Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (854.78 KB, 27 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
1. Giới thiệu về tác giả ... 4
2. Hoàn cảnh ra đời thuyết Phân tâm học... 5
3. Nội dung thuyết phân tâm học ... 7
4. Ƣu điểm và nhƣợc điểm của thuyết Phân tâm học: ... 12
<b>II. ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀO MARKETING ... 12</b>
1. Tự ngã (Id)... 12
2. Bản ngã (Ego). ... 15
3. Siêu ngã (Super Ego). ... 17
<b>III.ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀO TVC NHÓM XÂY DỰNG ... 19 </b>
<b>1. Kịch bản ... 19 </b>
<b>2. Phân tích ứng dụng thuyết Phân tâm học của Freud ... 22 </b>
Giấc mơ: ... 22
Ứng dụng thuyết Phân tâm học vào marketing ... 23
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 24 </b>
<b> </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Trên thực tế khơng có sự thành cơng nào mà khơng gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của mọi người xung quanh. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu làm về đề tài “Tìm hiểu về Thuyết Phân tâm học của Freund và những ứng dụng vào Marketing”, chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, và bạn bè.
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Khánh Trung đã cung cấp những kiến thức chuyên môn để giúp chúng em hoàn thành đề tài. Với tinh thần đoàn kết, ham học hỏi, nhóm đã cố gắng trong suốt thời gian qua để tìm thơng tin từ sách vở sẵn có, mượn thư viện, thậm chí cịn đặt mua sách mới để cập nhật được lượng kiến thức đủ để hồn thiện hơn đề tài. Bên cạnh đó, khơng thể nhắc đến sự giúp đỡ bạn bè xung quanh đã hỗ trợ trong việc quay và xây dựng TVC với chất lượng tốt nhất. Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn nhà trường, thầy cô và bạn bè.
Với vốn kiến thức còn hạn chế nên sẽ khơng tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy và các bạn học để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Trân trọng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Nguyễn Đôn K164070871 Đỗ Trần Phước K164070917 Nguyễn Thị Hằng K164072302 Hồ Thị Ngọc Ánh K174070738 Nguyễn Thị Quỳnh Hương K174070759 Nguyễn Hoài Lộc K174070765 Mai Thị Lụa K174070767
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">“Muốn trở thành đấu sĩ của mơn đấu bị, trước tiên phải học làm bò”
<i>Tục ngữ Tây Ban Nha </i>
Hành vi người tiêu dùng liên quan đến việc sử dụng và từ bỏ các sản phẩm cũng như nghiên cứu về cách thức người dùng mua chúng. Việc sử dụng sản phẩm thường là mối quan tâm lớn của các marketer, bởi vì điều này có thể ảnh hưởng đến quan niệm một sản phẩm được định vị tốt nhất là như thế nào hoặc làm thế nào chúng ta có thể khuyến khích tiêu thụ thêm nhiều sản phẩm hơn. Ngày nay, với nhiều vấn đề về môi trường đang xảy ra do tác động từ việc “đào thải” sản phẩm thì đây là lĩnh vực rất cần sự quan tâm của các nhà tiếp thị.
Có nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về Hành vi người tiêu dùng, trong đó, việc tiếp cận với các lý thuyết cổ điển cũng như hiện đại về chủ đề này cũng là một phương pháp tiếp cận sâu sắc và nhanh chóng. Nhận thấy tính chất này, Nhóm Hai chọn thuyết Phân tâm học của Freud để tìm hiểu về nội dung, cũng như những ứng dụng của thuyết này vào các chiến dịch Marketing hiện đại. Qua thời gian hoạt động nhóm tích cực, thu nhặt từ nhiều nguồn thơng tin, Nhóm trình bày tất các kiến thức lĩnh hội được vào bài tiểu luận này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>1. Giới thiệu về tác giả </b>
Sigmund Freud (6/5/1856 – 23/9/1939), tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud tại một thị trấn Freiberg của vùng Moravia thuộc nước Áo; trong một gia đình Do Thái chính thống.
<b> Đơi nét về cuộc đời ông: </b>
- Vào nửa sau thế kỷ XIX, sự phát triển của tư sản Tiệp đã đe dọa đến cuộc sống của các thương nhân Do Thái nên vào năm 1860, cha của ông quyết định chuyển gia đình lên sinh sống tại Vienna.
- Năm 1856, khi ông 9 tuổi ông theo học tại trường Leopoldstädter Kommunal-Realgymnasium, một trường trung học nổi tiếng. Ông đã chứng tỏ là một học sinh xuất sắc và tốt nghiệp Matura năm 1873 với bằng danh dự.
