Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (78.43 MB, 291 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI</small>
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tơi dưới sự hướng dan của
<small>GS. TSKH. Nguyễn Nghĩa Thìn. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thựcvà chưa từng được ai cơng bố trong bat kỳ cơng trình nào. Các hình và ảnh sử dung</small>
<small>trong cơng trình là của tác giả.</small>
<small>Tác giả luận án</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">LỜI CÁM ƠN
Luận án được hoàn thành là kết quả của sự nỗ lực học tập của bản thân, cùngvới sự giúp đỡ vô cùng to lớn, hiệu quả của Quý thầy cô giáo tại bộ môn Thực vật,
<small>Bảo tàng thực vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học</small>
Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là GS. TSKH. NGƯT Nguyễn Nghĩa Thìn, người hướng
<small>dẫn khoa học cho tơi trong q trình thực hiện luận án. Qua đây, xin được gửi tới</small>
thầy lời tri ân và lòng biết ơn sâu sắc nhất. Xin trân trọng cám ơn sự tận tình và chuđáo của Q thầy cơ ở Bộ môn Thực vật và Khoa Sinh học.
<small>Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh dao Phong Dia lý sinh vật, Ban lãnh đạo Viện</small>
<small>Dia lý, Chi ủy Viện Dia lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo</small>
<small>điều kiện tốt nhất dé tơi có thé hồn thành chương trình dao tạo tiến sĩ nay.</small>
Xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ của cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh HàGiang, cán bộ các khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Du Già, Bắc Mê, Tây CơnLĩnh, Phong Quang và Khu bảo tồn lồi và sinh cảnh Vọc mũi hếch Khau Ca đã hỗ
<small>trợ, cung cấp tư liệu trong quá trình thực địa và xây dựng cơ sở đữ liệu của luận án.</small>
Xin trân trọng cảm ơn tổ chức Fauna and Flora International trong chương
<small>trình bảo tồn Voọc mũi hếch Khau Ca đã tài trợ cho chúng tôi các nghiên cứu thực</small>
<small>địa tại Khau Ca, Ha Giang.</small>
<small>Xin được cam ơn các chuyên gia về thực vật, về sinh thái học thực vật, sinh</small>
khí hậu, thổ nhưỡng, dia mạo ở Viện Dia lý, Viện Sinh thái va Tai nguyên Sinh vật,
<small>Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ ViệtNam những người đã luôn chia sẻ, giúp đỡ tôi trong chuyên môn.</small>
<small>Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp tai Dai hoc Manitoba, Bảo tang tựnhiên Ottawa, Canada đã hỗ trợ chúng tôi trong các khảo sát thực địa tại các địa</small>
<small>phương thuộc tinh Hà Giang trong chương trình Evolutionary hotspot for a </small>
<small>hyper-diversity flowering plant clade, dự án do National Geographic Society Research andExploration tai tro.</small>
<small>Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, đã</small>
động viên, chia sẻ, giúp đỡ tơi cả về tinh than và vật chat dé tôi yên tâm hồn thành
<small>luận án.</small>
Một lần nữa tơi xin trân trọng cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
<small>Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2015</small>
<small>Tác giả luận án</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><small>MỤC LỤC</small>
MO ĐẦU...- 5. 5c S212 1211211 1111211111 11 11 1 1 1111 1 1 11111 tre 5Chương 1. TONG QUAN...- 5: 25c S<2EE9EEEEEEE1211211211011271111111211211711 1111110. §1.1. SƠ LƯỢC NHỮNG NGHIÊN CUU VE THỰC VAT TREN THẺ GIỚI ... 8
<small>1.1.1. Nghiên cứu hệ thực vat trên thé gØlỚI...- -- c2 3 1311335212 rre 8</small>
<small>1.1.2. Nghiên cứu thảm thực vật trên thế giới...-- 2-2 s+xecE2Ec2EzEeExerxerxee 12</small>
1.2. SƠ LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU THỰC VAT Ở VIET NAM... 15
<small>1.2.1. Nghiên cứu hệ thực vật ở Việt Nam...- -- 5S. S2. SS set 15</small>
1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC VAT Ở HÀ GIANG...-- 2 sccxerxez 271.3.1. Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Hà Giang...---- 5c c+s2EzEcrxerxez 271.3.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Hà Giang ...- 2: 2-52 5szcse2 291.3.3. Nghiên cứu về giá trị sử dung và tài nguyên thực vật ở Hà Giang... 301.3. DIEU KIEN TỰ NHIÊN TINH HA GIANG ...-¿- 2c 5c c+c2EzErrxerxee 30
1.4. HOÀN CANH XÃ HỘI TINH HÀ GIANG ...-¿-5:5c+c+cvEzErxrrxerxsrez 38
<small>1.4.1. Các đơn vi hành chính... --- -- c E22 1112221111233 11 93 11 18311119111 8 1k ng ve 38</small>
<small>1.4.2. Dân số, dân tộc, TIBÔN TIBỮ... Án H*nvS TH S1 H111 9111111 111g TH HH Hy 381.4.3. Kinh tẾ-xã hộii...-.- - 5+ kề E11111E11112111111112111111111111111 1111.1111 cte. 39</small>
1.4.4. Y tế, giáo dục và đời sống...--- s2 ctE1221221121121121111211 21121 1E cxe 4
<small>1.4.5. Lich Sty, Van na nan... 44</small>
Chương 2. MỤC TIEU, ĐỐI TƯỢNG, NOI DUNG VA PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU...- 2-52 S%+ES‡EEEEE2E1211211211E111111111111111111 1111111111011 1e 462.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU...-- + + S+E22EE2EE2EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEErkerkerkee 462.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CUU ... ¿2c 2+SE£+EE£EEE2EE2EEEEEEEEE2EXE7E2ELerErri 462.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...- 52-5 EEEEEE2EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEErErrkerrerrsex 462.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU... -- 252 2+E£E2EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEkrrkerkee 472.4.1. Phương pháp hồi cứu ...--- 2-52 2 SE 2 22EE211221E71271 1117112112117 rxe 47
<small>2.4.2. Phương pháp khảo sát thực dia ...-- -- -- s2 + SxnnshnHngHngnHnHrnưep 47</small>
<small>2.4.3. Phương pháp phân tích mẫu trong phịng thí nghiệm ...-- -- 48</small>
<small>2.4.4. Phương pháp xây dựng danh lục thực vật...- ---- + ssetseeieiree 492.4.5. Phuong phap danh 0: 1n... ... 49</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Chương 3. KET QUA NGHIÊN CUU VÀ THẢO LUẬN ...---¿-: 523.1. ĐA DANG HỆ THỰC VAT HÀ GIANG...- 2: c seteEE‡Et2E2E2Exerxrrkx 52
<small>3.1.1. Danh lục thực vật tỉnh Hà Giang...-- ¿2 2c 3221122211111 Exeerervee 523.1.2. Da dang phân loại hệ thực vật tỉnh Hà Giang... -. 5 5-55 ‡+s++sxssss+ 52</small>
3.1.3. Đa dạng các yếu tố địa lý thực vật... .. --- S- 2S. *2t +. HH ru 57
<small>3.1.4. Phố dạng sống hệ thực vật Hà Giang...- --- ceceeeceeeeeeeeeeeeseeseenseeneeaes 60</small>
<small>3.1.5. Giá tri sử dụng của hệ thực vật Hà Giang... -- ---- -- + + + ++x+skxsessersrrs 62</small>
3.1.6. Giá trị bảo tổn của hệ thực vật Hà Giang...- --- - ---+-++ + s+scsserseessererers 663.2 DA DANG THAM THUC VAT VA THANH LAP BAN DO THAM THUC
VAT TINH HA GIANG...- 2-52 1E EEEEEEEE11111121121121111111111121111011 11 e0 74
<small>3.2.1. Hệ thống các đơn vị thảm thực vật tỉnh Hà Giang...---- 5-5 5z cs5sz 743.2.2. Tham thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu 4m ẩm trên dat địa đới .77</small>
3.2.3. Tham thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu 4m ướt trên dat địa đới 813.2.4. Thảm thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu ấm âm trên đá vơi... 853.2.5. Thảm thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu ấm ướt trên đá vơi ... 893.2.6. Thảm thực vật tự nhiên á nhiệt đới trong sinh khí hậu mát âm trên đất địa
<small>3.2.11. Thảm thực vat nhân tạO...- -- - ¿2 2221111223111 12311111831 1118111198 11 ng ra 109</small>
<small>3.2.12. Thảm thực vật thủy sinh... --- c c +2 32113 1121351151111 1111111 1 errke 114</small>
<small>3.2.13. Bản đồ thảm thực vật tỉnh Hà Giang...-- 2-2 25S+£Ec£E£E2EzzExrrxerxee 114</small>
3.3 THẢO LUẬN THAM VAN CHO CÔNG TÁC QUY HOẠCH, PHAT
TRIEN BEN VUNG TREN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THUC VAT...119
<small>3.3.1. Két quả phân tích SWOT đơi với cơng tác quản lý tai nguyên thực vật</small>
<small>nhằm phục vụ phát triển bền vững của tỉnh Hà Giang...-- 2-2 + s2 s2 1193.3.2. Tham van định hướng quản ly và sử dung nguồn tài nguyên thực vat... 1233.3.3. Tham vấn định hướng quản lý và sử dụng thảm thực vật... -.-- 126</small>
KET LUẬN... 2-56 sEềEkEEEETEEE11111211211 1111 1111.1111111 0111111111111 ru 133DANH MỤC CƠNG TRÌNH CONG BO CUA TÁC GIA LIÊN QUAN DEN
LUẬN ÁN... St 2 TT HH1 11 1 1 1111 111gr yeu 134TÀI LIEU THAM KHẢO...- 5. 6S S<2EEEEEEEE1111211211711211 1111111111111 1x 135PHAN PHU LỤC...- 5: 6- s SE E2E121121111211111111211211 1121111 111111101111 ray 0
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">CÁC TU VIET TAT VÀ KÝ HIEU TRONG LUẬN ÁN
<small>CITES Convention of International Trade of Endangered species (Công ước vé</small>
bn bán quốc tế các lồi động vật, thực vật hoang dã nguy cấp)
<small>CR Loài rất nguy cấp (Critical Endangered species)cs cộng sự</small>
<small>DD Loài thiêu dân liệu (Data deficient)</small>
<small>DDSH đa dạng sinh học</small>
ĐHQGHN _ Đại học Quốc gia Hà Nội
<small>EN Loài nguy cấp (Endangered species)</small>
<small>EW Loài bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (Extinction in the wild)HTV hệ thực vật</small>
<small>TA. Loài bị cắm khai thác, buôn ban theo nghị định 32/2006/NĐ-CP</small>
<small>HA. Lồi bị hạn chế khai thác, bn bán theo nghị định 32/2006/NĐ-CP</small>
IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (International Union for the
<small>Conservation of Nature and Nature Resources)</small>
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
<small>KTC Khai thác chọnKTK Khai thác kiệt</small>
<small>LC Loai it quan tam (Last concern)</small>
<small>LR Loai it nguy cap (Low Risk species)</small>
<small>M&KTC Manh va khai thac chon</small>
<small>M&SNR-CT Mạnh và Sau nương rẫy-chăn thả</small>
<small>ND Nghị định</small>
NN-PTNT Nông nghiệp& Phát triển Nơng thơn
<small>NT Lồi gần nguy cấp (Near Threatened)</small>
VQG Vườn Quốc gia
VU Loài sẽ nguy cấp (Vulnerable species)
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><small>DANH MỤC CAC BANG</small>
<small>Tên bảng Trang</small>
<small>Bảng 1. 1 Số liệu sinh khí hậu ghi nhận tại các trạm quan trắc ở Ha Giang... 34Bảng 1. 2 Thống kê các yếu tố khí hậu ở Hà Giang...---2- 5+ ©2++csz+zxccse2 35Bảng 1. 3 Các chế độ khí hậu ghi nhận tại Hà Giang theo khu vực...- 36</small>
Bang 1. 4 Thống kê trồng trọt tinh Hà Giang năm 201 1...- 2-2 sz+c+z+5+¿ 4I
<small>Bảng 3. 1 Sự phân bố các taxon trong các ngành của hệ thực vật Hà Giang... 53</small>
<small>Bang 3. 2 Ti trong của hệ thực vật Ha Giang so với hệ thực vật Việt Nam... 33</small>
Bảng 3. 3 Các chỉ số đa dạng ở các cấp độ của các ngành và cả HTV... 54
<small>Bảng 3. 4 Tỉ lệ của hai lớp trong ngành Mộc lan... ¿c5 s2 xsvrxsersseres 55</small>
Bang 3. 5 Các họ da dạng nhất của hệ thực vật Hà Giang ...-.cc-ccccscccex 55Bang 3. 6 Cac chi da dang nhất của hệ thực vat Hà Giang ...à cà ccscssssers 56Bang 3. 7 Các yếu té dia lý thực vật của HTV Hà Giang ...-- 2-55 sec: 57Bảng 3. § Phân tích tỉ trọng các yếu tố địa lý thực vật chính hình thành nên hệ thực
<small>vật Hà Giang thơng qua vùng phân bố địa lý của các lồi ...---s¿©cs¿ 59</small>
Bảng 3. 9 Phô dạng sống của hệ thực vật tỉnh Hà Giang ...--- ¿555-5522 61
<small>Bang 3. 10 Giá tri sử dụng cua các loài thực vật ở tỉnh Ha Giang...- 62</small>
Bảng 3. 11. Quan hệ các nhân tố sinh thái và phát sinh TTV ở Hà Giang... 75
<small>Bảng 3. 12. Diện tích các kiểu, kiểu phụ thảm thực vật theo quan điểm sinh thái</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Hà Giang năm ở cực Bắc của Việt Nam, trên địa hình khá phức tạp, có thé
<small>chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bac nam sat chí tuyến bắc, có độ đốc khá</small>
lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, có đỉnh Tây Cơn Lĩnh (2.419m) vàđỉnh Kiều Liêu Ti (2.402m) là cao nhất. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núithượng nguồn sơng Chay, sườn núi đốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hep. Vùngthấp trong tỉnh gồm vùng đổi núi, thung lũng sông Lô và thành phố Hà Giang. Khí
<small>hậu mang nhiều sắc thái ôn đới, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khơ, có nhiều</small>
<small>khu rừng ngun sinh, 356.926 ha rừng tự nhiên là ngôi nhà cho các động vật quý</small>
cùng nhiều loại cây gỗ, cây dược liệu quý (Cục kiểm lâm, 2014)[199]. Ngồi ra, Hà
<small>Giang cịn có 28 loại khống sản khác nhau, nhiều mỏ có trữ lượng lớn với hàm</small>
lượng khống chất cao (Cơng TTĐT Hà Giang, 2012)[196].
