, truy tố vàxét xử. Sự tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS của họ là quyền đồng thời lànghĩa vụ bat buộc. Sự có mặt của bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng là rất cầnthiết đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, nếu họ trốn tránh hoặc có hành vi xốdấu vết, tiêu huỷ vat chứng, chứng cứ, tau tán tang vật của vu án... sẽ làm choquá trình chứng minh vụ án gặp nhiều khó khăn. việc giải quyết vụ án có thể bịdây đưa, kéo dài, thậm chí có thể đàm cho q trình tố tụng bị bế tắc, vụ ánkhơng giải quyết được. Vì vậy, việc bắt đối với những đối tượng nói trên là cần
<small>[5</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><small>On Gia Lia - Cac hoe “uất khod 5</small>
thiết để dam bảo sự thuận lợi và khách quan trong quá trình thu thập chứng cứcủa vụ án, loại trừ những khó khăn mà họ có thể gây ra cho các cơ quan tiên
hành tố tụng.
- Ngăn chặn không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm lội:
Để tránh áp dụng biện pháp bat người tràn lan không cần thiết luật TTHSquy định không phải bất kỳ bị can, bị cáo nào cũng đều có thể bị bát để tạmgiam. Do đó, bị can, bị cáo có thể được tại ngoại hoặc bị áp dụng biện pháp ngănchặn khác ít nghiêm khắc như cấm di khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh... Tuy nhiên, nêucó căn cứ xác định răng các đối tượng này sẽ tiếp tục phạm tội, cơ quan tiênhành tố tụng có thể bắt để tạm giam.
<small>- Ngăn chặn hành vi gây khó khăn, can trở việc thi hành án:</small>
<small>Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự. Giai</small>
đoạn này chính là sự thể hiện tập trung nhất kết quả của cả quá trình tố tụng.Việc tạo những điều kiện để đảm bảo cho hoạt động thi hành án dạt hiệu quảkhông chỉ cần thiết khi kết thúc hoạt động xét xử tại phiên toà mà còn phải đượcthực hiện ngay từ thời điểm vụ án chưa xét xử. Do đó, để đảm bảo thi hành án
<small>cũng như ngăn ngừa những hành vị gây khó khăn cho hoạt động xét xử, Tồ án</small>
có thể ra quyết định bat bị can, bị cáo để tạm giam. Việc quyết định bat bị can,
bị cáo để tạm giam có thể được thực hiện ngay sau khi Toà án nhận được hồ sơ
vụ án từ VKS chuyển qua hoặc tại phiên toà xét xử đối với bị cáo đang tại ngoại.
<small>Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp ngăn chặn duy nhất mà Toa án áp dung</small>
<small>trong giai đoạn xét xử. Tuy theo tính chất của vụ án, nhân thân của bị can, bị</small>cáo, thái độ chấp hành pháp luật cũng như u cầu của việc phịng ngừa, Tồ án
có thể áp đụng các biện pháp khác ít nghiêm khắc hơn nếu xét thấy việc áp dụng
biện pháp đó cũng đủ để ngăn ngừa bị can, bị cáo trốn hoặc gây khó khăn cho
<small>việc thi hành án.</small>
Việc quy định biện pháp bắt người trong TTHS thể hiện đường lõi, chính
<small>các biện pháp ngăn chặn khác góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội bằng</small>
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><small>Luan du Thacsg “uất học - Bat người trong tố tang hinh sự piệt (an</small>
pháp luật, là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tác
động đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân trong những trường
hợp cần thiết, nhằm đạt được mục đích của tố tụng hình sự. Mặt khác, việc quyđịnh biện pháp bat người còn thể hiện thái độ kiên quyết, triệt để của Nhà nướctrong đấu tranh phòng ngừa tội phạm, tiến tới hạn chế và loại trừ tình trạng phạmtội ra khỏi đời sống xã hội.
Việc quy định và áp dụng biện pháp bắt người cũng có ý nghĩa rât lớntrong thực tiễn.
Trước hết, bắt người là điều kiện hết sức cần thiết không thể thiếu nhằmđảm bảo cho các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có thầmquyền khác đạt hiệu quả, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết đượcnhững nhiệm vụ đặt ra trong các giai đoạn tố tụng một cách chính xác, nhanhchóng, trong đó cơ bản nhất là phát hiện kịp thời, xử lý đúng người, đúng tội ápdụng dung pháp luật. Lénin đã từng chỉ rõ: "tác dụng ngăn ngừa của hình phathồn tồn khơng phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ đã phạm tội thìkhơng thốt khỏi bị trừng phạt. Điều quan trong khơng phải ở chỗ đã phạm tộithì bị trừng phạt nặng, mà là ở chỗ không tội phạm nào không bị phát hiện" vàtất nhiên bị xử lý bằng hình sự.
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thực chất là quá trình nhận thứcvề vu án hình sự (nhận thức về một hiện tượng xã hội đã xẩy ra). Muốn có nhậnthức đúng, các cơ quan có thẩm quyền phải thu thập được đây đủ các tài liệuthực tế để chứng minh sự việc phạm tội một cách trung thực, khách quan, chínhxác. Mặc dù nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng,
<small>song hiệu quả của hoạt động chứng minh một phần chịu ảnh hưởng từ thái độ</small>
khai báo của đốt tượng phạm tội và từ những thuận lợi, khó khăn mà các đốitượng này có thể đem lại trong q trình giải quyết vụ án. Thơng thường thì khithực hiện tội phạm hoặc ngay cả trường hợp đang chuẩn bị thực hiện tội phạm.người phạm tội đã ít nhiều nhận thức được những hậu quả mà mình phải gánhchịu, do vậy họ thường tính tốn những phương án cần thiết để trốn tránh pháp
<small>*Š</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22"><small>‘On Gia Lam - Cao học Ludt khố 5</small>
luật hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, xử ly tội phạm ma ho đã thực hiện.
