Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

bài tiểu luận đề tài tìm hiểu đặc điểm về nấmvà con người

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.54 MB, 28 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN</b>

<b>KHOA: SINH HỌC---*---</b>

<b>BÀI TIỂU LUẬN</b>

<b>ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM VỀ NẤMVÀ CON NGƯỜI</b>

<b>Tên sinh viên: Nguyễn Thị ChinhMã sinh viên: 17001248Số điện thoại: 0973302372</b>

<b>Email: </b>

<b>Hà Nội, 25/04/2022</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

MỤC LỤC

<b>I, Tổng quan về Nấm...4</b>

<b>II. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THỂ SINH DƯỠNG CỦA NẤM...6</b>

<b>1.Các dạng cơ thể sinh dưỡng...6</b>

<i><b>1.1. Cơ thể sinh dưỡng của nấm thật (Eumycotan)...6</b></i>

<i><b>1.2. Nấm nhầy (slime moulds)...6</b></i>

<i><b>1.3. Các nấm sống chuyên hoá...7</b></i>

<b>2. Những biến dạng của hệ sợi nấm...7</b>

<b>3. Tế bào nấm...9</b>

<i><b>3.1. Cấu tạo tế bào nấm...9</b></i>

<i><b>3.2. Thành phần hoá học của tế bào nấm...9</b></i>

<b>III. SỰ SINH SẢN CỦA NẤM...10</b>

<b>1. Sinh sản sinh dưỡng...10</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

<b>6.4. Sinh sản của địa y...20</b>

<b>6.5. Phân loại địa y - gồm 2 lớp...21</b>

<b>V. Vai trò của Nấm đối với đời sống con người...21</b>

<b>1. Nguồn cung cấp chất dinh dưỡng...21</b>

<b>2. Giá trị dược liệu của Nấm...22</b>

<b>3. Ngành công nghiệp phụ gia...23</b>

<b>4. Điều khiển sinh học...25</b>

<b>5. Kẻ phá hoại và gây độc...26</b>

<b>Tài liệu tham khảo...29</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

<b>I, Tổng quan về Nấm.</b>

Nấm có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của con người, chúng có vai tròthực tiễn trong nền kinh tế, khoa học và các chu trình vật chất, năng lượng trongthiên nhiên.

Nấm có tên khoa học là Fungi, nấm có một thế giới hồn tồn riêng biệt, khơnggiống các giới khác, nhưng mỗi phần cấu trúc sẽ khá giống một ít. Chúng thuộcgiới thứ 5 (cuối cùng) trong tổng 5 giới sinh vật trên trái đất này, gồm giới khởi

<b>sinh, giới nguyên sinh, giới thực vật, giới động vật và cuối cùng là GIỚINẤM (Mycota).</b>

Theo các số liệu thống kê đến hiện nay thì có đến đâu đó 70,000 lồi nấm đangsinh trưởng trong tự nhiên.

Có nhiều thơng tin cho rằng, có khoảng hơn 2,000 loại là có thể ăn được trong10,000 loại nấm lớn, nhưng cũng có nguồn tin cho rằng có hơn 100 loại là có thểchế biến ăn được và chế biến thành thuốc, trong đó có khoảng 80 loại nấm đượcnghiên cứu và áp dụng vô nuôi trồng cũng như để phục vụ thương mại như cácloại hay ăn hiện nay.

Con người đã gián tiếp nhận thức được nấm kể từ khi ổ bánh mì nhồi men đầutiên được nướng và quả nho đầu tiên phải được biến thành rượu vang . Các dântộc cổ đại đã quen thuộc với sự tàn phá của nấm trong nông nghiệp nhưng lạicho rằng những căn bệnh này là do cơn thịnh nộ của các vị thần. Nấm có ở khắp

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

mọi nơi với số lượng rất lớn — trong đất và khơng khí , trong hồ, sơng và biển,trên và trong thực vật và động vật, trong thực phẩm và quần áo, và trong cơ thểcon người . Cùng với vi khuẩn , nấm có nhiệm vụ phân hủy chất hữu cơ và giảiphóng carbon , oxy , nitơ và phốt pho vào đất và bầu khí quyển. Nấm rất cầnthiết cho nhiều quy trình gia dụng và cơng nghiệp, đặc biệt là việc làm bánh mì,rượu, bia và một số loại pho mát . Nấm cũng được dùng làm thực phẩm; ví dụ,một số loại nấm , nhiều hơn và nấm cục là những món ăn ngon của Epicurean ,và mycoprotein ( protein của nấm ), có nguồn gốc từ sợi nấm của một số loàinấm, được sử dụng để làm thực phẩm giàu protein .