<small>Về mặt kinh tế-xã hội, tăng trưởng GDP đạt tốc độ cao, giai đoạn 2006-2010mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế tinh Hà Giang đã phát triển 6n định</small>
với tốc độ tăng trưởng cao hơn trước, thu hẹp dần khoảng cách so với trung bìnhcủa cả nước. Tuy nhiên với diện tích 7.884,3 km2, mật độ dân số của Hà Giang chỉlà 95 người/km?, Ha Giang van là một tỉnh nghèo của Việt Nam, hiện đang có nhiềuchủ trương, chính sách của Quốc gia va địa phương nhằm thúc day, phát triển kinhtế xã hội, nâng cao đời sống (Công TTĐT Hà Giang, 2012)[196].
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay, cần phải
<small>đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường, cần xây dựng cơ cấu, chiến lược phát</small>
triển kinh tế xã hội gắn kết với an tồn mơi trường, phát triển bền vững. Dé thựchiện được nhiệm vụ chiến lược đó, vấn đề đặt ra là phải xây dựng được mối quan hệ
<small>tong hịa giữa thiên nhiên và mơi trường trên phạm vi toàn khu vực. Trên cơ sở lànhững tiềm lực tự nhiên và xã hội của địa phương, các nhà quản lý, xây dựng chính</small>
<small>hợp nhất.</small>
<small>Trong nghiên cứu về thực vật, nghiên cứu về hệ thực vật giúp chung ta cơ solý luận thực tiễn về tài nguyên thực vật của địa phương còn nghiên cứu tinh đa dang</small>
và sự phân bố của các đơn vị cấu trúc thảm thực vật sẽ giúp chúng ta có được cái
<small>nhìn tơng qt trong cơng tác quy hoạch, định hướng phát triển tài nguyên. Đó là cở</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">sở khoa học xác đáng để các nhà quản lý, hoạch định kinh tế, chính sách sẽ tìm rađược những giải pháp quản lý tài nguyên bền vững và hiệu quả nhất, thơng qua đó
<small>là giải pháp phát triển kinh tế bền vững.</small>
Hà Giang với sự phức tạp, đa dạng về các yếu tố tự nhiên hứa hẹn là một khu
<small>vực mang tính đa dạng sinh học cao. Thêm vào đó khu vực có nét đặc sắc trong vănhóa và kiến thức bản địa nhưng hiện tại mức độ phát triển kinh tế, xã hội chưa cao,</small>
chưa tận dụng hết cơ hội phát triển các nguồn tài nguyên tái tạo, bền vững. Do vậy,
<small>việc phân tích, đánh giá tài nguyên thực vật, thảm thực vật của một khu vực sẽ xác</small>
định được bản chất, tính chất và qua đó dự báo được xu hướng biến đổi của chúngtrong tương lai gần, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý, hiệu quả tàinguyên ngăn ngừa những nguy cơ, tai biến tự nhiên, góp phan phát triển kinh tế, ônđịnh đời sống nhân dân, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật,thảm thực vật tỉnh Hà Giang nhằm góp phần quy hoạch phát triển bền vững của địaphương”. Kết quả của luận án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
Góp phần khám phá đa dạng thực vật của địa phương.
Bỏ sung cơ sở khoa học về tài nguyên đa dạng thực vật của Việt Nam nói
<small>chung và Hà Giang nói riêng.</small>
Góp phần đánh giá sự phân bố của các quần xã, quần hệ thảm thực vật ở địa
Lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoạch định các chính sách, kế hoạch
<small>phát triển kinh tế-xã hội bền vững cho tỉnh Hà Giang.</small>
<small>Luận án xây dựng được danh lục các loài thực vật có mạch cho tỉnh Hà Giang</small>
gồm 2.890 lồi, trong đó 280 lồi được thu mẫu và 744 lồi được quan sát, bồ sungvùng phân bố là tỉnh Hà Giang cho 331 loài so với Danh lục thực vật Việt Nam
Bỏ sung vùng phân bố Hà Giang cho 88 loài thực vật trong Sách Đỏ Việt Nam
Đánh giá và mơ tả các quan xã thực vat trong sinh khí hau ấm-ướt và mát-ướt
<small>(Kiểu rừng kin thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh</small>
thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh thường xanh
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><small>mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng hỗn giao tre nứa; Kiểu phụ rừng thứ sinh mưa ướt</small>
nhiệt đới tre nứa; Kiểu phụ trang cây bụi, trang cỏ thứ sinh mưa ướt nhiệt đới).
<small>Luận án thành lập bản đồ thảm thực vật trên quan điểm sinh thái phát sinh (tỉ</small>
lệ 1:100.000) có thé ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý, quy hoạch và bảo
<small>tồn tài nguyên thực vat, phát triển kinh tế nông lâm nghiệp của địa phương.</small>
<small>Trên cơ sở nghiên cứu khoa học là tính đa dạng và các đặc trưng của hệ thực</small>
vật, thảm thực vật tại địa phương va sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh
<small>xã hội của tinh, đưa ra những đề xuất góp phan phát triển bền vững của Hà Giang.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>Việc nghiên cứu thực vật học có từ lâu, ngay từ khi con người biết sử dụng</small>
cây cỏ trong cuộc sống. Tuy nhiên chỉ khi tri thức phát triển thì những nghiên cứumới được ghi chép, hệ thống hóa,... Aristotle là người đầu tiên đưa ra hệ thống
<small>phân loại sinh giới, ông đã phân chia sinh vật ra thành thực vật và động vật. Trong</small>
<small>hệ thống của Linnaeus, chúng trở thành các giới Vegetabilia (sau này là Plantae) va</small>
<small>Animalia. Việc phân chia các nhóm thực vật thành các lớp, ngành, liên ngành cũng</small>
khác nhau và tiến bộ theo thời gian. Theophrastus (372-287 trước Công ngun) làngười đầu tiên cơng bố một cơng trình về phân loại học thực vật với hơn 500 loài
<small>trong Historia Plantarum, trong đó đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của các loài</small>
cây (History of Plant Systematic, 2014)[200]. Thế ky 16 Otto Brunfels, Hieronymus
<small>Bock va Leonhart Fuch đã giúp cho việc mơ tả các lồi tăng lên nhanh chóng bangviệc khám phá và ghi chép về những lồi mới của họ mặc du họ tập trung nhiều vào</small>
việc mô tả tác dụng làm thuốc của cây cỏ (History of Plant Systematic, 2014)[200].Sau này, Caspar Bauhin và Andrea Cesalpino là những người phát triển tiếp, cụ thể,Bauhin đã mô tả được hơn 6000 loài thực vật ghi trong 12 cuốn sách với 72 phầndựa trên các đặc điểm sắp xếp một cách tự nhiên, phố biến của thực vật (History ofPlant Systematic, 2014)[200]. Thế ký 17, John Ray đã lập được danh sách 18.000loài thực vật đồng thời họ đã phân chia thực vật thành Một lá mầm, Hai lá mầm vàmột số nhóm khác. Joseph Pitton de Tournefort đã xây dựng được hệ thống một
<small>cách chủ quan dựa theo sự phân chia một cách lơ-dích (History of Plant Systematic,</small>
<small>2014)[200]. Hệ thống này được sử dụng cho tới khi có sự ra đời hệ thống Species</small>
Plantarum (1753) của Linnaeus, một hệ thống rất khoa học và hoàn chỉnh cho đếnlúc bấy giờ, đơn vị phân loại cao nhất vẫn được dùng cho đến tận ngày nay đó làChi (Genus) và các đặc điểm của bộ phận sinh sản (đực/cái), bộ phận dinh dưỡng
<small>được quan tâm, sử dụng (History of Plant Systematic, 2014)[200]. Sau Linnaeus, có</small>
<small>một số đóng góp đáng kê của các nhà khoa học bằng việc đưa ra những quan điểm,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>bằng chứng dé làm rõ và hoàn thiện hệ thống như Adanson, Michel (1763) trong</small>
<small>“Familles des plantes” hay de Jussieu, Antoine Laurent (1789) trong “Genera</small>
<small>Plantarum, secundum ordines naturales disposita juxta methodum in Horto Regio</small>
<small>Parisiensi exaratam” hoac de Candolle va cs (1824-1873) trong “The Vegetable</small>
<small>Kingdom” (History of Plant Systematic, 2014)[200].</small>
<small>Đối với ngành, tiến hóa cao nhất là thực vật có hoa, đã có rất nhiều các cơng</small>
trình nghiên cứu, các hệ thống phân loại được đưa ra dé ap dung va dan hoan thién
<small>hơn. Có thể kể đến các cơng trình ban đầu như hệ thống của Cronquist với cơngtrình cuối cùng là “An integrated system of classification of flowering plants”</small>
(Cronquist, 1981)[143], cua A. Takhtajan với xuất bản cuối cùng là “Diversity andclassification of flowering plants” (Takhtajan, 1997)[169], hay Thorne với công bố
<small>"The classification and geography of the flowering plants: dicotyledons of the class</small>
Angiospermae" (Thorne, 2000)[172] va gần đây nhất là những công bố của APG vềdựa trên các kết quả nghiên cứu về di truyền học phân tử và phân tích cau trúc DNA
<small>của các nhóm phân loại (APG 1998-2009) [125-127].</small>
<small>Hiện nay, bên cạnh các cơng trình xuất bản bang sách, đã có các trang thông</small>
tin điện tử xuất bản và cung cấp thông tin một cách chính thức và có độ tin cậy caonhư các tạp chí có mã số và các website của các tơ chức uy tín khác. The
<small>International Plant Index (ipni.org, 2014)[202] và The Plant List (theplantlist.org,</small>
2014)[203] là những website cung cấp tên khoa học cập nhật va chính xác nhấtcũng như lịch sử cơng bố của các lồi dựa trên các bộ mẫu chuẩn, các công bố đãđược cộng đồng quốc tế và các tạp chí khoa học xác nhận. The Plant List cũng kết
<small>nối thường xuyên và cập nhật tới website của Vườn thực vật Hoàng gia Kew</small>
<small>(kew.org, 2014)[205] hay Website của Vườn thực vật Missouri (mobot.org,</small>
2014)[193]. Hệ thống này cung cấp tên khoa học đã được chấp nhận cho các loài
<small>thực vật và cho phép liên kết với các đồng danh khác của tất cả các loài đã biết.</small>
<small>Các nước phương Tây đã thực hiện việc nghiên cứu thực vật ở các vùng miền</small>
từ rất sớm. Trong các thế kỷ trước, các nhà thực vật học châu Âu đã có những
<small>nghiên cứu tiễn hành ở các châu lục, vùng miễn trên thế giới, đó là cơ sở quan trọngcho các nghiên cứu đã trình bày ở trên và hiện nay đối với các quốc gia thuộc châu</small>
<small>hiện. Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phịng mẫu khơ</small>
(herbarium) nồi tiếng thế giới như Kew (Anh quốc), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris
<small>(Pháp), New York (Hoa Ky), Xanh Pê-téc-bua (Nga),... Day là một thuận lợi khixây dựng danh sách loài và đánh giá tính đa dạng thực vật các địa phương.</small>
Đối với các nước khu vực Đơng Nam Á, có nhiều cơng trình của các nhà thực
<small>vật người Pháp thực hiện ở Căm-pu-chia, Lào, Việt Nam hoặc các cơng trình của</small>
các nhà thực vật châu Âu khác tiến hành ở Malaysia, Indonesia, Thai Lan... Trong
<small>những năm gần đây, một số nước được sự hỗ trợ, hợp tác, giúp đỡ bởi các nước</small>
phương tây nên đã xuất bản được các bộ Thực vật chí khá hồn chỉnh như Trung
<small>Hoa, Thái Lan, Indonesia, Malaysia...</small>
Địa lý thực vật là một phần của địa lý sinh vật, chuyên sâu về mặt phân bố của
<small>các loài thực vật theo các sinh cảnh và không gian. Cha đẻ của địa lý thực vật là</small>
<small>Alexander von Humboldt, một nhà tự nhiên học người Phổ, ơng là tác giả của cơng</small>
trình “Essay on the Geography of Plants” xuất bản năm 1807, tái bản năm 2009 bởi
<small>Chicago Press, là người đặt nền móng cho khoa học địa lý thực vật dựa trên cở sở</small>
của việc thu thập các bằng chứng mẫu thực vật. Những nghiên cứu về địa lý thựcvật được thực hiện nhằm giải thích sự thích ứng của lồi với mơi trường sinh tháiđồng thời cũng phác họa sự phân bé địa lý của loài trong các mối quan hệ với môitrường sống (Alexander von Humboldt & Aimé Bonpland, 2009)[124].