Hành vi của họ có thể là chạy trốn, che giấu, tiêu huỷ công cụ, phương tiện gây
án, tau tán vật chứng, xoá dấu vết, mua chuộc, de doa những người có liên quan
như người làm chứng, người bị hại... Việc bắt các đối tượng này để hạn chế tự do
của họ, làm rõ hành vi phạm tội của họ một cách khách quan là cần thiết và
trong nhiều trường hợp là cấp bách khơng thể trì hỗn (trường hợp khẩn cấp), nógiúp cho cơ quan có thẩm quyền khơng chỉ kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn
ngừa người có hành vi phạm tội bỏ trốn mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việcphát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ án.Ngồi ra việc bat người phạm tội cịn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tốtụng trong các giai đoạn tố tụng cụ thể, tránh được tình trạng để người phạm tội
bỏ trốn, không thể bat lại, dù sau này có xử lý nhưng sẽ khơng thé phát huy hết
hiệu quả của q trình tố tụng. Ví dụ: xét xử vắng mặt do bị cáo trốn mà việctruy nã khơng có kết quả hay bị cáo ở nước ngồi khơng thể triệu tập đến phiêntồ, bản án có thể tuyên nhưng việc thực hiện bản án sẽ gặp khó khăn, thậm chíkhơng bao giờ thực hiện được! Nhiều trường hợp do bị can, bị cáo trốn trong giai
đoạn điều tra, truy tố, xét xử làm cho quá trình tố tụng phải tạm ngừng lại dẫn
đến tình trạng dây dưa, kéo dài gây tốn kém thời gian và công sức của các cơquan tiến hành tố tụng. Điều đó càng cho thấy rõ hơn ý nghĩa của việc áp dụngkịp thời, nhanh chóng, chính xác biện pháp bắt người trong TTHS đối với quá
<small>trình tố tụng.</small>
Thứ hai: Biện pháp này chính là sự bảo đảm cho việc thực hiện đân chủtrong pháp luật, thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp phápcủa cơng dân được Hiến pháp và luật quy định. Điều này thể hiện ở bản chất củabiện pháp bat người, tuy là một bien pháp cưỡng chế, tác động trực tiếp đếnquyền tự do thân thể của công dân, nhưng lại không nhằm xâm phạm đến thân
thể họ như là sự trừng phạt về hành vi họ đã thực hiện mà chỉ nhằm đạt được<small>mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội tiếp tục phạm tội và tạo</small>
điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, cóhiệu quả. Việc quy định trong luật và việc áp dụng các quy định của luật trongthực tiễn về bắt người ln địi hỏi người làm luật và người áp dụng luật phải giải
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><small>Lnan du Chạc sỹ Ludt học - Bat người trong tế tụng tình su diệt Waa</small>
quyết được một cách khoa học hai vấn đề tưởng chừng luôn mâu thuẫn: làm saobiện pháp này ngày càng trở thành điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình tố tụng,nhưng cũng ngày càng góp phan hạn chế một cách toi đa những khả nang dẫnđến sự vi phạm, đến việc hạn chế khơng cần thiết các quyền và lợi ích hợp phápcủa đối tượng bị áp dụng? Lich sử lap pháp của Nhà nước ta cho thấy việc xâydựng chế định về các biện pháp ngăn chặn nhất là đối với biện pháp bat người đãthực sự quán triệt sâu sac tư tưởng có tính chất định hướng trên. Nếu trong motsố văn bản pháp luật TTHS đơn hành trước đây như Sắc lệnh số 002/SLT ngày18/6/1957 của ‘Chu tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoà hay Sắc luật 02/SLngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hồ miềnnam Việt nam có quy định một số trường hợp bắt khẩn cấp như : ngườikhơng cócăn cước lý lịch rõ ràng; người đang chuẩn bị làm việc phạm pháp ..., đã dẫn đếnhậu qua là việc bắt có tính chất tràn lan, khơng cần thiết, vi phạm nghiêm trọngđến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của cơng dân thì hiện nay, trong Bộ
<small>luật tố tụng hình sự, các trường hợp nói trên đã bị loại bỏ hoặc quy định lại chophù hợp và chính xác hơn (khoản | Điều 63 BLTTHS), do vậy đã phần nào loại</small>
bỏ và hạn chế đến mức tối đa những bất hợp lý trong các quy định trước đây vàđảm bảo việc bắt được chính xác, thuận lợi hơn.
Ngồi ra việc qui định một cách cụ thể, rành mạch các trường hợp, bátngười về đối tượng về thẩm quyền, căn cứ và thủ tục bắt cịn có ý nghĩa là cơ sởpháp lý để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật khi áp dụng biện pháp bắtngười. Việc áp dụng tuỳ tiện biện pháp bắt như bat không đúng đối tượng, bấtoan, sai người không phạm tội, bắt không đúng thẩm quyền, sai thủ tục tố tụng
<small>— là những hành vi không chỉ xam hại đến hoạt động đúng dan của các cơ</small>
quan có thẩm quyền điều tra, truy tố xét xử, đến quyền bất khả xâm phạm vềthân thể của cơng dân mà cịn làm giảm uy tín của Nhà nước, giảm sút lòng tincủa quần chúng nhân dân đối với các cơ quan áp dụng pháp luật. Những người
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><small>On Gia Lam - (24a hoe uất khoa 5</small>
1.3. Những yêu cau đôi với việc áp dung biện pháp bat người trongtô tụng hình su
1.3.1. Yêu cầu về chính trị
Yêu cauvé chính trị ln có mối quan hệ mật thiết với yêu cầu về phápluật. Chính trị là một trong các tiền đề để xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật, pháp luật là sự thể hiện tập trung của đường lối chính trị. Quy định củapháp luật TTHS về bát người chính là sự cụ thể hố đường lối, chính sách của
như là một trong những phương tiéy hữu hiệu nhằm đạt được mục đích bảo vệ
<small>chế độ, bảo vệ lợi ích của Nha nướy, lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp</small>
của cơng dân, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội, tạo chocơng dân trong xã hội một môi trường sống, làm việc ổn định, bình n trongtrật tự pháp luật, có điều kiện để phát triển toàn diện, phấn đấu xây dựng một xãhội công bằng, văn minh.
Trong thời điểm hiện nay khi mà hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giớiđã không còn tồn tại như là một đốigrọng với hệ thống tư bản chủ nghĩa thì việcViệt Nam và một số ít nước cịn lại vẫn kiên trì theo con đường đã chọn đã thể
<small>hiện đường lối nhất quán trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta phù hợp</small>
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><small>Luan én Thae sy Ludt học - Bat người trong tố tang hiah sự p‡ệt Wan</small>
với nguyện vọng của dai đa số nhân dan lao động. Tuy nhiên với su lựa chon con
dường phát triển xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện tình hình quốc tế đã có nhiều
luận điệu xun tac, những hành vi phá hoại của các thé lực thù địch muốn duaViệt Nam di chệch khỏi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn, nhấtlà sự phá hoại về chế độ chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy việcphấn đấu xây dựng một nhà nước vững mạnh, ổn định, một xã hội trong đó moingười sống và làm việc theo Hiến pháp và luật, hiện tượng vi phạm pháp luật,tình trạng phạm tội, các tệ nạn xã hội dan dần bị loại trừ chính là sự khang địnhhiệu quả nhất về sự tôn tại vững chắc của chế độ xã hội mà chúng ta đã lựa chọn.Điều đó cũng sẽ là vũ khí hữu hiệu nhất để đập tan những luận điệu xuyên tạc,phá hoại của bất kỳ thế lực thù địch nào. u cầu về chính trị khơng chỉ địi hỏi
<small>các thành viên trong xã hội phải có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy định</small>
của pháp luật mà còn phải được quán triệt đầy đủ và triệt để đối với hoạt động ápdụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền.
