Tải bản đầy đủ (.pdf) (70 trang)

Tài chính. 612 / Ban biên tập, Phạm Thu Phong [và nh.ng.kh.]

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (14.8 MB, 70 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b><small>Hội đồng Biên tập:</small></b>

<b><small>GS., TS. NGUYỄN CƠNG NGHIỆPGS., TSKH. TRƯƠNG MỘC LÂMGS., TS. VŨ VĂN HĨAGS., TS. PHẠM QUANG TRUNGPGS., TS. ĐINH VĂN NHÃPGS., TS. NGUYỄN TRỌNG CƠPGS., TS. TRẦN HOÀNG NGÂNPGS., TS. NGUYỄN THỊ MÙITổng Biên tập: </small></b>

<b><small>PHẠM THU PHONG </small></b>

<small>(04) 3933.0033</small>

<b><small>Phó Tổng Biên tập: LÊ THỊ HIỀNPHẠM DOÃN QUÂN</small></b>

<small>(04) 3933.0039</small>

<b><small>Ban Biên tập: (04) 3933.0036Ban Tài chính Điện tử: (04) 3933.0038Ban Trị sự: (04) 3933.2339</small></b>

<b><small>Quảng cáo & Truyền thơng:</small></b>

<small>(04) 3933.0034</small>

<b><small>Tịa soạn: Số 8 Phan Huy Chú, Hà Nội</small></b>

<small>Fax: (04) 3825.2251</small>

<small>Email: </small>

<b><small>Chi nhánh phía Nam: </small></b>

<small>Số 138 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh</small>

<small>Số 1536/GP-BTTTT - ngày 23/9/2011 của Bộ Thơng tin & Truyền thơng</small>

<b><small>Nơi in: Cơng ty CP in Tây HồTrình bày: Xuân Trường</small></b>

<small>TẠP CHÍ TÀI CHÍNH Kỳ 1 - Tháng 7/2015 (612)</small>

<b>MỤC LỤC</b>

Tạp chí Tài chính - Cơ quan thơng tin của ngành Tài chính.

Tạp chí chuyên ngành hàng đầu về kinh tế ở Việt Nam, phát hành toàn quốc với các ấn phẩm:

<small>Tạp chí khoa học, chun về thơng tin lý luận và nghiệp vụ </small>

<small>kinh tế - tài chính</small>

<small>Kênh thơng tin chun sâu kinh tế - tài chính trong nước và quốc tế</small>

<b>Trang Tài chính Điện tử:www.FinancePlus.vnwww.tapchitaichinh.vn</b>

<b>5 Những kết quả tích cực trong thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách 6 tháng đầu năm 2015</b><small> PV</small>.

<b>CHỦ ĐỀ: QUẢN LÝ THUẾ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 7</b>

<b>8 Tổng quan về thương mại điện tử ở Việt Nam </b> <small>TS. Nguyễn Đình Luận </small>

<b>12 Hiện trạng thu thuế thương mại điện tử tại Việt Nam </b> <small>Nguyễn Quang Tiến </small>

<b>16 Một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý thuế đối với thương mại điện tử </b> <small>Nguyễn Văn Phụng </small>

<b>20 Trốn thuế thương mại điện tử: Nhận diện các hành vi và giải pháp xử lý </b> <small>TS. Lý Phương Duyên</small>

<b>24 Giải pháp quản lý thuế đối với kinh doanh thương mại điện tử </b> <small>Nguyễn Thị Cúc</small>

<b>27 Chính sách thuế thương mại điện tử tại một số nước và gợi ý cho Việt Nam</b>

<small>ThS. Đỗ Thị Mai Hoàng Hà</small>

<b>36 Cơ chế mới chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập sang cơng ty cổ phần </b> <small>ThS. Nguyễn Thị Thanh Hịa</small>

<b>38 Mghị định số 60/2015/NĐ-CP: Thêm nhiều quy định mới cho thị trường chứng khoán</b>

