Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

nghiên cứu về thu hút đầu tư nước ngoài tại việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (402.91 KB, 16 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>1. Đặt vấn đề:</b>

Hiện nay, tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và nâng cao mức sống của người dân lànhững mục tiêu hàng đầu của các quốc gia trên Thế giới. Sự tăng trưởng của nền kinh tếkhông chỉ phụ thuộc vào tiến bộ khoa học – kỹ thuật mà còn phụ thuộc sự tương tác giữacác nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Sự tương tác này không chỉ thể hiện qua hànhđộng trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các nước mà còn được thể hiện qua dòng vốn FDI.Hơn thế nữa, dịng vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đóng một vai trị quan trọng trong qtrình tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàiđã ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động, xã hội, tạo công ăn việc làm đồng thời tăngthu nhập cho người lao động, cải tiến nhiều khía cạnh trong các hoạt động kinh doanhnhư cơng nghệ, chuyên môn kĩ thuật,...

Trong những năm qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi được coi là một bộphận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển lâudài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế trên thế giới. Hơn hết nữa,tỷ lệ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục tăng trưởng, và kể cả khi tồn cầu chịu tácđộng khơng nhỏ của đại dịch COVID-19, hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư vào ViệtNam vẫn không giảm về độ sơi động, tính hiệu quả và chất lượng. Theo World Bank(WB), giai đoạn 2015 – 2021, Việt Nam vẫn luôn nằm trong top 3 thu hút vốn đầu tưnhiều nhất khu vực ASEAN và đứng trong top 20 những nước thu hút nhiều FDI nhấttrên thế giới vào năm 2020. Qua đó, dù cho FDI tồn cầu được ghi nhận có xu hướnggiảm nhưng đối với khu vực ASEAN vẫn mở ra rất nhiều triển vọng với tỷ trọng ngàycàng cao trong đó Việt Nam ln là điểm đầu tư hấp dẫn và an tồn.

Chính vì những lý do trên, tôi quyết định nghiên cứu về thu hút đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam hiện nay đồng thời phân tích về tình hình đầu tư nước ngồi vào ASEAN đểnhận biết được xu hướng chung của khu vực mang đến cái nhìn bao quát về đầu tư trựctiếp nước ngoài tại Việt Nam.

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>2. Bối cảnh thế giới:</b>

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dòng vốn đặc biệt quan trọng cho tăng trưởng và hộinhập kinh tế quốc tế, góp phần bổ sung vốn, công nghệ, năng lực quản lý, khả năng kinhdoanh, khả năng tổ chức và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, nền kinhtế trên thế giới đã rơi vào khủng hoảng khi đại dịch COVID – 19 bủng nổ làm cho cácchuỗi cung ứng bị đứt gãy, nhiều doanh nghiệp phá sản, dòng vốn bị ngưng trệ, lạm pháttăng cao,... Điều này đã làm cho FDI toàn cầu suy giảm mạnh mẽ. Năm 2020, tổng vốnFDI trên toàn cầu đạt mức thấp nhất kể từ những năm 1990 và thấp hơn 30% so với cuộckhủng hoảng tài chính tồn cầu năm 2009, ước đạt 859 tỷ USD, giảm 42% so với năm2019. Theo báo cáo của Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển, mặc dùFDI giảm không đồng đều ở các khu vực trên thế giới, ở mức giảm tới -45% ở Mỹ Latinhvà Caribbean, và -16% ở châu Phi nhưng dòng FDI chảy sang châu Á lại tăng 4% vào

năm 2020.

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<i>Hình 1: Việt Nam lọt top 20 nền kinh tế thế giới năm 2019 – 2020 (tỷ USD)</i>