Điều 52 Hiến pháp 1992 quy định: "Mọi cơng dân đều bình đẳng trước
pháp luật”, vì vậy, đối tượng có thể bị bắt theo TTHS là bất kỳ ai, nếu là trường
hợp luật quy định cần bat và phải bat để phục vụ quá trình điều tra, xử lý tộiphạm. Tuy nhiên để đảm bảo sự ổn định về chính trị, đối với một số đối tượngphạm tội, việc áp đụng biện pháp này phải hết sức thận trọng, bởi lẽ các biệnpháp ngăn chặn có tính chất,cưỡng chế nghiêm khắc như bat người, tạm giữ, tạmgiam là "vấn đề dang được quan tâm và nhạy cảm nhất trong quần chúng", nhấtlà với một số đối tượng đặc biệt, việc bắt đối với họ không chỉ tạo ra sự quan tâmcủa dự luận trong nước mà cả dư luan quốc tế, vì: "hiện nay tình hình có nhữngchuyển biến mới; hoại động của các loại đối tượng cũng có những vấn dé kháctrước. Các thé luc thù dich lại đang khuấy lên vấn dé "nhân quyền, dan chi" đểchống ta. Mọi sơ hở của ta rất dé bị kẻ thù lợi dụng, kích động, gây thành vấn đềphức tạp, chống phá ta ở trong nước Và trên quốc tế". Điều đó cho thấy tính chất
<small>`," Cơng van số 365/CV-BNV (VI1) ngày 11/11/1994 của Bộ Nội vụ về chan chỉnh việc chap hành pháp luật</small>
<small>trong công tác bat, giam. giữ và tổ chức thi hành án phạt tù.</small>
<small>21$</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><small>On Gia Lam - Cae hoe Laat khod 5</small>
phức tạp, nhạy cảm của việc áp dụng biện pháp bat người. Khi áp dụng biệnpháp này, các cơ quan có thẩm quyền cần có sự cân nhắc, thận trọng ngay cảtrong trường hợp đã có đủ căn cứ để bắt nhưng nếu xét thấy việc bắt sẽ gây ảnhhưởng xấu trong dư luận xã hội hoặc tạo sơ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng,
chống phá ta thì có thể khơng bắt mà áp dụng biện pháp khác ít ảnh hưởng hơn,
nhất là đối với các đối tượng có liên quan đến tơn giáo, tín ngưỡng, sắc tộc,người nước ngồi.... Việc bắt hay khơng bắt đối với họ trong nhiều trường hợpkhông chỉ nhằm đạt được mục đích TTHS mà cịn đáp ứng dược u cầu củađường lối, chính sách của Dang, Nhà nước, mối quan hệ bang giao giữa nước tavới quốc tế, Để giữ vững ổn định chính trị, ngồi u cầu về pháp luật, việc bátngười trong TTHS phải quán triệt tỉnh thần phục vụ cho đường lối đổi mới, pháttriển kinh tế, đường lối đối nội, đối ngoại, sự hoà nhập với cộng đồng quốc tế.Thực tế cho thấy trong những năm gần đây chính những sai lầm về chính sách
tơn giáo, dân tộc đã day nhiều quốc gia vào tình trạng nội chiến, chia rẽ, chịu sự
can thiệp của nước ngoài, thậm chí bị tan rã, mất ổn định. Nếu quán triệt đượcyêu cầu về chính trị trong việc áp dụng biện pháp bắt người đối với các đối tượngliên quan đến tôn giáo, dân tộc... giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật vớichính sách tơn giáo, chính sách dân tộc, đường lối ngoại giao .v.v... chắc chắn sẽgóp phần ổn định chính trị, hạn chế được những hậu quả xấu của các hành vi<small>xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, tạo nên tâm lý</small>ổn định, sự tin tưởng vào chế độ xã hội, sự lãnh đạo của Dang và Nhà nước.
Đối với một số đối tượng đặc biệt khác như các đại biểu của cơ quan dâncử (Đại biểu Quốc hội và đại biểu của Hội đồng nhân dân), nếu họ phạm tội,việc xử lý về hình sự đối với họ cũng khơng có gì khác so với người bình thường.Bở lẽ họ bị xem xét về trách nhiệm hình sự với tư cách là công dân phạm tội chứ
<small>không phải với tư cách "Nghị viên" mà nhân dân đã trao cho họ qua bầu cử. Tuy</small>
vậy để đảm bảo hoạt động kiểm tra, giám sát công tác áp dụng pháp luật, tránhsai lầm khơng đáng có cũng như tránh những ảnh hưởng xấu đến uy tín của cáccơ quan mà họ là đại biểu, việc bất đối với họ được thực hiện theo một thủ tụcriêng. Trường hợp người phạm tội là những người có một vị trí cao trong tổ chứcĐảng, trong bộ máy nhà nước cũng là một trường hợp cần áp dụng những thủ tục
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>adn au Shae sự Ladt học - Bat người trong tổ tang hinh sat oiệt Aan</small>
ngoại lệ nhằm đảm bảo uy tín của tổ chức Đảng, của hệ thống cơ quan nhà nước,việc bat hay không bắt đối với họ thường là quyết định được đưa ra sau khi đã cócân nhac thận trọng mối quan hệ giữa yêu cầu chính trị với yêu cầu pháp luật.Vấn đề này nếu làm khơng khéo sẽ có ảnh hưởng chính trị xấu dễ bị kẻ thù lợi
dụng để phục vụ cho chính sách bơi nhọ, xun tạc làm hại đến uy tín của Đảng
và Nhà nước. Quán triệt yêu cầu này, ngày 29 tháng 3 nam 1992 Bộ Nội vu (naylà Bộ Cơng an) đã có Chỉ thị 318 về việc xin ý kiến lãnh đạo Bộ trước khi bắt giữmột số đối tượng đặc biệt. Ngày 16 tháng 3 năm 2000 Bộ Chính trị cũng đã raChỉ thị số 52 về việc báo cáo xin ý kiến cấp uỷ trước khi bắt giữ, khởi tố, điều tracán bộ, đảng viên phạm tội. Tuy nhiên quy định việc áp dụng như vậy đối vớimột số đối tượng phạm tội có thân phận đặc biệt không phải là đặc ân hoặc là sựưu tiên đối với những người này; khơng có nghĩa là họ sẽ không bị xử lý hoặcchỉ bị xử lý ở mức độ nhẹ so với các đối tượng phạm tội khác; cũng khơng tạo ra
sự bất bình đẳng giữa các dối tượng phạm tội; mà đó chỉ là những đảm bảo pháp
