Tải bản đầy đủ (.pdf) (21 trang)

bài tập nhóm đề bài thị trường tài nguyên nước khoáng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.67 MB, 21 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN</b>

<b>BÀI TẬP NHĨM</b>

<b>MƠN: Kinh tế tài ngun khống sản</b>

<b>Đề bài: Thị trường tài nguyên nước khoáng</b>

Lớp học phần: TNTN1146(123)Giảng viên: PGS.TS Vũ Thị Minh

<i>Họ và tên</i>

Trương Công Thành

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

m) Các mỏ nước khoáng lớn ở Việt Nam4. Thị trường nước khống đóng chai

a) Giá nước đóng chai

b) Quy mơ thị trường trong nướcc) Xuất khẩu nước khống đóng chai5. Thị trường nước khống

a) Giá các sản phẩm nước khốngb) Quy mơ thị trường

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

c) Xu hướng tăng trưởng

6. Nguyên tắc 3R và thúc đẩy sử dụng nước khoáng và các sản phẩm liên quan đến nước khoáng.

a) Nguyên tắc 3R cho nước khoáng.

b) Thúc đẩy thị trường nước khoáng và các sản phẩm liên quan trong nước phát triển

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>1. Tổng quát về nước khoáng</b>

<b>a) Khái niệm</b>

Theo từ điển Bách Khoa tồn thư Wikipedia, Nước khống là nước lấy từ nguồn suối khoáng và trong thành phần của nước khoáng bao gồm nhiều hợp chất như muối khoáng hay hợp chất lưu huỳnh.

Nước khoáng theo định nghĩa của "Luật khoáng sản" là " Nước thiên nhiên dưới đất, có nơi lộ ra trên mặt đất, có chứa một số hợp chất có hoạt tính sinh học với nồng độ cao theo quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo tiêu chuẩn nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho phép áp dụng".

Theo các định nghĩa nước khoáng khác, nước khống là nước có chứa các khống chất, vi lượng và các thành phần dinh dưỡng khác có lợi cho sức khỏe. Nước khoáng được chiết xuất từ các nguồn nước tự nhiên, thường là từ các vùng núi, với mức độ khoáng chất khác nhau. Các thành phần khoáng chất trong nước khoáng thường bao gồm các ion như canxi, magie, kali, natri, clorua, bicarbonat và sulfur. Ranh giới giữa nước ngọt và nước khoáng thường được xem là tổng độ khống hóa lg/1.

Nước khống bao gồm hai loại chính: Nước khống tự nhiên và nước khống nhân tạo.

Nước khoáng thiên nhiên: Là nguồn nước chảy qua các tầng địa chất trong nhiều năm, vô cùng trong lành và giàu khoáng chất tự nhiên như: Magie Sunfat, Kali, Canxi Cacbonat, Natri Sunfat,…

Nước khoáng nhân tạo: là nguồn nước khoáng được tạo bởi các thiết bị tạo nước khoáng chuyên biệt nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người.

<b>b) Quy định về tiêu chuẩn nước khống</b>

Để được cơng nhận là "nước khống", một nguồn nước phải đáp ứng những tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc tiêu chuẩn quốc tế được Nhà nước Việt Nam cho phép áp dụng. Đối với nước khống đóng chai để giải khát. Tính đến nay đã có 3 văn bản pháp quy được ban hành. Đó là:

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

2) Quy định tạm thời về quản lý chất lượng nước khoáng thiên nhiên đóng chai và nước đóng chai do Bộ KHCNMT (nay là Bộ KH và CN) ban hành kèm theo Quyết định số 1626/1997;

1996 (văn bản sau thay thế văn bản trước). Ngồi ra cịn có các tiêu chuẩn quốc tế được phép áp dụng là: Tiêu chuẩn 80/777 EEC của Liên minh Châu

1981 (sửa đổi năm 1995 và 1991) do Hội đồng Codex thực phẩm của FAO và WHO ban hàn

