Tải bản đầy đủ (.pdf) (222 trang)

Luận án tiến sĩ Luật học: Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (50.51 MB, 222 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

BÙI THỊ HUYEN

PHIEN TOA SO THẤM DÂN SỰ

NHỮNG VẤN DE LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN

<small>Chuyên ngành: Luật Dân sự</small>

Mã số: 62 38 30 01

LUẬN ÁN TIÊN SĨ LUẬT HỌC

<small>NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:</small>

<small>I. TS. Dinh Trung Tung2. TS. Hoang Ngọc Thinh</small>

_THƯ VIÊN |<small>TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HẠ NỘI</small>

PHÒNG ĐỌC __— 42 A |

HÀ NỘI 2008

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<small>Tơi xin cam đoan, đáy là cơng trình nghiên cứu của</small>

<small>riêng tôi. Các so liệu nếu trong luận án là trung thực. Những kétluận khoa học của luận án chưa từng được ai công bô trong bát</small>

<small>kỳ công trình nào khác.</small>

<small>Hà nội, ngày 0] tháng 01 năm 2008</small>

TÁC GIÁ LUẬN ÁN

Bùi Thị Huyền

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<small>4. HDTPTANDTC</small>

5.NQ sé 02/2006/NQ - HDTP

<small>6.PLTTGQCVADS7 PLTTGQCTCLD8 PLTTGQCVAKT9. PTSTDS</small>

<small>10. TANDTC11.TAND12. TTDS13.VKS14.VKSND15. VKSNDTC16.XHCN</small>

Bộ luật Tố tụng dân sựHội đồng xét xử

Hội thâm nhân dân

Hội đồng thâm phán Toà án nhân dân Tối caoNghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006Hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai“Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Toà dn sơthẩm ” của BLTTDS

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sựPháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao độngPháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

Phiên toà sơ thâm dân sự

Toà án nhân dân tối cao

<small>Toà án nhân dân</small>Tố tụng dân sựViện kiểm sát

Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

<small>Xã hội chủ nghĩa</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

MO ĐẦUU... <2 HH HH... HHHkHcerrksrrrkrerrkksseetkred |

CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE PHIEN TOASƠ THÁM DAN SỰỰ...---- << s9 vn. rxreree 9

í:Ì 1.]. Khái niệm và vai trị của phiên tồ sơ thẩm dân sự ... 9

ie 2 Nguyên tắc tiễn hành phiên toà sơ thâm dân sự... 36

vc 3, Nội dung các hoạt động tổ tụng và vai trò của các chủ thé tại

<small>phiên toà sơ thâm dân sự ... .---- ¿5c c22 k2 strrtersrrsed 43</small>

1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật

Việt Nam về phiên toà sơ thẩm dân sự...-.-.¿-c-cssxscxsxcz 65CHUONG 2: PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE PHIEN TOASƠ THÁM DAN SU VA THUC TIEN THỰC HIỆN ... 78

<2 Quy định chung về phiên toà sơ thâm dan sự va thực tiễn

THUG hiỆn... ch TT TT Hà SE RE gtxgg crrnrưêu 78

'1.2. Thủ tục tiền hành phiên toà sơ thâm dân sự và thực tiễn

<small>th BEE eceer os coonenenanset uneendnevvevs saetevrze=eeesey-eeniizrenpgrigdiieoiiE ruangleieeš 530101 07</small>

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN VÀ THUC HIỆN PHÁP LUẬT VE

PHIÊN TOA SƠ THÁM DAN SỰ Ở VIỆT NAM ...-..- 1463.1. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện và thực hiện pháp

luật về phiên toà sơ thâm dân sự...---¿--c2czevcxcerxeere 1463.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phiên toà sơ thâm

<small>XU. See g1... ....ẽ... 161</small>

3.3. Một số giải nháp thực hiện pháp ludi về phiên toà sơ thâm

<small>S081 10 411100777... 7... 190</small>

<small>8n ... 198</small>

DANH MỤC CONG TRINH CUA TÁC GIẢ ĐÃ CƠNG BĨ... 202

<small>DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO...---s 5< ssscsecsse 203</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

(Quá trình giải quyết vụ việc dân sự có thể trải qua các giai đoạn khác

nhau như khởi kiện, thụ lý, hòa giải, chuẩn bị xét xử sơ thâm, phiên tòa sơthâm, phúc thầm, giám đốc thâm, tái thâm, trong đó, phiên tịa sơ thâm dânsự (PTSTDS) là giai đoạn quan trọng nhất. Tại PTSTDS, toàn bộ các chứngcứ, tài liệu của vụ việc, những yêu cầu của các bên đương sự được xem xét,đánh giá trực tiếp, công khai, khách quan và tồn điện. Trên cơ sở kết quảPTSTDS, Tịa án ra bản án hoặc quyết định về việc giải quyết toàn bộ vụviệc dân sự, trong đó, xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các đương sự.Do đó, nếu việc xét xử tại PTSTDS đạt chất lượng tốt sẽ là cơ sở dé Tòa ánra bản án, quyết định chính xác, khách quan; góp phần hạn chế kháng cáo,kháng nghị phúc thẩm, khiếu nai theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm; giải

quyết dứt điểm tranh chấp giữa các đương sự; én dinh giao luu dan su. Tu

do, quyên và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ kịp thời, ý thứcpháp luật của người dân được nâng cao, pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN)được bảo đảm. |

Trên sơ sở đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng nhà nước pháp

quyền, về cải cách tư pháp, tại kỳ hop thứ 5, từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 15tháng 6 năm 2004, Quốc hội khóa XI nước Cộng hịa XHCN Việt Nam đãthơng qua Bộ luật Tổ tụng dân sự (BLTTDS) (có hiệu lực từ ngày 01/01/2005).BLTTDS 1a kết quả của sự pháp điển hóa quan trọng các quy định pháp luậttố tụng dân sự (TTDS), trong đó có những quy định về PTSTDS. Các quy địnhvẻ PTSTDS trong BLTTDS đã khắc phục được nhiều diém bat cập, chưa kha

thi của các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS),

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT), Pháp

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

cách tư tháp đã được dé ra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong

<small>thời g1ar tỚI:</small>

<small>Khi xét xử, các Tịa án phải bảo đảm cho mọi cơng dân</small>

đều bình dang trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Tham

phán, Hội thâm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc

phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụngtại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn điện các chứng cứ, ý kiếncủa Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyênđơn, bị đơn và những người có quyên, lợi ích hợp pháp dé ra nhữngbản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời

<small>hạn pháp luật qui định [17, tr. 3].</small>

Trên cơ sở kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW,

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IXđã ra Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020. Nghị quyết đã chỉ rõ cần:

Đổi mới việc tổ chức phiên tịa xét xử, xác định rõ hơn vịtrí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người

tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính cơng khai, dân chủ,nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét<small>xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp [19, tr. 5].</small>

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS cho thấy vẫn còn nhiều bấtcập, trong đó có các quy định liên quan đến PTSTDS. Một số quy định về

PTSTDS chưa cụ thé, chưa that sự phù hợp với thực tiễn xét xử, dẫn đến

<small>việc hiệu và ap dung tại các Tịa án khơng thơng nhật, địi hỏi cân tiép tục</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Tòa án chưa thật sự triệt để... Điêu này là một trong các nguyên nhân dẫnđến tình trạng "các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình để quáthời hạn vẫn diễn ra; tỷ lệ các bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại,lao động bị hủy, sửa cao hơn năm trước; một số bản án dân sự tun khơng

<small>rõ ràng, gây khó khăn cho cơng tác thi hành an" [§1, tr. 5].</small>

Vì vậy, việc nghiên cứu những vẫn đề lý luận và thực tiễn thực hiệnpháp luật về PTSTDS nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tịa án là địi hỏibức thiết, góp phần thực hiện mục tiêu của Chiến lược cải cách tư pháp, đảm bảocho "hoạt động xét xử được tiền hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [19, tr. 2].Với các ly do trên, nghiên cứu sinh chọn dé tài: "Phiên tòa sơ thẩm dân sự -Những van dé lý luận và thực tiễn" làm nghiên cứu cho luận án tiến sĩ luật

<small>học của mình.</small>

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

<small>PTSTDS là trung tâm của thủ tục TTDS cho nên PTSTDS luôn được</small>

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu pháp luật trong và ngoài nước. Ở nướcngoài, trong phạm vi mà chúng tơi nghiên cứu có thê thấy một số thông tinliên quan đến nguyên tắc tiến hành PTSTDS, thành phan xét xử sơ thẩm dânsự, nội dung các hoạt động tố tụng và vai trò của các chủ thê tại PTSTDStrong một số tài liệu nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt như: Luật NhậtBản của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản; Luật so sánh của Giáo sưMichanel Bogdan; Khái quát hệ thống pháp luật cia Hoa Kỳ của Outline ofthe U.S.Lega syetem; Những van dé cơ bản về Liên minh Châu Au và phápluật cộng đồng Châu Au của Jean - Marc Favret; Các hệ thông pháp luật cơ

bản trên thế giới của tác giả Michel Fromont; và một số liệu nguyên bảnbằng tiếng nước ngoài như: On Civil Procedure của tac giả J.A Jolowicz;

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

các báo cáo chuyên đề quốc tế, một số tài liệu của nước ngoài trong lĩnh vựcTTDS, trong đó có nhiều van đề liên quan đến vai trò của Tòa án và các bên

đương sự tại PTSTDS và thủ tục tiến hành PTSTDS. Một số tài liệu hội thảo

về pháp luật TTDS do Nhà pháp luật Việt - Pháp tổ chức tại Hà Nội cũng có

một số thơng tin liên quan đến thành phan Hội đồng xét xử (HDXX) sơ thẩmdân sự, sự tham gia của Viện kiểm sát (VKS) tại PTSTDS...