<small>Hiện nay, địa lý thực vật bao gồm hai lĩnh vực nghiên cứu, đó là sinh thái và</small>
lịch sử. Về mặt sinh thái học, đó là sự phân bố của các lồi hiện thời trong khi đó,
<small>về mặt lịch sử, nó liên quan đến nguồn gốc phát sinh của các loài. Đối với một khuhệ, việc nghiên cứu địa lý thực vật là tập trung vào lãnh thổ phân bố của các nhóm</small>
<small>lồi (Mark và cs, 2006){ 159].</small>
Thuật ngữ dạng sống thực vật được lần đầu tiên đề cập đến trong
<small>Plantesamfund (tiếng Đan Mạch, năm 1895) bởi Eugen Warming và được dịchthành tiếng Anh năm 1909 với tựa dé Oecology of Plants: An Introduction to the</small>
Study of Plant Communities do Warming va Martin Vahl (1909) bién soan. Ban daucác tac gia phân loại thực vat dựa vào diện mao nhưng không đề cập đến chức năng
<small>của các diện mạo đó. Với sự phản đôi mạnh mẽ của A.P. de Candolle, ông đã xây</small>
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>dựng được hệ thống phân loại dạng sống thực vật dựa vào chiều cao của chéi hóa</small>
gỗ và tuổi thọ của cây. Warming cịn xây dựng phơ dạng sống cho giới thực vật,
<small>ông phân biệt thực vật dị dưỡng và tự dưỡng đồng thời phân biệt được các dạng</small>
nam, địa y, dây leo và các dạng sống trên đất khác bao gồm một lần ra quả hoặc
<small>nhiều lần ra quả (Warming và Martin Vahl, 1909)[177].</small>
<small>Tiếp nối công trình của Warming, Oscar Drude đã phân chia phổ dạng sống</small>
thực vật theo diện mạo và chức năng, ví dụ như cây một lá mam và hai lá mầm
<small>trong công trình “Die Systematische und Geographische Anordnung der</small>
<small>Phanerogamen" (1887) (wikipedia.org)[195]. Hệ thống phân loại dang sống của</small>
Christen Raunkizer (1904) dựa trên dạng sống cơ ban của thực vat đáp ứng lại các
<small>điều kiện bat lợi của môi trường sống. Sau này, hệ thống của Raunkiar còn được</small>
một số tác giả thay đổi đi như G.E. Du Rietz (1931) nhưng bản cuối cùng doRaunkizr biên tập năm 1934 được sử dụng phô biến, rộng rãi cho đến ngày nay
<small>(Raunkizr, 1934)[163].</small>
<small>Raunkier cũng đã tính tốn cho hơn 1000 lồi cây ở các vùng khác nhau trên</small>
<small>thế giới và tìm được tỉ lệ phần trăm bình cách (vai trị ngang nhau) cho từng lồi,</small>
gop lại thành phô dạng sống tiêu chuẩn SN-Phé dạng sống điện hình (NaturalSpectrum) va cơng thức phố dang sơng là SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr+ 13
Th. Đây là cơ sở để so sánh các phố dạng sống của các vùng khác nhau trên trái dat.Thường ở vùng nhiệt đới âm, nhóm cây chéi trên (Ph) chiếm khoảng 80%, nhóm
<small>cây chdi sát đất (Ch) khoảng 20%, những nhóm khác hau như khơng có. Trái lại, ở</small>
các vùng khơ hạn thì nhóm cây một năm (Th) và nhóm cây chỗi ân (Cr) lại có tỉ lệ
<small>khá cao cịn nhóm cây chéi trên (Ph) thì giảm xuống (Raunkiar, 1934)[163].</small>
Những nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật đã có từ lâu đời, song song
<small>với những nghiên cứu về tính đa dạng của thực vật như đã trình bày ở trên. Trong</small>
đó, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào những loài cây có giá trị làm thuốc. Càng
<small>về sau, các giá trị sử dụng khác cảng được đề cập đến nhiều hơn. Hau hết mỗi vùngmiền, mỗi quốc gia trên thế giới đều có những cơng trình nghiên cứu về giá trị sử</small>
dụng của thực vật, bên cạnh đó, cũng có những tập cơng trình chú trọng riêng về giátrị sử dụng của thực vật ở quy mô khu vực. Trên quy mô thế giới, tập “The book ofuseful plants” xuất bản tại New York năm 1913 mô tả về những thực vật hữu dụng
<small>11</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>và pho biến ở nhiều nơi trên thé giới (Julia E.R., 1913)[156]. Ở quy mơ khu vực có</small>
tập “Edible and Useful Wild Plants of the United States and Canada” xuất bản năm
<small>1920 mô tả về các lồi thực vật có giá trị sử dụng ở Hoa Kỳ va Canada bao gồmlàm xà phòng, làm thuốc, thuốc lá, chất dính, sáp nến và chất độc (Charles</small>
F.S.,1934)[140]. Tại Đông Nam A, tập Tài nguyên thực vật Đơng Nam Á-PROSEA(Plants Resources of South East Asia) có thé nói là bộ sách ghi chép, mơ tả day đủnhất về các giá trị sử dụng của thực vật quy mơ khu vực với 20 tập (tính đến thời
<small>điểm 2005), trong đó giá trị sử dụng của thực vật được phân theo nhóm gồm làm</small>
thuốc PROSEA 12(1,2,3); cung cấp gỗ: PROSEA 5(1,2,3); ăn được: PROSEA 1, 2,8, 9, 10, 13, 14; làm cảnh: PROSEA 20; Thực vật có chất kích thích: PROSEA 16,có chất chiết: PROSEA 18, có tinh dầu: PROSEA 19; cung cấp sợi: PROSEA 17,tre nứa: PROSEA 7, mây: PROSEA 6; có chất nhuộm, tannin: PROSEA 3; chăn
<small>nuôi gia súc: PROSEA 4 (proseanet.org, 2014)[201]. Bên cạnh các cơng trình cơng</small>
bố bằng sách, tạp chí, hiện nay có nhiều cơng bố trên các website điện tử cũng có
<small>giá trị tưrơng đương như sách và tạp chí.</small>
Bên cạnh giá trị sử dụng, các giá trị bảo tồn của thực vật cũng được thé gidiquan tâm. Theo đó, Cơng ước về bn bán quốc tế các lồi động vat, thực vat hoangdã nguy cấp (1973) chính thức ra đời năm 1975 (cites.org)[197] đã hạn chế đượcviệc khai thác và xuất khẩu 6 ạt các loài quý hiếm ra nước ngoài, đảm bảo các loài
<small>phải được tồn tại trong mơi trường sống bản địa hoặc thích nghỉ lâu đời của chúng.Hiện nay, IUCN Red list of Threatened Species được coi là cơng bố chuẩn và chungtrên tồn thế giới về tình trang bảo tổn của các lồi (iucnredlist.org, 2014)[203].</small>
Theo Schmitthusen (1959), ở châu Âu có 2 hệ thống phân loại thảm thực vật
<small>được thực hiện chủ yếu bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệthống phân loại các quần thê thực vật được thực hiện bởi những nhà địa thực vật</small>
<small>của Đức (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[1 12].</small>
<small>Ở Phần Lan, Caiande A.K. chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật thảm</small>
tươi. Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">thuộc vào hồn cảnh sinh thái mơi trường mà cịn phụ thuộc vào cả tổ thành lồi câygỗ của lâm phần. Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất
<small>sinh học của mơi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng. Tuy</small>
thế, điều này đã khơng hồn tồn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị
<small>nhưng khơng có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa. Ngoài ra các yếutố bên ngoài như lửa rừng, khai thác cũng ảnh hưởng lên thảm tươi (ghi theo Thái</small>
<small>Văn Trừng, 1978)[112].</small>
<small>Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của</small>
Colleman. Phân loại theo Climax tạo cho quan xã thực vật 6n định trong quá trìnhphát triển lâu đài trên những vùng lãnh thé rộng lớn với đất đai đã được hình thành
<small>từ lâu. Khí hậu là nhân tố dé xác định Climax. Ngoài khái niệm Climax, các nhà</small>
lâm học Hoa Ky còn đưa ra khái niệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực, đa
<small>đỉnh cực (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112].</small>
Ở vùng nhiệt đới, có lẽ Schimper (1903) là người đầu tiên đưa ra hệ thốngphân loại thảm thực vật rừng nhiệt. Trong hệ thống này, Schimper đã phân chia
<small>thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thô nhưỡng và quần hệ vùng núi.</small>
Trong quan hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa,rừng trảng, rừng gai, ngồi ra cịn có thêm 2 kiêu là thảo ngun nhiệt đới và hoangmạc nhiệt đới (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978) [112]. Sau Schimper là các hệ thốngcủa Rubel (1935), Aubréville (1956),... trong đó đáng chú ý nhất là hệ thống của
<small>Aubréville. Trong hệ thống nay, ông đã căn cứ vào độ tán che trên mặt đất của tang</small>
ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa và trảng
<small>truông (Thái Van Trừng, 1978)[112].</small>
<small>Champion (1936) đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt độ: Nhiệt</small>
đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao. Bear (1944) đưa ra hệ thống 3 cấp đó là: Quần
<small>hợp, quan hệ và loạt quan hệ. Fosberg (1958) đề xuất hệ thong phân loại chung cho</small>
thảm thực vật rừng nhiệt đới dựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thé là: Lớp
<small>quan hệ, quan hệ và quan hệ phụ (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112].</small>
Theo Schmithusen (1959), thảm thực vật trái đất được phân thành 9 lớp quần
<small>hệ là: Lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ sa-van và đồng cỏ, lớp</small>
quan hệ đồng cỏ, lớp quan hệ cây bụi nhỏ và nửa cây bụi, lớp quan hệ thực vật sống
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small>một năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quầnhệ thực vật biển (Thái Văn Trừng, 1978) [112].</small>
<small>Gần đây các nhà sinh thái và địa thực vật Đức đã phân chia thảm thực vật ởcạn thành 16 kiểu quần hệ: Rừng mưa nhiệt đới, rừng mưa á nhiệt đới, rừng mưa</small>
<small>lạnh ôn đới, rừng xanh mưa mùa, rừng lá rộng xanh mùa hè, rừng lá kim rộng ôn</small>
<small>đới, kiểu quan hệ cây gỗ có gai, kiêu cây gỗ có lá rộng, kiểu thảo nguyên rừng, kiểu</small>
trảng cỏ nhiệt đới, kiểu thảo ngun ơn đới, kiểu đầm lầy, kiểu hoang mạc nóng và
<small>kiểu hoang mạc khô lạnh (Thái Văn Trừng, 1978) [1 12].</small>
UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trênnguyên tắc ngoại mạo cấu trúc. Khung này là cơ bản để thống nhất các đơn vị thảm
<small>thực vật trên quy mơ tồn cầu và được thé hiện trên bản đồ 1:1.000.000 và nhỏ hon</small>
(phần lớn được trình bày và biên tập cho bản đồ tỉ lệ 1:5.000.000). Trong khungphân loại này, các mối quan hệ sinh thái và sinh thái-xã hội học không được thé
<small>hiện (UNESCO, 1973)[175].</small>
<small>Thảm thực vật có vai trị hết sức quan trọng trong sự sống còn của trái đất.</small>
<small>Trong “Natural Conservation: the role of remnants of native vegetation” (Denis S.,</small>
1993)[146], vai trò của các thảm thực vat ban địa là rất quan trọng trong việc duy trìtrạng thái cân bằng khí quyền có lợi cho sức khỏe con người, điều hịa khơng khí,
<small>bão lũ, thiên tai. Thảm thực vật cịn có vai trị rất quan trọng trong điều phối cân</small>
bằng nước, hạn chế tối đa tác hại của nước mưa đến xói mịn, rửa trơi, vừa giúp duy
<small>trì lượng nước tưới tiêu, sinh hoạt, vừa hạn chế tối đa tác nguyên nhân phát sinh lũ</small>
<small>lụt, hạn han (Nathan, 1990)[161].</small>
Gan đây, có nhiều nghiên cứu về tích tu carbon ở các khu rừng, các quần xã
<small>thực vật. Mỗi một quần xã thực vật, đơn vị thảm thực vật khác nhau có vai trị vàkhả năng tích trữ carbon khác nhau. Đây là những dẫn liệu giúp chúng ta định lượnghóa được vai trị của thảm thực vật trong việc duy trì cân bằng sinh thái từ quy mơ</small>
địa phương, khu vực đến quy mơ tồn cầu.