Các văn bản trên đều có nội dung gần như nhau và thực chất chỉ là những tiêu chuẩn "an toàn vệ sinh" đối với nước uống đóng chai, khơng địi hỏi nước khống phải chứa những yếu tố đặc biệt nào có tác dụng chữa bệnh hay có lợi cho sức khỏe theo đúng định nghĩa. Điều đó gây ra sự nhầm lẫn giữa nước khoáng và nước uống tinh khiết, dẫn tới tệ nạn sản xuất, bn bán "nước khống giả", "nước khống nhái" tràn lan trên thị trường. Đối với nước khoáng chữa bệnh (và có lợi cho sức khỏe). Cho đến nay chưa có một tiêu chuẩn chính thức nào mà chi vận dụng các văn liệu của Liên Xô cũ và những khuyến nghị của các nhà ĐCTV Việt Nam để xuất qua một số đề tài nghiên cứu, trong đó mới nhất có bản 'Tiêu chuẩn tạm thời" do Văn phịng Hội đồng đánh giá trữ lượng khống sản soạn thảo năm 2000 [Bảng 1] để làm cơ sở xét duyệt các báo cáo thăm dị nước khống (văn bản áp dụng nội bộ chưa ban hành).

<b>Bảng 1. Tiêu chuẩn tạm thời về nước khoáng chữa bệnh Việt Nam </b>

(Áp dụng tại Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản).Thứ

Nước chỉ có độ thành bởi hàm lượng khơng có một yếu tố đặc hiệu nào khác

thời một số yếu tố đặc hiệu đạt tiêu chuẩn nước khống thì gọi

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

tên theo tất cả các yếu tố cỏ mặt, ví dụ: nước fluor, nước khoáng Nước khoáng silic

Nước khoáng fluorNước khoáng asen Nước khoáng bromNước khoáng iod Nước khoáng radon Nước khoáng radi

Nước chỉ có nhiệt độ khơng có một yếu tố đặc hiệu nào khác

<b>2. Lợi ích của nước khoáng</b>

<b>Cung cấp khoáng chất: Nước khoáng chứa các khoáng chất quan trọng như </b>

canxi, magie, kali, natri, sắt và nhiều loại vi lượng khác. Những khoáng chất này

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

là cơ bản cho hoạt động cơ thể, tham gia vào quá trình chuyển hóa, cân bằng điện giải và duy trì sự hoạt động của các cơ, xương, tim, não, và hệ thống thần kinh.

<b>Hỗ trợ tiêu hóa: Nước khống có thể giúp cân bằng hệ tiêu hóa và tăng cường </b>

q trình tiêu hóa thức ăn. Các khống chất và vi lượng có trong nước khống có thể cải thiện chức năng của dạ dày, tăng cường hấp thụ chất dinh dưỡng và

<b>Có thể giúp hạ huyết áp: Nước khống là nguồn cung cấp canxi và magiê tốt. </b>

Vì vậy, nó được cho là có lợi cho những người có vấn đề về huyết áp. Sự thiếu hụt magie và canxi có thể góp phần gây tăng huyết áp. Cả hai khống chất này đều tích cực tham gia vào quá trình điện phân của não và cơ thể con người. Sự cân bằng điện phân này rất cần thiết cho việc duy trì huyết áp và lưu thơng. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học Göteborg (Thụy Điển) cho thấy uống nước khống có thể giúp giảm huyết áp ở những người bị huyết áp cao. Một nghiên cứu được thực hiện trên 70 người bị tăng huyết áp biên giới cũng cho thấy uống 1 lít nước khống mỗi ngày làm giảm huyết áp.

<b>Tăng cường sức khỏe xương: Canxi là khoáng chất quan trọng nhất liên quan </b>

đến sự phát triển của xương. Canxi có trong nước khống là nguồn cung cấp canxi quan trọng. Nó củng cố sức khỏe của xương, răng và móng.

<b>Có thể cải thiện sức khỏe tim mạch: Một nghiên cứu được thực hiện trên phụ </b>

nữ sau mãn kinh cho thấy nước khoáng chứa natri bicarbonat ảnh hưởng đến chuyển hóa cholesterol và triacylglycerol sau bữa ăn. Một nghiên cứu khác được thực hiện trên phụ nữ sau mãn kinh cho thấy rằng việc uống nước k

làm giảm tổng lượng cholesterol và LDL cholesterol, giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Nồng độ magie trong nước uống cũng được cho là có liên quan nghịch với tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch vành. Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu dài hạn hơn để hiểu cách uống nước khoáng thúc đẩy sức khỏe của

<b>Hỗ trợ giảm cân: Nước khống có thể xem là một nguồn chất bổ sung “không </b>

chứa chất béo” cần thiết cho cơ thể. Ngồi cơng dụng cung cấp khống chất cần thiết, các vi chất trong nước khống cịn có cơng dụng chuyển hóa và phân hủy

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

chất béo, từ đó giúp kiểm sốt cân nặng hiệu quả, hạn chế tình trạng mỡ thừa gây

<b>Nước khống cho sức khỏe da và mặt: Nước khống có thể là một nguồn các </b>

hạt silica thân thiện với da. Silica rất tốt cho da. Nó kích hoạt việc sản xuất collagen trong da của bạn. Tăng sự hình thành collagen làm giảm nếp nhăn và xỉn màu. Hơn nữa, thiếu hụt silic có thể gây ra tình trạng lão hóa da. Do đó, nước khống có thể là một nguồn tốt cho sức khỏe của da.

