Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

tiểu luận Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên CNXH Liên hệ với quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo, tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (639.23 KB, 16 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>MỤC LỤC</b>

<b>CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU...3</b>

<b>1. Tính cấp thiết của đề tài:...3</b>

<b>2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu:...3</b>

<b>3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:...4</b>

<b>4. Ý nghĩa của đề tài:...4</b>

<b>5. Bố cục:...4</b>

<b>CHƯƠNG 2: NỘI DUNG...5</b>

<b>2.1. LÝ LUẬN: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo52.1.1. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tơn giáo:...5</b>

<b>2.1.2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo của chủ nghĩa Mác – Lênin:...6</b>

<b>2.2. LIÊN HỆ THỰC TIỄN: Liên hệ với quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tơn giáo, tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay...8</b>

<b>2.2.1. Tình hình tơn giáo hiện nay tại Việt Nam:...8</b>

<b>2.2.2. Quan điểm, chính sách của Đảng trong chủ trường đường lối tôn giáo:...9</b>

<b>2.2.3. Phương hướng hoạt động trong thời gian tới:...10</b>

<b>2.2.4. Các tác động tích cực của tơn giáo đến con người nói chung và tại Việt Nam nói riêng: 112.2.5. Vấn đề lợi dụng tơn giáo chống phá làm hoang mang dư luận và biện pháp phòng tránh:14CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN...17</b>

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO...18</b>

<b>DANH SÁCH NHÓM</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

2 Nguyễn Thị Ngọc Minh K204010885 100%

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU</b>

<b>1. Tính cấp thiết của đề tài: </b>

Trong đời sống tinh thần của con người, tơn giáo ln đóng một vai trị nhất định. Tôn giáo không chỉ là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh, tinh thần, mà cịn là văn hóa, đạo đức. Mặc dù cịn những hạn chế, song tơn giáo cũng chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý bởi tính nhân bản, nhân văn, hướng thiện của nó, có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, góp phần bổ sung hồn thiện cho việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Hơn nữa, mọi tôn giáo chân chính đều răn dạy tín đồ hướng tới cái chân, thiện, mỹ. Điều ấy thể hiện một cách sâu sắc quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội của Đảng ta về vấn đề tôn giáo, một lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm. Cùng với sự nghiệp đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, Đảng ta đã từng bước đổi mới về vấn đề tơn giáo và cơng tác tơn giáo. Trong q trình đó, tư duy lý luận của Đảng ta về vấn đề tín ngưỡng, tơn giáo ngày càng được thể hiện một cách đầy đủ, hoàn thiện hơn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Vấn đề tôn giáo cũng đã từng bị lợi dụng cho mục đích chính trị, chống phá cách mạng Việt Nam và ngày nay vẫn cịn một số thành phần tìm cách lợi dụng tôn giáo để chống lại Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa nước ta. Chính vì thế mà mỗi người dân chúng ta cần phải có những sự hiểu biết thấu đáo và chính xác về tơn giáo để khơng bị kẻ gian lợi dụng sự tín ngưỡng tơn giáo vào những mục đích xấu.

Xuất phát từ những lý do trên và để phục vụ cho việc học tập bộ môn Chủ Nghĩa xã hội khoa học, theo sự phân công của cơ cho nhóm về đề tài, tiểu luận “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Liên hệ với quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo, tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay” sẽ làm rõ những vấn đề này. Do cịn hạn chế về trình độ, bài viết sẽ khó tránh khỏi những sai sót trong q trình trình bày. Vì vậy, nhóm em rất mong nhận được sự đánh giá và hướng dẫn của cô. Em xin trân trọng cảm ơn!

<b>2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu:</b>

 Đối tượng nghiên cứu: Tơn giáo Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: Việt Nam

- Thời gian: Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và hiện nay.

 Mục đích nghiên cứu: Việt Nam là một quốc gia đa tơn giáo và đang có chiều hướng

phát triển trên phạm vi cả nước. Trước tình hình đổi mới đất nước như hiện nay, để góp phần xây dựng đất nước, chúng ta cần phải thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Nhà nước, Đảng về vấn đề tôn giáo, hiểu rõ hơn về tơn giáo trong q tình xây dựng xã hội chủ nghĩa.

<b>3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:</b>

Cơ sở lý luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo.

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với cácphương pháp: thống nhất logic lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa.

