Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Tiểu luận: Bầu cử trong đời sống chính trị hiện đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (305.07 KB, 12 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

2

<b>Mở đầu </b>

Đã hơn nửa thế kỉ qua kể từ ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, những thành tựu mà đất nước đã đạt được đủ để khiến bất kì người dân Việt Nam nào cũng phải tự hào. Để có được những thành tựu đó, sự tin tưởng của quần chúng đối với Đảng, sự đoàn kết một lịng giữa chính phủ và nhân dân là một trong những yếu tố quan trọng. Và nó được thể hiện rất rõ trong pháp luật bầu cử qua các cuộc bầu cử được xây dựng, tiến hành qua các năm, thể hiện sự tiến bộ trong tổ chức chính quyền, cơ cấu cán bộ công chức nhà nước thực hiện nhiệm vụ. Bầu cử là một khâu rất quan trọng trong công cuộc chọn ra những người tài đức xứng đáng với chức vụ, trách

<i>nhiệm xây dựng phát triển đất nước. “Trong nội dung dân chủ phải kể đến chế độ bầu cử. Lâu nay, chúng ta ít bàn đến việc cải tiến chế độ bầu cử, gần như là yên tâm với chế độ bầu cử đã được hình thành từ trước nhưng trong nhiều năm qua khơng hề có sự thay đổi”<sup>1</sup>. Để thực hiện được dân chủ, thì bầu cử là phương diện quan trọng để </i>

đánh giá tính dân chủ của một quốc gia, nhất là ở một nước XHCN như ở Việt Nam, nơi chỉ có một chính Đảng lãnh đạo. Xét về cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn, định hướng chính trị của Đảng cũng như định hướng nghiên cứu của khoa học pháp lý và khoa học chính trị, việc đổi mới nhận thức về pháp luật bầu cử là hồn tồn phù hợp với mục tiêu chính trị cũng như mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đời sống chính trị càng được cải thiện thì việc bầu cử càng phát sinh thêm nhiều những vấn đề từ các phía bên tổ chức bầu cử và bên bầu cử. Chúng ta nghiên cứu về “Bầu cử trong đời sống chính trị hiện đại”, để tìm hiểu những điểm mới, đặc điểm và thực tiễn thi hành các luật về bầu cử, các quy định bầu cử khác có liên quan, từ đó đúc rút những điểm thiếu khuyết cần khắc phục, tìm ra giải pháp sửa đổi, kiến nghị sửa đổi bổ sung những quy định hợp lý, ngày càng nâng cao chất lượng bầu cử, làm cầu nối thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của nhân dân đối với chính quyền.

<small>1 Đào Trí Úc </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

3

<b>I, Bầu cử </b>

<b>1, Khái niệm bầu cử </b>

Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra một cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền. Đây là cơ chế thông thường mà các nền dân chủ hiện dùng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, thỉnh thoảng ở bộ máy hành pháp, tư pháp, và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là một trong những chế định quan trọng trong ngành Luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước.<small>2</small>

Trong Luật Hiến pháp thuật ngữ "bầu cử" được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước, thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) với điều kiện để bầu một đại biểu (chức danh) phải có từ hai ứng cử viên trở lên. Định nghĩa trên cho phép phân biệt bầu cử với phương pháp khác thành lập cơ quan nhà nước như bổ nhiệm<small>3</small>. Ngồi những cuộc bầu cử mang tính chất chính trị (thành lập cơ quan nhà nước), bầu cử còn được sử dụng trong tổ chức và hoạt động của một số tổ chức xã hội, chính trị, ví dụ trong tổ chức cơng đồn của một số nước, ban lãnh đạo cơng đồn được thành lập bằng con đường bầu cử.

Khác với cuộc bầu cử được sử dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, cuộc bầu cử thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật do nhà nước ban hành. Thông thường Nghị viện, cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng con đường bầu cử. Ở một số nước, các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống, Chính phủ, Tịa án cũng được thành lập thơng qua bầu cử.

<b>2, Các nguyên tắc bầu cử </b>

<b>a, Nguyên tắc phổ thông </b>

<small>2Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, trang 239</small>

<small>3Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, trang 53</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

4

Pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tơn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, cơng khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử.