<b>Nước khoáng trong sản xuất mỹ phẩm</b>

Một số sản phẩm mỹ phẩm có thể sử dụng nước khống làm thành phần để tăng cường độ ẩm, cân bằng pH hoặc cung cấp các khoáng chất cho da

<b>Sử dụng trong cơng nghiệp thực phẩm và đồ uống</b>

Nước khống có thể được sử dụng làm thành phần trong quá trình sản xuất thực phẩm và đồ uống, như sản xuất bia, rượu, nước giải khát, nước trái cây, các loại đồ ăn đóng hộp, và sản phẩm khác.

<b>Sử dụng trong spa và thể hình</b>

Nước khống có thể được sử dụng để tắm khoáng hoặc thể trị trong các trung tâm y tế và spa. Việc ngâm mình trong nước khống có thể có lợi cho da, giảm căng thẳng và căng cơ, giảm đau và tăng cường tinh thần được sử dụng trong các liệu pháp spa, tắm khống, và các quy trình chăm sóc cá nhân. Ngồi ra, nước khoáng cũng thường được sử dụng để làm đẹp và tái tạo cơ thể sau khi tập luyện thể hình.

<b>Du lịch và nghỉ dưỡng</b>

Các vùng có mỏ nước khống tự nhiên thường thu hút du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng và tận hưởng lợi ích của nước khống. Những điểm đến này thường có khơng gian xanh, cảnh quan tuyệt đẹp và các hoạt động liên quan đến sức khỏe và thư

<b>Khai thác năng lượng địa nhiệt</b>

Sự phong phú các nguồn nước nóng với nhiều cấp nhiệt độ cho phép khai thác năng lượng địa nhiệt phục vụ các mục đích khác nhau với nhiệt độ thấp thì để tắm về mùa rét, ấp trứng, ngâm giống, nuôi trồng thủy sản; với nhiệt độ trung bình thì để sưởi ấm, sấy nơng hải sản...; với nhiệt độ cao thì để phát điện.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>b) Hiện trạng và triển vọng sử dụng tài nguyên nước khoáng nước nóng ở Việt Nam</b>

Với sự phong phú về số lượng, đa dạng về kiểu loại như vậy, tài nguyên nước khống và nước nóng có triển vọng sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.

+ Chữa bệnh bằng thủy liệu pháp tại các cơ sở điều dưỡng. Hiện tại trên tồn quốc có 5 cơ sở điều dưỡng chính quy, tuy còn nhỏ bé nhưng hoạt động khá hiệu quả như: Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Quang Hanh (Quảng Ninh), Tiên Lãng (Hải Phịng), Mỹ An (Thừa uế), Hội Vân (Bình Định). Ngồi ra cịn có nhiều cơ sở tự phát của tư nhân hoạt động khơng có sự kiểm sốt của ngành y tế.

+ Du lịch kết hợp chữa bệnh bằng nước khống nước nóng, tại những trung tâm nghỉ dưỡng, thể thao, giải trí. Hiện có khoảng 20 cơ sở đang hoạt động, hấp dẫn là các khu du lịch suối khoáng Tản Đà (Hà Nội), Uva (Điện Biên), Cẩm Phả (Quảng Ninh), Kênh Bình), Thanh Tân (Thừa Thiên Huế), Tháp Bà (Nha Trang), Bình Châu (Bà Rịa Vũng Tàu).

+ Đóng chai làm nước giải khát. Hiện có trên 20 xí nghiệp đóng chai nước khống với tổng cơng suất thiết kế khoảng 300 triệu lít/năm , trong đó có những thương hiệu nổi tiếng như Vĩnh Hảo (Bình Thuận), LaVie (Long An), Đảnh Thạnh (Khánh Hịa), Thạch uảng Ngãi), Kim Bơi (Hịa Bình), Vital, Tiền Hải (Thái Bình), Quang Hanh (Quảng Ninh). Mỗi xí nghiệp sản xuất 5 +10 triệu lít/năm .