<b>4. Ý nghĩa của đề tài:</b>

Ý nghĩa lý luận: Việc nghiên cứu đề tài đã giúp chúng ta hiểu được bản chất, nguồn gốc,… của tôn giáo theo quan điểm của Mác - Lênin trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chính sách của Nhà nước trong thời kỳ này.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao cái nhìn đúng đắn về tơn giáo cũng như việc thực hiện các hành động về tôn giáo, đề xuất những chính sách về tơn giáo một cách phù hợp và linh hoạt trong tình hình hiện nay.

Chương 3: Kết luận.

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>CHƯƠNG 2: NỘI DUNG</b>

<b>2.1. LÝ LUẬN: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo</b>

<b>2.1.1. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tơn giáo:</b>

<i>Theo từ điển triết học, tơn giáo là một hình thức đặc biệt của ý thức xã hội. Theo Ăngghen: “Tất cả mọi</i>

tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bênngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đãmang hình thức những lực lượng siêu trần thế”.

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hóa do con ngườisáng tạo ra. Con người sáng tạo ra tơn giáo vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyê ̣nvọng, suy nghĩ của họ. Nhưng, sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lê ̣ thuô ̣c vào tôn giáo, tuyê ̣t đối hố vàphục tùng tơn giáo vơ điều kiê ̣n.

<i><b>Thứ nhất, bản chất của tơn giáo:</b></i>

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, tơn giáo phản ánh thế giới hiện thực một cách hoangđường và hư ảo.

Tôn giáo phản ánh sự bất lực, sự phản kháng tiêu cực của con người trước những lực lượng, những sứcmạnh tự phát của tự nhiên và xã hội đang đe dọa, uy hiếp cuộc sống hằng ngày của họ.

Tơn giáo có chức năng đền bù, an ủi một cách hư ảo cho những nỗi khổ đau, bất hạnh và sự thiệt thòicủa con người ở thế gian.

Tơn giáo có mặt tích cực là ở giá trị đạo đức và tính hướng thiện của nó. Khun con người nên làmđiều thiện, tránh điều ác.

<i><b>Thứ hai, nguồn gốc của tôn giáo:</b></i>

Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội: Trước thiên nhiên hùng vĩ, con người cảm thấy yếu đuối và bấtlực, khơng giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí.

Khi xã hơ ̣i xuất hiê ̣n các giai cấp đối kháng, có áp bức bất cơng, do khơng giải thích được, con ngườitrơng chờ vào sự giải phóng của mơ ̣t lực lượng siêu nhiên ngồi trần thế.

Nguồn gốc nhận thức: Nguồn gốc nhâ ̣n thức của tơn giáo chính là sự tu ̣t đối hoá, sự cường điê ̣u mặtchủ thể của nhâ ̣n thức con người, biến cái nô ̣i dung khách quan thành cái siêu nhiên, thần thánh.

Nguồn gốc tâm lý: Sự sợ hãi trước những hiê ̣n tượng tự nhiên, xã hô ̣i, hay trong những lúc ốm đau,bê ̣nh tâ ̣t; ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm mơ ̣t viê ̣c lớn, conngười cũng dễ tìm đến với tơn giáo.

<i><b>Thứ ba, tính chất của tơn giáo:</b></i>

Tính lịch sử: Tơn giáo có sự hình thành, tồn tại và phát triển, có khả năng biến đổi trong những giaiđoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế đơ ̣ chính trị - xã hơ ̣i.

Tính quần chúng: Tính quần chúng của tơn giáo khơng chỉ biểu hiê ̣n ở số lượng tín đồ rất đơng đảo, màcịn thể hiê ̣n ở chỗ, các tơn giáo là nơi sinh hoạt văn hố, tinh thần của mô ̣t bô ̣ phâ ̣n quần chúng nhân dân.

Tính chính trị: Tính chất chính trị của tơn giáo chỉ xuất hiê ̣n khi xã hô ̣i đã phân chia giai cấp, có sựkhác biê ̣t, sự đối kháng về lợi ích giai cấp.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>2.1.2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo của chủ nghĩa Mác – Lênin:</b>

<i>Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và khơng tín ngưỡng của nhân dân</i>

Tín ngưỡng tơn giáo là niềm tin sâu sắc của quần chúng vào đấng tối cao nào đó mà họ tôn thờ, thuộc lĩnh vực ý thức tư tưởng. Do đó, tự do tín ngưỡng và tự do khơng tín ngưỡng thuộc quyền tự do tư tưởng của nhân dân, cơng dân có tơn giáo hay khơng có tơn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Quyền này nói lên rằng việc theo đạo, đổi đạo, hay không theo đạo là thuộc quyền tự do lựa chọn của mỗi người dân, không một cá nhân, tổ chức nào, kể cả những chức sắc tôn giáo, tổ chức hội giáo…được quyền can thiệp vào sự lựa chọn này. Cần phát huy những giá trị tích cực của tơn giáo, mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản tự do theo đạo, đổi đạo, bỏ đạo hay đe dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đều xâm phạm đến quyền tự do tư tưởng của họ.