Sự liên quan đến y học của nấm được phát hiện vào năm 1928, khi nhà vi khuẩnhọc người Scotland Alexander Fleming nhận thấy nấm mốc xanh lá câyPenicillium notatum phát triển trong đĩa nuôi cấy củaVi khuẩn tụ cầu. Xungquanh vết nấm mốc là một vịng trịn trong suốt, khơng có vi khuẩn sinh sơi.Fleming đã phân lập thành cơng chất có tác dụng ức chế sự phát triển của vikhuẩn từ nấm mốc. Năm 1929, ông xuất bản một báo cáo khoa học thông báoviệc khám phá rapenicillin , loại thuốc kháng sinh đầu tiên trong số một loạtthuốc kháng sinh — phần lớn trong số chúng có nguồn gốc từ nấm — đã tạo ramột cuộc cách mạng trong thực hành y tế .

Vì vậy, việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng nấm nói riêngnhằm xác định thành phần lồi,bổ sung cho danh lục khu hệ nấm Việt Nam,đánh giá tính đa dạng sinh học, đa dạng về sinh thái và giá trị tài nguyên củanấm, xác định các loài quý hiếm, loài nguy cấp và lồi có tiềm năng lớn trongcơng nghệ sinh học và kinh tế quốc dân để ứng dụng những lồi có ích và hạnchế những tác hại do nấm gây ra, bảo tồn và phát triển nguồn gen của những lồiq hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng để bảo vệ sự đa dạng sinh vật ở Việt Namvà thế giới.

<b>II. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THỂ SINH DƯỠNG CỦA NẤM</b>

<b>1.Các dạng cơ thể sinh dưỡng</b>

<i><b>1.1. Cơ thể sinh dưỡng của nấm thật (Eumycotan)</b></i>

Là sợi nấm (hypha) dạng ống (tubular), phân nhánh lan toả tạo

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

nhánh, mỗi nhánh tiếp tục sinh trưởng và phân nhánh liên tụctạo thành hệ sợi nấm. Sợi nấm có thể có vách ngăn (septum)hay khơng có vách ngăn. Sợi nấm khơng có vách ngăn là sợinấm đơn bào có nhiều nhân, sợi nấm có vách ngăn là sợi nấmđabào, mỗi tế bào có một hay nhiều nhân. Vách ngăn có thủnglỗ đơn giản hay phức tạp, qua lỗ thủng thì ngun sinh chất vànhân có thể di chuyển từ tế bào này qua tế bào khác. Hầu hếtcác lồi có hệ sợi nấm nằm sâu trong giá thể(đất, xác thựcvật,gỗ...)

<i>Cấu trúc một sợi nấm gồm 4 phần: phần đỉnh, phần sinh trưởng, phần phânnhánh và phần trưởng thành. Phần đỉnh ở đầu của sợi nấm có lớp màng mỏng</i>

gồm những chuỗi sợi bằng chitin hay cellulose nhỏ và thưa, phần sinh trưởng vàphần phân nhánh các chuỗi sợi xếp đan chéo nhau, phần trưởng thành ngồi cácsợi đan chéo nhau cịn có các sợi xếp song song làm cho vách sợi nấm thườngcứng.

<i><b>1.2. Nấm nhầy (slime moulds)</b></i>

Được xem là nấm giả (pseudofungi). Nấm nhầy có cơ thể sinh dưỡng là thể nhầy(plasmodium). Có 3 dạng thể nhầy:

- Thể nhầy chính thức (euplasmodium): là khối chất tế bào đồng nhất có hàngngàn nhân lưỡng bội, khơng có màng cứng bao bọc, màu hồng hay vàng.- Thể nhầy giả (pseudoplasmodium): dạng amip, tập hợp các amip đơn bào, trần,có một nhân đơn bội tạo thành thể nhầy giả, các amip khơng hồ tan vào nhau,giữ ngun màng chất ngun sinh, các amip khơng có vách tế bào cứng baobọc mà chỉ có màng chất nguyên sinh, tất cả amip hợp lại thành một khối chunggọi là thể hợp bào, còn gọi là thể nhầy giả.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

- Thể nhầy mạng lưới (filoplasmodium): do các amip nhầy chứa một nhân đơnbội, trần. Các tế bào amip liên kết với nhau bằng các sợi nhầy ở hai đầu tạothành thể nhầy dạng lưới.