lý về thủ tục để đáp ứng với yêu cầu chính trị đặt ra trong thực tiễn áp dụng phápluật, nhằm giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội, tránh những hậu quaxấu có thể xẩy ra khi bất người. Cịn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ thì cáccơ quan có thẩm quyển luôn luôn quán triệt một nguyên tắc bắt buộc đó là moingười đều phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình trước Tồ
<small>án mà khơng có sự phân biệt” cho dù người đó là ai.</small>
1.3.2. Yêu cầu vềpháp luật
Một trong các dấu hiệu đặc yung bắt buộc của Nhà nước pháp quyền làNhà nước phải có một hệ thống phái: luật hồn chỉnh - pháp luật phải thực sự làcông cụ để Nhà nước quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội vàquyền, lợi ích hợp pháp của công đạn. Khi làm luật, Nhà nước ta đã xem xét,đánh giá về yêu cầu cần thiết, cấp bách cũng như mọi khía cạnh liên quan để xâydựng các quy phạm, các chế định và đạo luật cụ thể. thơng qua một trình tự, thủtục lập pháp chặt chế nhằm đạt được hiệu quả điều chỉnh cao. Các quy định củaBLTTHS cũng được xây dựng, bổ sung, sửa chữa và hoàn thiện qua các thời kỳ
<small>khác nhau ngày càng phù hợp với đòi hỏi khách quan của xã hội. Chế định bitngười trong TTHS hình thành trên cơ sở đánh giá được tính cấp thiết phải áp</small>
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28"><small>On Gia Lam - Cae hoe Ladt khod 5</small>
dụng cũng như cách thức áp dung làm sao để đạt hiệu quả cao nhất trong đâutranh phòng chống tội phạm. Việc áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS phảituân thủ các quy định của pháp luật về đối tượng bắt, điều kiện (căn cứ) bắt,thẩm quyền quyết định, thủ tục tiến hành việc bát....
Việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bắt người là yêu cầu đầu tiênvà bat buộc trong mọi trường hợp bắt. Chỉ khi đã thoả mãn các yêu cầu về phápluật mới xem xét đến các yêu cầu khác như: yêu cầu về chính trị, u cầu vềnghiệp vụ nên có bắt hay khơng, nếu khơng bắt thì cần áp dụng biện pháp gì, bắtnhư thế nào và vào thời điểm nào là thích hợp nhất, đạt hiệu quả nhất... ? Đảmbảo yêu cầu về pháp luật cũng chính là sự tuân thủ các nguyên tắc áp dụng biệnpháp bắt người.
Thứ nhất: Việc bắt người phải đúng đối tượng, có căn cứ. Theo quy địnhtại Điều 62, 63, 64 BLTTHS thì đối tượng bị bắt có thể là bị can, bị cáo cũng có
mà pháp luật quy định các trường hợp bắt người cụ thể. Nếu muốn bắt bị can, bịcáo để phục vụ việc điều tra, truy tố, xét xử hay đảm bảo thi hành ain thì áp dụngquy định về trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam; nếu là người chưa bị khởitố về hình sự thì chỉ có thể bắt troạg trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quảtang.... Việc xác định đúng đối tượng để quyết định bat hoặc tiến hành bắt theocác trường hợp cụ thể là điều hết sức cần thiết, vừa đảm bảo việc bắt đúng người,bắt kịp thời vừa có thể tránh được những vi phạm khi áp dụng các biện pháp này.Ví dụ: Để tránh thủ tục phê chuẩn của VKSmuốn nhanh chóng đạt được mụcdích ngăn chặn, cơ quan điều tra có quyết định bắt khẩn cấp đối tượng lẽ ra chỉ
mà có bắt họ hay khơng? bắt trong trường hợp nào còn phụ thuộc vào các điềukiện (căn cứ) cụ thể, chẳng hạn ho đang chuẩn bị thực hiện mot tội phạm rat
hiện tội phạm thì bat quả tang.... Bắt người có căn cứ pháp luật khơng nhữngđảm bảo được mục đích ngăn chặn mà cịn đảm bảo sự tơn trọng các quyển cơ
<small>sỹ24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><small>Luda án Thaesg Laat học - Bat người trong tế tang hinh su oiệt Van</small>
bản của công dân, tang thêm uy tín của cơ quan có thẩm quyền, ổn định dư luận
xã hội, tranh thu sự đồng tình cua quần chúng nhàn dan.
Thứ hai: Việc bắt người trong TTHS phải đúng thẩm quyền và trình tự thủtục do BLTTHS quy định. Đây chính là một trong những nội dung cơ bản, motbiểu hiện rõ nét sự phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa các thành viên trong
hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước khác có thầm quyền
và cơng dân trong TTHS. Bat người theo đúng thẩm quyền, thủ tục luật địnhhoàn toàn phù hợp với yêu cầu cần thiết ở những mức độ khác nhau của cáctrường hợp bắt, đồng thời đảm bảo được hiệu quả cao nhất của biện pháp này,góp phần loại trừ những tác động trái pháp luật đến các quyền cơ bản của đốitượng áp dụng. Ví dụ: Về thẩm quyền ra lệnh bắt người của cơ quan điều tra,
điểm d khoản | Điều 62BLTTHS quy định ".... Trưởng Cơng an, Phó trưởng
cơng an cấp huyện; Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên;Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân”.Theo tinh thần quy định trên thì ngay cả người trực tiếp điều tra vụ án là điều traviên nếu khơng có những chức danh nói trên cũng khơng có quyền ra lệnh bắt bịcan để tạm giam dù đó là điều tra viên bậc nào và ở cấp điều tra nào! Điều đó đặtra yêu cầu cho người có thẩm quyên quyết định bắt người có trách nhiệm hơntrong việc cân nhắc, xem xét các điều kiện cần thiết trước khi ra quyết định, đảmbảo tính chính xác của nó. Nếu quy định thẩm quyền bắt người quá rộng rãitrong tất cả các trường hợp chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, lạm dụngquyền hạn và khơngđạt hiệu quả.