<b>b, Nguyên tắc bình đẳng </b>

Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi cơng dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau khơng phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân.

Nội dung nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; Mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng cịn địi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng.

<b>c, Nguyên tắc trực tiếp </b>

Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp địi hỏi cử tri khơng được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

5

khơng tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật khơng thể đến phịng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hịm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.

Trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp là nguyên tắc bầu cử gián tiếp. Theo nguyên tắc này, cử tri không trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình, mà bầu ra thành viên của tuyển cử đồn, sau đó tuyển cử đồn mới bầu ra cơ quan đại diện hay chức danh nhà nước. Bầu cử gián tiếp có thể qua hai cấp, như bầu Tổng thống Mỹ (cử tri bầu ra Đại cử tri đoàn), Thượng nghị viện Pháp; hoặc bầu qua ba cấp, như bầu Quốc hội Trung Quốc (Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc).

<b>d, Nguyên tắc bỏ phiếu kín </b>

Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm sốt từ bên ngồi đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri. Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín.

Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hịm phiếu.

<b>3, Vị trí, vai trị của bầu cử </b>

Thứ nhất, bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ. Bởi một chế độ chỉ được coi là dân chủ khi có bầu cử, nó cho phép người dân không chỉ trao quyền cho những người thay mặt mình quản lý xã hội mà cịn là công cụ quan trong để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước, kiểm sốt khơng để bộ máy nhà nước lạm quyền, tha hóa, xảy ra các vấn nạn khác gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. UNESCO đã khẳng định bốn yếu tố cấu thành chế độ dân chủ, trong đó có “các cuộc bầu cử tự do và công bằng”, thông qua bầu cử, người dân có thể tự do lựa chọn những người thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<i>tác Châu Âu đã khẳng định rằng: “ý chỉ của nhân dân thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp của quyền lực nhà nước”. </i>

Một chính quyền do người dân thành lập thông qua bầu cử theo thủ tục, nguyên tắc bầu cử đã quy định mới có thể được sự đồng tình và thừa nhận của không chỉ nhân dân mà cả bạn bè quốc tế, từ đó mới có thể tồn tại lâu dài, hoạt động ổn định.

Thứ ba, bầu cử là phương thức nhằm đảm bảo các quyền tự do dân chủ của nhân dân, bảo gồm quyền bỏ phiếu, quyền ứng cử, quyền vận động tranh cử, quyền tự do tư tưởng, tự do ngơn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội... trong đó cao cấp nhất là quyền được lựa chọn và thay đổi chính quyền. Những quyền này thuộc về nhóm quyền chính trị, dân sự đã được ghi nhận rõ ràng và đầy đủ trong luật nhân quyền quốc tế và hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Có rất nhiều quyền chỉ có thể được thực hiện thi tham gia vào bầu cử, đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho nhân dân.

<b>II, Bầu cử trong đời sống chính trị hiện đại tại Việt Nam </b>

<b>1, Quá trình hình thành của các chế định bầu cử tại Việt Nam </b>

Chế định bầu cử của Việt Nam, cùng với đó là chế độ bầu cử, được hình thành từ rất sớm. Những văn bản quy phạm pháp luật nền tảng đầu tiên về bầu cử đã được ban hành từ trước khi có Hiến pháp năm 1946, thậm chí đã được dự kiến từ trước Tổng khởi nghĩa. Ngay từ khi Quốc dân đại biểu đại hội họp ở Tân trào ngày 16, 17 tháng 8 năm 1945 để chuẩn bị tổng khởi nghĩa đã quyết định Quốc dân đại hội (Quốc hội khóa 1) sau này sẽ được hình thành qua con đường bầu cử (Lời nói đầu của sắc