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>1.2.1. Nghiên cứu hệ thực vật ở Việt Nam</small>
<small>1.1.2.1. Da dạng hệ thực vật</small>
Ở Việt Nam, ngoài các cơng trình mang tính chất cơ bản và cơ điển nhằmthống kê các lồi thực vật như các cơng trình của các nhà thực vật người Pháp
<small>(Loureiro, 1793)[184], (Pierre, 1880)[185], (Lecomte va cs, 1907-1952)[183]. Day</small>
là những cơng trình được đánh giá là nền tang cơ sở cho các nghiên cứu hệ thực vật
<small>Việt Nam. Bên cạnh đó cịn có các bộ sách khác như: “Flore du Cambodge, du Laos</small>
<small>et du Vietnam” do các tác giả thuộc Hội thực vật nhiệt đới biên soạn (Association</small>
de Botanique Tropicale, 1960-2004)[181], đã công bố 32 tập, sau đó bộ sách này
<small>được bổ sung thêm 3 tập do Royal Botanic Gardens Endinburg ấn hành gồm tập 35:</small>
Solanaceae (Sovanmoly Hul & Pauline Dy Phon, 2014)[187] và 2 tập bằng tiếng
<small>Anh: 33: Apocynaceae (David J Middleton, 2014)[144] và tập 34-Polygalaceae(Colin A Pendry, 2014)[142], các tập là những mơ tả của các họ, nhóm họ có quan</small>
hệ gần gũi; bộ Cây có thường thấy ở Việt Nam gồm 6 tập (Lê Khả Kế va cs, 1976)[49], bộ Cay go rung Viét Nam gom 7 tap (Vién diéu tra quy hoạch rừng,
<small>1969-1971-1988)[120]. Trong các tác phâm này, các tác giả đã giới thiệu và mô tả kha chi</small>
tiết các lồi cùng với hình vẽ minh hoạ.
Trong số các tài liệu về thực vật học được sử dụng pho bién tai Viét Nam,dang chú ý nhất là Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ xuất bản tại Montréan
<small>(1991-1993) và được tái bản, có bố sung bởi Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh(Phạm Hồng Hộ, 1999-2000)[43]. Đây là bộ sách được đánh giá là đầy đủ nhất, dễ</small>
sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam.Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê có mơ tả và kèm theo hình vẽ của hơn
<small>11.600 lồi thực vật Việt Nam.</small>
Thập niên 90 của thế ký trước, các nhà thực vật Việt Nam và Liên bang Nga
<small>đã hợp tác nghiên cứu và hệ thống lại hệ thực vật Việt Nam. Các công trình khoahọc này được đăng trong “Kỷ yếu cây có mạch của thực vật Việt Nam” tập 1-2</small>
<small>(1996) và Tạp chí Sinh học số 16+17 (chuyên đề) 1994 và 1995 (ghi theo Nguyễn</small>
<small>Nghĩa Thìn, 2004c)[92].</small>
<small>Gần đây, tập thé các Nhà thực vật học của Việt Nam đã cùng nhau biên soạn</small>
cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam gồm 3 tập (Trung tâm Nghiên cứu Tài
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><small>nguyên và Môi trường, 2001)[111], (Nguyễn Tiến Ban (chủ biên), 2003-2005)[4].</small>
Tuy khơng có phần mơ tả và hình vẽ nhưng đây thực sự là một cơng trình có giá trị
<small>khoa học cao thé hiện tinh đa dạng, phong phú của hệ thực vật Việt Nam với 11.603</small>
<small>Việc ghi nhận sự đa dạng về thành phần loài cho hệ thực vật Việt Nam: Pócs T.khi nghiên cứu về hệ thực vật ở Miền Bắc Việt Nam đã thống kê được ở miền Bắc có</small>
5.196 lồi (Pócs T., 1965)[189]; Phan Kế Lộc và cộng sự đã thống kê lại và có bố
<small>sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ xép theo hệ thốngcủa Engler (Phan Kế Lộc, 1970)[58]; Thái Văn Trừng đã phân tích và cho rằng hệ</small>
thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ trong đó, ngành thực vật hạt kinchiếm ưu thế với 6.366 loài, 1.727 chi và 239 họ (Thái Văn Trừng, 1978)[112]. Năm1997, Nguyễn Nghĩa Thìn đã tổng hợp, chỉnh lý tên các loài thực vật theo hệ thốngBrummitt (1992) và đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chỉ,395 họ thực vật bậc cao (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)[88]; tiếp theo, năm 1998, PhanKế Lộc đã tong kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 lồi cây hoang dai có mạch, 2.010
<small>chỉ, 291 họ, 733 loài cây trồng và nâng tổng số loài của Việt Nam lên 10.361 loài,</small>
2.256 chi, 305 họ (Phan Kế Lộc, 1998)[61]. Năm 1999, hệ thực vật Việt Nam đã ghinhận 10.192 loài của 2.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật (Lê Tran Chan và cs,
<small>Bên cạnh đó, hệ thực vật Việt Nam cịn được ghi nhận theo khía cạnh giá tri</small>
<small>sử dung bằng những cơng trình như: 1900 lodi cây có ich ở Việt Nam (Tran Đình Lý</small>
và cộng sự, 1993)[67], Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997)[23], Cay cỏcó ich ở Việt Nam (Võ Văn Chi và Tran Hợp, 1999-2002)[24], Những cây thuốc vàvị thuốc Việt Nam (Đỗ Tat Lợi, 1995)[66] và các tai liệu do cán bộ của Viện dượcliệu biên soạn như Cây thudc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Huy Bich và
<small>cs, 2004)[4]... Day thực sự là những cơng trình nghiên cứu có ý nghĩa về hệ thực vật</small>
Việt Nam va quan tâm đến giá trị kinh tế của chúng mà đặc biệt là tác dụng làm
Về việc xây dựng thực vật chí, từng họ đã lần lượt được công bố như họ Orchidaceae Việt Nam (Averyanov, 1994)[128], họ Na-Annonaceae (Nguyễn Tiến
<small>Lan-Ban, 2000)[3], ho Bạc ha-Lamiaceae (Vũ Xuân Phương, 2000)[77], họ Don </small>
nem-Myrsinaceae (Tran Thi Kim Lién, 2002)[56], ho Cói-Cyperaceae (Nguyễn Khắc
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><small>Khơi, 2002)[51], họ Don nem Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002)[56], Họ</small>
Trúc đào-Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2007)[68], Ho Cỏ roi ngựa-Verbenaceae
<small>(Vũ Xuân Phương, 2007)[78], Họ Cúc-Asteraceae (Lê Kim Biên, 2007)[7], Bộ Hoa</small>
<small>loa kèn-Liliales (Nguyễn Thị Đỏ, 2008)[36], Họ Lan-Orchidaceae, Chi Hoang </small>
<small>thảo-Dendrobium (Dương Đức Huyén, 2007)[47] hay họ Thầu dau-Euphorbiaceae(Nguyen Nghia Thin, 2006)[171],... Tuy chi đề cập đến một họ nhất định nhưng đây</small>
là các cơng trình nghiên cứu chun sâu, trình bày đầy đủ các thơng tin cần thiết về
<small>các loài trong họ. Là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa</small>
<small>dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam.</small>
Trong những năm gần đây có một số cơng trình nghiên cứu chun sâu về hệ
<small>thực vật bậc cao có mạch (đa dạng và phân loại) ở các vùng khác nhau của Việt</small>
Nam, có thé kê đến như: hệ thực vật ở Cúc Phương đã xác định có 1.817 lồi, 838 chỉ,
<small>188 họ (Phùng Ngọc Lan và cs, 1996)[53], hệ thực vật ở Pù Mat có 202 họ, 931 chi và</small>
<small>2.494 lồi (Nguyễn Nghia Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97], hệ thực vật Bến</small>
<small>En có 1.389 lồi của 65 chi, 173 họ (Hoang Van Sam va cs, 2008)[151]. Ngồi ra,</small>
<small>cịn một số cơng trình nghiên cứu cụ thể ở các địa phương khác, như hệ thực vật</small>
Hồng Liên Sơn (Trần Đình Lý và cs, 1996)[68]; hệ thực vật núi cao Sa Pa-Phan Si
<small>Phăng (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời, 1998)[103]; hệ thực vật Kon Ka</small>
Kinh (Trần Quang Ngọc, 1999)[71]; hệ thực vật ven biển Nam Trung Bộ (NguyễnNghia Thìn và Vũ Văn Cần, 1999)[95]; hệ thực vật Bạch Mã (Thừa Thién-Hué)
<small>(Nguyễn Nghĩa Thìn va cs, 2003)[97]; hệ thực vật Phong Nha-Kẻ Bang (Quảng</small>
<small>Bình) (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Văn Thái, 2003)[100]; hệ thực vật Chư Mom</small>
<small>Ray (Kon Tum) (Hồ Mạnh Tường va cs, 2006)[118]; hệ thực vật Xuân Sơn (PhúTho) (Trần Minh Hợi và Vũ Xuân Phương, 2008)[45]; hệ thực vật Hoàng Liên (LaoCai) (Nguyễn Nghĩa Thìn va cs, 2008)[95];... các nghiên cứu này tập trung xâydựng danh sách các loài thực vật cho một khu phân bố cụ thé là các khu rừng đặc</small>
dụng, đơn vị hành chính cụ thé được tiến hành khá rộng rãi, phô biến ở hầu hết các
<small>nơi còn rừng tự nhiên trên cả nước.</small>
Về các yếu tố địa lý thực vật, Gagnepain là người đầu tiên nghiên cứu, phântích và đánh giá các yếu tổ địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam, theo tác giả hệthực vật Đông Dương bao gồm năm yếu tố được trình bày trong hai cơng trình là:
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22"><small>Góp phân nghiên cứu hệ thực vật Đơng Dương (1926) và Giới thiệu về hệ thực vật</small>
Đông Dương (1944): yếu tơ Trung Quốc chiếm 33,8% tơng số lồi của hệ thực vật;
<small>yếu tố Xích Kim-Himalaya chiếm 18,5%; yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm15,0%; yếu tố đặc hữu chiếm 11,9%; yếu tố nhập nội và phân bố rộng chiếm 20,8%</small>
<small>(Thai Văn Trừng, 1978)[112].</small>
<small>Pócs Támas đã phân tích và sắp xếp các lồi thực vật ở Bắc Việt Nam thành</small>
nhóm các yếu tổ trên cơ sở khu phân bố hiện tại mà khơng phân tích đến nguồn gốc
<small>đặc hữu 39,90 %, trong đó: của Việt Nam-32,55 % và của Đông Dương-7,35 %;</small>
yếu tố di cư từ các vùng nhiệt đới: 55,27 %, trong đó, từ Trung Quốc-12,89 %; từAn Độ va Himalaya-9,33 %; từ Malaysia va Indonesia-25,69 %; từ các vùng nhiệtđới khác-7,36 %; yếu tố khác 4,83 % (gồm nhập nội, trồng trọt-3,08 %); nhóm ơnđới 3,27 %; nhóm tồn thế giới 1,56 % (Pócs T., 1965)[189].
Thái Văn Trừng (1978) đã căn cứ vào bảng thống kê các loài của hệ thực vậtBắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3 % số chi và 27,5% số loài đặc hữu. Tuy
<small>nhiên, sau đó căn cứ vào khu phân bố hiện tại cũng như nguồn gốc phát sinh của</small>
các loài. Tác giả đã gộp các nhân tô từ Nam Trung Quốc vào nhân tố đặc hữu bảnđịa Việt Nam nâng tỉ lệ các lồi đặc hữu ban địa lên 50%, cịn yếu té di cư chiếm tilệ 39%, các nhân tố khác chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ố ôn đới và 1% toàn thếgiới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08% (Thái Văn Trừng, 1978)[112].