Ngồi việc phải tuân thủ các quy định về thẩm quyền áp dụng, các cơquan và người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người còn phải triệt để tuânthủ các quy định về trình tự và thủ tục áp dụng các trường hợp bat cụ thể. Bởi lẽ.việc bat người có ảnh hưởng rất lớn ¿|ến các quyền cơ bản của cơng dan; tính cấpthiết của bắt người tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể quy định trong từng trườnghợp bat. Do đó, nếu tiến hành bắt mọt cách tuỳ tiện, trái pháp luật sẽ ảnh hưởng
mang, không tin tưởng vào hoạt động của cơ quan có thẩm quyền. Chính vì vậy,
<small>trong BLTTHS các nhà làm luật đã đặc biệt quan tâm tới việc quy định chat chẽ,</small>
<small>: 25</small>
<small>s4:</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30"><small>Ot Gia Lam - Cao học Ludt khod 5</small>
tỉ mi trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp bat người trong các trường hợp khác
nhau mà khi áp dụng, cơ quan và người có thẩm quyền phải tn thủ triệt để. Vídụ: Muốn bat bi can, bị cáo dé tạm giam trước hết phải có lệnh viết của người có
thẩm quyền. Lệnh này phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của ngườira lệnh; tên, địa chỉ của người bị bắt. Trước khi bắt, người thi hành lệnh bắt phảiđọc lệnh, giải thích lệnh, cho người bắt đọc lệnh.... Khi bắt, phải có đại diện
với mọi bị can, bị cáo mà khơng có ngoại lệ. Việc tuân thủ chặt chẽ các quy địnhvề thủ tục áp dụng không những đảm bảo cho việc bắt là có căn cứ mà cịn đảmbảo tính hợp pháp của biện pháp bắt người, vừa thể hiện tính dân chủ trong việc
tôn trọng, bảo vệ các quyền công dân vừa khẳng định thái độ nghiêm khắc, triệt
để trong đấu tranh phịng, chống tội phạm.
Trong thực tế chỉ cần có một sự vi phạm nhỏ về mặt thủ tục áp dụng cũngphải coi là trái pháp luật và không thể chấp nhận được, ví dụ: Bắt người bằnglệnh miệng, lệnh của người khơng có thẩm quyền được quy định trong luật, bắtngười bằng lệnh khống, lệnh bắt khơng có chữ ký của người ra lệnh hoặc khơngcó dấu của cơ quan có thẩm quyền, bắt người khơng có mặt đại diện chínhquyền, đại diện cơ quan nơi người bị bắt cư trú hay làm việc, bắt pi can, bị cáo
<small>vào ban đêm.v.v.... tất cả những vi phạm này cần phải được loại trừ vì khơng</small>
những làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dung màcịn thể hiện sự tuỳ tiện, sự lạm quyền khi áp dụng biện pháp bắt người.
Một yêu cầu pháp luật rất cơ bản nữa đòi hỏi các cơ quan và người áp
lợi ích hợp pháp của công dân. Bắt người là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc,tác dong trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của cộng dân. Nêu
<small>như tự do đi lại, học tập, lao động, cư trú.... Do tính chất đặc thù của hoạt dộng</small>
tố tụng hình sự, các quyền cơ bản đó có thể bị tác động nhằm đạt mục đích tốtụng. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp bắt người nếu chỉ thiên về việc đạt mục
<small>” Xem Điều 62 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự.</small>
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><small>Luda du Thaesg Ludt học - Bat người trong tố tung hinh sự oiệt Glan</small>
dich TTHS dat ra mà coi nhẹ vấn đề bảo đảm các quyền công dân thì chắc chắnsẽ có tác dụng ngược lại. Việc tơn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp phápcủa công dân không chỉ được thực hiện bằng sự tuân thủ triệt để các quy định
của pháp luật TTHS về đối tượng, can cứ, thẩm quyền ra lệnh bắt người và thủ
tục áp dung mà còn thể hiện trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS saukhi bắt người. Vi du: Dé đảm bảo việc bắt là hợp pháp và có căn cứ, sau khi bắtngười trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan hoặc người đã ra lệnh bắt phải báobằng văn bản cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn. Nếu VKS khơng phê chuẩnthì phải trả tự do ngay cho người bị bắt. Dé đảm bảo việc hạn chế tự do củangười bị bắt chỉ thực hiện khi cần thiết, sau khi nhận người bị bắt trong trường
hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tội quả tang, cơ quan điều tra lấy lời khai
ngay và trong hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị
bat’. Như vậy, khi áp dụng biện pháp bắt người, cơ quan và người có thẩm quyềnáp dụng phải luôn quán triệt quan điểm tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân (người bị bắt). Mọi hành vi đi ngược lại với quan điểmnày điều bị coi là trái pháp luật, người có hành vi đó cần bị xử lý theo quy địnhcủa pháp luật tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm va hậu quả của sự vi phạm.
1.3.3. Yêu cầu về nghiệp vụ
Một trong các yêu cầu của bắt người là kịp thời, nhanh chóng, chính xác.Do vậy, nếu đã xác định đúng đối tượng, đúng căn cứ để bắt, đảm bảo các thủtục pháp lý cần thiết thì phải nhanh chóng tiến hành việc bat. Tuy nhiên, dé dambao cho việc bat đạt hiệu quả cần phải có sự chuẩn bi chu đáo và áp dụng đúngchiến thuật bắt trong từng trường hợp cụ thể. Cần tránh tư tưởng vội vàng, nơnnóng dé dẫn đến chủ quan sơ hở khi bắt người, khiến cho việc bat khơng có kếtquả hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người áp dụng. Chẳng
<small>ngăn chan kịp thời tội phạm, ngăn rgừa hành vi trốn tránh pháp luật của họ là</small>
hết cấp bách, nhưng không phải trong mọi trường hợp người dân đã có thể thựchiện có hiệu quả quyền và nghĩa vụ của mình mà tuỳ từng trường hợp có thể bắt
<small>* Xem Điều 63 khoản 4 BLTTHS.</small>
<small>” Xem Điều 65 khoản | Bộ luật tố tụng hình sự.27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><small>On Gia Lam - Cae hoe Ludt khoá 5</small>
ngay nếu thấy du khả nang vơ hiệu hố sự chống trả của người bi bắt, nhưng
tiến hành bát. Trường hợp hành vi phạm tội thực hiện nơi vắng người, cách xakhu dan cư, người phạm lội có vũ khí nguy hiểm như dao, súng.... người phát
hiện có thể bí mật theo dõi người phạm tội, đến khu vực đơng người thì tri hơ lên
quan lực lượng giữa hai bên (người có quyền bắt và đối tượng cần bal) có sự
chênh lệch theo hướng khơng có lợi cho bên có quyền bắt thì khơng thể nơn
nóng bắt ngay mà cần huy động thêm lực lượng nhất là thông báo và yêu cầu cơquan chức năng (công an, quân đội) giúp đỡ để bát cho an tồn và chính xác hơn.Hiện nay do tình tình tội phạm có nhiều chuyển biến phức tạp, xuất hiện nhiềutrường hợp kẻ phạm tội không từ một thủ đoạn nào nhằm trốn tránh pháp luật,cản trở công dân và các cơ quan chức năng thực hiện quyền và trách nhiệm củamình trong đấu tranh phịng chống tội phạm, thường có hành vi chống trả bằng
<small>vũ khí đối với người áp dụng biện pháp bắt. Khi bắt người phạm tội quả tang</small>
hoặc đang bị truy nã, để vô hiệu hoá sự chống trả này, luật quy định ai cũng cóquyền tước vũ khí của người bị bat. Vì vậy, trong mọi trường hợp người thựchiện việc bắt phải chủ động để phát hiện và tước vũ khí của họ. Đối với kẻ chống
người thực hiện việc bat thì người tien hành bat có thể áp dụng biện pháp tươngứng để loại trừ sự chống đối đó. Việc gây thiệt hại về thể chất cho kẻ bị bắt trongtrường hợp này là có thể chấp nhận mà không coi là vi phạm pháp luật, có nhưvậy mới tạo tâm lý yên tâm cho quần chúng nhân dân khi bắt người. Tuy nhiên,việc tác động đến thân thể để tước vũ khí của họ hoặc gây thiệt hại về vật chấtđối với họ phải được thực hiện dựa trên cơ sở quy định của pháp luật.