- Mùa thu năm 1873, Freud học tại khoa Y trường đại học Vienna. - Năm 1877, Freud chuyển đến phịng thí nghiệm sinh lý học của Ernst Brücke, nơi ông đã dành sáu năm để so sánh bộ não của con người và các động vật có xương sống khác với những động vật không xương sống như ếch, tôm càng và cá mút đá. Nghiên cứu của ông về sinh học của mô thần kinh đã chứng minh được tinh hoa cho việc phát hiện ra tế bào thần kinh sau đó vào những năm 1890.
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">- Năm 1882, Freud bắt đầu sự nghiệp y tế tại Bệnh viện Đa khoa Vienna. Trong thời gian ba năm, Freud làm việc trong nhiều khoa khác nhau của bệnh viện.
- Sau khi hoàn thành việc chữa bệnh vào năm 1885, ông được bổ nhiệm trở thành giảng viên danh dự về bệnh học thần kinh.
- Năm 1886, Freud từ chức ở bệnh viện và hành nghề tư nhân chuyên về "rối loạn thần kinh".
- Ông trở thành giáo sư liên kết của trường Đại học Vienna vào năm 1902.
- Freud sống và làm việc tại Vienna, đã thiết lập thực hành lâm sàng tại đây vào năm 1886.
- Ông mất vào năm 1939 tại Vương quốc Anh vì bệnh ung thư quai hàm.
<b> Cuộc đời nghiên cứu khoa học: </b>
Sigmund Freud là công nhận là người đặt nền móng và phát triển về nghiên cứu Phân tâm học. Ơng u thích văn học và thành thạo tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Do Thái, tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Năm 1884-1885, ông đã in một bài nghiên cứu về những hậu quả trị liệu của cô-ca-in, rồi viết bài Về những người bị cấm khẩu (Sur les aphasies) xuất bản năm 1891. Năm 1885, Freud sang Paris tu nghiệp tại bệnh viện Salpêtrière. Ông học bác sĩ Charcot (1825-1893) về phép trị liệu bằng thôi miên và dịch Những bài học ngày th ba (Les leỗons de mardi) ca Charcot sang ting Đức. Mùa thu năm 1886, Freud trở về Vienne, cưới vợ và mở phòng mạch trị bệnh tâm thần bằng điện khí và thôi miên, chuyên về bệnh thần kinh (névrose), đặc biệt chứng thác loạn cuồng trí (hystérie). Vào khoảng từ năm 1887 đến 1897, công việc của ông với những bệnh nhân này dẫn đến việc phát triển phân tâm học.
<b>2. Hoàn cảnh ra đời thuyết Phân tâm học </b>
Vào tháng 10 năm 1885, Freud đến Paris theo học bổng ba tháng để học với Jean-Martin Charcot, một nhà thần kinh học nổi tiếng đang thực hiện nghiên cứu khoa học về thôi miên. Ở đây, lần đầu tiên ông được tiếp xúc với cơng trình của Charcot về bệnh loạn thần kinh và cách dùng phương pháp thôi miên để điều trị bệnh này. S.Freud đã thoả mãn khi thấy Charcot chứng minh được bệnh
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">loạn thần kinh thật và loạn thần kinh giả do dùng thôi miên tạo ra. S.Freud cũng đã sử dụng phương pháp thơi miên để thí nghiệm nhưng sau đó ơng đã bỏ phương pháp điều trị này vì ít người hợp với lối chữa trị bằng thôi miên và cũng vì đơi khi thơi miên có những hậu quả khơng hay đối với nhân cách người bệnh. Thay vào đó, ông bắt đầu phát triển một phương pháp mới được đặt tên là “Tự do liên tưởng”, về sau kỹ thuật này đã trở thành một tiêu chuẩn thực hành của khoa học phân tâm học.
Trước ông, các nhà thần kinh bệnh học chỉ quan tâm đến những triệu
<i>chứng của bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia) và chứng tâm thần suy giảm </i>
<i>(lẩm cẩm), cần phải giam lại trong bệnh viện. Ngay từ khi chữa chứng dồn nén </i>
<i>và chứng thần kinh tương khắc, Freud đã đi tới kết luận là không phải chỉ riêng </i>
bệnh nhân mà cả những người lành mạnh bình thường cũng mang trong mình những xung khắc tâm thần tương tự. Đi xa hơn nữa, bệnh tâm thần không phải là bệnh theo nghĩa thông thường được chấp nhận mà là trạng thái tâm lý của trí não. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để điều trị những chứng rối loạn tâm thần đang lan tràn rộng rãi ấy.