<small>Lê Trần Chan cũng đã khái quát vùng phân b6 cho các yếu tô địa lý của hệ</small>
thực vật Việt Nam với 20 yếu tố, trong đó riêng đặc hữu được các tác giả xếp thành4 yếu tố (đặc hữu Bắc Bộ, đặc hữu Trung Bộ, đặc hữu Nam Bộ và đặc hữu ViệtNam. Các tác giả cũng phân tách nhóm lồi phân bố ở Việt Nam, Hải Nam, Đài
Loan và Phillipine thành một yếu tổ trong khi toàn châu A cũng là một yếu tố (Lê
<small>Trần Chan và cs, 1999a)[20].</small>
Như vậy, có sự khơng thống nhất giữa các tác giả về phân chia các yếu tố cụ
<small>thé. Quan điểm phân chia các yếu tố, đặt tên các yếu tố không rõ ràng, chưa thống</small>
nhất. Trên sự phân chia của các tác giả Pócs Tamás (1965), Ngô Chinh Dật (1993)đối với HTV Việt Nam, Đông Dương và Nam Trung Hoa, Nguyễn Nghĩa Thìn đãđề xuất các yếu tố địa lý của HTV Việt Nam như sau (Nguyễn Nghĩa Thìn,
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Yếu tổ thế giới: gồm các taxon phân bố khắp nơi trên thé giới
Liên nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu A, châu Úc, châu
<small>Phi và châu Mỹ. Một số có thé mở rộng tới vùng ơn đới.</small>
Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu MỹNhiệt đới châu A, châu Phi và châu Mỹ
Nhiệt đới châu A và Mỹ: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu A đếnvùng nhiệt đới châu Mỹ, một số có thé mở rộng tới Đông Bắc châu Uc và các đảo
<small>Tây Nam Thái Bình Dương.</small>
Cổ nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu
<small>Phi và các đảo lân cận.</small>
Nhiệt đới châu Á và châu Úc: gồm các taxon phân bố mà ở vùng nhiệt đớichâu A tới châu Úc và các dao lân cận. Nó năm cánh đơng của Cé nhiệt đới và mởrộng đến các dao An Độ nhưng không bao giờ tới lục dia châu Phi.
Nhiệt đới châu Á và châu Phi: gồm các taxon ở vùng nhiệt đới châu Á, châuPhi và các đảo lân cận. Đây là cánh Tây của vùng Cổ nhiệt đới và có thé mở rộngtới Fiji và các đảo nam Thái Bình Dương nhưng khơng tới châu Úc.
Nhiệt đới châu Á (Indo-Malesia): gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đớichâu Á từ Án Độ, Sri Lanka, Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam và
<small>Guinea và mở rộng tới Fiji và các dao Nam Thái Bình Dương (vung Malesia)</small>
nhưng khơng tới châu Úc.
Đơng Dương-Malesia: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu A từ lụcđịa Đông Nam Á (Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam-Nam Trung Hoa),
<small>đến Malaysia, Indonesia, Philippines, New Guinea và mở rộng tới Fiji và các đảo</small>
nam Thái Bình Dương nhưng khơng tới châu Úc ở phía Nam hay Ấn Độ ở phía
Đơng Duong-An Độ hay Lục địa châu A nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ởvùng nhiệt đới châu Á từ ấn Độ, Sri Lanka, Myanma, Thái Lan, Dong Dương va
<small>Nam Trung Hoa không tới vùng Malesia.</small>
<small>Đông Dương-Himalaya hay Lục địa Đông Nam Á (trừ Malesia, Ấn Ðộ): gồm</small>
các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ chân Himalaya, Myanma, Thái Lan,
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><small>Đông Dương và Tây Nam Trung Hoa, một số có thé mở rộng đến bán đảo Mã Lai ở</small>
phía Nam. Đây là nhóm thực vật phân bố chủ yếu trên núi cao.
<small>Đông Dương-Nam Trung Hoa: gồm các taxon phân bố ở Đông Dương và</small>
<small>Nam Trung Hoa đặc biệt xung quanh biên giới Trung Hoa (chỉ có ở Nam Vân Nam,</small>
<small>Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam) và Đông Dương.</small>
<small>Đông Dương: Các taxon phân bồ giới hạn trong phạm vi 3 nước Đơng Dương</small>
và đơi khi có thể gặp ở Thái Lan.
Ôn đới Bắc: gồm các taxon phân bồ trong vùng ôn đới châu A, châu Âu, châu
<small>Mỹ và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới, tới vùng ôn đới Nam bán cầu.</small>
Đông Á-Bắc Mỹ: gồm các taxon phân bố trong vùng ôn đới châu A và Bắc
<small>Mỹ có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới.</small>
Ơn đới cơ thế giới: gồm các taxon phân bố ở ơn đới châu Âu, châu A và có thémở rộng tới mà ở vùng núi nhiệt đới châu Phi và châu Úc.
Vùng ôn đới Dia Trung Hải-châu Âu-châu A: gồm các taxon phân bố trongvùng ôn đới quanh Địa Trung Hải, châu Âu và châu Á.
Đông A: gồm các taxon phân bó trong vùng ơn đới từ Himalaya đến ĐơngTrung Hoa tới Triều Tiên, Nhật Bản, có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới.
Đặc hữu Việt Nam: gồm các taxon phân bồ trong giới hạn của Việt Nam.
Gần đặc hữu: gồm các taxon phân bố chủ yếu trong giới hạn của Việt Nam vàcó thể tìm thấy ở một vài điểm của các nước lân cận dọc theo biên gidi.
<small>Dac hữu hep: loài chỉ mới phát hiện ở phạm vi hep. Trong nghiên cứu nay, tác</small>
<small>giả áp dụng phạm vi đặc hữu hẹp là tỉnh Hà Giang và các vùng phụ cận trong ranh</small>
<small>giới Đông Bắc Việt Nam.</small>
<small>Bên cạnh đó, trong những năm gần đây có một số cơng trình khi nghiên cứu</small>
đa dạng HTV của một khu vực cụ thé, cũng đã nghiên cứu yếu t6 địa lý của khu hệđó như: hệ thực vật ở Cúc Phuong đã xác định 16 yếu tô địa lý thực, trong đó: yếutố Đơng Dương cao nhất chiếm 19,75%, tiếp đến là yếu tố Nam Himalaya 13,68%,
<small>yếu tố châu á nhiệt đới 11,88%, yếu tố đặc hữu chiếm 17,49% (Phùng Ngọc Lan và</small>
cs, 1996)[53]; hệ thực vật VQG Pù Mat có nhóm các yếu tơ nhiệt đới chiếm tỉ lệ cao
<small>nhất là 58,30% trong khi yếu tố ôn đới chiếm 4,49%, yếu tố đặc hữu chiếm 16,60%(Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97].</small>
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><small>Theo quan điểm cá nhân, giới hạn và hệ thống hóa các yếu tố địa lý thực vật</small>
của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004a)[89] như trên là hợp lý, theo đó, Châu Á vốn có
<small>nam trên 2 miền địa lý sinh vật thì khơng thể là một yếu tố như quan điểm của Lê</small>
Trần Chấn (1999) và việc tồn tại ở hai miền địa lý như vậy chắc chắn phải thuộc
<small>nhóm liên nhiệt đới hoặc cô nhiệt đới, hoặc phân bồ rộng.</small>
Các cơng trình nghiên cứu về phổ dang sống của hệ thực vật ở Việt Nam nói
<small>chung và các khu hệ thực vật của các địa phương nói riêng áp dụng theo hệ thống</small>
phân chia dạng sống thực vật của Raunkizer (1934)[163] (xem Phụ lục 4). Đối vớiHTV Bắc Việt Nam, Pécs T. đã phân tích một số thành phần phơ dang sống của hệthực vật và đưa ra phô dạng sống chuẩn (Spectrum of Biology-Ký hiệu SB) như
<small>sau: SB = 52,21 Ph + 40,68 (Ch, Hm, Cr) + 7,11 Th (Pócs T., 1965)[189].</small>
Ap dụng hệ thống phân chia này, chỉ tiết hơn trong nghiên cứu của minh, TháiVăn Trừng còn áp dụng các ký hiệu khác cho chdi và lá theo các trạng mùa, ký hiệuvề hình dang tán, chất liệu dây leo (Thái Văn Trừng, 1978)[112]. Một số phố dang
<small>sống của hệ thực vật Việt Nam và một số khu vực khác đã được xây dựng, như</small>
VQG Cúc Phương với 57,78% nhóm Ph (Phùng Ngoc Lan va cs, 1997)[53], số loàiPh của Việt Nam là 54,68% (Lê Trần Chan và cs, 1999a)[20], hệ thực vật VQG Pù
<small>Mat có 78,88% thuộc nhóm Ph (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn,</small>
2004)[97], VQG Bến En (Hoang Van Sam va cs, 2008)[151] có 75,88% cây thuộcnhóm Ph,... các phố dạng sống này đều cho thấy tính chất nhiệt đới khá điển hình
<small>với tỉ lệ cao của nhóm Ph.</small>
<small>1.1.2.4. Nghiên cứu giá trị sử dụng của hệ thực vật</small>
Nghiên cứu giá trị sử dụng của thực vật ở Việt Nam được đặt nên móng từ
<small>người Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Theo đó, mẫu vật được lưu</small>
trữ ở các bảo tàng thực vật của Việt Nam và các nước trên thế giới, chủ yếu ở Bảo
<small>tang lịch sử tự nhiên Paris. Trong đó, các tác giả đã ghi nhận những giá trị sử dụng</small>
<small>của thực vật như: Thực vật Nam Bộ (Loureiro, 1793)[184], Thực vật rừng Nam Bộ</small>
<small>(Pierre, 1880)[185], Thực vat chí Đơng Duong (Lecomte, 1907-1952)[183], Cây cỏ</small>
thường thấy (Lê Kha Kế va cs, 6 tập, 1969-1976)[49], Cây gỗ rừng Việt Nam (Việnđiều tra quy hoạch rừng, 1971-1988)[120], 1900 lồi cây có ích ở Việt Nam (Tran
<small>21</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><small>Dinh Lý, 1993)[67], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tat Lợi, 1995)[66],</small>
Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997)[23], Cây cỏ Việt Nam (Phạm
<small>Hồng Hộ, 1999-2000)[43], Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp,1999-2002)[24], Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Tran Hợp, 2002)[46], Cây thuốc vàĐộng vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Huy Bich và cs, 2004)[4],.... Trong các cơngtrình nảy, Võ Văn Chi (1997) [46] đã mơ tả, giới thiệu 3107 lồi; Trần Hợp(2002)[46], đã giới thiệu 433 lồi cây gỗ có giá trị sử dụng; Đỗ Huy Bích và cs(2004)[4] cho biết ở Việt Nam có 3.948 lồi thực vật bậc cao, bậc thấp và nam</small>
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, các cơng trình nghiên cứu ở các
<small>khu hệ thực vật địa phương khác nhau đều căn cứ trên các tài liệu khác nhau để</small>
<small>đánh giá giá trị tài nguyên thực vật. Trong đó, thường sử dụng các nhóm như:</small>
cây cho gỗ, cây lấy thuốc, cây ăn được (làm thức ăn, lương thực, nuôi giasúc,...), cây làm cảnh, cây cho dầu béo, cây cho sợi, tinh dầu, tannin, cây cóđộc,... Đây là một trong những kết quả nghiên cứu được các nhà nghiên cứu
<small>quan tâm khi nhiên cứu hệ thực vật.</small>
<small>Ở Việt Nam, với việc Sách Do Việt Nam ra đời năm 1996 thì các nghiên cứu</small>
về đa dạng thực vật cũng bắt đầu quan tâm đến giá trị bảo tồn của các loài cây cỏ từthời gian này trở đi. Có ít báo cáo hoặc các cơng trình độc lập về giá trị bảo tồn của
<small>hệ thực vật mà chúng thường được lồng ghép trong các báo cáo đa dạng chung của</small>
hệ thực vật ở các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn hoặc địa phương cụ thể như đã trình
<small>bay ở trên. Năm 2007, Sách Đỏ Việt Nam phan thực vật xuất ban lần thứ 2 đã bổ</small>
sung, hệ thống hóa các thứ hang phân loại đồng nhất với thế giới (IUCN). Hiện nay,
<small>Việt Nam có 448 lồi thực vật được ghi nhận theo Sách Đỏ này, trong đó, thực vật</small>
<small>bậc cao có mạch có 429 lồi (Bộ Khoa học và Cơng nghệ, Viện Khoa học và Côngnghệ Việt Nam, 2007){ 10].</small>
<small>Năm 2008 trở thành năm đặc biệt đối với công tác đánh giá và bảo tồn đa dạngsinh học khi Luật Đa dạng sinh học ra đời (Quốc hội, 2008)[79]. Trong đó đề cập</small>
đến các khái niệm về đa dạng sinh học mà chưa có một cơng bố chính thức nàotrước đó đề cập đến. Đây cũng là kết quả nghiên cứu, tham vấn giữa các nhà khoa
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>học, chuyên gia bảo tồn và các nhà quản lý địa phương, quản lý nhà nước để Quốc</small>
<small>hội có cơ sở ban hành luật này.</small>
<small>Sau khi trở thành thành viên của CITES, Việt Nam đã có văn phịng CITES</small>
trực thuộc Tổng cục lâm nghiệp, Cục kiểm lâm. Các tài liệu công bố của CITES
<small>được ban hành nhằm giới thiệu về CITES và danh mục các lồi thuộc CITES. Theo</small>
Thơng tư số 59/2010/TT-BNNPTNT năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
<small>thôn ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc quản lý của</small>
<small>Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang đã nguy cấp. Theo</small>
<small>đó, Việt Nam hiện có 104 lồi và nhóm lồi (các loài thuộc một chi) thuộc phụ lục</small>
I, 81 loài và nhóm lồi thuộc phụ lục H và 9 lồi thuộc phụ lục III. Day là căn cứ đểcác tác giả khi đánh giá về tính đa dạng sinh học của một khu hệ thực vật. Tuynhiên, khơng có nhiều các cơng trình đánh giá đầy đủ, tồn diện và cập nhật về giá
trị bao tồn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nơng thơn, 2010)[13].