Tơn trọng quyền tự do tín ngưỡng cũng chính là tơn trọng quyền con người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Quyền ấy khơng chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán, xuyên suốt và lâu dài. Nhà nước xãhội chủ nghĩa không can thiệp và không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đến quyền tự do tín ngưỡng, quyền lựa chọn theo hay không theo tôn giáo của nhân dân. Các tơn giáo và hoạt động tơn giáo bình thường, các cơ sở thờ tự, các các phương tiện phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của người dân được nhà nước Xã hội chủ nghĩa tôn trọng và bảo hộ.

<i>Thứ hai, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xâydựng xã hội mới</i>

Nguyên tắc này để khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ hướng vào việc giải quyết những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân mà không chủ trương can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo.

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng này sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Điều cần thiết trước hết là phải xác lập được một thế giới hiện thực khơng có áp bức, bất cơng, nghèo đói và thất học…một thếgiới hiện thực khơng cịn cần đến “sự đền bù hư ảo” của tơn giáo mà người ta có thể tìm thấy những hạnh phúc thật sự ngay trong cuộc sống. Đó là một q trình lâu dài, và khơng thể thực hiện được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ,xây dựng xã hội mới.

Phân biệt 2 vấn đề tư tưởng và chính trị trong giải quyết vấn đề tơn giáo: vì có sự phân biệt được 2 mặt đó mới tránh khỏi khuynh hướng tả hoặc hữu trong quá trình quản lý, ứng xử trước các vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tơn giáo.

Trong xã hơ ̣i cơng xã ngun thuỷ, tín ngưỡng, tơn giáo chỉ biểu hiê ̣n thuần tuý về tư tưởng. Nhưng khi xã hô ̣i đãxuất hiê ̣n giai cấp thì dấu ấn giai cấp - chính trị ít nhiều đều in rõ trong các tơn giáo. Từ đó, hai mặt chính trị và tư tưởng thường thể hiê ̣n và có mối quan hê ̣ với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tơn giáo.

Ví dụ: trong xã hội chiếm hữu nô lệ, những tầng lớp giai cấp nô lệ bị chủ nơ bóc lột nặng nề (chính trị), vì thế họ tin rằng có một thế lực có thể cứu giúp họ, cho họ tự do.

Mặt chính trị phản ánh mối quan hê ̣ giữa tiến bô ̣ với phản tiến bô ̣, phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp, mâu thuẫn giữa những thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiê ̣p cách mạng với lợi ích của nhân dân lao đơ ̣ng. Mặt tư tưởng biểu hiê ̣n sự khác nhau về niềm tin, mức đơ ̣ tin giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không theo tôn giáo, cũng như những người có tín ngưỡng, tơn giáo khác nhau, phản ánh mâu thuẫn khơng mang tính đối kháng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Phân biê ̣t hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo thực chất là phân biê ̣t tính chất khác nhaucủa hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Sự phân biê ̣t này, trong thực tế không đơn giản, bởi lẽ, trong đời sống xã hô ̣i, hiê ̣n tượng nhiều khi phản ánh sai lê ̣ch bản chất, mà vấn đề chính trị vàtư tưởng trong tơn giáo thường đan xen vào nhau. Mặt khác, trong xã hơ ̣i có đối kháng giai cấp, tôn giáo thường bị yếu tố chính trị chi phối rất sâu sắc, nên khó nhâ ̣n biết vấn đề chính trị hay tư tưởng thuần tuý trong tôn giáo. Viê ̣c phân biê ̣t hai mặt này là cần thiết nhằm tránh khuynh hướng cực đoan trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tơn giáo.