<i><b>1.3. Các nấm sống chuyên hoá </b></i>

Như Nấm men (<i>Saccharomyces</i>) chuyên hố sống trên mơi

sợi nấm có xu hướng đứt đoạn tạo thành những cơ thể đơn bàohình cầu, hình trứng có một nhân hay nhiều nhân.

<b>CẤU TRÚC QUẢ THỂ NẤM ĐẢM </b>

<b>2. Những biến dạng của hệ sợi nấm </b>

Thường trong thiên nhiên sợi nấm phân nhánh tạo thành hệ sợi nấm (mycelium),là cơ thể sinh dưỡng. Tuy nhiên, hệ sợi nấm có thể biến dạng để thích nghi vớimơi trường sống như:

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

Do sợi nấm phân nhánh dạng rễ nối liền quả thể với rễ cây giúp nấm cộng sinhvới thực vật. Rễ nấm kết hợp chặt chẽ với rễ cây, rễ nấm có vai trị quan trọngđối

với đời sống của cây. Rễ nấm giúp cây tăng cường sự hấp thụ và vận chuyển cácyếu tố dinh dưỡng như: N, P, K, Ca..., giúp cây chống lại các bệnh hại rễ, rễ nấmcòn tăng cường sức đề kháng của cây đối với các điều kiện bất lợi của môitrường, rễ nấm giúp gia tăng tỷ lệ sinh trưởng của cây. Rễ nấm có hai loại: rễnấm ngoại sinh (ectomycorrhiza) hình thành ở ngồi tế bào rễ cây, rễ nấm nộisinh (endomycorrhiza) sống bên trong tế bào rễ cây. Rễ nấm có thể mọc lan xahàng trăm mét và từ rễ nấm này các quả thể sẽ phát triển.

c. Vòi hút (Haustorium: giác mút)

Là biến dạng của sợi nấm thích ứng để hút các chất dinh dưỡng ở nấm ký sinh.Vòi hút thường đâm sâu vào bên trong tế bào cây chủ để hút chất dinh dưỡng,vòi hút có dạng mấu trịn, dạng ống hoặc dạng sợi phân nhánh.

f. Hạch nấm (Sclerotium)

Là một biến dạng của sợi nấm có dạng hạch hay dạng củ, được tạo thành từnhiều lớp tế bào của nấm. Các tế bào bên ngoài kích thước nhỏ, màng dày, thấmnước để bảo vệ; các tế bào bên trong có màng mỏng, kích thước lớn, chứa chấtdự trữ. Kích thước hạch nấm thay đổi từ vài mm đến vài chục cm. Hạch nấm cóvai trị giúp nấm vượt qua các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh, khi mơi trườngthuận lợi thì hạch nấm nảy mầm.

<b>3. Tế bào nấm </b>

<i><b>3.1. Cấu tạo tế bào nấm </b></i>

Tế bào của nấm là một tế bào thực sự (eucyte) bao gồm: vách tế bào, màng chấtnguyên sinh, chất tế bào, thể hạt nhỏ, ribosome, nhân, không bào, các hạt dự

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

trữ... Vách tế bào ở đa số nấm là chitin, một số ít nấm vách tế bào bằngcellulose. Chất tế bào phân bố sát vách tế bào, không có lục lạp và các thể màukhác. Chất dự trữ ở tế bào nấm gồm: glycogen, volutin, lipid. Một số chi nấmmen như Taphrina, Protomyces, Crytococcus có chất dự trữ là tinh bột. Màu sắc của nấm do các chất màu có thành phần và tinh chất khác nhau tạo nên.Chất màu thường tan trong không bào, chất tế bào và vách tế bào. Chất màukhông phải là diệp lục (chlorophyll), phycobilin. Chất màu trong tế bào nấmthuộc loại quinon: anthraquinon, naptaquinon, dẫn xuất của phenoxaron:xinnabarin, carotinoit và melanin.