<small>ThS. Nguyễn Thanh Nhã</small>

<b>NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI 41</b>

<b>41 Cơ chế một cửa liên thông trong xác định và thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất đai </b> <small>Tô Quỳnh Thảo </small>

<b>44 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ </b>

<small>ThS.Nguyễn Hoàng Tuấn, Nguyễn Tuấn Trung </small>

<b>48 Giải pháp hạn chế rủi ro cho các doanh nghiệp niêm yết ngành Cao su </b>

<small>TS. Đỗ Huyền Trang, Trần Thị Thanh Nhị</small>

<b>51 Bàn về mơ hình cụm liên kết ngành cho vùng Thủ đô Hà Nội </b> <small>PGS.,TS. Nguyễn Đình Tài</small>

<b>54 Xu hướng điều chỉnh chính sách thuế và chi tiêu cơng của một số nước </b> <small>ThS. Trần Thị Hà </small>

<b>56 Cộng đồng kinh tế ASEAN: Hành trình hội nhập tồn diện </b> <small>Trương Thị Thảo </small>

<b>58 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính trên thế giới </b>

<small>Nguyễn Duy Thanh</small>

<b>61 Hiệp định TPP: Cơ hội “vàng” của ngành Dệt may Việt Nam </b> <small>Nguyễn Ngọc Hải </small>

<b>63 Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của ngành Công nghiệp </b> <small>Phạm Trung Hải </small>

<b>65 Phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng: Xu hướng tất yếu của các ngân hàng thương mại</b>

<small>ThS. Nguyễn Thị Minh</small>

<b>67 Ngành Thép Việt Nam: Thách thức và các khuyến nghị để hội nhập </b> <small>ThS. Trần Thị Quỳnh Giang </small>

<b>69 Xây dựng kế hoạch marketing cho doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh </b> <small>ThS. Nguyễn Thị Nga</small>

<b>71 Doanh nghiệp xây dựng niêm yết và bài toán quản trị nguồn nhân lực </b> <small>ThS. Nguyễn Anh Vân</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>VÀ ĐẠI HỘI THI ĐUA YÊU NƯỚC NGÀNH TÀI CHÍNH LẦN THỨ IV</b>

<b>Hiệu ứng tốt từ phong trào thi đua </b>

Năm 2015 là năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 5 năm 2011 – 2015, là năm Ngành Tài chính chào mừng Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập (28/8/1945 - 28/8/2015), Đại hội thi đua yêu nước Ngành lần thứ IV và Đại hội Đảng các cấp. Để lập thành tích chào mừng những sự kiện trên, ngay từ những ngày đầu năm 2015, Bộ Tài chính đã phát động đợt thi đua: “Phát huy truyền thống 70 năm xây dựng và phát triển ngành Tài chính; đoàn kết, sáng tạo, đẩy mạnh thi đua thực hiện thắng lợi toàn diện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2015 và cả giai đoạn 5 năm 2011-2015”.

Phong trào thi đua đã nhận được sự hưởng ứng và tích cực tham gia của 100% các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính. Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong 6 tháng đầu năm 2015, ngành Tài chính đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong triển khai các nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN).

Thực hiện nhiệm vụ dự toán thu NSNN, theo Bộ Tài chính, lũy kế thu 6 tháng đầu năm ước đạt 446,12 nghìn tỷ đồng, bằng 49% dự toán, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2014. Ước tính, có 52/63 địa phương thu đảm bảo tiến độ dự toán (từ 50% dự toán trở lên). Đối với dự toán chi NSNN lũy kế chi 6 tháng đạt 545,18 nghìn tỷ đồng, bằng 47,5% dự tốn, tăng 8,2% so cùng kỳ năm 2014. Bội chi NSNN 6 tháng đầu năm nay ước 99 nghìn tỷ đồng,

bằng 43,8% dự tốn. Về huy động vốn, tính đến 24/6/2015, đã phát hành gần 100 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ để bù đắp bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển, bằng khoảng 36,8% kế hoạch.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với giá một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu như: điện, than, xăng dầu, sữa, dịch vụ cơng theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát. Chỉ số giá tháng 6 tăng 0,55% so với tháng 12/2014, thấp hơn cùng kỳ của nhiều năm trước...