Trong năm 2021, nền kinh tế toàn cầu đã và đang phục hồi mạnh mẽ sau đại dịchCOVID -19. Theo báo cáo, FDI toàn cầu tăng 77%, từ mức 929 tỷ USD năm 2020 lênước tính 1.650 tỷ USD năm 2021, vượt qua mức trước đại dịch COVID-19. Trong đó,các nền kinh tế phát triển ghi nhận mức tăng vốn FDI mạnh nhất từ trước đến nay, vớiước tính 777 tỷ USD trong năm 2021. Ở châu Âu, hơn 80% vốn FDI gia tăng là nhờ sựthay đổi lớn trong các nền kinh tế chủ chốt trong khu vực. Trong khi đó, dịng vốn FDIvào Mỹ đã tăng hơn gấp đơi do sự gia tăng các hoạt động mua bán và sáp nhập xuyênbiên giới (M&A).Bên cạnh đó, các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là các nước kémphát triển nhất (LDC), ghi nhận mức tăng trưởng phục hồi khiêm tốn hơn. Dòng vốn FDIđổ vào các nền kinh tế đang phát triển tăng 30% lên gần 870 tỷ USD, trong đó Đơng vàĐơng Nam Á tăng 20%, khu vực Mỹ Latinh và Caribe ghi nhận sự phục hồi gần mứctrước đại dịch. Dòng tiền đầu tư vào châu Phi cũng tăng, song hầu hết các nước nhận đầutư ở châu lục này đều cho rằng FDI tăng vừa phải.

Những tháng đầu năm 2022, nền kinh tế toàn cầu đã có những thay đổi nhanh chóngtrước sự bất ổn chính trị như xung đột giữa Nga – Ukranie, điều kiện tài chính, lạm phátgia tăng dẫn đến thắt chặt chính sách tiền tệ, ... Dịng vốn FDI vào các dự án xanh trêntoàn cầu cũng đã giảm 21%, các dự án tài trợ cũng đã giảm khoảng 4% đồng thời đối vớicáccơng ty đa quốc gia thì dịng vốn FDI cũng chỉ bằng 1/5 mức trước đại dịch.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<i><small>Hình 2: Tổng vốn FDI tồn cầu giai đoạn 2015 – 2020 và dự báo năm 2021 – 2022 (tỷ USD)</small></i>

<b>3. Bối cảnh ASEAN:</b>

<b>3.1 Tổng quan:</b>

FDI bắt đầu xuất hiện trong khu vực ASEAN từ những năm 1980 và trở thành một trongnhững yếu tố quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng của nên kinh tế khu vực. Bêncạnh đó, cuộc khủ hoảng tài chính tồn cầu năm 2008 – 2009 là chất xúc tác quan trọngcho sự bùng nổ FDI trong khu vực, trong đó nhiều cơng ty đa quốc gia tìm kiếm nhữngcơ hội đầu tư tại các quốc gia trong khu vực ASEAN.

<i>Hình 3: Tổng FDI và FDI ròng vào ASEAN đã tăng đáng kể từ cuộc khủng hoảng tài chínhGFC(tỷ USD)</i>

Năm 2019 đã chứng kiến dòng vốn FDI đổ vào ASEAN cao nhất mọi thời đại đạt 182 tỷUSD, đưa ASEAN trở thành khu vực nhận vốn FDI nhiều nhất trên thế giới. Do tác độngtiêu cực của đại dịch COVID – 19 nên dòng vốn đã giảm 25% còn 137 tỷ USD vào năm2020. Tuy nhiên, tỷ trọng FDI của ASEAN chiếm khoảng 13% FDI toàn cầu bởi

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

ASEAN là một khu vực tiềm năng do có những lợi thế về nguồn nhân lực đặc biệt là thếhệ trẻ, chi phí thuê nhà xưởng và nhiều chính sách khác như thuế,... dù cho dịch bệnhlàm tê liệt các chuỗi cung ứng thế giới và gây ra nhiều thiệt hại to lớn cho các doanhnghiệp.

Năm 2021, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ASEAN đã tăng 42%, lên174 tỷ đồng USD vào năm 2021. Đây là một mức tăng trưởng kỷ lục và đảo ngược sựsuy giảm năm 2020.

Năm 2022, nền kinh tế ASEAN vẫn đang phục hồi mạnh mẽ và chiếm 10% thị phần FDIcủa thế giới, gần như ngang bằng với Trung Quốc. Trong đó, lĩnh vực xuất khẩu chiếmthị phần trọng yếu và giúp cho khu vực trụ vững trước xu hướng suy giảm thương mạitoàn cầu.