Nhân của tế bào nấm gồm màng nhân, chất nhân, hạch nhân và thể nhiễm sắc.Số lượng thể nhiễm sắc có từ 2 - 14. Số lượng nhân ở trong tế bào nấm rất biếnđộng, mỗi tế bào có 1, 2 hoặc nhiều nhân. Ở các loài nấm túi và nấm đảm, saugiai đoạn giao phối sinh chất chuyển qua giai đoạn song hạch (n + n) thì mỗi tếbào ln ln có hai nhân.

Ty thể của tế bào nấm có nhiều và đa dạng. Mào răng lược của ty thể(mitochondrial cristae) dạng phẳng dẹt. Khơng bào thường hình cầu hoặc hìnhtrứng, khơng bào chứa dịch tế bào. Dịch tế bào nấm chứa các dịch điện phân ởtrạng thái hoà tan (như: Na, K, Mg,Ca, Cl, PO4...) một số chất hữu cơ ở trạngthái keo (như protid, lipid, glucid, enzyme), các sắc tố và một số thể ấn nhập kếttinh hoặc vơ định hình như glycogen, calci oxalat. Glycogen có trong khơngbào, nhưng cũng có thể gặp trong chất nguyên sinh. Calci oxalat là dạng muốivơ cơ ở dạng tinh thể có thể có trong một số tế bào nấm.

<i><b>3.2. Thành phần hoá học của tế bào nấm </b></i>

Thành phần hoá học của tế bào nấm thay đổi theo loài, theo từng chủng trongloài, theo vị trí của tế bào trên sợi nấm, theo tuổi (Girbardt, 1969), theo các điềukiện sinh thái như: sự thơng khí, nhiệt độ hoặc thành phần mơi trường sống.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

<b>Tế bào Nấm men (Saccharomyces)</b>

Thành phần nguyên tố hoá học ở tế bào nấm: quan trọng nhất là carbon (40%),oxy (40%), nitơ (7- 8%) và hydro (2 - 3%); còn lại là các nguyên tố: S, P, K,Mg, Ca, Mn, Fe, Zn, Cu,... Số lượng các nguyên tố ở tế bào nấm là 50, tức làhầu hết các nguyên tố ở các mẫu đất. Các tế bào ở sợi nấm sinh dưỡng có nướcchiếm 90% trọng lượng. Ngồi nước, trong tế bào nấm cịn có các hợp chất hữucơ và vô cơ khác. Những chất này là thành phần cấu tạo tế bào hoặc những sảnphẩm trao đổi chất của tế bào.

<b>III. SỰ SINH SẢN CỦA NẤM </b>

Ở nấm có 3 hình thức sinh sản là: sinh sản sinh dưỡng, sinh sản vơ tính và sinhsản hữu tính.

<b>1. Sinh sản sinh dưỡng</b>

Sự sinh sản sinh dưỡng ở nấm do một phần của cơ thể nấm như: một phần của tếbào, tế bào, một đoạn sợi nấm, mô nấm, hạch nấm.

- Bào tử phấn (bào tử đốt: oidiospore, arthospore): là những tế bào có màngmỏng được tách dần dần ở đầu sợi nấm. Hiện tượng này thường thấy khi nấm

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

- Một phần mô của quả thể: từ một phần nhỏ mô của quả thể khi ni cấy trênmơi trường dinh dưỡng thích hợp sẽ mọc thành hệ sợi nấm.

- Chia đôi tế bào: từ một tế bào sẽ chia đôi: tế bào co thắt lại ở giữa, nhân vàchất nguyên sinh chia đôi, cuối cùng tách rời thành 2 tế bào như ở nấm men(Saccharomyces).

- Nẩy chồi: từ một tế bào sẽ mọc thành những chồi, sau đó chồi sẽ tách thànhnhững tế bào mới riêng biệt hay tế bào chồi dính với tế bào mẹ như ở nấm men(Saccharomyces).

- Hạch nấm (Sclerotium): hạch nấm là biến dạng của sợi nấm có dạng hạch haydạng củ giúp nấm vượt qua điều kiện bất lợi của môi trường, khi gặp môi trườngthuận lợi thì hạch nấm nảy mầm thành cơ thể mới.

<b>2. Sinh sản vơ tính</b>

Là q trình sinh sản tạo thành các bào tử vơ tính (asexual spores) từ sự phânchia nhân trong tế bào sinh dưỡng của nấm mà khơng có sự kết hợp nhân của 2tế bào khác tính. (Bùi Xuân Đồng, 1977).