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

7

lệnh số 14, ngày 08/9/1945 của Chủ .tịch Chính phù lâm thời về tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc viết rõ: “Chiểu theo nghị quyết của Quốc dân đại biểu đại hội họp ngày 16, 17 tháng 8 năm 1945 tại khu Giải Phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo Chính phủ dân chủ cộng hịa, và Chính phủ nhân dân tồn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiêu cử lên”). Chưa đầy một tuần sau khi tuyên bố độc lập, ngày 08 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời lúc bấy giờ là Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 14 về tổ chức tổng tuyển cử tồn quốc, trong đó ấn định số đại biểu của Quốc dân đại hội, điều kiện đi bầu cử, ứng cử. Chỉ hơn một tháng sau đó, ngày 17 tháng 10 năm 1945, Chính phủ lâm thời đã thông qua sắc lệnh số 51, văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên ấn định thể lệ cho một cuộc tổng tuyển cử dân chủ ở Việt Nam. Đối với việc bầu cử Hội đồng nhân dân ở địa phương thì tới năm 1957 mới có văn bản điều chỉnh riêng, tức là Sắc luật số 004/SLt quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp. Song ngay từ tháng 11 năm 1945, Chính phủ lâm thời cũng đã ban hành sắc lệnh số 63 về tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính, trong đó có một số điều khoản về thể lệ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Trải qua mấy mươi năm, bầu cử ngày càng được chú trọng và phát triển lớn về quy mô, cách thức và tính chun nghiệp hóa hệ thống bầu cử. Thơng thường, các cuộc bầu cử được tiến hành khi các cơ quan dân cử (hay cơ quan quyền lực nhà nước) hết nhiệm kỳ thì sẽ được ấn định vào vị trí cơng tác khác. Còn những người trúng cử sau này cũng được ấn định từ trước từ Ủy ban bầu cử. Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, nhiệm kỳ của Quốc hội mỗi khóa là năm năm, tương tự, 5 năm cũng là nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp chính vì vậy cứ 5 năm một lần, ở Việt Nam lại định kỳ tiến hành bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp.

Bầu cử cũng được hiểu là cách thức nhân dân trao quyền cho Nhà nước và với tư cách là một chế độ tiên tiến, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơ quan của mình. Cuộc bầu cử là một trong những hình thức hoạt động xã hội – chính trị quan trọng của nhân dân. Bầu cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri đại diện

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

8

cho các giai cấp, tầng lớp, tơn giáo, giới tính… Bởi vậy để đạt được kết quả, các cuộc bầu cử phải được tiến hành có tổ chức, theo những trình tự chặt chẽ nhất định.

<b>2, Thực trạng bầu cử tại Việt Nam hiện nay </b>

Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Hiến pháp 2013 được Quốc hội thông qua, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến về bầu cử. Điều 7 Hiến pháp quy định các nguyên tắc bầu cử “phổ thơng, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”, các nguyên tắc này thống nhất với nhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Hiến pháp cũng ghi nhận và phát triển quyền bầu cử, ứng cử với tư cách là quyền chính trị cơ bản của cơng dân.

Nhìn chung, trong các cuộc bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập đúng trình tự, thủ tục, thời gian, số lượng và thành phần góp phần triển khai các công tác bầu cử kịp thời, bảo đảm tiến độ. Tuy nhiên, tổ chức, hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử theo quy định hiện này còn tồn tại một số hạn chế như thành phần của các tổ chức phụ trách bầu cử chưa có sự tham gia của đại diện khối cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp. Bên cạnh đó, việc các thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia đều hoạt động kiêm nhiệm được cho là chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của cuộc bầu cử khách quan, cơng bằng và bình đẳng.

Hiện nay việc phân chia đơn vị bầu cử còn một số hạn chế như số lượng dân cư (cử tri) trong nhiều đơn vị bầu cử không đồng đều, số lượng đại biểu được ấn định cho một đơn vị bầu cử cũng khác nhau, số người ứng cử trong đơn vị bầu cử cũng chênh lệch nhau về điều kiện, dẫn đến tình trạng thiếu cơng bằng, bình đẳng trong bầu cử. Những khác biệt đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả bầu cử công bằng giữa các ứng viên. Như đơn vị bầu cử được bầu 2, số người ứng cử là 4 thì cơ hội trúng cử sẽ khó khăn hơn đơn vị được bầu 3, số người ứng cử là 5.