Ví dụ: người Việt Nam cảm thấy ăn thịt heo là chuyện bình thường nhưng ở các quốc gia theo đạo Hồi thì việc ăn thịt heo là cấm kỵ

Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tơn giáo

Tôn giáo không phải là mô ̣t hiê ̣n tượng xã hơ ̣i bất biến, ngược lại, nó ln ln vâ ̣n đô ̣ng và biến đổi không ngừng tuỳ thuô ̣c vào những điều kiê ̣n kinh tế - xã hô ̣i - lịch sử cụ thể. Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành, có q trình tồn tại và phát triển nhất định. Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trị, tác đơ ̣ng của từng tôn giáo đối với đời sống xã hô ̣i không giống nhau. Quan điểm, thái đô ̣ của các giáo hô ̣i, giáo sĩ, giáo dân về những lĩnh vực của đời sống xã hơ ̣i ln có sự khác biê ̣t. Vì vâ ̣y, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Ví dụ: ở triều đại phong kiến, Phật giáo được truyền vào nước ta để hình thành giá trị văn hóa chùa, làng. Ngày nay Phật giáo khơng chỉ giữ gìn văn hóa chùa làng mà cịn tổ chức các khóa tu, các đại lễ lớn, phóng sanh,... cho các tín đồ Phật giáo đến tham gia

<b>2.2. LIÊN HỆ THỰC TIỄN: Liên hệ với quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo, tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay</b>

<b>2.2.1. Tình hình tơn giáo hiện nay tại Việt Nam:</b>

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tơn giáo tồn tại lâu đời trong lịch sử của dân tộc. Mặc dù đức tin, giáo lý và sự thờ phụng của đồng bào theo các tơn giáo khác nhau nhưng đều có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa và ln đồng hành cùng dân tộc cả trong cách mạng giải phóng dântộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chính vì thế, trong q trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta ln khẳng định chủ trương, chính sách nhất qn là tơn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo và tự do khơng tín ngưỡng tơn giáo của đồng bào các dân tộc.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo và khơng tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật”. Theo Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 2013), Điều 24 quy định:

“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo, theo hoặc khơng theo một tôn giáo nào… 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo.

3. Khơng ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tơn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo để vi phạm pháp luật”. Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng để nhân dân ta thực hiện quyền bình đẳng trong chính sách tự do tơn giáo theo ngun tắc: bình đẳng về tín ngưỡng, bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ (nghĩa vụ tôn giáo, nghĩa vụ cơng dân) và bình đẳng về pháp luật.

Trên thực tế, mọi tơn giáo ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ, được tự do hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tuyệt nhiên không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

chính quyền ngăn cấm. Chức sắc, tín đồ các tơn giáo ln gắn bó với quốc gia, dân tộc theo phương châm “Đạo phápdân tộc và CNXH”, thực hiện “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “nước vinh đạo sáng”, vừa làm trịn bổn phận của tín đồ đối với tơn giáo, vừa hăng hái lao động sản xuất, góp phần cùng tồn dân đẩy mạnh thực hiện cơng cuộc đổi mới và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn sinh động đó đã, đang được khẳng định qua những thành tựu được nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao.

Theo số liệu cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2019 thì cả nước có hơn 13,162 triệu người xác nhận theo một trong những tơn giáo được đăng ký chính thức. Năm tơn giáo lớn nhất là Cơng giáo, Phật giáo, Hịa Hảo, Tin Lành, và Cao Đài; các tôn giáo khác chiếm tỷ trọng nhỏ. Bên cạnh đó, Nhà nước tạo điều kiện cho hàng trăm tu sĩ đi học tập, hội thảo nâng cao trình độ ở nước ngồi và nhiều người đã trở thành tiến sĩ Phật học. Việc in ấn,xuất bản kinh sách được Nhà nước quan tâm, hầu hết các tổ chức tơn giáo đều có báo, tạp chí, bản tin, đáp ứng yêu cầu hoạt động của các tơn giáo. Chỉ tính riêng Nhà xuất bản Tơn giáo, mỗi năm đã cấp phép xuất bản hơn 1.000 ấn phẩm liên quan đến tơn giáo. Hằng năm, có khoảng 8.500 lễ hội tín ngưỡng, tơn giáo được tổ chức ở các quy mô khác nhau trên phạm vi cả nước; trong đó, các sự kiện trọng đại của các tơn giáo đều được chính quyền các cấp tạo điều kiện tổ chức và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, địa phương đều quan tâm, động viên, chúc mừng. Ngoài ra, quan hệ đối ngoại của các tôn giáo cũng được Nhà nước tạo điều kiện và ngày càng mở rộng, nhất là quan hệ với các tổ chức tôn giáo ở khu vực Đơng Nam Á, Tây Âu và Tịa thánh Va-ti-căng, góp phần làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn chính sách tự do tín ngưỡng, tơn giáo của Đảng và Nhà nước cũng như tình hình tự do tín ngưỡng, tơn giáo của Việt Nam.