- Ở các sợi nấm đơn bội thì nhân phân chia nguyên nhiễm (gián phân) để tạothành các bào tử đơn bội.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

- Ở các sợi nấm lưỡng bội khi hình thành bào tử thì nhân phân chia giảm nhiễmđể hình thành các bào tử đơn bội (như Blastocladiella variabilis, Chadefaud,1960).

- Ở các sợi nấm lưỡng bội có thể hình thành các bào tử lưỡng bội do nhân phânchia nguyên nhiễm (như Blastocladiella variabilis, Olpidium sp.). ( Bùi XuânĐồng ,1977, trang 82: Một số vấn đề về nấm học).

[Họ Blastocladiaceae (Chytridiomycota) cơ thể sinh dưỡng có 2 dạng tản(sợi nấm): tản đơn bội và tản lưỡng bội. Động bào tử 2n trên tản lưỡng bội nẩymầm hình thành tản lưỡng bội ].

Dựa vào khả năng vận chuyển của bào tử vơ tính, có thể chia ra hai loạibào tử vơ tính: Động bào tử (zoospore) và bất động bào tử (aplanospore).

<i><b>2.1. Động bào tử (Zoospore) </b></i>

Động bào tử là tế bào sinh sản chuyển động bằng roi hay tiêm mao. Động bào tửđược hình thành ở các nấm sống trong mơi trường nước. Động bào tử có thể có1roi, 2 roi. Roi đính phía trước, sau, bên. Roi có hai loại cấu trúc: roi không phủlong và roi phủ lông. Động bào tử được hình thành trong cơ quan sinh sản là túibào tử (sporangium): do sợi nấm phình to, nhân phân chia, sau hình thành độngbào tử.

<i><b>2.2. Bất động bào tử (Aplanospore) </b></i>

Có hai loại bất động bào tử:

+ Bào tử nội sinh (Endospore): được hình thành bên trong túi bào tử.

+ Bào tử ngoại sinh (Exospore): được hình thành bên ngoài cơ quan sinh bào tử(cuống: conidiophore). Dạng bào tử ngoại sinh thường gặp là bào tử đính(conidium).

Zoospore và Endospore là những bào tử nội sinh đặc trưng cho sự sinh sản củacác nấm tiến hố thấp. Những bào tử này được hình thành trong các tế bàochuyên hoá gọi là túi bào tử (sporangium). Khi túi vỡ thì các bào tử này đượcphóng thích ra ngoài, mỗi bào tử nẩy mầm sinh trưởng thành một sợi nấm mới.Túi được hình thành trên cuống túi (sporangiophore). Cuống túi lớn hơn sợinấm, thường phân nhánh hoặc không. Đặc điểm của cuống túi được dùng làmtiêu chuẩn trong phân loại lồi.

Các bào tử đính (conidia) thường được hình thành ở các lồi nấm túi vànấm bất tồn. Đa số bào tử đính thường sắp xếp thành chuỗi, có khi hình thànhtừng khối. Một số lồi bào tử đính nằm đơn độc từng cái một trên cuống bào tử

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<i>Nguyễn Thị Chinh_17001248</i>

đính (conidiophore). Cuống bào tử đính có thể đơn bào hay đa bào, khơng phânnhánh hoặc phân nhiều nhánh; cuống bào tử đính có thể mọc riêng lẻ hay sắpxếp từng cụm. Đa số các bào tử đính là các bào tử ngoại sinh, nghĩa là được hìnhthành ở bên ngồi tế bào sinh ra chúng. Tuy nhiên, cũng có một số lồi bào tửđính được hình thành ở bên trong tế bào.

Ở những nấm chưa tiến hố (dạng ở mơi trường nước) thì thường sinh sảnvơ tính bằng động bào tử (zoospore), các lồi tiến hố sống trên mơi trường cạnthì sinh sản vơ tính bằng các bào tử nội sinh (endospore); các lồi tiến hố caothường sinh sản vơ tính bằng bào tử đính (conidia). Trong q trình tiến hố thìcác tế bào sinh sản mất dần roi, khi sống trên cạn thì các bào tử khơng cịn roinữa, cấu trúc bào tử thích nghi với việc phát tán bào tử nhờ gió như các bào tửđính.