<b>3.2 Thu hút vốn:</b>

Hiện nay, ASEAN ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp đến từ các quốc giađang phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,... nhờ vào sự nỗ lực của các quốc giathành viên (AMS) đã áp dụng hiệu quả những biện pháp thuận lợi hóa đầu tư và các biệnpháp AIFF. Bên cạnh đó, ASEAN thực hiện những thỏa thuận cấp khu vực như Hiệpđịnh Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), hiệp định Thương mại Dịch vụ ASEAN mới(ATISA),... để tăng cường hợp tác và phát triển nền kinh tế trong thời đại kỹ thuật số.Bên cạnh đó, Chiến lược hợp nhất về Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4IR) đã manglại nhiều cơ hội ở nhiều khía cạnh khác nhau cho các quốc gia của khu vực ASEANnhằm thúc đẩy sự canh tranh trong việc thu hút FDI xanh để giải quyết các biện pháp đầutư và thương mại liên qua đến khí hậu mà các nền kinh tế phát triển áp dụng. Một hiệpđịnh có ý nghĩa quan trọng đối với ASEAN trong việc thu hút đầu tư nước ngoài đặc biệtlà trong giai đoạn COVID – 19 đó là Hiệp định Đối tác kinh tế tồn diện khu vực(RECCEP). RCEP tạo thành một thị trường với quy mô 2,2 tỷ người tiêu dùng, chiếmkhoảng 30% dân số thế giới, GDP khoảng 26,2 nghìn tỷ USD, tương đương khoảng 30%GDP toàn cầu và trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất trên thế giới xét về quymơ dân số. RCEP cũng sẽ là điểm đến chính cho đầu tư và sản xuất quốc tế, nơi tập trungnhiều tập đoàn đa quốc gia toàn cầu trong nhiều ngành công nghiệp: Điện tử, chất bán

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

dẫn, ô tô, may mặc, thương mại điện tử, công nghệ... Như vậy, RCEP sẽ là một chất xúctác khác cho triển vọng lạc quan FDI của ASEAN.

Bên cạnh những hiệp định để thu hút các nhà đầu tư, các nước thành viên cũng đã đưa ranhiều biện pháp thu hút nhà đầu tư như Indonesia triển khai những kế hoạch nới lỏng cácquy tắc về môi trường để khuyến khích các cơng ty năng lượng đầu tư vào nước này hayThái Lan phát triển những cảng biển thuận lợi cho hoạt động thương mại, giá nhân côngrẻ,...

Tất cả những yếu tố trên đã giúp cho các nước thành viên trong khu vực ASEAN thu hútđược nhiều đầu tư nước ngoài và được các nhà đầu tư đặt rất nhiều niềm tin vào khu vực.

<b>3.3 Xu hướng đầu tư của các nước phát triển:</b>

Trong quá khứ, nguyên nhân của sự lựa chọn ASEAN trở thành điểm đến của dòng vốnFDI là do khu vực này có nhiều quốc gia đang phát triển, đồng nghĩa với việc chi phí laođộng thấp, bên cạnh đó với vị trí địa lý thuận lợi có thể cung cấp được cho các nhà đầu tưnhững nguồn thiên nhiên có sẵn. Tuy nhiên, có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có rấtnhiều yếu tố khác tác động tích cực đến dịng vốn FDI như: quy mô thị trường, cơ sở hạtầng, độ mở thương mại,... Bên cạnh đó, các chính sách tài chính và lãi suất thực cũng đãảnh hưởng rất nhiều đến FDI đồng thời sự ổn định chính trị và chính sách nhà nước cũngrất quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

Theo một nghiên cứu của Hoang và Goujon (2014) đã cho thấy chất lượng lao động cótác động dương đến dịng vốn FDI. Hiện nay, các công ty đa quốc gia rất quan tâm đến kĩnăng chun mơn của người lao động và họ sẵn lịng trả lương cao hơn để người laođộng đạt năng suất lớn hơn.