Trong nửa đầu năm 2015, thị trường chứng khoán, bảo hiểm và dịch vụ kế toán, kiểm toán tiếp tục phát triển; Cơng tác cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan được đẩy mạnh; Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được triển khai tích cực; Thanh tra Bộ và các đơn vị thuộc Bộ đã thực hiện 31.465 cuộc thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực...

Những thành tích trên cho thấy các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành Tài chính đã phát huy hiệu quả tốt, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa có nhiều khởi sắc, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của NSNN, đến khả năng hồn thành nhiệm vụ chính trị được giao của ngành Tài chính. Nhận thức được tầm quan trọng của các phong trào thi đua trong thực hiện nhiệm vụ

<b>NHỮNG KẾT QUẢ TÍCH CỰC TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ</b>

<b>TÀI CHÍNH – NGÂN SÁCH 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2015</b>

<i><b>Những thành tích trong việc thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách 6 tháng đầu năm 2015 phần nào cho thấy các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành Tài chính đã phát huy hiệu quả rất tốt, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa có nhiều khởi sắc vẫn cịn nhiều yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn thu của ngân sách nhà nước, đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao của ngành Tài chính.</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

nhiều phong trào thi đua thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm, kịp thời để giải quyết các nhiệm vụ công tác đặt ra. Đan xen trong các phong trào thi đua trong từng quý, từng tháng là các đợt thi đua chuyên đề như: đề xuất các giải pháp, sáng kiến; thi đua trong cải cách thủ tục hành chính; thi đua nước rút; tăng cường cơng tác thanh kiểm tra, tích cực đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mai, làm hàng giả... Bên cạnh đó, các đơn vị cũng tăng cường phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng, tuyên truyền điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua. Nhờ vậy, tồn Ngành đã vượt qua những khó khăn thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong nửa đầu năm 2015.

<b>Nỗ lực thi đua trong thời gian tới</b>

Mặc dù đã đạt được kết quả ban đầu khả quan nhưng nền kinh tế của đất nướcvẫn còn nhiều hạn chế và đối mặt với nhiều thách thức sẽ tiếp tục tác động đến thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2015 được Quốc hội và Chính phủ giao, tồn Ngành Tài chính đang dồn sức nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2015 gồm: Tập trung nghiên cứu, xây dựng các đề án, cơ chế, chính sách trọng tâm, đúng thời hạn với chất lượng tốt; Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả, quyết liệt, đồng bộ các giải pháp về quản lý thu NSNN; Thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – NSNN, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra các khoản chi trong cân đối NSNN; Tăng cường minh bạch hóa chi tiêu của NSNN; Đẩy mạnh công tác huy động vốn để chủ động, đảm bảo nguồn kịp thời cho các nhiệm vụ chi theo dự toán; Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu...

trọng tâm trong thời gian tới, Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạng cải cách hành chính, hiện đại hóa. Trong 6 tháng đầu năm, công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính tiếp tục được đẩy mạnh. Bộ Tài chính tiếp tục rà sốt, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về thuế để cắt giảm thủ tục hành chính, giảm số giờ tuân thủ về thuế cho người dân và doanh nghiệp. Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan có nhiều bước chuyển mạnh mẽ cùng với việc thực hiện các giải pháp rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa nhập khẩu; đến nay đã triển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử tại tất cả các đơn vị hải quan trong toàn quốc...