<b>3. Sinh sản hữu tính </b>

Là q trình sinh sản có sự thụ tinh, kết hợp nhân của hai giao tử khác tính tạothành hợp tử, sau đó nhân lưỡng bội phân chia giảm nhiễm để hình thành cácbào tử hữu tính. Dựa vào cách thụ tinh, có thể phân biệt các loại bào tử hữu tính:bào tử nỗn, bào tử tiếp hợp, bào tử túi, bào tử đảm. Quá trình phát sinh các bàotử hữu tính về nguyên tắc bao giờ cũng kèm theo trước đó sự thụ tinh và tiếptheo sự phân chia giảm nhiễm của nhân. (Bùi Xuân Đồng, 1977). Sự sinh sảnhữu tính có sự kết hợp nhân của hai giao tử khác tính. Vì vậy, các bào tử hữutính có sự kết hợp yếu tố di truyền của hai cơ thể khác tính. Do đó, bào tử hữutính có tính ưu thế mạnh. Sự sinh sản hữu tính ở nấm rất phong phú, phức tạp vàđa dạng. Quá trình sinh sản hữu tính trải qua các giai đoạn:

+ Kết hợp chất nguyên sinh (plasmogamy);+ Kết hợp nhân (caryogamy);

+ Phân bào giảm nhiễm (meiosis).

Sự sinh sản hữu tính khác nhau tuỳ theo các nhóm nấm như sau:

<i><b>3.1. Nấm bậc thấp </b></i>

Bao gồm các nấm chưa tiến hố sống ở mơi trường nước hay quá trình sống phụthuộc nhiều vào nước như các nấm có nguồn gốc từ động vật (như Protozoanfungi) hoặc nấm có nguồn gốc từ thực vật bậc thấp (như Chromistan fungi).Nấm bậc thấp sinh sản hữu tính do sự giao phối của hai giao tử, có 3 hình thứcgiao phối như sau:

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

- Noãn giao (Oogamy): giao phối giữa một noãn và một giao tử đực.

- Nấm tiếp hợp (Zygomycota): nấm tiếp hợp khi sinh sản hữu tính sẽ tiến hànhtiếp hợp giao (zygogamy): là sự kết hợp của hai tế bào, mỗi tế bào có nhiều nhânkhơng phân hố thành giao tử, sau khi hai tế bào kết hợp nhau thì hồ tan màng,kết hợp chất nguyên sinh, nhân để hình thành tiếp hợp tử (zygospore). Hai tếbào này ở trên cùng một sợi nấm (đồng tản) hoặc 2 sợi nấm khác nhau (dị tản).Hợp tử sau khi hình thành trải qua một giai đoạn nghỉ ngắn, nhân lưỡng bộiphân chia giảm nhiễm thành các nhân đơn bội để tạo thành các bào tử.

<i><b>3.2. Nấm bậc cao </b></i>

Bao gồm các nấm tiến hoá sống trên mơi trường cạn. Vì vậy, khi sinh sản hữutính thì các tế bào sinh sản (bào tử) mất dần roi, các nấm tiến hố cao thì tế bàosinh sản khơng có roi.

Ở các nấm bậc cao có các hình thức sinh sản hữu tính như:

- Giao phối hai cơ quan sinh sản (gametangiogamy): giao phối giữa hai cơ quansinh sản hữu tính khác biệt nhau: cơ quan sinh sản đực và cơ quan sinh sản cáikhác biệt nhau về hình thái ngồi nhưng khơng phân hố thành giao tử. Sau khihai cơ quan sinh sản giao phối nhau thì sẽ tiến hành q trình hình thành các bàotử hữu tính.

- Sinh sản bằng các tinh tử (spermatium): trên một cơ thể cái có các tế bào phânhố thành cơ quan sinh sản cái, cơ quan sinh sản cái được tinh tử từ cơ thể đựctiến đến thụ tinh. Tinh tử là giao tử đực nhỏ, khơng chuyển động, được gió, côntrùng phát tán.

- Giao phối hai sợi nấm (somatogamy): một số lồi nấm khơng hình thành cơquan sinh sản (như ở nấm đảm), hai sợi nấm nẩy mầm từ hai bào tử khác tính sẽkết hợp nhau hình thành sợi nấm song hạch (n + n). Từ tế bào đầu của sợi nấmsong hạch sẽ hình thành đảm và bào tử đảm (bào tử hữu tính).

- Tự giao (autogamy): chính các nhân trong một tế bào tự kết hợp từng đơi vớinhau (sinh sản hữu tính tự giao).

</div>

×