Ở Việt Nam, trong q trình xây dựng BLTTDS, thời gian qua đã có

một số cơng trình nghiên cứu giải quyết cơ sở lý luận, thực tiễn cho từngvan dé của TTDS liên quan đến PTSTDS. Trong dé tài khoa học cấp bộ:"Van dé tơ chức phiên tồ và việc thực hiện các quy định của pháp luật to

tụng tại phiên toà của Toà án nhán dán", mã số 97-98/043/ĐT của Toà ánnhân dân tối cao (TANDTC) đã dé cập đến van dé tổ chức phiên tồ nói

chung. Tuy nhiên, dé tai khơng di sâu nghiên cứu những van dé lý luận,pháp luật và thực tiễn áp dụng về PTSTDS, mà chủ yếu tập trung nghiêncứu những van đề liên quan đến cơ sở lý luận, thực tiễn và yêu cầu đổi mớihình thức tổ chức phiên tồ nói chung (bao gồm cả phiên tồ hình sự, dânsự, kinh tế, lao động, hành chính; cả phiên toà sơ thâm, phúc thâm, giám đốc

thâm, tái thâm) như: Bài trí phịng xử án, tu thé, tác phong, trang phục của

những người tiến hành tố tụng, người tham gia tổ tụng, hình thức xét xử

<small>cơng khai, xét xử kín hay lưu động...; Luận văn thạc sĩ luật học của Ngô Thị</small>

Minh Ngọc, với đề tài: "Thu tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toa sơ

thẩm". Luận văn chỉ nghiên cứu thủ tục phiên toà sơ thâm theo qui định của

PLTTGQCVADS và thực tiễn áp dụng các qui định đó tại Tồ án nhân dân(TAND) thành phố Hà Nội. Ngồi ra, cịn có luận văn thạc sĩ luật học củaNguyễn Thị Thu Hà, với đề tài: "Tranh tựng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự".

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Sau khi BLITDS được ban hành, đã có một số cơng trình nghiên cứu

chun sâu về PTSTDS. Luận án tiến sĩ luật học: “Giai đoạn giải quyết sơthấm vu án kinh tế theo pháp luật Việt Nam" của Đoàn Đức Lương. Trongluận án, tác giả nghiên cứu các quy định của pháp luật về giai đoạn giảiquyết sơ thâm vụ án kinh tế (bao gồm các giai đoạn khởi kiện, thụ ly, chuẩnbị xét xử và xét xử tại phiên toà sơ thâm) và thực tiễn áp dụng. PTSTDS cũngđã được đề cập đến trong luận án này nhưng ở mức độ khái quát và chỉ tậptrung vào phiên toà xét xử các vụ án kinh tế. Luận văn thạc sĩ luật học củaPhương Thảo, với đề tài: "Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơthầm" được hoàn thành năm 2006. Luận văn chỉ nghiên cứu vẻ thủ tục phiêntoà sơ thấm theo qui định của BLTTDS và thực tiễn áp dụng các qui định đótại TAND thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, cịn có một số cơng trình nghiên

cứu vẻ BLTTDS, trong đó có dé cập một số nội dung của PTSTDS như cuốn

"Bình luận khoa học: Một số vấn đề của pháp luật tổ tụng dân sự và thựctiễn áp dung" của Lê Thu Hà, 2006; Kỷ yếu hội thảo khoa học: "Bộ /uật Tổtụng dân sự - Những điểm mới và các van dé đặt ra trong thực tiên thi hành"của Học viện Tư pháp, 2004; "Tai liệu tập huấn Bộ luật Tổ tụng dân sự" củaTrường Cán bộ Toà án, 2004; Kỷ yếu hội thảo khoa học: "Vẻ việc thi hành Bộ

luật To tụng dân sự" của Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004...

Trên các tạp chí khoa học pháp ly, một số tác giả cũng đã đề cập đếnnhững khía cạnh khác nhau của pháp luật về PTSTDS. Các tác giả quan tâm

đến đề tài này mới chỉ tập trung vào việc phân tích, đánh giá và nêu ra một

số bat cập, hạn chế về từng điều luật riêng lẻ của pháp iuat về PTSTDS.

Những nghiên cứu mang tính lý luận về PTSTDS cịn ít, nhiều vẫn đề có ý

nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn của PTSTDS chưa được lý giải

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài<small>Mục dich</small>

Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về PTSTDS, nội dung các quyđịnh pháp luật Việt Nam hiện hành về PTSTDS và thực tiễn áp dụng tại cácTòa án Việt Nam. Trên cơ sở đó, xác định rõ yêu cầu và đề xuất những giảipháp cụ thé nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật Việt Nam vé PTSTDS.

<small>Nhiệm vụ</small>

Đề thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụgiải quyết những vấn đề cơ bản sau:

- Nghiên cứu làm rõ những van dé lý luận cơ bản về PTSTDS;

- Nghiên cứu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luậtViệt Nam về PTSTDS;

- Phân tích làm rõ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về

PTSTDS và thực tiễn thực hiện. Từ đó, chỉ ra những điểm mới, tiến bộ của

pháp luật Việt Nam hiện hành về PTSTDS, đồng thời, chỉ rõ những hạn ché,

bất cập cần được hoàn thiện; phân tích đánh giá một số quy định pháp luậtvề PTSTDS của một số nước trên thế giới để làm cơ sở tham khảo khi tácgiả trình bày phần hồn thiện pháp luật Việt Nam về các quy định tương ứng.

- Luận giải về những yêu cầu hoàn thiện và thực hiện pháp luật ViệtNam về PTSTDS va dé xuất các giải pháp cụ thé nhằm hoàn thiện và thựchiện pháp luật về PTSTDS.

4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

PTSTDS là một dé tài rất rộng, bao gồm rất nhiều van đề về lý luậncũng như thực tiễn. Tuy nhiên, trong khuôn khổ phạm vi của luận án tiến sĩ

<small>luật học, nghiên cứu sinh chỉ tập trung nghiên cứu các vân đê như: Khái niệm</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

luật Việt Nam hiện hành về PTSTDS và thực tiễn áp dụng. Bên cạnh đó, do<small>luận án được thực hiện trong thời gian giao thoa giữa PLTTGQCVADS,PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLD và BLTTDS nên luận án có chú ý so</small>

sánh pháp luật về PTSTDS trước và sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành;

thực tiễn thực hiện pháp luật về PTSTDS trước khi BLTTDS có hiệu lực. Từđó, luận án chỉ ra các giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về<small>PTSTDS ở Việt Nam.</small>

Đối với các van đề khác như cách thức tổ chức phiên tòa, việc tham

<small>gia PTSTDS của người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, các</small>

thủ tục sau PTSTDS, luận án chưa nghiên cứu, xin được giải quyết ở các

<small>cơng trình khác sau này.</small>

5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

<small> Luận an được nghiên cứu dựa trên cơ sở ly luận của chủ nghĩa Mac </small>

-Lênin về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cảicách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.

<small>- Phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng như</small>phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tơng hợp và phương

pháp xã hội học như khảo sát thực tế tại một số Tòa án, sử đụng các kết quảthong kê của ngành Tòa án và Viện kiểm sát (VKS) dé hồn thành luận án.

6. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là cơng trình nghiên cứu chun khảo dau tiên có tính hệ

thống và tồn diện về PTSTDS theo qui định của BLTTDS.

Luận án đã làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về PTSTDS nhưkhái niệm và vai trò của PTSTDS, nguyên tắc tiến hành PTSTDS, nội dung cáchoạt động tố tụng và vai trò của các chủ thé tại PTSTDS.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Luận án đã phân tích, đánh giá một cách tương đối đầy đủ và toàn

diện pháp luật Việt Nam hiện hành về PTSTDS và thực tiễn thực hiện. Quađó, luận án đã chỉ ra những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật Việt

Nam hiện hành về PTSTDS, những địi hỏi từ thực tiễn nhăm hồn thiện và

thực hiện pháp luật về PTSTDS.

Luận án đã phân tích đánh giá một số quy định pháp luật về PTSTDS

của một số nước trên thế giới dé làm cơ sở tham khảo khi tác giả trình bàyphân hồn thiện pháp luật Việt Nam về các quy định tương ứng.

Luận án đã luận giải về những yêu cầu của việc hoàn thiện và thựchiện pháp luật về PTSTDS, đồng thời, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằmhoàn thiện và thực hiện pháp luật về PTSTDS ở Việt Nam.

7. Y nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu

<small>tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong q trình nghiên cứu, hồn thiện</small>

pháp luật về PTSTDS.

Luận án cũng có thé sử dụng như là một tai liệu tham khảo trong

<small>công tác nghiên cứu, giảng dạy luật TTDS tại các cơ sở đào tạo cán bộ phápluật và trong cơng tác xét xử của các cán bộ Tịa án.</small>

8. Kết cau của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ

<small>lục, nội dung của luận án gôm 3 chương, 8 tiết.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

VE PHIEN TOA SƠ THÁM DAN SỰ

<small>1.1. KHAI NIEM VA VAI TRO CUA PHIEN TOA SO THAM DAN SU</small>

Dưới góc độ là một thủ tục tổ tụng, phiên tòa sơ thẩm dân sy là mộtthủ tục của thủ tục sơ thẩm dân sự. Dưới góc độ là một giai đoạn tổ tụng,phiên tòa sơ thâm dân sự là một giai đoạn của quá trình sơ thâm dân sự. Vì

vậy, để xây dựng khái niệm PTSTDS cần thiết phải làm rõ khái niệm "sơthấm dân sự".

1.1.1. Khái niệm sơ tham dân sự

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người là vấn đề nhân quyềnmà bất cứ quốc gia nào cũng phải quan tâm. Tun ngơn tồn thế giới về nhânquyền của Liên hợp quốc ngày 19/12/1948 đã tuyên bố rằng: "Điều cốt yếu là các

quyền con người phải được bảo vệ bởi một chế độ pháp quyền..." [110, tr. 142].

Song, nêu pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc quy định các quyền lợi của conngười là chưa đủ, mà cịn cần có phương tiện để bảo vệ các quyền này.Trong lĩnh vực dân sự, dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủthé có thé tự bảo vệ hoặc yêu cầu nhà nước bảo vệ. Việc bảo vệ quyên và lợiích hợp pháp của các chủ thê được nhà nước thực hiện thông qua hoạt độngcủa cả bộ máy trong hệ thống, trong đó có hoạt động xét xử.