Căn cứ vào những quan sát, thí nghiệm và kinh nghiệm thực hành khi điều trị cho nhiều người bệnh ở Vienna, Freud đã xây dựng cơ sở cho khoa phân tâm học vào khoảng cuối thế kỷ 19. Sự phong phú về những đề tài mới mẻ cùng những phần đóng góp về tâm lý do ngịi bút của ơng đem lại không thể thu gọn trong bất cứ một cuốn sách hay tờ báo nào. Theo ơng, thì chắc chắn cuốn sách quan trọng ra đời sớm nhất của ông mà cũng được ơng u thích nhất là cuốn Đốn Mộng xuất bản năm 1900. Sách này gồm hầu hết những quan sát cơ bản và những suy luận của ông. Trong cuốn Nghiên cứu về chứng loạn thần kinh xuất bản sớm hơn (tức là vào năm 1895), ông đã bộc lộ niềm tin rằng "yếu tố chính trong sự rối loạn về tính dục là sự suy yếu gây ra cả bệnh tâm thần
<i>(neuros<b>) lẫn bệnh tâm thần suy nhược (psychoneuroses)". Đó là nền tảng của </b></i>
<i><b>Thuyết phân tâm. Vài năm sau đó, Freud hồn chỉnh được lý thuyết của ông về </b></i>
sức đối kháng, hiện tượng chuyển biến tính dục tuổi thơ, mối tương quan giữa
<i>những ký ức bất mãn và ảo tưởng, giữa cơ chế tự vệ (defense mechanism) và sự </i>
dồn nén.
Trong cuộc đời hoạt động khoa học và thông qua các nghiên cứu thực tiễn chữa trị bệnh tâm thần, S. Freud đã gặp gỡ, tiếp xúc học hỏi ở khá nhiều các tác giả bậc thầy đi trước về triết học, y học, sinh học, sinh lý thần kinh, trực tiếp nhất là về các phương pháp chữa trị bệnh tâm thần. Có thể kể đến các tư tưởng của các học giả có tên tuổi sau:
- <b>Tư tưởng của nhà sinh lý học người Đức E. W. Brucke (1819 – 1892)</b>, người đã đưa lý thuyết hóa học, lý thuyết bảo tồn năng lượng vào giải thích các hiện tượng sinh lý người.
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">- Tư tưởng của nhà triết học, nhà bác học, nhà hoạt động xã hội
<b>người Đức Leibniz về trạng thái vơ thức của các đơn tử. Tồn thể vũ trụ được </b>
hình thành từ những thực thể đơn thể . Đơn tử có nhiều trạng thái: Trạng thái có ý thức và trạng thái vô thức. Trạng thái vô thức là trạng thái đơn giản. Ở trạng thái này, con người không hay biết, đều được Freud rất quan tâm.
- <b>Tư tưởng của nhà triết học duy tâm người Đức Schopenhauer </b>
<b>(1788 – 1860) về khái niệm phi lực, lực phi lý. Ông quan niệm phi lực, lực phi </b>
lý trong mỗi con người ngược với lý trí, nhưng có vai trị rất lớn thúc đẩy con người hành động một cách mù quáng tựa như vô nghĩa. Điều này được ơng trình bày trong tác phẩm “thế giới với tính cách là ý chí và biểu tượng” xuất bản năm 1919.
- Phương pháp thôi miên chữa bệnh tâm thần của nhà sinh lý học và
<b>là bác sĩ tâm thần người Áo J. Breuer (1842 – 1925). Năm 1895 ông đã công bố </b>
chung với Breuer trong cơng trình “Các nghiên cứu về Hystêri”. Freud đã học được ở Breuer phương pháp giải tỏa tâm lý bằng biện pháp thôi miên với người bệnh, cho phép đưa các ký ức thuộc tiềm thức trở lại tầng ý thức làm thuyên giảm rõ rệt các triệu chứng tâm thần. Sau này trong khi chữa trị trên các ca cụ thể, Freud tự thấy, muốn chữa trị được bệnh, phải tiến hành phân tích tâm lý, tìm ra nhân tố vơ thức đẻ ra các triệu chứng bệnh khác nhau hiện đang bị mắc nghẽn, ẩn dấu sâu bên trong người bệnh. Khác với Breuer, ơng cịn dùng một kỹ thuật riêng – mà ông gọi là kỹ thuật ép, nhằm phát hiện ra những q trình tinh thần vơ thức ở người bệnh.