Ngồi ra, tình trạng bố trí người ứng cử về ứng cử ở đơn vị bầu cử cịn do cảm tính, thiếu khách quan, hoặc bố trí những người ứng cử trong cùng một đơn vị bầu cử có sự chênh lệch về các tiêu chí… cũng ảnh hưởng đến kết quả bầu cử. Những vấn đề này cần được nghiên cứu, khắc phục.

<b>3, Bầu cử trong đời sống chính trị giai đoạn hiện nay ở Việt Nam </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<i>6 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng </i>

dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.

Bầu cử cũng được hiểu là cách thức nhân dân trao quyền cho Nhà nước và với tư cách là một chế độ tiên tiến, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơ quan của mình. Cuộc bầu cử là một trong những hình thức hoạt động xã hội – chính trị quan trọng của nhân dân. Bầu cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, tơn giáo, giới tính… Bởi vậy để đạt được kết quả, các cuộc bầu cử phải được tiến hành có tổ chức, theo những trình tự chặt chẽ nhất định.

Thuật ngữ bầu cử ở Việt Nam được cho là gắn kết mật thiết với khái niệm dân chủ, trong đó những cuộc bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ đó. Trong một nền dân chủ, quyền lực của Nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân (người bị quản lý). Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng. Bầu cử cũng được hiểu là cách thức nhân dân trao quyền cho Nhà nước và với tư cách là một chế độ tiên tiến, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơ quan của mình. Cuộc bầu cử là một trong những hình thức hoạt động xã hội – chính trị quan trọng của nhân dân. Bầu cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, tơn giáo, giới tính… Bởi vậy, để đạt được kết quả, các

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

10

cuộc bầu cử phải được tiến hành có tổ chức, theo những trình tự chặt chẽ nhất định. Những trình tự thủ tục này được pháp luật quy định rất chặt chẽ, ở Việt Nam có hàng loạt các văn bản pháp luật điều chỉnh về bầu cử từ Hiến pháp – văn bản có hiệu lực

<i>pháp luật cao nhất đến các đạo luật như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2001, 2007, 2010; Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 2003. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp diễn ra vào ngày 22/5/2016 được thực hiện theo đạo luật thống nhất về bầu cử, đó là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015. </i>

<b>III, Kết luận </b>

Bài viết đã làm rõ các vấn đề lý luận chung về hệ thống bầu cử: khái niệm; bản chất; vị trí, vai trị và các tiêu chí đánh giá một hệ thống bầu cử. Phân tích giai đoạn phát triển của hệ thống bầu cử ở nước ta từ năm 1945 đến nay cũng như chỉ ra những thành tựu và một số hạn chế, bất cập của hệ thống bầu cử ở Việt Nam nêu lên những điểm mới về hệ thống bầu cử trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Cuộc bầu cử lần nào cũng luôn là vấn đề thời sự, là vấn đề “nóng” nhất trong mọi vấn đề "nóng"; cũng quan trọng, ý nghĩa chính trị như nhau. Nhưng mỗi cuộc bầu cử diễn ra trong một bối cảnh nhất định. Bối cảnh đó chi phối mạnh mẽ đến ý nghĩa, tầm quan trọng, cách thức chuẩn bị. Hiến pháp 2013 - một bản Hiến pháp có nhiều điểm mới, tạo ra khung khổ rộng lớn hơn cho phát triển, đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Trên cơ sở bản Hiến pháp đó, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương có nhiều điểm mới, liên quan đến hai thiết chế quyền lực rất lớn, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Hai đạo luật này được ban hành với thông điệp rất rõ ràng là chúng ta đề cao vai trò của cơ quan dân cử, tạo mọi cơ sở pháp lý thuận lợi nhất cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng quyền lực mà nhân dân ủy quyền, tránh hình thức; một cơ quan quyền lực mạnh, thực sự là cơ quan đại diện của dân. Sau mỗi lần bầu cử chung cách nhau 5 năm, chúng ta rút ra được những kinh nghiệm tốt, khắc phục hạn chế của lần bầu cử chung trước đó để làm tốt hơn lần sau. Chúng ta cũng tổ chức bầu cử trong mơ hình bầu cử mới. Hiến pháp năm 2013 đã định ra một chế định rất quan trọng là Hội đồng Bầu cử quốc

</div>

×