Việc xét xử là một trong những phương thức thực hiện quyền lựcnhà nước đã ton tại từ xa xưa, từ thời kỳ Nhà nước Ai Cập, Babilon cô đạiđến thời kỳ La Mã, Hy Lạp cô đại rồi qua thời kỳ trung cô phục hưng. Dưới

chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, hoạt động xét xử củng như hoạt dộnglập pháp và hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến màđại diện là Nhà Vua, người có quyên lực cao nhất. Ở giai đoạn này, Tịa án

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

chưa tơ chức thành một hệ thống và chưa trở thành lĩnh vực hoạt động độc<small>lập trong bộ máy nhà nước [41], tr. 80].</small>

Vào thé ky XVII, trong cuén Tỉnh thân pháp luật được xuất bảnnăm 1748, khi phác họa những nét cơ bản về xã hội công dân và nhà nướcpháp quyền, Montesquieu đã khăng định, trong mỗi quốc gia đều có ba thứquyền lực: Quyên lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong đó,

quyền tư pháp là quyền của Nhà Vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phânxử tranh chấp giữa các cá nhân [46]. Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi íchchính đáng của người dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về nhà

nước pháp quyền [98, tr. 216-217]. Quyền tư pháp là một trong ba nhánhquyên lực nhà nước, là quyền nhân danh quyền lực nhà nước để ra phán

quyết, nhằm khôi phục trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp<small>của nhà nước, xã hội va công dân khi có sự vi phạm. Hoạt động xét xử củaTịa án là một dạng của hoạt động tư pháp, là "hoạt động của các cơ quan và</small>

các cá nhân được căn cứ vào pháp luật dé xem xét những van dé pháp lý và

đưa ra những quyết định pháp lý có tính chất bắt buộc" [111, tr. 144]. Cụ thể

hơn, theo tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, hoạt động xét xử là "hoạt động nhân

danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính

hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi vi phạm pháp luật hay quyết định

pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khácnhau" [98, tr. 264]. Phan quyết đó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi về nhân thân,

<small>tài sản, không chỉ của bản thân các đương sự mà có khi của cả gia đình họ.</small>

Tuy nhiên, "Tịa án cũng như con người, khơng thể lúc nào cũng hồn tồn

đúng" [39, tr. 46], cho nên, để đảm bảo tính thận trọng, chính xác, khách quan,đúng pháp luật của bản án, quyết định thì trước khi phán quyết đó có hiệulực pháp luật và được đưa ra thi hành, chúng cần được xem xét lại bởi Tịa<small>án câp trên trong hệ thơng tơ chức Tịa án, nêu có u câu của đương sự</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<small>hoac khang nghi cua VKS. Do do, hién nay, "số đông các nước đều áp dụng</small>

nguyên tắc hai cấp xét xử" là sơ thâm và phúc thẩm [15, tr. 17].

("Sơ thẩm " theo Dai từ điển tiếng Việt là "xét xứ lần đầu một vụ việc

ở Tòa án cấp thấp" [112, tr. 1460]. Tùy theo tính chất của các loại vụ việcphát sinh tại Tịa án mà có sơ thâm dân sự, sơ thẩm hình sự, sơ thẩm hành

chính. Trong đó, sơ thâm dân sự dùng để chỉ hoạt động xét xử lần đầu đốivới các vụ việc dân sự. Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều quanniệm vụ việc dân sự là các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ pháp

<small>luật dân sự theo nghĩa rộng được Tòa án thụ lý giải quyết (bao gồm: Dân sự,</small>

<small>hôn nhân va gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động). Do đó, theo</small>cách giải thích này, sơ thâm dân sự là việc Tòa án xét xử lần đầu một vụviệc dân sự. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, để giải quyết một vụ việc dânsự ở cấp sơ thâm không phải mọi trường hợp Tòa án đều phải thực hiện việcxét xử. Việc giải quyết vụ việc dân sự ở cấp sơ thâm có thé trai qua các giai

đoạn tơ tụng khác nhau.>

Trong lĩnh vực dân sự, lợi ích của các bên được xem như là tiền đề

dẫn đến tranh chấp dân sự. Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếukhơng có u cầu khởi kiện của các bên [113, tr. 70]. Khởi kiện là hành vi

đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tô chức tham gia vào quan hệ pháp luật<small>TTDS, là cơ sở pháp ly làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS [92, tr. 230].</small>Khởi kiện trước hết là quyền dân sự của các chủ thé, là phương thức mà các

chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc

người khác. Tuy nhiên, quyền khởi kiện của các chủ thể chỉ làm phát sinh<small>nghĩa vụ thụ lý vụ việc của Tòa án khi việc khởi kiện phải tuân thủ đúng và</small>

đủ các điều kiện khởi kiện về nội dung, về hình thức khởi kiện và tạm ứng

án phí. Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ<small>chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đôi với việc thực hiện các quyên</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận [4, tr. 20]. Như vậy, khởi

kiện và thụ lý vụ việc dân sự là những hoạt động tố tụng đầu tiên của sơthấm dân sự, là tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Ké từ thời điểm

Tòa án thụ lý sẽ phát sinh quyên, nghĩa vụ của các chủ thé tham gia vào quátrình giải quyết vụ việc dân sự và bắt đầu giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Dé đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc có căn cứ và chính xác thiyêu cầu của các đương sự và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giảiquyết vụ việc phải được làm sáng tỏ thông qua các chứng cứ, lý lễ và căn cứpháp lý. Trong TTDS, đương sự là chủ thê của quan hệ pháp luật nội dung

tranh chấp, là người đưa ra yêu cầu và việc giải quyết vụ việc liên quan đến

lợi ích của chính họ nên đương sự là chủ thê có nghĩa vụ cung cấp chứng cứvà chứng minh. Do đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các bên

đương sự có nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêucầu của minh. Tuy nhiên, tùy theo pháp luật của mỗi nước về vai trò của Tòa

án trong TTDS mà việc hỗ trợ của Tòa án đối với việc thu thập chứng cứ

<small>của đương sự được quy định ở các mức độ khác nhau.</small>

Đối với những nước theo truyền thống tổ tụng tranh tụng, điển hìnhnhư Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì vai trị của các bênđương sự được dé cao. Vì vậy, việc thu thập chứng cứ do chính các bên hoặc<small>luật sư của họ thực hiện với sự trợ giúp của Tịa án, thơng qua việc buộc bên</small>kia phải trả lời, phải tuyên thệ, đối chất, đưa ra các tài liệu để làm sáng tỏnội dung vụ việc. Cộng hòa Pháp là nước điển hình theo truyền thống tốtụng xét hỏi, vai trò của Thâm phán trong việc thu thập chứng cứ được đềcao nên Thâm phán có quyền tự mình quyết định áp dụng mọi biện pháp

thâm cứu mà pháp luật cho phép. Tuy vậy, các bên đương sự có nghĩa vụgiúp Thâm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả

trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ. Đối với Nhật Bản,

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

việc thu thập chứng cứ và kiểm tra người làm chứng trong giai đoạn chuẩn

<small>bị xét xử do các bên đương sự tự thực hiện, Tòa án chỉ hỗ trợ trong những</small>

<small>trường hợp đặc biệt [37, tr. 74-77].</small>

Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS, về nguyên tắc các đươngsự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và Tịa án có quyền thu thập chứng cứ khicần thiết. Do đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tịa án có quyền chủ động

<small>thực hiện mọi biện pháp thu thập chứng cứ. Hiện nay, theo BLTTDS, nghĩa</small>vụ chứng minh của đương sự được đề cao hơn trước và Tòa án chỉ hỗ trợđương sự thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự thuthập được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặc các trường hợp do pháp luật<small>quy định.</small>

Bên cạnh đó, trong vụ việc dân sự, các đương sự là chủ thé của các

quan hệ pháp luật nội dung do Tòa án giải quyết nên họ có quyền thỏa thuận

với nhau đê giải quyết quan hệ pháp luật đó. Mặt khác, việc hòa giải mang

lại nhiều y nghĩa cả về kinh tế, xã hội và pháp ly. Vì thế, pháp luật của các

nước đều quy định Tịa án có trách nhiệm hịa giải để giúp đỡ các đương sự

thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp, trừ các trường hợp khơng hịa giải

<small>được hoặc khơng được hịa giải. Ngồi ra, pháp luật cũng quy định, khi có</small>

các căn cứ, Tịa án sẽ ra những quyết định cần thiết như tạm đình chỉ, đìnhchỉ việc giải quyết vụ việc dân sự... Khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử, nếukhơng có các căn cứ dé ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sựthì Tịa án phải ra quyết định đưa vụ việc ra xét xử sơ thâm. Trên cơ sởquyết định đưa vụ việc ra xét xử sơ thâm, Tòa án sẽ mở phiên tòa dé ra phánquyết về vụ việc dân sự.

Từ những phân tích trên có thê thấy, ở mỗi quốc gia khác nhau, tùy

thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống lập pháp mà nội

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

dung cụ thé của chế định sơ thấm dân sự có những điểm khác nha Ty

nhiên, sơ thấm dân sự có đặc điểm cơ bản như sau: —- Sơ thấm dân sự được bắt đầu bằng việc khởi kiện của người khởi

<small>kiện. Khi việc khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện về nội dung và</small>

<small>hình thức khởi kiện sẽ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý vụ việc của Tòa án.</small>

Khởi kiện và thụ lý vụ việc dân sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố

tụng, là thủ tục tiền đề cho các thủ tục tiếp theo của thủ tục sơ thâm dân sự.

- [rong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thâm, các bên đương sự thựchiện việc cung cấp, thu thập chứng cứ để chứng minh cho u cầu của mìnhlà có căn cứ và hợp pháp. Tùy theo pháp luật của mỗi nước mà Tịa án có

thể hỗ trợ việc thu thập chứng cứ của đương sự ở các mức độ khác nhau.

Khi có căn cứ do pháp luật quy định, Tịa án sẽ ra những quyết định tố tụng

cân thiết nhưng Tòa án chưa thực hiện việc "phân xử" nội dung quan hệpháp luật tranh chấp giữa các bên.