<small>Năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác</small>
định lồi và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
<small>nước Cộng hịa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2013b)[30].</small>
<small>1.2.2. Nghiên cứu thảm thực vật</small>
<small>Các cơng trình nghiên cứu về TTV ở Việt Nam nói riêng và các nước trên bán</small>
đảo Đơng Dương nói chung ban đầu được thực hiện bởi các tác giả người nướcngoài. Chevalier (1918) là người đầu tiên phân loại thảm thực vật Bắc Bộ thành 10kiểu, Maurand (1943-1953) đã chia Đông Dương thành 3 vùng với 8 kiểu quan thétrong các vùng và lập bảng phân loại mới về các quần thê thực vật; Dương HàmNghỉ (1958) đã tổng kết các nghiên cứu của Rollet, Lý Văn Hội và Neang sam Oil
<small>và lập bảng xếp loại rừng miền Bắc; Loschau (1960) đưa ra một khung phân loại</small>
<small>rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh, bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái</small>
<small>như: rừng loại I: gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và cây bụi; rừng loại II:gồm những rừng non mới moc; rừng loại III: gồm tat cả các rừng đã bị khai thác trởnên nghèo kiệt, tuy cịn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ; rừng loại IV: rừng nguyênsinh chưa bị khai phá. Hệ thống của Loschau (1960) đã được áp dụng khá rộng rãi ở</small>
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">nước ta trong việc điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo khốitrạng thái. Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này vào việc phân
<small>loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng. Mặc dùhiện nay, ngành lâm nghiệp dang sử dụng cách phân loại này rất phô biến tuy nhiênvẫn có hạn chế bởi chỉ tập trung vào đối tượng chính là rừng (độ che phủ và trữlượng gỗ) sau (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112].</small>
Trần Ngũ Phương đã xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc, trong đó chú ý
<small>đến nghiên cứu qui luật diễn thé thứ sinh, diễn biến độ phi, tính chất lý hố và dinh</small>
dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển của rừng. Bảng phân loại gồm: Đai rừngnhiệt đới mưa mùa gồm các kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn, bao
gồm các kiểu phụ thé nhưỡng rừng man, Đước, Vet và các kiểu phụ thứ sinh; kiểurừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh; kiểu rừng nhiệt đới ầm lá rộng
<small>thường xanh; kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thung lũng; kiểu phụ rừng nhiệt đới lárộng thường xanh núi đá vôi. Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa gồm kiêu rừng á nhiệt</small>
đới lá rộng thường xanh; kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi và đai rừng á
<small>nhiệt đới mưa mùa núi cao (Trần Ngũ Phương, (1970)[73].</small>
<small>Trong cơng trình “Végestation du Vietnam Le massif Sud-Annamitique et Les</small>
Région Limitrophes”, Schmid đã dựa trên các nhân tố sinh thái và tiến hành mô tảcác đơn vị TTV Việt Nam theo các sinh khí hậu khác nhau gồm: Sinh khí hậu nửakhơ nóng với các TTV ven biển, TTV trên cát đỏ độ cao trên 100m ở các bậc thềm
<small>khác, TTV trên đồng bằng phù sa, TTV trên đồi núi ven biển; sinh khí hậu nửa âm</small>
và nóng gồm các TTV trên đất bazan, TTV trên đất không phải bazan, TTV trên
<small>đồng bằng phù sa và TTV ven suối; sinh khí hậu ẩm gần núi: thường ở độ cao </small>
600-1200m, mùa khô tương đối dai gồm rừng kín thường xanh trên đất đốc thốt nướctốt, rừng thưa, rừng rụng lá trên bazan mỏng; rừng tre nứa, trang cây bụi, trang cỏ
<small>TTV ngập nước, TTV ven suối, TTV vật trên đồng bằng phù sa; và sinh khí hậu</small>
ln 4m vùng núi (độ cao trên 1200m) gồm rừng kín thường xanh trên đất xít, rừng
<small>kín thường xanh trên đá granit và nhóm TTV đặc biệt (M. Schmid, 1974)[186].</small>
<small>Cơng trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” đã sử dụng độ ưu thế của</small>
các loài cây trong ô tiêu chuẩn dé xác định các quần hợp, ưu hợp, phức hợp; trong
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><small>các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các yếu tố</small>
địa lý, địa hình, địa chat, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người,... là các yếu tố
<small>phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp (Vũ Tự Lập, 1976)[54].</small>
<small>Trên quan điểm sinh thái phát sinh, Thái Văn Trừng đã xây dựng bảng phânloại rừng Việt Nam. Trong hệ thống này, tác giả đã sắp xếp các kiều TTV hiện có ởViệt Nam vào một khung hợp lý, qui định được trật tự trước sau giữa các nhân tố</small>
sinh thái, theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu xấu nhất. Đây là một cơng
<small>trình tổng qt, đáp ứng được qui hoạch sinh thái. Đặc biệt, trong việc xác định các</small>
điểm khống chế về khí hậu-thủy chế liên quan đến điện mạo và hình thái phát sinhcủa TTV, Thái Văn Trừng đã đưa ra chỉ số khô hạn X = S.A.D với S là số tháng
<small>khô (lượng mưa < hai lần giá trị nhiệt trung bình tháng), A là số tháng hạn (lượng</small>
mưa < gia trị nhiệt trung bình tháng) và D là số tháng kiệt (lượng mưa < một nửagiá trị nhiệt trung bình thang). Chi số này dé dàng biểu hiện được thời gian và mức
<small>độ khô hạn. Bảng phân loại các đơn vị TTV được chia làm hai nhóm: Nhóm các</small>
kiểu TTV ở vùng thấp (có độ cao dưới 1000m ở miền Nam và dưới 700m ở miền
<small>Bắc) và nhóm các kiêu TTV ở vùng cao (có độ cao trên 1000m ở miền Nam và trên</small>
700m ở miền Bắc), cụ thể: Nhóm các kiêu thảm ở độ cao dưới 1000m ở miền Nam,dưới 700m ở miền Bắc có các kiểu sau: kiểu rừng kín thường xanh mưa hơi âmnhiệt đới; kiểu rừng kín nửa rụng lá khô nhiệt đới; Kiểu rừng kin rụng lá, hơi 4m
<small>nhiệt đới; kiểu rú kín lá cứng, hơi khơ nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng, rụng lá,khô nhiệt đới; kiêu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp; kiểu trang cây</small>
to, cây bụi cỏ cao, khô nhiệt đới; kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới; Nhóm các kiểu
<small>gồm: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu rừng kín hỗn</small>
hợp lá rộng, lá kim, 4m 4 nhiệt đới núi thấp; kiểu rừng lá kim âm ôn đới núi vừa;
<small>Kiểu quần hệ khô vùng cao; kiểu quần hệ lạnh vùng. Trong cơng trình này, các</small>
nhân tố sinh thái phát sinh được tác giả đề cập, làm cơ sở dé phân chia các kiểu,
<small>kiểu phụ/ kiểu trái TTV bao gồm: Nhóm nhân tổ dia li-dia hình; Nhóm nhân tố khíhau, thuỷ văn; Nhóm nhân tố đá me, thé nhưỡng: Nhóm nhân tổ khu hệ thực vat;</small>
Nhóm nhân tố sinh vật và con người (Thái Van Trừng, 1978)[112].
<small>Vũ Đình Hué (1984) đã đưa ra phương pháp phân loại rừng dé phục vụ các</small>
mục đích kinh doanh. Theo tác giả, kiểu rừng là một loạt các xã hợp thực vật thuộc
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30"><small>một kiểu trạng thái trong phạm vi một kiểu điều kiện thực bì rừng và tương ứng cómột giải pháp lâm sinh thích hợp (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004a)[89].</small>
<small>Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đã đưa rakhung phân loại TTV ở Việt Nam có thê thể hiện được trên bản đồ 1:2.000.000.Bảng phân loại gồm có 5 lớp quan hệ. Mỗi một phân lớp quan hệ lại phân thành cácphân quan hệ, nhóm quan hệ, quan hệ và thấp nhất là phân quân hệ: lớp quần hệ</small>
rừng ram gồm 3 phân lớp quan hệ chính là: rừng thường xanh, rừng rụng lá và rừng
<small>khô; lớp quan hệ rừng thưa có 3 phân lớp quan hệ: trang cây bụi, trang cây bụi lùn</small>
và trang cỏ (Phan Kế Lộc, 1985)[60].
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây cịn có các nghiên cứu cụ thê về TTVở các địa phương từ cấp tỉnh trở lên hoặc VQG như: Hoàng Liên Sơn (Đỗ Hữu Thư
<small>và cs, 1995)[105], (Vũ Anh Tài và cs, 2008)[84]; Tây Ngun (Ngơ Văn Trại,</small>
1996)[108], Bà Rịa-Vũng Tàu (Đồn Cảnh, 1997)[19], Đồng Tháp Mười (Lê KimBiên và Lê Văn Thường, 1998)[6], Cúc Phương (Tran Quang Chức, 2000)[31],
<small>Phong Nha (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Văn Thái, 2003), Bạch Mã (NguyễnNghĩa Thin-Mai Văn Phơ, 2003)[100], Pù Mat (Nguyễn Nghĩa Thìn-Nguyễn Thanh</small>
Nhàn, 2004)[97], Ba Vì (Lê Trần Chấn và cs, 2005)[22], Thái Nguyên (Lê ĐồngTấn và Ma Thị Ngoc Mai, 2006)[85], Bắc Trung Bộ (Tran Thế Liên, 2006)[57],Yok Đôn (Ngô Tiến Dũng và cs, 2006)[33], Rừng khộp ở Tây Nguyên (Trần Văn
<small>Con, 2006)[32], Ninh Bình (Nguyễn Hữu Tứ, Truong Quang Hải, 2007)[114],Quảng Trị (Nguyễn Hữu Tứ, 2007)[114], Bidoup-Núi Bà (Nguyễn Đăng Hội va cs,2011)[44],... Trong số các cơng trình này, một số áp dụng khung phân loại của</small>
UNESCO dé mô tả TTV ở cấp tỉnh hoặc dưới tỉnh cho các bản đồ tỉ lệ 1:100.000,
<small>theo nhận định của tác giả như vậy là khơng đúng. Một số cơng trình của Nguyễn</small>
Hữu Tứ thường áp dụng theo quan điểm địa mao-thé nhưỡng-sinh khí hậu của
<small>Smchid, theo tác giả, quan điểm đó dé áp dụng được ở quy mơ cấp huyện cịn ở quy</small>
mơ cấp tinh thì khó hơn. Da phan các cơng trình khác mô ta TTV không theo hệ
<small>thống cụ thé nào hoặc không lý giải cách xây dựng hệ thống, cách gọi tên đơn vị</small>
mặc dù nhìn có vẻ giống với quan điểm sinh thái phát sinh (Thái Văn Trừng,
<small>Như nhận xét ở trên về các hệ thống mô ta TTV, nếu như hệ thống của</small>
UNESCO phù hợp với việc thành lập ban đỗ ở tỉ lệ 1:2000.000, tương đương với
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><small>việc thành lập bản đồ của cả nước. Bên cạnh đó, ở quy mơ cấp miền với các sinh</small>
khí hậu đặc trưng thì việc sử dụng hệ thống của Trần Ngũ Phương hoặc Thái Văn
<small>Trừng được chúng tôi đánh giá là phù hợp (thành lập bản đồ tỉ lệ 1:500.000 đến</small>
1:100.000) cịn hệ thống của Schmid thì quá chỉ tiết và chỉ phù hợp khi áp dụng cho
<small>các khu vực có diện tích nhỏ và thành lập bản đồ ở tỉ lệ lớn (ví dụ tỉ lệ 1:10.000</small>
<small>hoặc 1:50.000).</small>
Trong phan lớn các cơng trình nghiên cứu về TTV ở các địa phương trong cả
<small>nước, chủ yếu ở cấp huyện và cấp xã theo quy mơ hành chính, thảm thực vật được</small>
các tác giả mô tả, minh họa từ sơ lược đến chi tiết nhưng chỉ một số Ít các cơngtrình hệ thống phân loại TTV được áp đụng đúng và đầy đủ. Ngay cả cách gọi tênTTV đôi khi cũng chưa đúng và không theo nguyên tắc nào. Đây là một hạn chế bởisự pha trộn kiến thức cơ bản giữa các hệ thống khác nhau nên làm cho các tác giảlẫn lộn khi mô tả, gọi tên TTV. Bên cạnh đó, có rất it các cơng trình vừa mơ tả, vừa