+ Tách khí CO2 từ nước khống. Việc này đã được một công ty tư nhân thực hiện từ năm 1986 tại nguồn nước khoáng carbonic Đăk mil tỉnh Đắk Nơng

+ Ni tảo Spirulina platensis bằng nguồn nước khống Vĩnh Hảo (Bình Thuận) được xí nghiệp bắt đầu từ năm 1980 với sản lượng 2,3 tấn/năm (sản phẩm khô) dùng để chế biến dược phẩm và thực phẩm chức năng giàu chất dinh dưỡng.

+ Khai thác năng lượng từ nước khống nóng. Nước khống nóng ngồi tác dụng chữa bệnh, du lịch ... còn được xem là một dạng năng lượng tái tạo (địa nhiệt ) , bắt đầu được nghiên cứu thí nghiệm vào mục đích sấy khơ nông sản, dược liệu ... tại các nguồn Mỹ âm (Tuyên Quang), Hội Vân (Bình Định) từ năm 1985. Dựa trên kết quả đó, từ năm 1987 Sở Y tế Bình Định đã xây dựng một cơ sở sản xuất muối tinh bằng phương pháp

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

cho bốc hơi dung dịch muối bằng năng lượng địa nhiệt khai thác từ nguồn nước nóng Hội Vân (Bình Định). Muối được trộn iod dùng để phòng chống bướu cổ.

<b>3. Các nguồn nước khoáng đã được phát hiện nghiên cứu ở Việt </b>

<b>a) Nước khoáng carbonic </b>

Theo số liệu thống kê đến năm 2010, trong toàn lãnh thố Việt Nam đã phát hiện được 18 nguồn nước khoáng carbonic phân bố chủ yếu trên một vùng rộng lớn từ Bình Thuận đến Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Lâm Đồng, Đắk Nông. Hàm lượng COthường gặp là 800 1.200mg/l, một số nguồn đạt đến 2.000 2.200mg/l. Các nguồn nước khoáng carbonic thường xuất lộ theo những đứt gãy kiến tạo trong các thể magma ở những vùng hoạt động núi lửa trẻ. Tại đó khí CO hình thành do quá trình biến chất nhiệt được đưa vào nước, tạo nên loại nước khoáng giàu CO . Đó chính là ngun nhân của sự phân bố rộng rãi loại nước khoáng này ở vùng cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên là phần lãnh thổ đã trải qua các hoạt động magma mãnh liệt trong M mesozoi và Kainozoi sớm, được các nhà ĐCTV khoanh thành "tinh nước khoáng carbonic" rất đặc trưng với những nguồn tiêu biểu như (con số chỉ hàm lượng CO mg/1): Vĩnh Hảo 800, Châu Cát (Bình Thuận) 1.100, Suối Nghệ (Bà Rịa Vũng Tàu) 1.000; Suối Nho (Đồng Nai) 500; Phú Hội (Lâm Đồng) 500; ĐaKmol (Đắk

có một số nguồn riêng lẻ gặp rải rác ở Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ như: Triệu Đại (Quảng

<b>b) Nước khoáng silic </b>

Thuộc loại này đã phát hiện được 100 nguồn, phần lớn phân bố tử Hà Tĩnh đến Nam Trung Bộ và Đơng Nam Bộ (60 nguồn). Số cịn lại nằm rải rác ở những nơi khác.

cá biệt có nguồn tới 120 140mg/l và hơn nữa. Có thể kể một SỐ nguồn tiêu biểu như

Trị) 144; Quế Phong (Quảng Nam) 126; Tú Sơn (Quảng Ngãi) 142; Rang Rịa

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

124; Hội Vân (Bình Định) 136; Đa Kai (Bình Thuận)

(Bà Rịa Vũng Tàu) 146... Tương tự nước khoáng carbonic, các nguồn nước khoáng silic xuất lộ chủ yếu ở miền núi uốn nếp, nơi phân bố rộng rãi các đá magma xâm nhập ng điều kiện nhiệt độ cao, quá trình phân hủy alumosilicat từ các đá vây quanh diễn ra mạnh mẽ, kết quả là nước được làm giàu các hợp chất silic. Chính vì vậy, các nguồn nước khống silic thường có nhiệt độ cao và hàm lượng silic trong nước có xu hướng tăng theo nhiệt độ.