- Hòa giải là hoạt động quan trong của sơ thẩm dân sự. Việc hịa giảiđược diễn ra dưới sự chủ trì của Thâm phán nhằm giúp các bên thỏa thuận vớinhau về giải quyết vụ việc. Nếu các bên đương sự thỏa thuận được với nhau vềgiải quyết tồn bộ vụ việc thì giai đoạn sơ thâm dân sự được kết thúc tại đây.- Trén cơ sở quyết định đưa vụ việc ra xét xử, PTSTDS sẽ được mởvà là khâu cuối cùng của sơ thâm dân sự. Kết thúc PTSTDS, HDXX ra banán, quyết định về vụ việc dân sự, quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự<small>được xác định.</small>

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, sơ thâm dân sự là việc giải quyết lần

đầu một vụ việc dân sự, bao gồm các hoạt động khởi kiện, thụ lý, chuẩn bịxét xử, hòa giải và mở PTSTDS. PTSTDS là khâu cuối cùng của sơ thâm

dân sự và tại đó Tịa án sẽ xét xử dé ra phán quyết vê vụ việc dân sự)

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của phiên tòa sơ thâm dân sự

f "Phiên toa", theo Từ điển tiếng Việt, là lần hop để xét xử của Tòa án.

"Phiên " là lần mà mỗi người theo thứ tự làm cùng một loại việc như người

trước và sau mình dé đảm bảo sự liên tục [89, tr. 779]. Như vậy, theo nghĩa

chung nhất, phiên tòa là một phiên họp của Tịa án. Dưới góc độ pháp lý,

“nhiên tịa " đã được giải thích trong các từ điển luật học.

Trong Từ điển luật học Việt Nam, phiên tịa được hiểu “là hình thức<small>hoạt động xét xử của Tòa án" [99, tr. 620].</small>

Theo Từ điển Pháp - Việt, pháp luật - hành chính, phiên tịa là phiênhọp của Tòa án xét xử các tội phạm, các tranh chấp. Thành phần có chủ tọaphiên tịa là Thâm phán chun nghiệp, có các Hội thâm nhân dân (HTND).Phiên tịa xét xử cơng khai, mọi người đều có quyền tham dự. Trong trường

hợp đặc biệt cần giữ gìn bí mật nhà nước hoặc giữ gìn đạo đức xã hội thì

Tịa án xét xử kín, nhưng khi tun án phải cơng khai [94, tr. 40},

Trong Từ điển luật học Anh, phiên tòa có nghĩa là "trial" va "hearing".

<small>"Trial" có nghĩa là sự xét xử một vụ việc dân sự hoặc hình sự trước Tịa án</small>

có thẩm quyền. Các phiên tịa phải được tiến hành cơng khai (rất hiếm khicó ngoại lệ). Tại phiên tòa, tất cả các van dé gây tranh cãi về pháp luật vàthực tế phát sinh trong vụ kiện sẽ được quyết định [114, tr. 407]. Theo một

<small>cách giải thích khác, “trial” có nghĩa là phiên xử tại Tịa an với sự tham gia</small>

của Thâm phán hoặc Hội đồng bồi thâm dé quyết định về vụ việc. "Hearing"có nghĩa là q trình diễn ra tại Tịa án, nơi mà các bằng chứng được đưa radưới mục dich là quyết định một van dé về sự thật và đạt được một quyết

định dựa trên những bằng chứng [120]. Với thuật ngữ này, phiên tịa mang

tính tranh cãi, lắng nghe dé đi đến việc ra phán quyết ma không đề cập đếnthành phần xét xử.

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

Trong Tu dién luật học Pháp, phiên tịa có nghĩa la "Audience", làphiên họp (Séance au recours) đê Tòa án xem xét yêu cầu của các bên, thâm

cứu vụ kiện, nghe lời biện hộ của các bên và đưa ra phán quyết [115, tr. 55].

Trong Từ điền luật học Nga, phiên tịa có nghĩa là "cydebnoe 3acaHue",là một phiên họp của Tịa án dé thực hiện việc xét xử đối với các vụ hình SỰ,<small>dân sự [116].</small>

Như vậy, qua việc tìm hiểu các từ điển luật học cho thấy, mặc dù các

giải thích về phiên tịa là khơng hồn tồn giống nhau nhưng phiên tịa làphiên họp có những đặc thù riêng về người chủ trì, người tham gia, nguyên

tắc, trình tự và thủ tục tiến hành. Người chủ trì là Tham phán hoặc HDXX

-chủ thể thực hiện chức năng xét xử của Tòa án. Tùy theo pháp luật của mỗinước mà thành phan xét xử có thé có hoặc khơng có HTND tham gia. Khixét xử, Thắm phán hoặc HĐXX nhân danh Nhà nước xem xét, đánh giá tính

chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật hoặc xác định bản chất của quanhe pháp luật tranh chấp giữa các bên và ra ban an hoặc quyết định, xác định

rõ quyền và nghĩa vụ của các bên. Phiên họp được tiến hành cơng khai vàtn theo những ngun tắc, trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.

Tuy theo tính chất của từng loại vụ việc ma có các phiên tịa dân sự, phiền

<small>tịa hình sự hoặc phiên tịa hành chính.</small>

Ở Việt Nam, trong cơ luật, chưa có thuật ngữ phiên tòa nhưng phápluật đã quy định việc xử án phải diễn ra công khai ở một địa điểm nhất địnhđược gọi là công đường. Dưới triều Lê, Điều 709 Quốc triều hình luật quyđịnh "án phải được xử cơng khai ở cơng đường". Sau đó, Điều 371 Bộ Luật

Gia Long của nhà Nguyễn quy định việc "xét xử phải theo hình thức cơng khaiở chính đường và phải viện dẫn rõ việc áp dụng các điều lệ". Thuật ngữ "côngđường" mới chỉ phản ánh địa điểm xử án chứ không phải là thủ tục xử án. Đếnthời kỳ Pháp thuộc thuật ngữ "phiên tòa sơ thẩm dân sự" xuất hiện lần đầu

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

trong Bộ luật Dân sự Thương sự, tố tụng Bắc kỳ và Bộ Bắc kỳ pháp viện biênchế [59]. Tuy nhiên, các bộ luật này khơng đưa ra khái niệm PTSTDS.

<small>Thậm chí, khái niệm PTSTDS cũng khơng được giải thích trong các văn bản</small>

quy phạm pháp luật của Nhà nước ta ban hành từ năm 1945 đến nay.

<small>Trong khoa học pháp lý, PTSTDS không phải là một thuật ngữ mới</small>

mẻ, nhưng từ trước đến nay ít người quan tâm và hầu như khơng có sự tranhluận về khái niệm PTSTDS. Giáo sư John Henry Merryman cho răng:

Sự cần thiết khi đưa một số những người vào nghe lời khaicủa nhân chứng, xem xét các chứng cứ, tìm ra sự thực và để áp

dung sự thật vào luật pháp dưới sự hướng dẫn của Tham phán, đãđây phiên tòa thành một dạng sự kiện... Sẽ tự nhiên và hiệu quảhơn cho các bên, cho luật sư, cho Tham phán của họ nếu có thểgặp nhau trong một thời gian nhất định để thực hiện, một lần duynhất, phần tổ tụng dân sự cần tới sự tham gia chung của họ. Sựkiện đó như chúng ta biết, là phiên tòa [80, tr. 60].

Với cách nhìn này, PTSTDS có một số các dấu hiệu sau: Thành phanchủ thể của phiên tòa gồm Thâm phán và các bên đương sự; mục đích của

<small>phiên tịa là nghe lời khai của nhân chứng, xem xét chứng cứ, xác định tình</small>

tiết của vụ việc để áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc; phiên tòa được diễnra trong khoảng thời gian, địa điểm nhất định. Tuy nhiên, thành phần xét xửcủa PTSTDS theo pháp luật của một số nước trên thé giới cịn có sự thamgia của HTND hoặc Bồi thấm đồn và phiên tịa cịn được tiến hành theotrình tự, thủ tục nhất định. Vì thế, chúng tơi cho rằng, cách giải thích nàychưa thật sự bao quát được hết các đặc điểm của PTSTDS.

E Việt Nam, theo thạc sĩ Ngơ Thị Minh Ngọc phiên tịa được hiểu “ia

một phiên họp đặc biệt và các trình tự của phiên hop này do pháp luật về tố

tụng quy định chặt chẽ, mà ở đó HDXX sơ thâm vụ án không thé tùy tiện thêm,

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

<small>bớt các bước trong qua trình xét xử hoặc làm sai các trình tự này" [47, tr. 11].</small>

Mac du, khái niệm nay đã phan anh được một số dấu hiệu của phiên tịa nhưlà một phiên họp, có tính chặt chẽ về thủ tục, do HĐXX tiến hành nhưng tác

<small>giả mới chỉ dừng lại ở việc mơ tả phiên tịa nói chung mà khơng giải thích</small>

cụ thé vé PTSTDS. Hơn nữa, khái niệm này cũng chưa nêu được bản chấthoạt động tố tụng tại PTSTDS nhằm giải quyết vẫn đề gì. Trong giáo trìnhLuật Tổ tụng dân sự năm 2005 của Trường Đại học Luật Hà Nội thì "phiêntoa sơ thâm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu của Tòa án"[92, tr. 265]. Khái niệm này mới chỉ giải thích về PTSTDS theo BLTTDSViệt Nam ở mức độ khái quát nhất và chưa phản ánh đầy đủ các đặc điểm cơ

bản của PTSTDS. /

Dưới góc độ triết học và logic học, khái niệm là "hình thức cơ ban của

tư duy, trong đó phản ánh các dấu hiệu khác biệt cơ bản của sự vật riêng biệthay lớp sự vật hiện tượng nhất định" [40, tr. 50]. Những dấu hiệu phản ánhtrong khái niệm phải thể hiện được những đặc điểm hay thuộc tính của đốitượng, nhờ đó ta có thể nhận thức được đối tượng và so sánh với các đốitượng khác. Vì thế, dé đưa ra khái niệm PTSTDS, cần thiết phải làm rõ các

đặc điểm của PTSTDS. Qua việc nghiên cứu cho thấy, PTSTDS vừa có

những đặc điểm chung của phiên tồ sơ thâm và phiên tồ dan sự nhưng lạicó những điểm khác so với phiên toà phúc thâm dân sự và phiên toà giámđốc thâm, tái thầm dân sự; những điểm khác biệt so với phiên tồ sơ thầmhình sự. Ở Việt Nam, PTSTDS còn được phân biệt với phiên họp giải quyết

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

“Như đã phân tích ở mục 1.1.1, sơ thẩm dân sự là giai đoạn đầu tiên

của quá trình giải quyết vụ việc dân sự và bao gồm các giai đoạn tố tụngkhác nhau. Các hoạt động tố tụng trong các giai đoạn khởi kiện, thụ lý,chuẩn bị xét xử sơ thấm là tạo tiền dé và chuẩn bị các điều kiện cần thiếtđảm bảo cho việc xét xử lần đầu nội dung vụ việc dân sự tại PTSTDS. Dođó, PTSTDS là phiên họp của Tịa án để xét xử lần đầu các vụ việc dân sự.