giam, bắt người trong trường hợp khdn cấp, việc đáp ứng các yêu cầu về nghiệp
vụ là điều hết sức cần thiết. Do đặc điểm của đôi tượng bị bắt trong trường hợpnày thường đã có sự xác định bước đầu là nguy hiểm nên không thể để tại ngoại
lớn cho xã hội, ngăn ngừa hành vi chạy trốn, tiêu huỷ chứng cứ của người phạm
<small>a)</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><small>Ludn án Shaesg Luat hoe - Bat người trong tố tụng hinh sự viét Ham</small>
tội. Thực tế những đối tượng này thường rất khôn ngoan, xảo quyét trong việctìm cách né tránh pháp luật và khơng ít người thường có thái độ hung hãn, quyết
liệt chống đối, sử dụng vũ khí chống lại người có thẩm quyền để chạy trốn, nhấtlà những kẻ cầm đầu, chủ mưu, tổ chức trong các vụ án đồng phạm. Để bắt có
hiệu quả, tránh được những thiệt hai khơng đáng có, trước khi bat người, cơ quanáp dụng ít nhất phải giải quyết được một số vấn đề sau: bắt ở đâu, bắt vào thờiđiểm nào, bat như thế nào, cần có những lực lượng nào tham gia, cần chuẩn bịcác phương tiện gì để hỗ trợ, việc phân cơng cụ thể đối với từng người, từng lựclượng tham gia ra sao? Để giải quyết được các vấn dé đó, trước hết phải tiếnhành các hoạt động nghiên cứu về đối tượng bắt để xác định đối tượng đó thuộcloại nào, có tiền án, tiền sự hay khơng, thái độ chấp hành pháp luật, quan hệ vớinhững người xung quanh, nghề nghiệp, tính tình của đối tượng ra sao, tình hình
<small>chứng cứ.</small>
Trong các vụ án đồng phạm, việc bắt đối tượng này hay đối tượng kháccần phải được cân nhắc, xem xét trung mối quan hệ với cả vụ án nhằm đạt kếtquả phá án vừa kịp thời nhanh chéng, vừa phải dam bảo thật sự khách quan tồndiện, khơng để lọt tội phạm và người phạm tội. Có trường hợp dù đã đáp ứng dayđủ các yêu cầu pháp luật để bắt một đối tượng nào đó nhưng xét thấy việc bátngười đó là chưa thích hợp vì nếu bắt sẽ đánh động đến các đối tượng khác nguy
hiểm hoặc quan trọng hơn mà chúng ta chưa có đủ căn cứ để bắt, làm cho chúng
kịp thời lui vào bí mật, tiêu huỷ chứng cứ, xoá đấu vết hoặc lan trốn, nằm im
<small>không hoạt động nữa.... sẽ khiến cheviéc điều tra, xử lý vụ án khó khăn hơn thì</small>
phải tính tốn thật kỹ lưỡng, không ¡nất thiết phải bắt ngay.
Việc tuân thủ các yêu cầu về chính trị, pháp luật và nghiệp vụ nhằm mục
<small>dích đảm bảo cho việc áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS đạt hiệu quả</small>
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><small>Od Gia Lam - (ao học Ludt khoá 5</small>
cần thiết giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền khác thực
hiện các nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho họ trong đâu tranh phòng chốngtội phạm. Muốn vậy, ngồi việc phải nhanh chóng hồn thiện các quy định của
luật TTHS về bat người, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo duc
pháp luật trong quần chúng nhân dân, giúp đông đảo quần chúng ý thức đượcquyền và nghĩa vụ của mình trong việc chấp hành pháp luật, trong việc đấu tranhchống vị phạm pháp luật và tội phạm cịn phải nhanh chóng xây dựng được một
<small>đội ngũ cán bộ thi hành pháp luật có trình độ chun mơn cao, trình độ nghiệp</small>
vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm, có khả năng và kinh nghiệm trong việcxem xét, giải quyết có hiệu quả, tồn diện các vụ án hình sự trong bất kỳ giaiđoạn TTHS nào thuộc phạm vi thẩm quyền mà pháp luật TTHS quy định cho họ.
30
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35"><small>Ludu án Thae sg “uất hee - Bat người trang tố tụng hinh sự oiệt Sam</small>
2.1. Những quy định về bat người trước khi có BLTTHS
Các quy định về bắt người đầu tiên được thể hiện trong Hiến pháp 1946,Điều II của Hiến pháp này quy định: "Tư pháp chưa quyết định thi không đượcbắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam". Sắc lệnh số 131/SL ngày
20/7/1946 về tổ chức bộ máy tư pháp công an và Sắc lệnh số 85/SL ngày
07/11/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng có quy định cụ thể hơn vềbat người "Tu pháp công an có nhiệm vụ bắt người phạm pháp và giao cho cácToà án xét xử". Theo các quy định trên, việc quyết định bat người chỉ thuộc vềcơ quan tư pháp, cơ quan cơng an có nhiệm vụ thực hiện quyết định bắt của cơquan tư pháp mà khơng có quyền tự mình ra quyết định. Tuy gọi là Tư pháp cơngan nhưng theo Điều 63 Hiến pháp 1946 thì Tư pháp công an không phải là cơquan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoa.'®
Nghiên cứu các quy định trong một số văn bản pháp luật nói trên, có thể
rút ra được một số kết luận sau:
Thứ nhất: Mac di trong điều kiện mới giành được độc lập với bao bon bềkhó khăn, Nhà nước ta đã có những quy định kịp thời nhằm đảm bảo các điềukiện cho việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, phục vụ đắc lực cho việctrấn áp bọn việt gian, phản động và các tội phạm hình sự khác, góp phần củng cốvà bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân.