Để giữ vững và phát huy kết quả đạt được và để công tác cải cách hành chính trong tồn ngành Tài chính được nâng lên tầm cao mới, ngày 04/5/2015, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 793/QĐ-BTC về Bộ chỉ số theo dõi đánh giá kết quả cải cách hành chính trong ngành Tài chính. Đối tượng áp dụng Quyết định số 793/QĐ-BTC gồm 3 khối từ Tổng cục và tương đương đến các cục, vụ thuộc Bộ Tài chính.

Chỉ số cải cách hành chính của Bộ Tài chính được xác định trên 7 lĩnh vực, đánh giá với từng khối. Hội đồng thẩm định Chỉ số cải cách hành chính của Bộ Tài chính sẽ tổ chức họp hoặc gửi phiếu lấy ý kiến thành viên hội đồng về kết quả thẩm định chuyên môn của các đơn vị theo phân công để thông qua kết quả chấm điểm chỉ số cải cách hành chính của từng đơn vị; xác định xếp hạng chỉ số cải cách hành chính của đơn vị theo từng khối và hệ số quy đổi giữa các khối (nếu có); xem xét các trường hợp đặc thù và trình Bộ phê duyệt, cơng bố kết quả...

Cũng theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại Quyết định này, Vụ Thi đua - Khen thưởng của Bộ Tài chính căn cứ kết quả xếp hạng chỉ số cải cách hành chính hàng năm của các đơn vị, đánh giá chung vào kết quả thi đua của các đơn vị để báo cáo Hội đồng thi đua khen thưởng của Bộ; không xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng các đơn vị, cá nhân thực hiện chưa tốt nhiệm vụ cải cách hành chính.

Những quyết tâm trên cho thấy các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Ngành, Đại hội thi đua yêu nước ngành Tài chính lần thứ IV đã có sức lan toả lớn đến các đơn vị trong Ngành, đóng góp tích cực vào những thành cơng của ngành Tài chính trong năm 2015.

<b>Ngày 04/5/2015, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 793/QĐ-BTC về Bộ chỉ số theo dõi đánh giá kết quả cải cách hành chính trong ngành Tài chính. Đối tượng áp dụng Quyết định số 793/QĐ-BTC gồm 3 khối từ Tổng cục và tương đương đến các cục, vụ thuộc Bộ Tài chính. Chỉ số cải cách hành chính của Bộ Tài chính được xác định trên 7 lĩnh vực, đánh giá với từng khối.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<i><b>Là quốc gia có dân số trẻ, đang trên đà phát triển, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tiềm năng phát triển về thương mại điện tử. Theo thống kê của Bộ Cơng Thương, hiện nay có đến 99% doanh nghiệp có máy tính sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong đó, 79% sử dụng đường truyền internet tốc độ cao, 20% sử dụng mạng nội bộ riêng, 226.000 tên miền “.vn” (mã Việt Nam) đang duy trì hoạt động thường xuyên… Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử ở Việt Nam đã được mở rộng tới các dịch vụ hàng hóa như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng, dịch vụ cung cấp thơng tin, pháp lý, tài chính, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, siêu thị ảo... Với lợi ích thuận tiện, nhanh chóng giúp tiết kiệm thời gian lựa chọn hàng, thương mại điện tử đã thu hút một lượng lớn khách hàng tham gia, đặc biệt là những người tiêu dùng trẻ tuổi. </b></i>

<i><b>Tuy nhiên, khi thương mại điện tử ngày càng phát triển cũng </b></i>

<i><b>là lúc cơ quan quản lý thuế đứng trước thách thức là làm thế nào để thu đúng, thu đủ tiền thuế trong lĩnh vực này? Không chỉ tại Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang đau đầu do khó có thể kiểm soát chặt chẽ hoạt động mua, bán trực tuyến. Do tính chất đặc thù của thương mại điện tử nên cơ quan thuế sẽ gặp khơng ít khó khăn trong quá trình quản lý và thu thuế đối với lĩnh vực này khi người nộp thuế xóa dữ liệu hoặc khơng cung cấp dữ liệu của máy chủ; khó khai thác được các khoản doanh thu không kê khai hoặc kê khai chưa đầy đủ trong giao dịch mua bán thương mại điện tử trên hệ thống máy chủ hoặc mạng internet; các cá nhân, tổ chức hoàn toàn có thể thực hiện các giao dịch qua mạng internet từ khâu đặt hàng cho đến khâu thanh toán… </b></i>