Trong trường hợp, bản án, quyết định của Tòa án bị Tòa án cấp trên hủy déxét xử lại từ đầu thi tồn bộ q trình tố tụng trước đó sẽ bị hủy bỏ và việcgiải quyết vụ việc dân sự sẽ được chuẩn bị và xét xử sơ thâm lại. Vì thế,

phiên họp xét xử lại vụ việc đầu tiên cũng là PTSTDS. |

Đối với phiên tòa phúc thâm, do tinh chất của xét xử phúc thẩm làviệc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ việc mà bản án, quyết định của

tòa cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghịnên phiên tòa phúc thâm là phiên họp xét xử lần thứ hai đối với vụ việc dân<small>sự trên cơ sơ kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, khơng có nghĩa đã có phiên</small>hop lần đầu thì at phải có phiên hop lần hai. Mục tiêu của hoạt động tố tụngvà cải cách tư pháp là phải giải quyết các vụ việc dân sự một cách nhanhchóng và tiết kiệm. Vì vậy, nếu việc xét xử tại PTSTDS được thực hiện tốt,

<small>các đương sự không kháng cáo, VKS không kháng nghị thì quá trình giải</small>

quyết vụ việc dân sự sẽ dừng lại khi kết thúc PTSTDS. Mặt khác, cho duphải mở phiên tồ phúc thẩm thì HDXX phúc thẩm phải tơn trọng kết quả

<small>xét xử của PTSTDS, không xét xử lại toàn bộ nội dung của vụ việc dân sự</small>mà chỉ xét xử những nội dung của vụ việc đã được giải quyết ở cấp sơ thâm

và có kháng cáo và kháng nghị. Nếu việc giải quyết của Toà cấp sơ thâm làđúng thì HĐXX phúc thâm phải giữ nguyên bản án, quyết định sơ thâm.

Nếu việc chứng minh và thu thập chứng cứ của Toà cấp sơ thẩm đã thựchiện đầy đủ và đúng nhưng Toà cấp sơ thâm đã áp dụng sai pháp luật hoặc

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

<small>việc chứng minh và thu thập chứng cứ của Toà cấp sơ thầm chưa thực hiện</small>

day đủ nhưng tại phiên toa phúc thâm có thé bổ sung được thi HĐXX phúc

thâm sẽ sửa bản án, quyết định sơ thâm. Nếu việc chứng minh và thu thậpchứng cứ của Toà cấp sơ thâm chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tồphúc thẩm khơng thé bổ sung được hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tơtụng thì HDXX phúc thâm sẽ huỷ bản án, quyết định sơ thâm để xét xử sơthâm lai. Do đó, HDXX phúc thẩm khơng xem xét những vấn dé mới phát

sinh tại phiên toà phúc thẩm mà PTSTDS chưa xem xét, giải quyết. Ngoàira, HDXX phúc thâm sẽ huỷ bản án, quyết định sơ thâm và đình chỉ giải

quyết vụ việc nếu vụ việc phải đình chỉ ở cấp sơ thẩm nhưng HDXX sơthâm khơng phát hiện ra.

Đối với phiên tòa giám đốc thấm, tái thâm, do tính chất giám đốc

thâm, tái tham là xét lại bản án, quyết định của Tịa án đã có hiệu lực phápluật vì bị người có thâm quyền kháng nghị nên phiên tòa giám đốc thẩm, táithâm là phiên họp xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của

Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc

giải quyết vụ việc. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thâm, HĐXX khôngxem xét nội dung quyền và nghĩa vụ của các đương sự mà chỉ kiểm tra xemviệc áp dụng pháp luật của Toà án cấp dưới. Nếu việc giải quyết của Toà án

cấp dưới là đúng thi HDXX giám đốc thẩm, tái thâm sẽ giữ nguyên, bản án,

quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Nếu việc giải quyết củaTồ án cấp dưới là có sai lầm, vi phạm nghiêm trọng pháp luật thì tuỳ theo

thời điểm mắc sai lầm, HDXX giám đốc thâm sẽ huỷ bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thâm hoặc phúc thẩm lại. Nếu phát hiệntình tiết quan trọng làm thay đổi nội dung của vụ việc thì HĐXX tái thâm sẽhuỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thấm lai.

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Nhu vay, quyén han của HDXX phúc tham, giám déc tham dua trénkết qua của PTSTDS. PTSTDS là phiên hop lần đầu của Toa án dé giảiquyết toàn bộ vụ việc dân sự.

Thứ hai: PTSTDS được tiễn hành cơng khai với sự có mặt của tất cảnhững người tham gia to tung

Đề dam bảo cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đươngsự và việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác, khách quan và đúngpháp luật thì PTSTDS phải được tiến hành với sự có mặt của tất cả nhữngngười tham gia tô tụng, bao gồm các đương sự, người đại diện của đươngsự, người bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của đương sự, người làm chứng,người giám định, người phiên dịch và sự tham gia của đại diện Viện kiểmsát (nêu có). Vì thé, tất cả những người tham gia tố tụng đều được Tòa ántriệu tập tham gia PTSTDS. Tòa án chỉ xét xử vắng mặt họ trong trường hợpcó căn cứ do luật định, khi đó lời khai hay tài liệu do người vắng mặt cung

cấp phải được công bố công khai. Điều này nhằm đảm bảo cho tất cả các

đương sự đều có cơ hội trình bày u cầu, chứng cứ, lý lẽ, lập luận của minh

và chứng kiến các yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ, lập luận của phía bên kia mộtcách công khai. Tất cả lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của

người giám định được thâm định một cách công khai. Bản án, quyết địnhcủa Tòa án được tuyên trên cơ sở kết quả xem xét, đánh giá các yêu câu,

<small>chứng cứ, lý lẽ đó.</small>

Khác với PTSTDS, phiên tịa phúc thấm, giám đốc thâm, tái thâmdan sự không nhất thiết phải triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng.Bởi vì, phạm vi xét xử của phiên tòa phúc thâm là phan bản án, quyết địnhsơ thâm bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa phúc thâm chỉ triệu tập người

kháng cáo và những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc giải

quyết kháng cáo, kháng nghị. Còn giám đốc thâm, tái thẩm là thủ tục tổ

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

<small>tụng đặc biệt nên đương sự và những người tham gia tố tụng khác chỉ được</small>

triệu tập khi cần thiết, nếu họ vắng mặt thì phiên tịa vẫn được tiễn hành

<small>bình thường.</small>

<small>Thứ ba: Tại PTSTDS, trên cơ sở kết quả tranh tụng hoặc giải quyết</small>

công khai yêu cẩu của các bên đương sự, Tòa án ra phan quyết để giảiquyết về toàn bộ vụ việc dân sự hoặc những van dé còn tranh chap giữa các<small>bên đương sự.</small>

Khác với các phiên họp khác của Tòa án, kết thúc PTSTDS, Tòa ánphải ra phán quyết về toàn bộ vụ việc dân sự, trong đó xác định cụ thể quyền

<small>và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, tùy theo pháp luật của mỗi nước mà các</small>

van đề được giải quyết tại PTSTDS là khác nhau nhưng kết thúc PTSTDS,

Tòa án ra phán quyết về toàn bộ nội dung vụ việc dân sự hoặc những vấn đề

còn mâu thuẫn giữa các đương sự.

Đối với pháp luật của nhiều nước, trước PTSTDS, Tịa án có thé tổ

chức nhiều phiên họp các bên đương sự gặp nhau theo lệnh của Tòa án để

trao đổi, thống nhất những tài liệu nào được coi là chứng cứ của mỗi bên và

những tài liệu, chứng cứ mà các bên khơng thống nhất hoặc dé hịa giải. Dođó, tại PTSTDS, Tòa án chỉ giải quyết những vấn đề còn mâu thuẫn, tranhchấp giữa các bên đương sự.

Chăng hạn, theo pháp luật TTDS của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, sau

khi các bên trao đối tài liệu, trước khi xét xử chính thức tại phiên tịa thường

có những phiên xét xử sơ khởi có Bồi thâm đồn (sumary adjugment) và hội

ý (pretrial conference). Trong xét xử sơ khởi có Bồi thâm (thơng thườnggom sáu người), luật sư của mỗi bên trình bày lý lẽ của mình về nhữngthơng tin có thé được chấp nhận khi xét xử trong khoảng thời gian ngắn,không có thủ tục lấy lời khai của người làm chứng. Bồi thẩm đồn đưa ramột phán quyết mang tính chất có vấn, khơng ràng buộc, trên cơ sở các lý lẽ

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

được trình bày. Phán quyết này có ý nghĩa giúp cho các bên hiểu rõ nội dungvụ việc và có thé là cơ sở dé giải quyết tranh chấp nếu các bên chấp nhận.Nếu tranh chấp khơng được các bên chấp nhận thì một cuộc họp hội ý(pretrial conference) sẽ được tơ chức trước khi Tịa án thảo luận về việc giải

quyết tranh chấp [53, tr. 156-162].

Đối với Cộng hòa Pháp, theo quy định của BLTTDS (Điều 758-787),

trong giai đoạn thâm cứu vụ việc, Tòa án triệu tập cuộc họp xem xét hồ sơ

<small>với sự có mặt của luật sư và các bên. Tại phiên họp đó, Chánh tịa cùng với</small>

các luật sư xem xét tiến trình của vụ kiện về những giấy tờ, tài liệu của vụ

việc, kết luận của mỗi bên về vụ việc. Nếu thay hồ sơ đã hồn tất, Chánh tịasẽ đưa vụ việc ra phiên tòa xét xử. Như vậy, kết thúc phiên họp này, Tòa ánchưa ra phán quyết về nội dung vụ việc dân sự [51, tr. 21-23].