Thứ hai: Các quy định về bat người, tuy đã có nhưng cịn chưa cu the,không phân biệt các trường hợp để áp dụng thẩm quyền và thủ tục cho phù hợp,
dẫn đến tình trạng hạn chế về thẩm quyền quyết định (chỉ thuộc về Tồ án). Do
đó, hiệu quả áp dụng khơng thể cao. Đặc biệt, không huy động được sức mạnh
<small>'° Điều 63 "Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dan chủ cộng hồ góm có:</small>
<small>a- Toa án toi cao. ro</small>
<small>b- Các Toà án phúc thẩm.</small>
<small>c- Cac Toa án đệ nhị cấp và sơ cấp.</small>
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>(Oa Gia Lam - Cae học Ludt khố 5</small>
của tồn xã hội trong việc đấu tranh chống tội phạm, nhất là trong những trườnghợp phạm pháp qua tang.
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng cũng phải ghi nhận, đây là những quy
định thể hiện sự cố gắng bước đầu trên con đường xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật TTHS của Nhà nước ta trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử hếtsức khó khăn với một chính quyền cịn non trẻ, ít thực lực về cơ sở kinh tế - xã
hội, lại phải đương đầu cùng một lúc với thù trong, giặc ngoài để bảo vệ và giữ
vững thành quả cách mạng mới đạt được.
Trong thời kỳ tiếp theo, các quy định pháp luật về bắt người có bước pháttriển mới, nhất là sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, motsố văn bản pháp luật TTHS được ban hành như : Luật số 103-SL/L số 005 ngày20/5/1957, Sac luật 002- SLT ngày 18/6/1957 của Chủ tịch Nước Việt nam dânchủ cộng hoà, Nghị định 301-TTg ngày 10/7/1957 của Thủ tướng Chính phủnước Việt Nam dân chủ cộng hồ và sau ngày miền nam giải phóng, chính phúcách mạng lâm thời cộng hoà miền nam Việt nam cũng ban hành một văn bancó liên quan đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người là Sắc luật 002-SL,ngày 15/3/1976.
Việc cho ra đời các văn bản pháp luật nói trên đã góp phần hồn thiện mộtbước các quy định pháp luật TTHS về bat người, khắc phục và sửa chữa được
<small>những hạn chế trong các quy định trước đây về biện pháp này, tạo điều kiện</small>
thuận lợi giúp các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ của mình trongđấu tranh phịng, chống tội phạm, đánh dấu một bước phát triển mới trong quátrình pháp điển hoá pháp luật TTHSở nước ta.
Luật số 103-SL/L 005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyển tự do thân thểvà quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân - có thểđược coi là văn bản pháp luật TTHS đầu tiên quy định một cách có hệ thống và
<small>tương đối đầy đủ về các biện pháp cưỡng chế trong TTHS, trong đó có bắt người</small>
về nguyên tắc. Sac luật 002 ngày 18/6/1957 quy định cụ thể về các trường hợpphạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp là điều kiện để bat quả tang và bat
khẩn cấp cũng như thẩm quyền bắt trong những trường hợp này. Nghị định số<small>301-TTg ngày 10/7/1957 quy định chi tiết thi hành luật số 103 ngày 20/5/1957</small>
<small>32</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><small>Luan tn “lạc tỷ Ludt học -Bat người trong tố tang hinh sự 0iệt Wan</small>
trường hợp khẩn cấp.
Theo quy định tại các văn bản pháp luật này thì đã có sự phân chia biện
văn bản pháp luật TTHS trước chưa đề cập đến. Việc phân chia các biện pháp bất
thấy sự đổi mới về tư duy lập pháp trong giai đoạn lịch sử đó và là một đòi hỏi
Nhà nước và khả năng của các cơ quan tiến hành tố tụng, trên cơ sở phát huytính độc lập tự chủ của các cơ quan này cũng như đảm bảo thực hiện quyền làm
chủ của nhân đân trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo thựchiện có hiệu qua, kịp thời nhiệm vụ TTHS đặt ra. Tại Chương HH luật số 103-SL
có quy định, ngoài những trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩncấp nói trong Điều 4"', bắt người phạm đến pháp luật Nhà nước phải có lệnh viết
của cơ quan Tư pháp từ cấp tỉnh hoặc cấp thành phố trở lên nếu là thường dânphạm pháp, hoặc là Toà án binh nếu là quân nhân phạm pháp hay là thường dânphạm pháp có liên quan đến quân đội nhân dan (Điều 3 luật số 103-SL/L 005).Theo Điều 4 của văn bản nêu trên thì những trường hợp phạm pháp quả tang vànhững trường hợp khẩn cấp là những trường hợp đặc biệt do luật quy định. Cáctrường hợp này được cụ thể hoá trong Sắc lệnh số 002-SLT ngày 18/6/1957 như
+ Điều 1: Các trường hợp phạm pháp qua tang:
- Đang làm việc phạm pháp hoặc sau khi phạm pháp thì bị phát giác ngay;_~ Dang bị đuổi bắt sau khi phạm pháp;
<small>- Đang có lệnh truy na.</small>
Việc xác định bốn trường hợp nêu trên là phạm pháp quả tang vẫn cịn cóđiểm chưa thoả đáng, các nhà làm luật đã có cách hiểu về phạm pháp quả tang
<small>' Xem Điều 4 luật số 103 - SL/L 005 ngày 20/5/1957.33</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><small>Oi Gia Lam - Cao học Ludt kihố 2</small>
chưa chính xác, nói cách khác là đã quy định vượt ra ngồi khn khổ của khái
dang làm việc vụng trộm, phạm pháp'Z. Nếu theo khái niệm này thì quy định về
hợp qua tang thứ nhất (dang làm việc phạm pháp), quy định trường hợp thứ ba làmột trường hợp phạm tội quả tang độc lập là không cần thiết và không hợp lý.