<small>thành lập bản đồ TTV. Thực tế, việc thành lập bản đồ TTV khác nhau giữa các khu</small>
vực và vùng miền ở tỉ lệ quy chiếu. Song song với việc thành lập bản đồ thì mơ tả
<small>các đơn vị trong phan thuyết minh cũng phải phù hợp với ban dé, và vì vậy, việc</small>
<small>mơ tả TTV ở các khu vực khác nhau đôi khi cũng khác nhau. Việc mô tả TTV theo</small>
hệ thông khác cũng yêu cầu việc biên tập bản đồ phải chuyền theo hướng khác nên
<small>cũng dẫn đến sự khác nhau này.</small>
Các cơng trình nghiên cứu về đa dạng HTV ở tỉnh Hà Giang bước đầu lànhững dẫn liệu báo cáo về sự có mặt của các nhóm lồi q hiếm, những lồi hạttrần hoặc những loài mới phát hiện (loài mới cho khoa học hoặc loài mới cho hệ
<small>thực vật Việt Nam). Trong 15 năm trở lại đây có các cơng trình lần đầu tiên cơng bốmột số lồi thực vật Hạt trần q, hiếm được phát hiện ở Hà Giang, ghi nhận các</small>
<small>loài Dé tùng sọc nau-Amentotaxus hatuyenensis, Thơng đỏ trung hoa (Taxus</small>
chinensis), Hồng đàn rủ (Cupressus funebris), Thông tre lá ngắn(Podocarpus pilgeri) (Lê Tran Chan va cs 1999)[21]; cơng trình “Góp phần kiểm kêthành phân lồi của họ Lan ở Khu bảo tơn thiên nhiên Bát Đại Sơn (huyện QuảnBa, tỉnh Hà Giang) ” đã thong kê 119 loài thuộc 48 chi Lan có vùng phân bố ở BátĐại Sơn (Phạm Văn Thế và cs, 2007)[87]; số thực vật có giá tri bao tồn cao bổ sung
<small>27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">cho danh sách các loài ở KBTTN Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ (Nguyễn Tiến Hiệpvà cs, 2007)[38]; kết quả điều tra phát hiện tính đa dạng, sự phân bó và đánh giá giá
<small>trị bảo tồn của các lồi Thơng ở tỉnh Hà Giang (Phan Kế Lộc và cs, 2007)[64]; các</small>
đặc điểm của quan thé Bách vàng việt (Xanthocyparis vietnamensis) phát hiện tại
<small>tinh Hà Giang (Nguyễn Tiến Hiệp va cs, 2007)[39].</small>
Ở cấp độ khu vực có các cơng trình giới thiệu những lồi thực vật bị đe dọatuyệt chủng và hiện trạng bảo tồn chúng ở cao nguyên đá vôi Đồng Văn (Nguyễn
<small>Tiến Hiệp và cs, 2009)[41]; công bố kết quả nghiên cứu bước đầu về tính đa dạng</small>
<small>thực vật ở KBTTN Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên (Nguyễn Quang Hưng và cs,</small>
<small>2009)[47], theo đó hệ thực vat của KBT có 796 lồi, 501chi, 162 họ thực vật bậccao của 6 ngảnh thực vật bậc cao có mạch, báo cáo này này có danh sách các loài</small>
kèm theo (Chi cục kiêm lâm Hà Giang, Khu BTTN Tây Côn Lĩnh, 2011)[27]; Báocáo đánh giá nhu cầu Bảo tồn của KBTTN Bát Đại Sơn đã đề cập đến 21 loài thựcvật quý hiểm theo Sách đỏ Việt Nam (2007), ghi nhận ở khu bảo tồn có 361 lồi
<small>thực vật thuộc 103 họ và 249 chi (Bộ NN-PTNT, Dự án hỗ trợ ngành lâmnghiệp/Quỹ bảo tồn rừng Việt Nam, 2010)[16]; Báo cáo đánh giá nhanh các loài</small>
quan trọng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê huyện Bắc Mê, tinh Hà Giangcho thấy hệ thực vật của KBTTN này có có 523 lồi thực vật trong đó 25 lồi thựcvật q hiếm, báo cáo này này có danh sách các lồi kèm theo (Bộ NN-PTNT, Dựán hỗ trợ ngành lâm nghiệp/Quỹ bảo tồn rừng Việt Nam (2011)[14]; Báo cáo đa
<small>dạng sinh học, giải pháp bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái bền vững củaKBTTN Du Gia cho thấy KBT này có 289 lồi thực vật bậc cao thuộc 83 họ trongđó: ngành thơng đất có 2 lồi, Ngành Quyết có 13 lồi, ngành Hạt trần có 3 lồi và271 lồi thuộc ngành Mộc lan (lớp 2 lá mam có 232 lồi và lớp 1 lá mam có 39</small>
lồi), hiện chưa có danh sách hồn chỉnh tồn bộ các lồi thực vật phân bó tại khu
<small>bảo ton (Chi cục kiểm lâm Hà Giang, Khu BTTN Du Già, 2011)[26]. Báo cáo đánh</small>
giá nhu cầu Bảo tồn của KBTTN Phong Quang ban đầu xác định trong KBTTN này
<small>có 377 lồi thực vật bậc cao thuộc 109 họ (Bộ NN-PTNT, Dự án hỗ trợ ngành lâm</small>
nghiép/Quy bảo tồn rừng Việt Nam, 201 1)[14].
Theo Sách Đỏ Việt Nam, đã biết có 69 lồi thuộc 36 họ được ghi nhận là có
<small>vùng phân bố tại Hà Giang, chiếm 16,5% tổng số loài quý hiếm của Việt Nam (Bộ</small>
<small>Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007){ 10].</small>
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><small>Từ những cơng trình trên, cùng với những cơng bố khác về các lồi mới được</small>
<small>phát hiện, hoặc những loài ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam, trong hai mươi</small>
<small>năm qua (1993-2014) đã có 21 lồi, thuộc 10 họ là những phát hiện mới cho khoa</small>
<small>học (xem Phụ lục 2). Họ Lan-Orchidaceae là họ có nhiều lồi mới nhất. Tính riêngnhững năm dau tiên của thế kỷ 21, tại Hà Giang, đã có tổng cộng 9 loài lan mới</small>
<small>được phát hiện. Bên cạnh đó, trong hơn một thập kỷ qua (2000-2013) đã có 42 lồi</small>
thực vật ghi nhận mới cho Việt Nam có vùng phân bố ở Hà Giang, thuộc 12 họ khác
<small>nhau (xem Phụ lục 3), trong đó phan lớn là họ Lan-Orchidaceae với tổng số 29 lồi</small>
<small>ghi nhận mới.</small>
Như vậy, có thé thay Hà Giang có một hệ thực vật rat thú vị, đặc sắc va thuhút được nhiều nhà khoa học quan tâm, tìm kiếm.
Nghiên cứu về thám thực vật ở miền Bắc nói chung, trong đó Hà Giang cũng
<small>là một điểm nghiên cứu cụ thé đã được dé cập đến trong các cơng trình trên, TTV ở</small>
Hà Giang được mơ tả ít nhiều bởi Thái Văn Trừng và Trần Ngũ Phương.
<small>Năm trong tổ hợp thủy văn của các sông gồm sông Lô, sông Chảy và sông</small>
Gam, TTV Hà Giang cũng được đề cập chung trong cơng trình nghiên cứu thực vật
<small>và tài nguyên thực vật khu vực Lô Gâm Chảy được thực hiện bởi tập thé cán bộ</small>
Viện Địa lý, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật trong đó bản đồ thảm thực vậtđược thành lập với các đơn vi theo quan điểm của Schmid (1962) dựa trên các yếu
<small>tố sinh thái phát sinh TTV. Song song với việc thành lập bản đồ TTV khu vực Lô</small>
Gam Chay năm 2003, tập thé các tác giả cũng sử dung ảnh Viễn thám dé xây dựnglại bản đồ TTV của khu vực vào các giai đoạn khác nhau của thé kỷ trước (các năm1943, 1983, 1993) dé làm co sở so sánh biến động TTV (Nguyễn Hữu Tứ va cs,
Ngoài ra, trong những năm gan đây, những nghiên cứu cụ thé về TTV ở các
<small>địa phương thuộc tỉnh Hà Giang đã được thực hiện, trong đó phần lớn là những báocáo nội bộ của các đơn vi quan lý rừng đặc dụng thuộc Chi cục kiểm lâm Hà Giangvà một số bài báo được các tác giả đăng trên các tạp chí khoa học trong nước: các</small>
quan xã thực vật tại xã Quảng Ngan, huyện Vị Xuyên, tinh Hà Giang (Nguyễn Hữu
<small>Tứ, 1998)[113]; thảm thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Khau Ca, tỉnh Hà Giang(Nguyễn Nghĩa Thìn và cs, 2007)[101]; cấu trúc rừng của các quần xã thực vật và</small>
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">diễn thế thảm thực vật ở khu rừng Khau Ca (Vũ Anh Tài và cs, 2009)[82]; thảmthực vật Tây Cơn Lĩnh có 8 kiểu và kiểu phụ thảm thực vật thuộc ba vành đai khác
<small>nhau theo độ cao gồm 0-700, 700-1600 và trên 2600m so với mặt nước biển (Chicục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang, Khu BTTN Tây Côn Lĩnh, 2011)[27]. Như vậy, chođến nay, chưa có một cơng trình nào nghiên cứu trọn vẹn về thảm thực vật của tỉnh</small>
<small>Hà Giang.</small>
Bên cạnh những nghiên cứu về đa dang loài và HTV cịn có những nghiên cứu
<small>khác liên quan đến giá trị tài nguyên thực vật và ứng dụng triển khai các mơ hình</small>
lâm đặc sản, mơ hình lâm nghiệp tại Hà Giang như: Nghiên cứu tuyển chọn một số
<small>giống cam, quýt ở Hà Giang (Tran Thế Tục va cs, 2001)[117]; 162 lồi có giá trị</small>
làm thuốc và 23 lồi được dùng làm men rượu ở VỊ Xuyên (Trần Văn Ơn vàNguyễn Quốc Huy, 2004)[72]; Sử dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp
<small>nâng cao chất lượng quả trên vườn cam bị bệnh greening ở mức độ nhẹ tại tỉnh Hà</small>
Giang (Ngơ Xn Bình, Nguyễn Duy Lam, 2004)[7]: Đánh giá hiện trạng nguồn
<small>thức ăn gia súc tại huyện Đồng Văn, Hà Giang (Nguyễn Thị Mùi và cs, 2005)[70];</small>
Nghiên cứu xây dựng các mơ hình rừng trồng sản xuất ở tỉnh Hà Giang (Võ Đại Hảiva cs, 2006)[36]; Nghiên cứu nhân giống bang hom và khả năng gây trồng loài
<small>Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) tai KBTTN Bat Đại Sơn,</small>
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (Nguyễn Tiến Hiệp, và cs, 2007)[41]; Nghiên cứu
<small>lựa chọn tập đoàn cây trồng lâm nghiệp cho huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang</small>
<small>(Nguyễn Trọng Bình, 2009)[9]; Kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm men lá của cộng</small>
đồng người Tay ở Hà Giang (Phạm Thanh Trang, Đỗ Văn Trường, 2011)[109].
<small>1.3.1. Vị trí địa lý</small>
<small>Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đơng Bắc Việt Nam. Phía Đơng giáp tỉnhCao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên</small>
Quang. Về phía Bắc, Hà Giang giáp châu tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn
<small>thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc tỉnh Quảng Tây của nước Cộng</small>
<small>theo đường chim bay, khu vực rộng nhất từ tây sang đông dài 115km và từ bắcxuống nam dai 137 km. Cực bắc của lãnh thé Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của</small>
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">Tổ quốc, cách Lũng Cú khoảng 3km về phía đơng, có vĩ độ 23°13'00"; điểm cực tâycách Xin Man khoảng 10km về phía tây nam, có kinh độ 104°24'05"; mỏm cực đơng
<small>cách Mèo Vac 16km về phía đơng-đơng nam có kinh độ 105°30'04"; giới hạn về</small>
phía Nam giáp Tuyên Quang ở tọa độ 22°10°04”N (Công TTĐT Hà Giang,
Về địa chat, Hà Giang có 4 khu vực chính gồm khu vịm nâng sông Chay, khuQuản Bạ-Bắc Mê, khu vực Đồng Văn-Mèo Vạc và khu tây bắc Vĩnh Tuy (Lê Đức
<small>An và Uông Dinh Khanh, 2012){ 1].</small>
Khu vịm nâng sơng Chay: Lớp thơ nhưỡng hình thành trên nền 2 nhóm đá
<small>chính là macma axit và đá biến chất. Địa hình nơi đây được xếp vao kiểu núi khối</small>
tảng dạng vòm trên nền nguyên sinh phân cắt mạnh. Khu vực này có lượng mưatrung bình hàng năm khá lớn (3.000 mm). Với những điều kiện như vậy, đã tạo nên
<small>ở đây một lớp phủ thé nhưỡng đa dạng, trong đó phan lớn là dat mùn màu vàng đỏ,</small>
phù hợp dé phát triển những cánh rừng thuộc kiểu á nhiệt đới.