Đối với Nhật Bản, "những vụ kiện dân sự được thực hiện qua hàngloạt những phiên họp không liên tục, từng phần chứ khơng phải là một phiên<small>tịa tập trung khơng gián đoạn” [80, tr. 111]. Những phiên họp không liên tục</small>là các phiên để các bên đương sự gặp gỡ trao đổi các yêu cầu, chứng cứ.

Song, chỉ tới phiên tranh tụng bằng lời, với sự có mặt của các bên, Tòa án sẽ

ra phán quyết về giải quyết vụ việc dân sự.

Điều 152 BLTTDS Liên bang Nga cũng quy định về phiên tòa sơ bộtrong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Mục dich của phiên tòa sơ bộ là củng có vềmặt tố tụng những hành vi mà các bên đã thực hiện trong quá trình chuẩn bịxét xử, xác định những tình tiết có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ việc,

xác định tinh day đủ của các chứng cứ [7]. Tuy nhiên, tại phiên họp cuỗi

cùng của giai đoạn sơ thâm dân sự, Tòa án và những người tham gia tô tụngsẽ tập trung giải quyết những van dé mà các bên đương sự còn mâu thuẫn.

<small>Khi đó, Toa án sẽ ra phan quyét ràng buộc các bên.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

Như vậy, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều quy định việc

trước phiên họp dé Tòa án ra phán quyết giải quyết mâu thuẫn giữa các bên

đương sự có thé có nhiều phiên họp diễn ra tại Tòa án và kết quả của nhữngphiên họp đó các bên đương sự sẽ thống nhất với nhau những vấn đề cònmâu thuẫn và các chứng cứ gây tranh cãi. Tuy nhiên, ở những phiên họpnày, Tòa án chưa giải quyết dứt điểm toàn bộ vụ việc dân sự, chưa ra phán

quyết mang tính chất ràng buộc các bên. Tại phiên họp công khai cuối cùngcủa giai đoạn sơ thấm, Tòa án sẽ ra phán quyết dé giải quyết dứt điểm vềtoàn bộ nội dung những vấn đề cịn mâu thuẫn giữa các bên. Ngồi ra, theopháp luật của nhiều nước, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thấm, Tịa án

có thể triệu tập phiên hop dé hòa giải mâu thuẫn giữa các đương sự. Song,

<small>tại phiên hịa giải Tịa án khơng thực việc xét xử mà chỉ giúp đỡ các đương</small>

sự thỏa thuận với nhau. Nếu các đương sự hòa giải thành Tòa án sẽ cơng

<small>nhận sự thỏa thuận đó.</small>

Ở Việt Nam, tất cả các chứng cứ, tài liệu được thu thập ở các giaiđoạn trước dù đã được kiểm tra, đánh giá sơ bộ vẫn phải được trình bàycơng khai và tồn diện tại PTSTDS. HDXX sẽ xem xét, giải quyết tat cả cácvan dé của vụ việc, ké cả các van dé đương sự đã thống nhất được với nhau.Tại PTSTDS tất cả các yêu cầu của đương sự, lời khai của người làm chứng,kết luận giám định được trình bày cơng khai và bằng lời. Đối với vụ việc cótranh chấp, các bên đương sự được công khai tranh luận, đưa ra nhữngchứng cứ, lý lẽ, lập luận, căn cứ pháp lý dé bảo vệ yêu cau của mình hoặcbác bỏ yêu cầu của người khác. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa,HĐXX đánh giá các yêu cầu, các sự kiện pháp lý, chứng cứ lần cuối cùng đểra phán quyết giải quyết dứt điểm về tất cả các van dé của vụ việc dân sự,

xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các đương sự. Khi bản án, quyết địnhsơ thâm được tuyên nếu các đương sự không kháng cáo, VKS không kháng

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

nghị trong thời hạn pháp luật quy định thì bản án, quyết định đó có hiệu lựcpháp luật. Khi bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật thì mọi cá nhân,

cơ quan, tô chức phải tôn trọng và triệt để thi hành. Trong trường hợp, bản

án, quyết định sơ thâm bị xét xử theo thủ tục phúc thâm thì Tòa phúc thấmchi xem xét những van dé đã được giải quyết ở cấp sơ thẩm va trong phạmvi kháng cáo, kháng nghị. Nếu Tịa phúc thâm phát hiện có những vấn đềmà Tịa sơ thấm chưa giải quyết thì phải hủy bản án, quyết định sơ thâm và

giao về cho Tịa sơ thấm xét xử lại từ dau.

Do đó, về vị trí, nhiệm vụ của PTSTDS đối với quá trình giải quyết

<small>vụ việc dân sự thì PTSTDS được coi là trung tâm của hoạt động TTDS.</small>

* PTSTDS có những đặc điểm khác so với phiên tồ sơ thẩm hìnhsự và phiên tồ sơ thấm hành chính

Thứ nhát: PTSTDS được tiễn hành trên cơ sở việc thực hiện quyên yêu cauToa án bảo vệ quyên, lợi ich hợp pháp của đương sự.

Nhà nước với tư cách là đại diện cho lợi ích của các giai cấp trong xãhội, thơng qua pháp luật ghi nhận và thiết lập các biện pháp pháp lý, bảođảm việc bảo vệ quyền con người. Việc xét xử của Toà án là một trong cácbiện pháp Nhà nước thực hiện dé bảo vệ quyền và lợi ich của các chủ thé.Trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án hình sự là giải quyết mối quanhệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm toi Cho nén, phién toasơ thâm hình sự được tiến hành trên co sở các quyết định của các cơ quan

tiến hành tố tụng. Còn việc giải quyết vụ việc dân sự là giải quyết các quyền

và nghĩa vụ dân sự thường chỉ liên quan đến cá nhân các đương sự, trừ mộtsố trường hợp liên quan đến lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước. Vì thé,các đương sự có quyền lựa chọn biện pháp phù hợp với pháp luật để bảo vệ

quyén và lợi ích hợp pháp cho mình. Một trong các biện pháp đó là quyền

u cầu Tồ án bảo vệ qun, lợi ích hợp pháp. Thông qua quyền khởi kiện,

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

các chủ thé yêu câu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của minh, củangười khác, của Nhà nước. Quá trình TTDS chỉ phát sinh khi các chủ thể

thực hiện quyền nay! Trong suốt quá trình TTDS, nếu các chủ thé khơng rút

u cầu khởi kiện và khơng có các căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết

vụ việc, khơng có căn cứ ra quyết định cơng nhận sự thoả thuận của các

đương sự thì PTSTDS phải được mở. Vì vậy, đặc điểm của thủ tục TTDSnói chung và của PTSTDS nói riêng là được tiễn hành trên cơ sở việc thực<small>hiện quyên yêu câu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.</small>

Thứ hai: Phạm vi và diễn bién của PTSTDS phụ thuộc vào quyên tự

quyết định và định đoạt của đương sự.

[Khi các đương sự đã thực hiện quyền khởi kiện, họ có quyên tự quyếtđịnh vẻ việc tự tham gia TTDS hay uy quyển cho người khác, tự quyết địnhvề phạm vi, nội dung, mức độ yêu cầu bảo vệ quyên, lợi ích của họ. Trong

q trình tố tụng, họ có quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi, bố sung, rút yêu câu.Trách nhiệm của Toà án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự,

trừ một số trường hợp ngoại lệ. Vì vậy, Toa án khơng tự xác định phạm vixét xử tại phiên toà sơ thẩm mà dựa trên yêu cầu được đưa ra tại phiên toàcủa đương sự, phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của các đương su. |

Xuất phát từ ban chất của quan hệ pháp luật dân sự, Tồ án có tráchnhiệm hồ giải giữa các bên đương sự hoặc tạo điều kiện, giúp đỡ các đương

sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc. Hiện nay, theo PLTTDS

Việt Nam, tại PTSTDS, Tồ án khơng có trách nhiệm tơ chức hoa giai, nhưngTồ án có trách nhiệm phải hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau vềviệc giải quyết vụ án hay không. Nếu các đương sự thoả thuận được với nhauvề việc giải quyết toàn bộ vụ án và thoả thuận đó khơng trái pháp luật, khơng

<small>trái đạo đức xã hội thi Tồ án khơng cân xét xử ma ra quyêt định công nhận</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

<small>sự thoả thuận của các đương sự. Khi đó, PTSTDS sẽ kết thúc. Ngoài ra, trước</small>

khi giải quyết về nội dung vụ án, Toà án phải hỏi các đương sự về việc thay

đồi, bô sung va rút yêu cầu của họ. Nếu các đương sự rút yêu cầu và việc rút

yêu cầu đó là tự nguyện thì Tồ án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Như vậy, quyền tự định đoạt của đương sự được thê hiện rõ nhất tại PTSTDS,diễn biến của PTSTDS phụ thuộc vào quyên tự định đoạt của các đương sự.

Trong khi đó, q trình tố tụng hình sự phát sinh, thay đổi, chấm dứtdựa trên các quyết định tố tung của các cơ quan tiến hành tố tụng nên phạmvi xét xử tại phiên tồ hình sự sơ thâm dựa trên nội dung quyết định truy tốcủa VKS đối với các bị can về tội danh và khung hình phạt. Theo pháp luậtcủa nhiều nước, tại phiên tồ hình sự, hai bên buộc tội và gỡ tội không thểthoả thuận với nhau về tội danh và hình phạt để chấm dứt quá trình tố tụng.

Thứ ba: Tai PTSTDS, các bên đương sự có quyên bình dang trong<small>việc cung cáp chứng cứ và chứng minh yêu cấu.</small>

Trong TTDS, các đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, làngười trong cuộc, biết được sự việc, đưa ra yêu cầu và liên quan đến lợi ích của

chính họ nên họ phải cung cấp cho Toà án các chứng cứ và chứng minh làm rõsự việc. Cho nên, hoạt động chứng minh tại PTSTDS trước hết thuộc tráchnhiệm của các đương sự. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng

<small>cứ cho Toa án và chứng minh cho yêu câu của mình là có căn cứ và hợp pháp.</small>

[bả bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, đúng pháp

luật, thì giữa các đương sự phải được bình dang về quyền và nghĩa vụ TTDS.Tại phiên toà, các bên được bình dang trong việc thực hiện các quyền và nghĩavụ tơ tụng dân sự, bình đăng trong việc đưa ra yêu cầu và chứng minh yêu cau.