Tuy nhiên một thực trạng đang xảy ra là các thế lực thù địch cùng các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí lại ra sức tung tin xuyên tạc, bịa đặt về tình hình tơn giáo tại Việt Nam. Chúng lợi dụng một số phần tử đội lốt tôn giáo, vi phạm luật pháp và bị pháp luật xử lý để vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, ngăn cấm xây, sửa nơi thờ tự, cản trở các hoạt động tín ngưỡng của các chức sắc tơn giáo, nhà tu hành,… Khơng những thế, các tổ chức thiếu thiện chí ở nước ngồi đã dựa trên những thơng tin bịa đặt từ một nhóm người có hoạt động chống Nhà nước Việt Nam để đưa ra những luận điệu vu cáo “Việt Nam đàn áp, tấn công tôn giáo”. Song sự thật về quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm đã và sẽ là một trong những thứ vũ khí sắc bén, lâu bền, vững chắc nhất đập tan những luận điệu xuyên tạc của chúng.

<b>2.2.2. Quan điểm, chính sách của Đảng trong chủ trường đường lối tôn giáo:</b>

Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo, quyền theo hoặc khơng theo tơn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, khơng phân biệt đối xử vì lý do tơn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013.

Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với tơn giáo có 5 nhóm vấn đề lớn.

<i>Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong</i>

quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc khơng theo một tơn giáo nào, quyền sinh hoạt tơn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tơn giáo hoạt động bình thường trong khn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.

<i>Hai là, thực hiện nhất qn chính sách đại đồn kết dân tộc, khơng phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tơn giáo.</i>

Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá VI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta khẳng định “Tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

tín ngưỡng và khơng tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các dân tộc. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng”

<i>Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là vận động quần chúng. Công tác vận động quần chúng phải động </i>

viên được đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thơng qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tơn giáo.

<i>Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, trong đó, đội ngũ cán bộ </i>

chun trách làm cơng tác tơn giáo là lực lượng nịng cốt.

<i>Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp </i>

theo quy định của pháp luật. Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; đồng thời đó khơng được lợi dụng tơn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo.

Qua đó, ta có thể thấy được, quan điểm của Đảng về vấn đề tôn giáo rất rõ ràng, nhất quán và dân chủ. Có nhữngquan điểm rõ ràng sẽ giúp việc đề ra các phương hướng đúng đắn hơn. Đồng thời qua đó phê phán bộ phận lợi dụng tơn giáo để chia rẽ nhân dân, từ đó đưa ra các biện pháp nhận diện phòng tránh

<b>2.2.3. Phương hướng hoạt động trong thời gian tới:</b>

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đưa ra đường hướng đối với vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng, ảnh hướng tới sự mọi hoạt động của bộ máy chính trị, đến đời sống, an ninh xã hội. Đại hội đã nêu lên những nhiệm vụ, chiến lược phải đạt được trong thời gian sắp tới của nhiệm kỳ trong đó mục tiêu “Thực hiện tốt mục tiêu đồn kết tơn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật. Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tơn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”.

Trong thời gian vừa qua nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đề ra đối với công tác tôn giáo, các cán bộ cấp cao ởtrung ương đã trực tiếp tham gia, gặp gỡ các chức sắc, tín đồ tơn giáo để nắm bắt tình hình hoạt động, tâm tư nguyện vọng qua đó có những thay đổi, hoạch định chính sách phù hợp với thực tiễn đang diễn ra. Ngoài ra các cơ quan ban ngành chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp đối với vấn đề tôn giáo đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo nghiên cứu, đánhgiá qua đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý, những tồn đọng gây ảnh hưởng tới quyền tự do tín ngưỡng của một số bộ phận tín đồ... Hay gần đây là những lễ tun dương những đóng gópcủa các chức sắc, tín đồ trong cơng cuộc phịng chống đại dịch Covid-19 do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chínhtrực tiếp tham gia.

Nhìn chung phương hướng của Đảng, nhà nước là ln đề cao vai trị của tơn giáo trong mọi giai đoạn của đất nước xem đây là nhiệm vụ chiến lực và trong thực tế đã chứng minh được sự quan tâm này đối các tổ chức tôn giao, bà con giáo dân. Và trong tương lai nhiệm vụ về tôn giáo sẽ luôn được đề cao và luôn được đảm bảo thực hiện với tình thần cao nhất.

<b>2.2.4. Các tác động tích cực của tơn giáo đến con người nói chung và tại Việt Nam nói riêng:</b>

<i><b>Tác động tích cực của tôn giáo đến con người:</b></i>

</div>

×