<i><b>Việc nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu về các loại hình kinh doanh thương mại điện tử tại Việt Nam, đề ra các giải pháp quản lý hiệu quả thương mại điện tử, tránh thất thu cho ngân sách nhà nước và đảm bảo mơi trường kinh doanh bình đẳng là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đây cũng là nội dung chủ đề “Quản lý thuế hoạt động kinh doanh thương mại điện tử” trên Tạp chí Tài chính số này.</b></i>

<b>TẠP CHÍ TÀI CHÍNH</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

doanh mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và cơng nghệ điện tử. Ngồi ra, theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Texas (Mỹ), các học giả cho rằng TMĐT và kinh doanh điện tử đều bị bao hàm bởi nền kinh tế Internet.

<b>Các hình thức thương mại điện tử</b>

TMĐT ngày nay liên quan đến tất cả mọi thứ từ đặt hàng nội dung “kỹ thuật số” cho đến tiêu dùng trực tuyến tức thời, để đặt hàng và dịch vụ thông thường, các dịch vụ “meta” đều tạo điều kiện thuận lợi cho các dạng khác của TMĐT. Ở cấp độ tổ chức, các tập đoàn lớn và các tổ chức tài chính sử dụng Internet để trao đổi dữ liệu tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh trong nước và quốc tế. Tính tồn vẹn dữ liệu và tính an ninh là các vấn đề rất nóng gây bức xúc trong TMĐT.

Hiện nay có nhiều tranh cãi về các hình thức tham gia cũng như cách phân chia các hình thức này trong TMĐT. Nếu phân chia theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm: Chính phủ (G - Goverment), DN (B - Business) và Khách hàng (C - Customer hay Consumer). Các dạng hình thức chính của TMĐT bao gồm: DN với DN (B2B); DN với Khách hàng (B2C); DN với Nhân viên (B2E); DN với Chính phủ (B2G); Chính phủ với DN (G2B); Chính phủ với Chính phủ (G2G); Chính phủ với Cơng dân (G2C); Khách hàng với Khách hàng (C2C); Khách hàng với DN (C2B); online-to-offline (O2O); Thương mại đi động (mobile commerce hay

<b>Vài nét về thương mại điện tử</b>

Thương mại điện tử (TMĐT), còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính. TMĐT dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. TMĐT hiện đại thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũng như điện thoại. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thơng tin số hố thơng qua mạng Internet”.

Khi nói về khái niệm TMĐT (E-Commerce), nhiều người nhầm lẫn với khái niệm của Kinh doanh điện tử (E-Business). Tuy nhiên, TMĐT đôi khi được xem là tập con của kinh doanh điện tử. TMĐT chú trọng đến việc mua bán trực tuyến (tập trung bên ngoài), trong khi đó kinh doanh điện tử là việc sử dụng Internet và các công nghệ trực tuyến tạo ra q trình hoạt động kinh doanh hiệu quả dù có hay khơng có lợi nhuận, vì vậy tăng lợi ích với khách hàng (tập trung bên trong).

Tóm lại, TMĐT chỉ xảy ra trong môi trường kinh

<b>TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM</b>

<b>TS. NGUYỄN ĐÌNH LUẬN </b><i>- Đại học Cơng nghệ TP. Hồ Chí Minh</i>

<i><b>Thời gian qua, thương mại điện tử ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể bởi những lợi ích to lớn mà hoạt động mang lại. Tuy nhiên, trên bình diện chung, nhiều người tiêu dùng và doanh nghiệp vẫn chưa thấy hết hiệu quả mà thương mại điện tử đem lại nên vẫn chưa quan tâm, chưa phát huy tối đa thế mạnh của loại hình này. Bài viết giới thiệu tổng quan về thương mại điện tử…</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

TMĐT nhanh chóng xác định được mức độ triển khai TMĐT trên phạm vi cả nước cũng như tại từng địa phương, sự tiến bộ qua các năm và gợi ý cho mỗi địa phương những giải pháp cần thiết để nâng cao ứng dụng TMĐT.