<small>Toa án có nhiệm vụ thực hiện những biện pháp do pháp luật quy định dé các</small>

<small>đương sự được thực sự bình đăng với nhau trong việc thực hiện các quyên,</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

nghĩa vụ tổ tụng của họ. Chính đặc trưng này của PTSTDS dẫn đến thủ tục tiến

hành phiên toà sơ thẩm có những điểm khác biệt so với phiên tồ sơ thâm hìnhsự. Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ

quan tiễn hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng khơng buộc phải

<small>chứng minh mình là vơ tội. Vì vậy, tại phiên tồ hình sự, nghĩa vụ chứng</small>

minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiễn hành tố tụng. /

a ` 2 xa<sub>\ Vé cơ ban, PTSTDS có những đặc diém giơng so với phiên toa so</sub>

thâm hành chính. Tuy nhiên, do bản chất của phiên toà sơ thẩm hành chính

là giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với các cơ quan

nhà nước về các quyết định hành chính và hành vi hành chính của các cơ

quan nhà nước nên tính chất bình đăng giữa các đương sự trong phiên tồ sơ

thâm hành chính khơng triệt để như trong PTSTDS. ]

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thé giới, bên

cạnh thủ tục sơ thâm dân sự thơng thường cịn có thủ tục rút gọn [95, tr. 41].Ở Việt Nam, mặc dù pháp luật không quy định thủ tục rút gọn nhưng có sự

phân biệt thủ tục giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự cho nên bên cạnh

<small>khái niệm PTSTDS cịn có khái niệm phiên họp. Khái niệm phiên họp dùng</small>

để chỉ phiên giải quyết các việc dân sự lần đầu của Tòa án (việc dân sự lànhững yêu cầu về dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và

lao động quy định tại các điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS được Tòa án thụ lý,

giải quyết theo thủ tục TTDS). Khái niệm PTSTDS dùng dé chỉ phiên xét xửlần đầu vụ án dân sự của Tòa án (vụ án dân sự là những tranh chấp dân sự

<small>phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh,</small>

thương mại và lao động quy định tại các điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS được

Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục TTDS).

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

So với PTSTDS, phiên họp giải quyết việc dân sự được rút gọn hơn về

thành phân tiến hành tổ tung, thủ tục và thời hạn giải quyết. Thành phan tiếnhành tố tụng của PTSTDS có HTND tham gia nhưng đối với phiên họp giảiquyết việc dân sự khơng có HTND tham gia. Do tính chất của việc dân sựvà thành phan giải quyết việc dân sự thơng thường chỉ có một Tham phán,cho nên địi hỏi phải có sự kiểm sát chặt chẽ của VKSND. Vì vậy, BLTTDS

quy định, đại diện VKSND phải tham gia 100% các phiên họp giải quyết<small>việc dân sự. Bên cạnh đó, do việc dân sự là trường hợp các bên không có</small>tranh chấp hoặc các tình tiết, sự kiện của sự việc đã được xác định thông qua

lời thừa nhận, thống nhất của các đương sự hoặc các bên không phản đối

chứng cứ, yêu cầu đương sự khác đưa ra. Cho nên, thủ tục phiên họp đơn

giản hơn, thành phần tham gia phiên họp thường ít hơn so với PTSTDS.Mục đích của việc tách PTSTDS và phiên họp giải quyết việc dân sự lànhằm giảm bớt nặng nề cho đương sự, bảo đảm cho việc giải quyết việc dân

sự được nhanh chóng, giảm bớt chi phí tố tụng, tiết kiệm cho ngân sách nhà

nước, đồng thời, tạo điều kiện cho Tham phán có thể chủ động trong cơngviệc của mình, nâng cao trách nhiệm cá nhân của Tham phan, thuc hién

<small>những bước đi co ban của công cuộc cải cách tư pháp. Tuy nhiên, phiên hop</small>

giải quyết việc dân sự vẫn phải được tiến hành công khai, với sự tham giacủa những người tham gia tố tụng, kết thúc phiên họp Tòa án ra phán quyếtvề giải quyết việc dân sự. Do đó, về bản chất phiên họp giải quyết việc dân

<small>sự cũng chính là PTSTDS.</small>

Í Từ việc phân tích trên cho thấy, PTSTDS là phiên hop công khai lan

đâu của Tòa an với sự tham gia của những người tham gia to tụng theonhững nguyên tắc và thủ tục nhất định đề Toà án ra phán quyết về toàn bộ<small>vu Việc dân sự hoặc những van dé còn tranh chap giữa các bên đương sự.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

<small>1.1.3. Vai trò của phiên tòa sơ thâm dân sự</small>

1.1.3.1. VỀ phương diện pháp lý

<small>PTSTDS có vai trị đặc biệt quan trọng trong TTDS, là phương thức</small>

Tòa án giải quyết vụ việc dân sự khi các đương sự không thỏa thuận được

với nhau về nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp. Xem xét một cách tổngthể, đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc dân sự thì PTSTDS đóng vai

trò trung tâm, tác động, chỉ phối tới các hoạt động tố tụng trước và sau nó. j

Tại PTSTDS, các yêu cầu, chứng cứ, tài liệu được xem xét, đánh giá

tồn diện, trực tiếp, cơng khai. Vì thế, tại PTSTDS có thể kiểm tra, đánh giá

được chất lượng hoạt động của Tòa án ở các khâu thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ

thâm. Đồng thời, nếu thực hiện tốt việc xét xử tai PTSTDS, Tòa án sẽ phát

hiện và khắc phục kịp thời các sai sót, vi phạm pháp luật của hoạt động ởcác giai đoạn tố tụng trước như thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thâm. Ví dụ: Nếu

thời hiệu khởi kiện đã hết nhưng Thâm phán không biết nên vẫn thụ lý vụ

việc và chuẩn bị xét xử sơ thẩm nhưng tại PTSTDS HĐXX phát hiện ra thì

sẽ khắc phục kịp thời sai sót bằng việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụviệc. Ngược lại, nêu HDXX không phát hiện ra mà vẫn tiếp tục xét xử, ra

bản án thì quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự sẽ bị ảnh hưởng.

Nhằm đảm bảo tính thận trọng, chính xác, khách quan của việc xét

xử sơ thấm, ban án sơ thẩm dân sự có thé bị xét xử theo thủ tục phúc thẩm<small>khi có kháng cáo của các đương sự hoặc kháng nghị của VKS. Khác với</small>

phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thâm, Toa án khơng xem xét lại tồn

<small>bộ vụ việc mà chỉ xem xét những nội dung có kháng cáo, kháng nghị hoặc</small>

liên quan đến kháng cáo, kháng nghị của bản án, quyết định sơ thẩm. Trên

cơ sở kết quả của PTSTDS và kết quả của việc xem xét, đánh giá chứng cứtại phiên tịa phúc thâm, HDXX phúc thâm có các quyền hạn: Giữ nguyên,

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

sửa hoặc hủy ban án, quyết định sơ thầm. Do vậy, thủ tục phúc thâm dân sự

do Tòa án cấp trên thực hiện dựa trên gốc ban đầu là kết quả của PTSTDS.

Giám đốc thâm, tái tham dân sự là những thủ tục tố tụng đặc biệt, xét

lại bản án, quyết định dân sự của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật khi cókháng nghị của người có thâm quyền. Tại phiên tịa giám đốc thâm, tái

thâm, HDXX khơng xem xét nội dung của bản án, quyết định bị kháng nghị.Nói cách khác, HDXX không xét đến quyền và lợi ich hợp pháp của các bên

mà chỉ kiểm tra xem việc áp dụng pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng

của Tịa án cấp dưới có đúng pháp luật hay khơng. HDXX giám đốc thẩm,tái thầm khơng có quyền ra bản án mới mà chỉ có quyền ra quyết định. Nếu

bản án, quyết định dân sự bị kháng nghị là đúng thì HDXX ra quyết địnhgiữ nguyên bản án, quyết định đó. Nếu bản án, quyết định dân sự bị khángnghị có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì HĐXX sẽ hủybản án của tịa án cấp dưới để xét xử lại theo thủ tục sơ thâm hoặc phúc thâm.

{ Nhu vậy, PTSTDS là hoạt động tổ tụng quan trọng nhất, chính yếu của

giai đoạn xét xử sơ thâm và quá trình TTDS. Nếu việc tiến hành PTSTDSđược thực hiện tốt, bản án sơ thâm của Tòa án giải quyết đúng đắn quyền và

nghĩa vụ của các đương sự sẽ góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc

thâm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thâm, q trình tố tụng kết thúc nhanhchóng. Khi đó, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo vệ kịpthời, tiết kiệm chỉ phí tố tụng cho nhà nước và các đương sự, giao lưu dânsự được Ôn định, thúc đây kinh tế xã hội phát triển. Hoạt động giải quyết vụ

việc dân sự tại phiên tòa phúc thâm, giám đốc thâm, tái thẩm dân sự dựatrên kết quả của PTSTDS nên chúng chỉ là những thủ tục tiếp theo củaPTSTDS. Nói cách khác, nếu khơng có PTSTDS sẽ khơng có bản án sơ

thâm và cũng khơng thé có việc xét xử phúc thâm, giám đốc thẩm, tái thâm<small>ban án do. |</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<small>PTSTDS cịn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp. Tại</small>

PTSTDS, những người tiến hành tố tụng và tham gia tổ tụng kiểm tra, phântích đánh giá yêu cau, chứng cứ, tài liệu, đồng thời, phân tích các quy địnhcủa pháp luật nội dung và pháp luật tô tụng dé ra phán quyết về giải quyếtvụ việc. Do đó, thực chất hoạt động xét xử tại phiên tịa sơ thấm là hoạtđộng của những người tiễn hành tổ tụng về đánh giá các tình tiết, sự kiện và

áp dụng pháp luật để ra phán quyết về vụ việc dân sự. Theo nguyên tắc phápchế và đòi hỏi của nhà nước pháp quyền, khi áp dụng pháp luật, cơ quan tiếnhành tổ tụng phải căn cứ vào pháp luật và không vượt quá giới hạn của pháp

luật. Trong hoạt động xét xử của Tòa án, nguyên tắc độc lập xét xử của Tịấn là một trong những ngun tắc quan trọng. Nguyên tắc này cho phép Thâmphán, HTND bang niềm tin nội tâm, kiến thức pháp lý, kinh nghiệm nghề<small>nghiệp độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, việc tuân thủ và</small>áp dụng đúng các quy định của pháp luật hiện hành ở đây không nên hiểu là

việc áp dụng một cách máy móc câu, chữ của điều luật mà cần phân tích

điều luật trên tinh thần các nguyên tắc của pháp luật. Pháp luật là căn cứ dé

HĐXX ra phán quyết về một vụ việc dân sự cụ thé nhưng cũng chính thơngqua hoạt động xét xử (hoạt động áp dụng pháp luật), những người tiễn hànhtố tung và những người tham gia tố tụng phát hiện ra những điều luật trai

với hién pháp, những mâu thuẫn giữa quy định của pháp luật nội dung với

pháp luật tố tụng, giữa quy định của các điều luật trong cùng một ngành

luật, những bất cập, những "khoảng trồng" của pháp luật. Mặc dù vậy, theo

nguyên tắc pháp chế thi HDXX vẫn căn cứ vào pháp luật dé ra bản án, quyết

định. Tuy nhiên, Tịa án có quyền thông qua hoạt động xét xử, đề xuấtnhững kiến nghị sửa đối, bổ sung, hủy bỏ điều luật hoặc ban hành văn banpháp luật mới thay thế.