- Tư tưởng về sức mạnh của đam mê tính dục trong các hiện tượng
<b>tâm thần của bác sỹ tâm thần Pháp M. Charcot (1825 – 1893). Ông là thầy dạy </b>
của Freud. Về sau này, Freud đã mất cơng tìm kiếm nhằm rõ hiện tượng đam mê dục tính ở con người trong cơng trình “Ba tiểu luận về thuyết tính dục” nổi tiếng của ông.
<b>3. Nội dung thuyết phân tâm học </b>
Cấu trúc nhân cách: S. Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm
<i>có 3 cấu thành, đó là tự ngã (Id), bản ngã (Ego) và siêu ngã (Super Ego). Các </i>
cấu trúc này được hình thành và phát triển dần tới khi con người được 5 tuổi. - Tự ngã (Id): Tự ngã là là thành tố duy nhất của tính cách xuất hiện từ lúc con người mới sinh ra. Theo Freud thì bản năng là gốc rễ của mọi nguồn năng lượng tinh thần, khiến nó trở thành thành tố cơ bản của tính cách. Nó chi phối tồn bộ dời sống của con người. Đó cũng là nguồn cung cấp libido.
Theo Freud, con người sinh ra với hai xung động bản năng, đóng vai trị làm động cơ thúc đẩy căn bản cho tất cả mọi hành vi. Một là xung năng Eros. Đây là xung động để tồn tại. ung động này bao gồm nhu cầu ăn uống, giữ ấm, và trên hết là hoạt động tính dục (libido). Và xung năng Thanatos là thôi thúc
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">phá hủy. Mục đích của nó là phá hủy cái khác, nhưng cũng có một khía cạnh tự phá hủy đối với nó.
Bản năng rất quan trọng trong những năm tháng đầu đời vì nó đảm bảo những nhu cầu của trẻ sơ sinh được đáp ứng. Nếu trẻ đói và khơng thoải mái, trẻ sẽ khóc cho đến khi nhu cầu này của bản năng được thỏa mãn. Vì trẻ nhỏ thường bị thống trị hoàn toàn bởi bản năng nên sẽ khơng có gì phải bàn cãi khi những nhu cầu này phải được đáp ứng ngay. Thử tưởng tượng khi bạn cố dỗ bé nhà bạn chờ đến giờ cơm trưa mới ăn thì sẽ như thế nào. Lúc này bản năng của trẻ cần được thỏa mãn ngay lập tức và vì những thành tố khác của tính cách chưa xuất hiện nên trẻ sẽ khóc cho đến khi bạn đáp ứng nhu cầu này của trẻ.
- Bản ngã (Ego): Bản ngã khơng có lúc sinh ra. Chính bản ngã giúp con người tự chủ trước các tác động bên ngoài. Theo Freud, bản ngã phát triển nên từ bản năng, và nhiệm vụ của nó là đảm bảo những thôi thúc của bản năng được thể hiện ra một cách dễ chấp nhận trong thế giới thực. Bản ngã vận hành trong cả trạng thái ý thức, tiền ý thức và vô thức.
Bản ngã vận hành dựa trên nguyên tắc hiện thức, tức cố gắng thỏa mãn ham muốn của bản năng một cách thực tế và được xã hội chấp nhận. Nguyên tắc hiện thực sẽ cân đo lợi ích và cái giá phải trả cho hành vi trước khi chủ thể quyết định thực hiện hay bỏ qua hành vi này. Trong nhiều trường hợp, thơi thúc của bản năng có thể được thỏa mãn qua một q trình trì hỗn đáp ứng nhu cầu – nói chung, bản ngã rốt cuộc cũng sẽ cho phép hành vi bản năng xuất hiện nhưng chỉ vào lúc nào và tại nơi nào đó phù hợp. Freud so sánh bản năng với một chú ngựa và bản ngã như người cưỡi ngựa. Con ngựa mang đến sức mạnh và sự di chuyển, tuy nhiên người cưỡi mới là là người đưa ra phương hướng và chỉ dẫn. Nếu khơng có người cưỡi, con ngựa sẽ có thể chỉ đi lang thang bất kỳ nơi nào nó muốn và làm bất cứ cái gì nó thích. Người cưỡi đưa ra phương hướng và mệnh lệnh để dẫn dắt ngựa theo con đường mà người cưỡi muốn đi.