Mặt khác, sự chuyển dịch đầu tư diễn ra rõ nét với các nhà đầu tư từ khu vực Đông Ánhư Nhật Bản, Hàn Quốc,... Ở Nhật, các nhà sản xuất đã chuyển các cơ sở sản xuất tớicác nước Đông Nam Á nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của đại dịch COVI – 19và giúp các cơng ty đa dạng hóa chuỗi cung ứng đồng thời tạo mối quan hệ tốt hơn vớicác nước trong khu vực ASEAN. Trong khi đó, các cơng ty tài chính ở Hàn Quốc đã có

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

mặt ở nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN như Việt Nam, Indonesi,.. để đưa Hàn Quốctrở thành trung tâm tài chính quốc tế lớn trên thế giới vào năm 2022. Ngồi ra, các cơngty đa quốc gia đang di chuyển một phần hoạt động sản xuất của mình ra khỏi TrungQuốc để đến các quốc gia có chi phí thấp hơn như ASEAN vì do các chi phí ở TrungQuốc tăng lên vào những năm gần đây đồng thời sự căng thẳng thương mại giữa Mỹ vàTrung Quốc.

<b>3.4 Cơ hội và thách thức:</b>

Khu vực ASEAN luôn được đánh giá là một trong những khu vực năng động và tăngtrưởng tích cực nhất trên bản đồ kinh tế thế giới trong những năm gần đây. Ngồi sự tíchcực trong tăng trưởng kinh tế, có rất nhiều lý do để ASEAN thu hút FDI. Đầu tiên, cácnước thành viên tiếp tục thực hiện những chính sách nhằm khơi phục kinh tế cũng nhưnhững biện pháp có lợi cho FDI, trong đó bao gồm việc thực hiện Khn khổ phục hồitồn diện ASEAN. Tiếp theo, đại dịch COVID 19 là điều kiện thúc đẩy các quốc giatrong chuyển đổi công nghiệp 4.0. Nhiều quốc gia thành viên đã tăng cường hoạt động vàphát triển trong các lĩnh vực trực tuyến, thương mại điện tử và nền kinh tế kỹ thuật số.Những lĩnh vực này sẽ trở thành một trong những điểm thu hút FDI nhiều nhất. Bên cạnhđó, nhiều quốc gia trong khu vực tiếp tục xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuậtsố, ví dụ như: mạng 5G và trung tâm dữ liệu. ASEAN được dự đoán sẽ trở thành mộttrung tâm trung tâm dữ liệu toàn cầu đang phát triển nhanh chóng trong 5 năm tới, vượtqua tốc độ tăng trưởng ở Bắc Mỹ và các nước châu Á - Thái Bình Dương. Ngồi ra, việcký kết hiệp định RCEP sẽ tiếp tục thu hút FDI của khu vực ASEAN sau đại dịch. Bêncạnh đó, việc chi phí gia tăng và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung sẽ tiếp tục mang lạilợi ích cho các quốc gia ASEAN trong năm 2021. Các biện pháp của các nước đầu tư, vídụ như chương trình đa dạng hoá chuỗi cung ứng của Nhật Bản sẽ giúp ASEAN trởthành khu vực có nhiều nhà máy và dịch vụ kinh doanh.

Bên cạnh những cơ hội, ASEAN sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong nhữngnăm tới.Trước hết, nguồn nhân lực khu vực cần cải thiện nhiều hơn về mặt kỹ năng nếukhông muốn bị đào thải. Như đã nói trước đó, những nhà đầu tư nước ngồi quan tâm

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

nhiều hơn đến kỹ năng thay vì chi phí lao động rẻ. Việc có một nguồn lao động chấtlượng sẽ thu hút FDI nhiều hơn đặc biệt trong giai đoạn số hóa mạnh mẽ như hiện nay.cuộc khủng hoảng chính trị trong nước đang diễn ra ở Myanmar là một thử thách lớn đốivới toàn khu vực. Trước hết là tác động tiêu cực đến đường lối ngoại giao nội khốiASEAN. Các quốc gia thành viên ASEAN dường như bị chia rẽ bởi vấn đề này. Bêncạnh đó, ổn định chính trị là yếu tố tác động mạnh mẽ đến dịng vốn FDI. Sự kiện này cókhả năng sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngồi quan ngại và trì hoãn việc đầu tư vào khuvực.