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

1.1.3.2. VỀ mặt chính trị: Phiên tịa sơ thâm góp phần đáp ứngnhững địi hỏi của nhà nước pháp quyên.

Khi nói đến nhà nước pháp quyền, có hai van dé cơ ban đó là dânchủ và tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó vai trị của pháp luật được dé

cao. Để đáp ứng được những đòi hỏi của nhà nước pháp qun, trong q

trình tơ chức thực hiện quyền lực nhà nước phải giải quyết được những van

đề quan trọng như: Phải tạo được ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xãhội, quản lý nhà nước; xác định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa nhà nướcvà cơng dân; bảo vệ các qun và lợi ích chính đáng của cơng dân; tính hợphiến của các thể chế, tổ chức, chính sách và tồn bộ hệ thơng pháp luật và

van đề tổ chức quyền lực nhà nước [98, tr. 213-219]. Bằng việc xét xử công

khai các vụ việc dân sự, ra các phán quyết về việc giải quyết vụ việc dân sự,

PTSTDS góp phan đáp ứng những đòi hỏi của nhà nước pháp quyên.

/ Trong mối quan hệ giữa nhà nước và cơng dân thì PTSTDS được

tiến Hành trên cơ sở quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của cơng dân, cịn việc mở PTSTDS là trách nhiệm của nha nước đổi với

công dân trong việc bảo vệ các quyền dân sự, nếu người khởi kiện đáp ứngđúng và đủ các điều kiện pháp luật quy định. Nếu phiên tòa tiến hành tốt, đósẽ là cơ sở để Tịa án ra các bản án, quyết định chính xác, khách quan, cácquyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm được khơi phục, bồi thường... Dođó, PTSTDS là nơi bảo vệ tốt nhất các quyền, lợi ích hợp pháp của cơngdân, đồng thời, cũng chính thơng qua PTSTDS, nhà nước đấu tranh đối với

<small>các hành vi vi phạm pháp luật và buộc người có hành vi vi phạm phải thực</small>hiện đúng nghĩa vụ của mình cũng như chế tài tương ứng với hậu quả mà họ<small>đã gây ra.</small>

Dau hiệu nỗi bật và cũng là đòi hỏi quan trọng của nhà nước phápquyên là phải tạo được ý thức coi trong pháp luật trong quản lý xã hội, quản

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

lý nhà nước. Trong nhiều trường hợp, khi tham gia các quan hệ pháp luậtdân sự do hiểu biết pháp luật hạn chế hoặc tư tưởng coi thường pháp luậtdẫn đến việc phát sinh tranh chấp giữa các bên. PTSTDS có nhiệm vụ xét xử

các vụ việc dân sự, ra bản án, quyết định để xác định cụ thể quyền và nghĩa

vụ của các đương sự, buộc đương sự phải chịu trách nhiệm đối với nhữnghành vi vi phạm pháp luật như phải trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, chấmdứt hành vi vi phạm, nộp án phí... Vì vậy, trên cơ sở quyền và nghĩa vụ<small>được xác định trong bản án, các đương sự nhận thức được xử sự mà họ đãthực hiện là phù hợp pháp luật hay không, ý thức tuân thủ pháp luật của họ</small>

được nâng cao. Trong một sé trường hợp thông qua ban án sơ thâm, Tòa án

còn kiến nghị với các cơ quan nhà nước sửa chữa, khắc phục những sai lầm

trong việc quan ly nhà nước như kiến nghị Ủy ban nhân dan thu hôi giấychứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai, hủy giấy chứng nhận đăng ký kết

hôn trái pháp luật của Ủy ban nhân dân... Ngồi ra, Tịa án cịn có thé ra

quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính hoặc khởi tố vụ án

hình sự đối với những người có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu

thập chứng cứ của người tiền hành tố tụng, người vi phạm nội quy phiên tòa.

Với mục đích đó, PTSTDS góp phần tạo được y thức coi trọng pháp luật

<small>trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước.</small>

1.1.3.3. VỀ mặt xã hội:

{trước hết việc xét xử tốt tại PTSTDS sẽ góp phần bảo vệ tốt quyền

và lợi ich hợp pháp của người dan, dam bao công bang và ơn định xã hội,

củng cố lịng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, đảm bảo uy

tín của cơ quan tư pháp nói chung và Tịa án nói riêng.

Tại PTSTDS, các đương sự đều bình đăng về quyền và nghĩa vụ,

bình đăng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS, bình đẳng<small>trong việc đưa ra yêu câu và chứng minh yêu câu; Tòa án có nhiệm vụ thực</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

hiện những biện pháp do pháp luật quy định để các đương sự được thực sựbình đăng với nhau trong việc thực hiện các quyên, nghĩa vụ tố tụng của họ.Khi tham gia vào q trình TTDS nói chung và PTSTDS nói riêng, nếu cácđương sự không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình thì đều phải

chịu chế tài. Như đã phân tích ở trên, bản án sơ thâm xác định rõ quan hệ

pháp luật tranh chấp, xác định rõ quyên và nghĩa vụ của các bên đương sự,buộc bên có hành vi vi phạm trả lại tài san, bồi thường thiệt hại, chấm dứt hành<small>vi vị phạm... Như vậy, PTSTDS lập lại trật tự đúng của quan hệ pháp luật</small>

nội dung, đảm bảo sự công bằng giữa các đương sự. Do đó, chức năng xétxử của Tịa án, công bằng xã hội, công lý được thê hiện rõ nhất tại PTSTDS.

PTSTDS được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền thamdự phiên tịa. Tại phiên tịa, các yêu cầu, chứng cứ, tài liệu được xem xét,

<small>đánh giá cơng khai, HDXX phân tích, giải thích pháp luật nên những người</small>

tham gia tố tụng và tham dự phiên tòa hiểu biết thêm về pháp luật, nhậnthức rõ hơn về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của<small>Nhà nước. Khi đã nhận thức rõ được các quy định của pháp luật, các đương</small>

sự sẽ hiểu rõ hơn quyển và nghĩa vụ cua minh trong quan hệ pháp luật, nên

những mâu thuẫn, vướng mắc vẻ tâm lý thắng thua của đương sự được giải

toa. Nhu vậy, thông qua PTSTDS, Tòa an thực hiện việc tuyên truyền, giáodục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, củng có thêm lịng

tin của nhân dân vào đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhànước ta. Do đó, nếu hoạt động này được tiến hành tốt sẽ làm tăng thêm tác

<small>dụng của công tac giáo dục chính tri, giáo dục pháp luật, thực hiện việc</small>

tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.Ngược lại, nếu phiên tòa sơ thắm tiến hành khơng tốt có nhiều sai sót thì kếtquả của công tác giáo dục sẽ bị hạn chế, gây ảnh hưởng xấu, làm cho mọi<small>người thiêu tin tưởng vào hoạt động xét xử của Tòa án.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

PTSTDS là hoạt động tố tụng mà ở đó địi hỏi những người tiễn

hành tố tung và những người tham gia tố tụng như đương sự, người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người giám định, người phiên dịchphải tập trung trí tuệ cao độ, xử lý các tỉnh huống linh hoạt, nhanh chóng,

đồng thời, phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Thơng qua PTSTDS

có thể đánh giá được trình độ chun mơn, nghiệp vụ của Tham phan, HTND,

Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ich hop pháp của đương sự, người

giám định, người phiên dịch, đồng thời, chính qua phiên tịa sơ thâm họ có

thé tích lũy thêm kinh nghiệm nghé nghiệp, kỹ năng xét xử và nâng cao

<small>trình độ chun mơn. Nói cách khác, PTSTDS là thước đo đánh giá trình độ</small>

nghiệp vụ năng lực công tác của những người tiễn hành tổ tụng.

<small>1.2. NGUYEN TAC TIEN HANH PHIÊN TOA SƠ THÁM DAN SỰ</small>

Theo nghĩa chung nhất, nguyên tac được coi là điều không thé thiếu

trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người, bảo đảm cho những

hoạt động đó đi đúng hướng và đạt hiệu quả. Q trình giải quyết vụ việcdân sự nói chung và hoạt động xét xử tại PTSTDS nói riêng đều phải tuântheo những nguyên tắc nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

thì nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, định hướng

cho việc xây dựng, thực hiện pháp luật và là bộ phận quan trọng nhất của hệthống pháp luật. Như vậy, nguyên tắc có tính bắt buộc, phổ biến và tính chỉđạo chung, thống nhất [108, tr. 18]. Nguyên tắc của TTDS là những tư tưởngchỉ đạo, biểu thị những đặc trưng của TTDS, được quy định trong pháp luậtlàm nền tang cho các hoạt động TTDS. PTSTDS là nơi thé hiện rõ nhất chứcnăng xét xử của Tịa án, vì vậy các nguyên tắc của TTDS chi phối được thé

hiện rõ nhất ở PTSTDS.

_PTSTDS trước hết chịu sự chi phối của những ngun tắc tiến hành

phiên tịa sơ thâm nói chung. Bên cạnh đó, do PTSTDS là một trong các thủ

</div>

×