Bản ngã phát triển qua sự tương tác bên ngồi, đồng thời nó sẽ tìm lấy sức mạnh trong siêu ngã. Bản ngã sẽ loại bỏ sự căng thẳng gây ra bởi những ham muốn khơng được đáp ứng qua q trình đáp ứng nhu cầu thứ cấp, tại đây bản ngã sẽ cố tìm một thứ nào đó trong thế giới thực tương thích với hình hảnh do bản năng hình thành trong tâm trí qua q trình đáp ứng nhu cầu sơ cấp này.
là các giá trị đạo đức về đúng, sai mà chủ yếu được thấm dần vào chúng ta từ bố m , thầy cô và xã hội. Siêu ngã có hai phần:
o Lý tưởng của bản ngã bao gồm những quy tắc và tiêu chuẩn cho các hành vi tốt, bao gồm các hành vi được cha m và những người khác chấp nhận.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Phục tùng những quy tắc này làm chủ thể cảm thấy tự hào, thấy mình có giá trị và đưa đến cảm giác thành tựu
o Lương tâm (Nghĩa giới hạn trong phân tâm học – ND) thể hiện những điều bị cha m và xã hội coi là tệ hại. Những hành vi này thường bị cấm và đưa đến hậu quả xấu, khiến chủ thể bị phạt, có cảm giác tội lỗi hoặc ăn năn.
Siêu ngã được hình thành thơng qua q trình thưởng và phạt. Siêu ngã khiến chúng ta cảm thấy tội lỗi khi làm một điều sai trái. Cũng chính siêu ngã khiến chúng ta hồn thiện mình hơn và sống theo những lý tưởng của mình.
Sự quan hệ của ba miền trên , theo Freud, đó là quan hệ của ba tầng: - Tầng vô thức biểu hiện vai trò của di truyền.
- Tầng tiền ý thức là cái con người đã và đang trải nghiệm, mang tính ngẫu nhiên, tức thời.
- Tầng ý thức biểu hiện vai trò áp chế của người khác, của xã hội. Ba khối này tạo nên ba con người:
- Khối vô thức tạo nên con người trung tín mà ngun tắc sống của nó là chỉ mong muốn đòi được thỏa mãn bằng mọi cách trong đó thỏa mãn các đam mê tính dục giữ vị trí hàng đầu.
- Khối tiền ý thức tạo nên con người thực tại, hoạt động tuân theo nguyên tắc hiện thực.
- Còn khối ý thức tạo nên con người xã hội hoạt động tuân theo nguyên tắc kiểm duyệt chèn ép các con người trung tính và con người thực tại.
Trong đó, con người trung tính là con người thực nhất trong các con người, tự nó có nguồn năng lượng đảm bảo cho toàn bộ hoạt động tinh thần của con người. Ba con người này trong một con người cụ thể luôn tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau…Sự mất cân bằng trong ba con người này làm nảy sinh các bệnh tâm thần khác nhau có ở con người.
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>10 </small>
Đối với Freud, ý thức chỉ được xem như một phần tương đối nhỏ và tạm thời trong toàn bộ đời sống tinh thần của cá nhân. Khu vực vô thức của đời sống tinh thần rộng lớn hơn rất nhiều lần so với khu vực hữu thức, nó như là phần chìm của tảng băng trơi
Sự mâu thuẫn tồn tại giữa tự ngã và siêu ngã dễ làm con người rơi vào tình trạng căng thẳng. Để giúp cho con người có thể thốt khỏi tình trạng này, S.Freud cho rằng cần có những cơ chế tự vệ để bảo đảm tạo ra sự cân bằng trong tâm lý của con người.
-Tính dục (Libido)
Đời sống tính dục của con người không phải được bắt nguồn vào tuổi dạy thì mà trái lại được biểu hiện rất sớm từ khi con người mới sinh ra. Khái niệm tính dục khác hẳn với khái niệm sinh dục chứa đựng một nghĩa rộng hơn nhiều và bao gồm nhiều hoạt động khơng có liên quan với cơ quan sinh dục..
Đời sống tính dục bao hàm chức năng cho phép thu được các khoái cảm từ những vùng khác nhau của thân thể; Các vùng cơ thể gây khoái cảm cho con người, Freud gọi là các vùng kích dâm, đầu tiên là miệng; sau đó là hậu mơn, tiếp theo là tồn bộ những bí mật của cơ thể do bị trẻ tự khám phá ở thân thể của nó…
Từ những phân tích khá sâu sắc về tình dục, Freud đã đi đến xem xét những sự loạn dâm, thói phơ bày, ác dâm, khổ dâm….đều là những hiện tượng có thật trong đời sống tính dục của con người. Đặc biệt Freud đã phân tích khá sâu những biến đổi tính dục ở tuổi dạy thì, chấm dứt thời kỳ tiềm ẩn của đời sống tính dục.