<b>c) Nước khoáng sulfur</b>

Các nguồn nước khoáng sulfur hydro phân bố chủ yếu ở miền Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ. Hiện nay đã đăng ký được 11 nguồn, tiêu biểu là các nguồn (con số chỉ hàm lượng H S + HS , mg/1): Bản Trang (Lai Châu) 12; Mỹ Lâm (Tuyên 24; Mỹ An (Thừa Thiên Huế) 64; Quế Lộc (Quảng Nam ) 14; Hội Vân

thành bằng những con đường khác nhau, chủ yếu là do sự biến đổi các khoáng vật sulfur trong những thế magma ở miền núi uốn nếp và phân hủy vật chất hữu cơ hoặc khử sunfat ở những miền võng tích tụ các trầm tích lục nguyên carbonat. Nước khống

hydro có nhiệt độ cao.

<b>d) Nước khống fluor</b>

Loại nước khoáng fluor phân bố rộng rãi ở Trung và Nam Trung Bộ, có hàm lượng F trong nước từ 2 đến 7 mg/l, một số nguồn đạt đến 10 12mg/l và hơn nữa. Có 52 nguồn được xếp vào loại này. Chủng phân bố chủ yếu ở các tỉnh thuộc Nam Trung Bộ, một số ít xuất lộ rải rác ở những nơi khác. Ở nhiều ngu ổn fluor có mặt đồng thời với silic nên thường được định danh là nước khoáng silic fluor. Một số nguồn tiêu biểu là (con số chi hàm lượng F*, mg/1): Mỹ Lâm (Tuyên Quang) 8.2; Ban (Quảng Bình) 4,3; Hướng Hóa (Quảng Trị) 4,7; Thanh Tân (Thừa Thiên Huế) 12,7; Phúc Thọ (Quảng Nam) 14,4; Nghĩa Thuận (Quảng Ngãi) 8,5; Hội Vân (Bình Định)

khoáng fluor song cũng cần được chú ý nghiên cứu vì đó là hàm lượng thích hợp cho

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

nước khống đóng chai làm nước giải khát, có tác dụng phịng ngừa bệnh sâu răng, lỗng xương.

<b>đ) Nước khống sắt</b>

Loại nước ngầm chứa nhiều sắt tồn tại phổ biến trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ Tứ, Neogen ở các đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và rải rác ở nhiều nơi khác với tổng hàm

phẩm rửa lũa những khoáng vật sulfur phân tán trong đá chứa hoặc là biểu hiện ô nhiễm ngoại sinh. Sắt ở đây tồn tại chủ yếu dưới dạng oxit Fe* khơng có lợi cho cơ thể (dạ dày không hấp thụ được) và không đáp ứng u cầu cảm quan đối với nước khống đóng chai để uống. Vì vậy tên gọi "nước khống sắt" chi dành cho những nguồn nước ngầm được hình thành liên quan tới các mỏ hoặc tụ khoáng sắt hay sulfur đa kim nguồn gốc nội sinh với hợp phần sắt trong nước chủ yếu là sulfate và chloride Fe^ (cơ thể dễ hấp thụ nên có tác dụng chữa bệnh thiếu máu do thiếu sắt). Đáp ứng điều kiện này, đến nay mới phát hiện được 3 nguồn có thể xếp vào nước khoáng sắt xuất hiện trong giếng khoan ở vùng núi Khánh Hịa, đó là nguồn Giang Ly (LK1, huyện Khánh Vinh) có (Fe

/1; nguồn Sơn Bình (LK3, huyện Khánh San)

giếng khoan phát hiện nước giàu sắt ở Bắc Giang nhưng chưa được kiểm tra.

<b>e) Nước khoáng brom</b>

Hiện đã phát hiện được 33 nguồn nước khoáng brom, phần lớn ở đồng bằng Bắc Bộ, chủ yếu bởi các lỗ khoan sâu tìm kiếm dầu khí trong trầm tích Neogen. Ngồi ra cũng gặp một số nguồn nằm rải rác ở các nơi khác. Một số nguồn tiêu biểu như (con số chi hàm lượng Br, mg/1): Quang Hanh (Quảng Ninh) 53,18; Tam Hợp (Quảng Ninh) 49,7; Tiên Lãng (Hải Phòng) 14,63; Bắc Sơn (Thái Bình)

chứa nước khống brom (cả iod, bor) liên quan với dầu khí, do vậy phần lớn các lỗ khoan sâu sẽ gặp nước khống có hàm lượng Br lớn.

</div>

×