<small>Khu Quản Bạ-Bắc Mê: Lớp thé nhưỡng hình thành trên nền 3 nhóm đá chính</small>
là trầm tích đá hạt mịn bị biến chat, tướng đá lục hoặc lục yếu tiếp đến là loại đá vôihoặc sét vôi và đá lục nguyên hạt vừa và mịn. Địa hình ở đây được xếp vào kiểu núikhối tảng trên nền nguyên sinh, bị phân cắt rất mạnh. Đây cũng là khu vực có lượngmưa trung bình năm khá lớn (3.000 mm). Vì vậy, lớp phủ thổ nhưỡng ở đây đa
<small>phần là nhóm đất mùn màu vàng đỏ và mun xám sam, tạo nên một thảm thực vật</small>
hết sức phong phú với những cánh rừng kiểu á nhiệt đới thường xanh.
Khu vực Đơng Văn-Mèo Vac: Lớp thé nhưỡng hình thành trên nền đá vơi bị
<small>phân hố mạnh, địa hình karst. Phần lớn lớp phủ thô nhưỡng ở đây là loại đất đỏ</small>
xám hoặc vàng sam, với thảm thực vật chủ yếu là các loại cây thấp, mật độ thưa.Rừng ở khu vực này thường có các loại cây lấy gỗ thuộc nhóm tứ thiết như trai,
<small>Khu tây bắc Vinh Tuy: Lớp thé nhưỡng hình thành trên cấu trúc địa chất củavịm nâng sơng Lơ. Địa hình nơi đây có đặc trưng là các dải đơi, núi và gị thấp,</small>
sườn ít đốc. Khu vực này có lượng mưa lớn nhất cả nước, do vậy lớp phủ thé
<small>nhưỡng ở đây chủ yếu là nhóm đất màu xám s4m hơi đen, phù hợp với trồng cây ănquả nhất là cam.</small>
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>1.3.3. Địa hình, địa mạo</small>
<small>Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, là vùng cao núi đá phía bắc nằm sát</small>
chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, địa hình
<small>hiểm trở có độ cao trung bình từ 800m đến 1.200m so với mực nước biên. Phân hóađịa hình của Hà Giang gồm 3 vùng (Lê Đức An và Uông Dinh Khanh, 2012)[1].Vùng I: La vùng cao núi đá phía Bắc (cao nguyên Đồng Văn) gồm 4 huyện: Đồng</small>
Văn, Mèo Vạc, n Minh và Quản Bạ. Diện tích tồn vùng là 2.352,7 km. 90%
<small>diện tích là núi đá vơi, đặc trưng cho địa hình karst. ở đây có những dải núi đá tai</small>
mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. Vùng II: Làvùng cao núi đất phía tây gồm các huyện Hồng Su Phi và Xin Man, là một phancủa cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vịm nâng sơng Chảy, có độ cao từ
<small>1.000m đến trên 2.000m. Địa hình nơi đây phổ biến dang vòm hoặc nửa vòm, qua</small>
lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đơi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốcđứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp. Diện tích tự nhiên 1.211,3 km”. Vùng III:Là vùng núi thấp gồm các huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê, Quang Bình vàthành phố Hà Giang là vùng trọng điểm kinh tế của Hà Giang. Khu vực có nhữngdải rừng giàu xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sơng,suối. Diện tích tự nhiên 4.320,3 km”.
<small>Khu vực Quản Bạ là mặt san bang chưa tron ven trên sườn các khối núi, đượcgọi là bình son karst, có tuổi PEdiplen cơ trên các đá carbonat Dé vơn trung và Trias</small>
trung. Về trúc hình thái cơ bản, Hà Giang (Lê Đức An và ng Đình Khanh,
<small>2012)[1] thuộc hình thái Đơng Bắc Bộ. Khối núi trung bình khối tảng vịm Hồng</small>
Su Phì và Đồng Văn: được nâng lên cao (đến 2400mm) và giới hạn ở phía nam bởiđới đứt gãy, trùng với thượng nguồn sông Lô và Gam và cả trung Neogen-Dé tứ hẹpgiữa núi. Bị phân cắt rất dày va sâu với các thung lũng sâu đến 600-800m (NhoQuê), trắc điện dọc sông rất dốc (100-150m/km) tạo nên địa hình dạng núi trung
<small>bình-cao điển hình, tương phản với bề mặt bình sơn phân cắn yếu hơn với địa hình</small>
đơi núi thấp. Khối Hồng Su Phi cấu tạo ở trung tâm bằng granit PZ, xung quanh làđá biến chất PR3-PZ1 với thế nằm chỉnh hợp. Khối Đồng Văn tạo bởi các đá tram
<small>tích PZ phương tây bắc-đơng nam. Cấu tạo khối tàng vịm của nó có thể đã được tạo</small>
lập từ trước KZ. Núi thấp khối tảng uốn nếp Chảy-Gâm: các trầm tích PZ có thế
<small>năm thoải, bi ép nhẹ tạo nên các uôn nêp ngăn, dang thước các nép lôi và lõm, tách</small>
<small>32</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><small>thành từng khối bưởi hệ thống đứt gãy phương tây bắc-đông nam xếp vào đai tạo</small>
<small>nui nội lục PZ sớm (Lê Đức An và ng Đình Khanh, 2012)[ 1].</small>
<small>Trên địa bàn Hà Giang có 49 ngọn núi cao từ 500m đến 2.500m (10 ngọn cao</small>
<small>500-1.000m, 24 ngọn cao 1000-1500m, 10 ngọn cao 1.500-2.000m va 5 ngọn cao từ</small>
<small>2.000-2.500m). Dinh Tây Côn Lĩnh (2419m) và ngọn Kiều Liêu Ti (2402m) là caonhất (Cong TTĐT Hà Giang, 2013)[196].</small>
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Địa lý, ở Hà Giang có các nhóm và loại đấtchính sau: Nhóm đất phù sa, gồm các loại: đất phù sa trung tính, ít chua (FLe), đấtphù sa chua (FLd) va dat phù sa có tầng đốm ri (FLe); Nhóm dat lay và go-lay, gồm
<small>đất gờ-lây trung tính (GLe) và đất gd-lay chua (GLd); Nhóm dat đen: dat đen </small>
các-bo-nát (LVk); Nhóm đất tích vơi: gồm đất tích vơi (CLh) va núi đá vơi; Nhóm đấtxám gồm đất xám cơ giới nhẹ (ACa), đất xám feralit (ACf), đất xám điển hình
<small>(ACh), đất xám gị-lây (ACg) và đất xám mùn trên núi (ACu); Nhóm đất đỏ vàng</small>
gồm đất nâu đỏ (FRr), đất nâu vàng (FRx), dat min vàng đỏ trên núi (FRu); Nhóm
<small>đất mùn A-lít núi cao (ALh). Trong các nhóm đất trên, nhóm đất xám chiếm diện</small>
tích lớn nhất. Đây là nhóm đất rất thích hợp dé trồng và phát triển các loại cây ăn
<small>quả (cam, quýt, lê, mận....), cây công nghiệp (chè, cà phê....), cây dược liệu (đỗ</small>
trong, thảo quả, huyền sâm....) (Nguyễn Dinh Kỳ va cs, 2006)[52].
<small>1.3.5. Thủy văn</small>
Do địa hình phức tạp đã tạo cho Hà Giang có nhiều sơng, suối, hồ phục vụ đời
<small>sống cư dân và thuận tiện cho tưới tiêu đồng ruộng nhưng hầu hết các sơng có độ</small>
nơng sâu khơng đều độ déc lớn, nhiều ghénh thác, ít thuận lợi cho giao thơng thuỷ.
<small>Ngồi những sơng chính chảy qua địa phận tỉnh Hà Giang là sông Lô, bắt nguồn từ</small>
Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua Thanh Thuỷ, thành phố Hà Giang và sông Gâmbắt nguồn từ Trung Quốc qua Cao Bằng, Bắc Mê chảy xuống Tun Quang, cịn cómột số sông ngắn và nhỏ chảy trong tỉnh như đoạn nguồn sông Chảy, sông NhoQuế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng cùng với nhiều suối to, nhỏ nằm xen giữa
<small>núi rừng (Cổng TTĐT Hà Giang, 2013)[196].</small>
Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân Nam,Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt-Trung (khu vực Thanh Thuy), qua thành phó
<small>33</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><small>Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho</small>
<small>vùng trung tâm tỉnh.</small>
<small>Sơng Chay bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Linh và sườn đông bắc</small>
đạt 2,0km/km”. Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồncung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang.
Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng
<small>Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô. Đây là nguồn cung cấp</small>
nước chính cho phần đơng của tỉnh.
Ngồi ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang cịn có các sơng ngắn và nhỏ hơn nhưsông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấpnguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư. Sơng ở Hà Giang có độ nơngsâu khơng đều, độ dốc lớn nhiều thác ghénh, không thuận lợi cho giao thơng đườngthuỷ, nhưng đó cũng là nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt, tưới tiêu đồng
<small>ruộng, đảm bảo mơi trường sinh thái.</small>
<small>1.3.6. Khí hậu</small>
<small>Khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt </small>
Bắc-Hồng Liên Sơn và có đặc điểm riêng là mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc,ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc,... Các thơng số khí hậu sau được tông hợp từ chuỗisố liệu của các trạm đo mưa, trạm khí tượng trên tồn quốc (1905-2008), số liệu lưu
<small>trữ tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy va và Mơi trường.</small>
<small>Bảng 1. 1 Số liệu sinh khí hậu ghi nhận tại các trạm quan trắc ở Hà Giang</small>
<small>, (m) mưa (mm) | nhiệt | mua am hậu S A D</small>
Bac Mé 74 1615 Am Mưa vừa |Ãmâm |3 |0 |0
<small>Hoang Su Phi | 553 1683 Ám Mưa vừa | Am4m_ |3 2 0</small>
<small>š { Mua rat | ¿ ,</small>
<small>Bac Quang 74 4700 Am +k Amướt | 0 0 0</small>
<small>Ghi chú: S: số tháng khô; A-S6 tháng han; D-sé tháng kiệt;</small>
Nguồn: Viện Khoa học Khi tượng Thủy văn và Môi trường: chuỗi số liệu 1905-2008 (2012){121]
<small>34</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21°C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao</small>
động trên 10°C và trong ngày cũng từ 6-7°C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên
<small>đến 40°C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2°C (tháng 1).</small>
Theo số liệu năm 1999, tại các trạm khí tượng đo được nhiệt độ trung bình năm là:
<small>28,1°C (trạm Hà Giang), 28,3°C (trạm Bắc Quang), 27,35°C (tram Bắc Mê). Nhiệtđộ tháng thấp nhất (thang I): 15,6°C (trạm Hoàng Su Phi). Dao động nhiệt ngày va</small>
đêm ở các thung lũng diễn ra mạnh mẽ hơn vùng đồng bằng (Viện Khoa học Khí
<small>tượng Thuy va và Môi trường, 2012)[121].</small>
Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Tồn tỉnh đạt bình qn lượng mưahàng năm 2.360 mm (khoảng 2.300-2.400 mm), riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là
<small>một trong số trung tâm mưa lớn nhất Việt Nam. Dao động lượng mưa giữa các</small>
<small>vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo được ở</small>
mm... Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thé đạt trên 1.400 mm, trongkhi đó lượng mưa tháng 12 ở Hồng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm (Viện
<small>Khoa học Khí tượng Thủy va và Mơi trường, 2012)[121].</small>
Độ âm bình qn hang năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng khônglớn. Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87-88%, thời điểm thấp nhất
<small>(thang 1, 2, 3) cũng vào khoảng 81%, đặc biệt ranh giới giữa mùa khô và mùa mưakhông rõ rệt (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Mơi trường, 2012)[ 121].</small>
<small>Các sinh khí hậu ghi nhận ở Hà Giang theo cách tính của Thái Văn Trừng</small>
(1978) được trình bày như Bang 1. 3. cho thấy có 5 sinh khí hậu là ấm-âm, ấm-ướt,
<small>thảm thực vật nguyên sinh.</small>
<small>Bảng 1. 3 Các chế độ khí hậu ghi nhận tại Hà Giang theo khu vực</small>
<small>Khu vực Chế độ nhiệt Chế độ 4m Chỉ số khơ hạnPhó Bảng Am-lanh-RAt lạnh Am 3.0.0</small>
<small>Hà Giang Am-lanh Am 3.0.0</small>
<small>Hoang Su Phi Ảm-lạnh-Rất lạnh Am 3.2.0</small>
<small>1.3.7. Tài nguyên rừng</small>
<small>Là một tinh vùng núi cao, núi đồi chiếm hơn 3/4 diện tích, mơi trường thuận</small>
lợi cho thực vật tự nhiên cũng như rừng trồng phát triển. Rừng là thế mạnh kinh tế
<small>chủ yêu của Hà Giang và còn có ý nghĩa lớn vào khoa học và bảo vệ môi trường.</small>
<small>36</small>
</div>