Theo Freud, đam mê tình dục giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong đời sống tâm lý, là cội nguồn của mọi cội nguồn tinh thần con người, đâu đâu cũng thấy đam mê tình dục hồn thành. Đó là ngun nhân của bệnh tâm thần cũng như của mọi sáng tạo, kể cả văn học nghệ thuật. Đam mê đó trong học thuyết Freud là trung tâm của các bản năng và được gọi là “ mặc cảm Ơ-đíp”.
-Mặc cảm Oedipus
Trong q trình phát triển nhân cách của trẻ, Freud chia 5 giai đoạn: môi miệng, hậu môn, dương vật, tiềm ẩn, cơ quan sinh dục ngồi. Theo đó, mặc cảm Oedipus xuất hiện rõ nhất trong giai đoạn dương vật.
o <i>Giai đoạn môi miệng (Oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1.5 </i>
tuổi, Sự thỏa mãn được thự hiện qua ăn uống, mút, bú m . Nếu đứa trẻ trong thời kỳ này không được thoản mãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực như tự ti, lo âu về sự an toàn vào những giai đoạn sau của cuộc đời.
o <i>Giai đoạn hậu môn (Anal stage): từ 1.5 – 3 tuổi, Sự thỏa mãn </i>
được thực hiện qua sự đi đại tiện, tiểu tiện. Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>11 </small>
kiểm soát cơ thể và môi trường xung quanh qua việc hướng dẫn của cha m , việc quy định vệ sinh và các hoạt động giáo dục khác.
o <i>Giai đoạn dương vật (Phallic stage): từ 3 – 5 tuổi, Trong giai </i>
đoạn này có 3 mặt phát triển chính: hứng thú tình dục, phát triển của siêu tôi, mở rộng phạm vi quá trình bảo vệ cái tơi.
o <i>Giai đoạn tiểm ẩn (Latance stage): từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị </i>
thành niên, Khi này trẻ học cách thăng hoa tình yêu đối với bố m , nó được thể hiện bằng sự tơn kính.
o <i>Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài (Genital stage): là giai đoạn </i>
tuổi thanh niên và sang tuổi trưởng thành, khi này cá nhân đã có thể nhận thức và ý thức hành vi ở người lớn.
“Vào khoảng tuổi lên 3 trẻ bắt đầu giai đoạn sùng bái dương vật (Phallic stage)”. Đây là một giai đoạn đánh dấu một trong các sắc thái quan trọng nhất của tiến trình phát triển nhân cách theo quan điểm của Freud: đó là xung đột do mặc cảm Oedipus.
Phân tâm học còn cho chúng ta biết rằng Oedipus là mặc cảm xuất hiện cả trẻ nam và trẻ nữ. Riêng ở trẻ nữ, phân tâm học gọi là mặc cảm electra. Freud và các nhà phân tâm học sau này không cho chúng ta biết nhiều về mặc cảm này chỉ biết rằng nó cũng tương tự như mặc cảm Oedipus. Vào thời điểm này, các nhà phân tâm nói rằng mặc cảm Oedipus đã được giải quyết.
-Giấc mơ
Vào năm 1901 Freud đã đưa ra lí thuyết về giấc mơ. Vì Freud coi tiềm thức của con người cơ bản tập trung ở năng lượng tình dục nên lí thuyết về giấc mơ của ơng cũng được giải thích theo hướng đó. Ơng cho rằng, con người trong vô thức luôn mong ước một khát khao, và để tránh những mối đe dọa từ bên ngoài nên con người đã đưa mong muốn đó vào giấc mơ. “Ông gọi các hạng mục và sự kiện trong giấc mơ là nội dung hiện trong khi ý nghĩa ẩn các giấc mơ là nội dung ẩn”. Giấc mơ chỉ xuất hiện trong giấc ngủ, và phân tâm học coi giấc ngủ “chính là biểu hiện của những gì cịn sót lại trong ngày, trong đời sống bên ngoài vào những lúc thức”.
đang tồn tại trong bản thân.
lứa tuổi trước đó (hiện tượng trẻ con hóa).
</div>