Đối với trường hợp thứ tư thì thực ra đây khơng phải là trường hợp có thể coi là
phạm pháp quả tang, bởi trường hợp này người đó đã phạm pháp, đã bị bắt tạmgp1ữ, tạm giam hoặc đang chấp hành hình phạt mà bỏ trốn và bị cơ quan có thấmquyền phát lệnh truy nã, họ không phải là người bị bát gặp, phát hiện ngay khi
<small>đang làm việc phạm pháp.</small>
+ Điều 2: Các trường hợp khẩn cấp:- Có hành động chuẩn bị làm việc phạm pháp;
- Người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xẩy ra vụ phạm pháp chính mắt trơng
thấy và xác nhận đúng là kẻ phạm pháp;
- Tìm thây chứng cớ phạm pháp trong người hoặc tại nhà ở của người tình nghi
<small>phạm pháp;</small>
- Có hành động chuẩn bị trốn hoặc đang trốn;
<small>- Có hành động tiêu huỷ chứng cớ hoặc đang tiêu huỷ chứng cớ; làm giả chứng</small>
<small>- Căn cước, lai lịch không rõ ràng.</small>
Tuy nhiên việc quy định có quá nhiều trường hợp khẩn cấp như trên dễdẫn đến tình trạng bat người một cách tràn lan không cần thiết, xâm phạm đếnquyền tự do thân thể của công dân, gây tâm lý hoang mang không tin tưởng vàosự đúng đắn trong các hoat động của cơ quan có thẩm quyền, làm tổn hại đến uytín của Nhà nước. Bởi lẽ, bắt người ở đây nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội,
<small>ngăn ngừa ho trốn tránh gây khó khăn cho việc xử lý tội phạm. Muốn đạt được</small>
mục đích, trước hết phải có sự xác định cụ thể những trường hợp nào cần bát,
<small>'* Từ điển tếng Việt. Nxb Đà Nang. 1998. tr. 796 -in lần thứ 6.</small>
<small>34</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>Lada au Shae sỹ “uất hoe - Bat người trong tố tung hink sự piệt (dam</small>
đáng bát, phải đảm bảo bắt đúng đối tượng. Các trường hợp nói trên đa số chỉ có
thể coi là điều kiện để bat khẩn cấp chứ chưa thể quy định là những trường hopđộc lập được. Ví du: Đối với trường hợp "đang chuẩn bị làm việc phạm pháp”.Dù có ngầm hiểu rằng, trường hợp thứ nhất này xác định một người nào đó đangchuẩn bị thực hiện một tội phạm, thế nhưng có phải trong mọi trường hợp cứ cóhành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm bất kỳ là đều có thể bị xử lý về hình sự haykhơng? chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của quá trình thực hiện tội phạm. Dovậy, hành vi chuẩn bị phạm tội cũng nguy hiểm cho xã hội, nhưng nguy hiểm tới
mức độ nào, khả năng tội phạm có xảy ra hay khơng, hậu quả mà tội phạm có
khơng phải trong mọi trường hợp đều có thể bắt khẩn cấp.
Đối với trường hợp: “căn cước, lai lịch không rõ ràng”. Trường hợp nàymới chỉ cho phép đưa ra kết luận là đối tượng cụ thể đó khơng có các điều kiện
trú quán, nghề nghiệp hoặc có nghi ngờ về tính chân thực của các tài liệu xácđịnh căn cứ, lai lịch của họ. Một người có căn cước, lai lịch khơng rõ ràng thìkhơng có nghĩa họ là người phạm tội can phải bắt giữ và xử lý, vì có rất nhiều lýdo có thể đặt một người vào trong tình trạng này. Nếu quy định đây là mộttrường hợp khẩn cấp thì sẽ khó tránh khỏi tình trạng lạm dụng và tuỳ tiện bắtngười, xâm phạm thô bạo đến các quyền cơ bản của công dân.
Mot trong những hạn chế rất lớn trong quy định của các văn bản pháp luật
<small>TTHS trên là việc sử dụng thuật ngữ pháp lý chưa chính xác. Trong tất ca các</small>
quy định về bắt người, di là bắt bình thường hay bắt khẩn cấp, quả tang thì đốitượng bị bắt ở đây đều được gọi là người phạm pháp. Thuật ngữ “phạm pháp”
được thiểu là sự vi phạm pháp luatgpa hệ thống pháp luật của mot quốc gia lại
bao gồm nhiều văn bản pháp luật khác nhau, điều chỉnh các quan hệ xã hội phátsinh trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, cho dù bất kỳ ai nếu đã vi phạmpháp luật thì đều bị xử lý theo quy định của pháp luật, nhưng hành vi vi phạm
nhau. Bởi thế, khơng thể đánh đồng giữa người vi phạm pháp luật với ngườiphạm tội để bắt theo quy định của pháp luật TTHS được, vì người phạm tội cũng
<small>4 35</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40"><small>On Gia Lim - Cae học Ludt khoa 5</small>
là người vi phạm pháp luật nhưng ở mức độ nguy hiểm hơn và ho đã thực hiện
hành vi được pháp luật hình sự, chứ khơng phải pháp luật nói chung, quy định là
<small>tội phạm.</small>
Ngồi ra, mặc dù có phân định các trường hợp bắt người cụ thể nhưng lạikhông xác định rõ đối tượng của các trường hợp bắt mà chỉ dùng một thuật ngữchung chung là "người phạm pháp". Điều đó có thể dẫn đến một cách hiểukhơng thống nhất về đối tượng bắt trong các trường hợp cụ thể. Do đó, việc áp
như vậy cũng sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều tới việc xác định tư cách pháp lý củađối tượng bị bắt, bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như tạm giữ, tạmgiam do vậy sẽ khơng tránh khỏi có những hạn chế một cách trái pháp luật đếncác quyền và lợi ích của họ. Trong các văn bản này, tất cả những đối tượng bị bắttrong các trường hợp bình thường, khẩn cấp, quả tang đều được gọi với cái tên làcan phạm, trong quá trình điều tra, xác minh (hỏi cung) họ đều có thể bị tạm giữ,tạm giam'?. Đặc biệt pháp luật chưa hề đề cập tới quyền và nghĩa vụ của người bị
bất, điều này cũng làm hạn chế đến hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt
người trong thực tế đồng thời ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của ngườibị bat.
Thứ ba: Về thẩm quyền và thủ tục bắt người
<small>+ Trong trường hợp bình thường: Nghị định số 301-TTg ngày 10/7/1957</small>
có quy định tại Điều 1: Ngoài những trường hợp phạm pháp quả tang và nhữngtrường hợp khẩn cấp nói ở Điều 4 luật số 103-SL/L. 005 ngày 20/5/1957 và đượcquy định cu thể ở Điều | và 2 Sắc luật số 002-SLT ngày 18/6/1957, những cánbộ sau đây được ký lệnh bat người phạm pháp luật Nhà nước:
<small>'* Xem Điều 5, Điều 6 Luật số 103-SL/L 005 ngày 20/5/1957.</small>
<small>36</small>
</div>