<b>4. Việt Nam:</b>

<b>4.1 Tổng quan:</b>

Năm 2021, Dòng vốn FDI tại Việt Nam đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020mặc dù đại dịch COVID – 19 diễn biến phức tạp đồng thời vốn đầu tư đăng ký mới vàđiều chỉnh đều tăng, đặc biệt vốn điều chỉnh tăng mạnh tới 40,5%. Sang năm 2022, dịngvốn đầu tư nước ngồi được kì vọng tăng mạnh mẽ nhờ những chính sách đâu tư hấp dẫnvà chủ trưởng mở cửa trở lại nền kinh tế sau 2 năm đóng bởi dịch bệnh. Bên cạnh đó,Việt Nam thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài từ các nước phát triển mạnh chẳng hạnnhư Đan Mạch là đầu tư lớn nhất với 1,32 tỷ USD, chiếm 41,1% tổng vốn đăng ký cấpmới tính đến năm 2022. Qua đó đã cho thấy các nhà đầu tư coi Việt Nam là một điểmđến đầu tư an toàn, đặt niềm tin về môi trường kinh doanh, tiếp tục đầu từ vào Việt Namtrong giai đoạn nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng trở lại trạng thái bình thường mới.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<i>Hình 4: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng đầu năm các năm 2018 – 2022 (TỷUSD)</i>

Mặt khác, Việt Nam là một trong 3 nước nhận vốn FDI nhiều nhất khu vực ASEAN, bêncạnh là Singapore và Indonesia. Ngoài Việt Nam là quốc gia giữ sự ổn định khi có thayđổi nhỏ trong việc thu hút FDI, Brunei và các quốc gia còn lại trong khối CLMV làCampuchia, Lào, Myanmar cũng làm được điều tương tự.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<i>Hình 5: Dịng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ASEAN năm 2019 – 2020(tỷ USD</i>

<b>4.2 Xu hướng đầu tư:</b>

Tính đến gần cuối năm 2021, các nhà đầu tư nước ngồi đã rót vốn vào 18/21 ngành vàlĩnh vực trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó ngành công nghiệp và chếbiến dẫn đầu chiếm tỷ trọng cao nhất. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là một quốc gia nổibật và dần chuyển mình trở thành một trong những trung tâm sản xuất quan trọng hiệnnay. Các cơng ty nước ngồi có sức ảnh hưởng khơng nhỏ trong việc xuất khẩu và nhậpkhẩu của Việt Nam. Cụ thể, khu vực FDI chiếm 72% tổng kim ngạch xuất khẩu và 63%tổng kim ngạch nhập khẩu. Một đại diện cho việc FDI ảnh hưởng lớn đến xuất nhập khẩutại Việt Nam là Samsung. Samsung là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhấttại Việt Nam với số vốn đầu tư luỹ kế hơn 18 tỷ USD trong suốt nhiều năm qua và sởhữu nhiều 8 nhà máy và một trung tâm R &D tại Việt Nam. Sự thành công của Samsungđã thúc đẩy những hãng công nghệ khổng lồ khác như Apple, LG,... chuyển chuỗi cungứng họ đế Việt Nam. Xu hướng càng phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn hiện naykhi có sự xung đột căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc; nhờ vậy mà sản lượng xuất khẩucủa Việt Nam không chỉ nâng cao mà dòng vốn FDI cũng gia tăng. Điều này mang ýnghĩa rất tích cực đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn nhưngsẽ là một thách thức nếu như nước ta muốn phát triển kinh tế bền vững trong dài hạn.

<b>4.3 Cơ hội và thách thức:</b>

Tính đến thời điểm hiện tại, dịng vốn FDI vẫn đang tăng trưởng mạnh dù cho sự bấtđịnh toàn cầu gia tăng trong đó vốn thực hiện các dự án đã tăng 7,1% so cùng kỳ năm2021. Điều này càng chứng tỏ Việt Nam là một trong những điểm đầu tư có nhiều tiềmnăng kinh tế và được các nhà đầu tư tin tưởng. Mặt khác, Việt Nam đã tự tạo cho mìnhmột vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu; Việt Nam cũng sở hữu những chỉ số kinh tế

</div>

×