<b>Quy định pháp luật của Việt Nam về thương mại điện tử</b>

Tháng 11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giao dịch điện tử. Để Luật vào cuộc sống, tháng 6/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT. Đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký

số và dịch vụ chứng thực chữ ký số và Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng.

Nội dung chủ yếu của Nghị định 57/2006/NĐ-CP thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại, ngồi ra có một số quy định cụ thể khác. Cho tới cuối năm 2012, TMĐT ở Việt Nam phát triển nhanh và đa dạng, đồng thời cũng xuất hiện những mơ hình mang danh nghĩa TMĐT thu hút rất đông người tham gia nhưng gây tác động xấu tới xã hội.

Ngày 16/5/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT thay thế cho Nghị định 57/2006/NĐ-CP. Nghị định mới đã quy định những hành vi bị cấm trong TMĐT, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT. Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn cho TMĐT, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến.

<b>Sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam</b>

Với sự phát triển của Internet, 3G và các thiết bị di động, đặc biệt là smartphone cùng hàng ngàn thẻ ngân hàng phát hành mỗi ngày, TMĐT Việt Nam đang đứng trước thời cơ bùng nổ với doanh thu dự kiến lên đến 4 tỷ USD trong năm 2015. Những nỗ viết tắt là m-commerce).

<i><b>Xu hướng tồn cầu</b></i>

Mơ hình kinh doanh trên toàn cầu tiếp tục thay đổi đáng kể với sự ra đời của TMĐT. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã đóng góp vào sự phát triển của TMĐT. Ví dụ, nước Anh có chợ TMĐT lớn nhất tồn cầu khi đo bằng chỉ số chi tiêu bình quân đầu người, (con số này cao hơn cả Mỹ). Kinh tế Internet ở Anh có thể tăng 10% từ năm 2010 đến năm 2015. Điều này tạo ra động lực thay đổi cho ngành công nghiệp quảng cáo.

Trong số các nền kinh tế mới nổi, sự hiện diện của TMĐT ở Trung Quốc tiếp tục được mở rộng. Với 384 triệu người sử dụng Internet, doanh số bán lẻ của cửa hàng trực tuyến ở Trung Quốc đã tăng 36,6 tỷ USD tăng năm 2009 và một trong những lý do đằng sau sự tăng trưởng kinh ngạc là cải thiện độ tin cậy của khách hàng. Các công ty bán lẻ Trung Quốc đã giúp người tiêu dùng cảm thấy thoải mái hơn khi mua hàng trực tuyến.

TMĐT cũng được mở rộng trên khắp Trung Đông. Với sự ghi nhận là khu vực có tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong việc sử dụng Internet từ năm 2000 đến năm 2009, hiện thời khu vực có hơn 60 triệu người sử dụng Internet. Bán lẻ, du lịch và chơi game là các phần trong TMĐT hàng đầu ở khu vực, mặc dù có các khó khăn như thiếu khn khổ pháp lý toàn khu vực và các vấn đề hậu cần trong giao thông vận tải qua biên giới. TMĐT đã trở thành một công cụ quan trọng cho thương mại quốc tế khơng chỉ bán sản phẩm mà cịn quan hệ với khách hàng.

<i><b>Chỉ số thương mại điện tử</b></i>

Việc đánh giá tình hình phát triển TMĐT của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách và pháp luật cũng như các nhà đầu tư. Trên quy mơ tồn cầu, những tổ chức như ITU hay EIU hàng năm đưa ra các chỉ số định lượng về sự phát triển công nghệ thông tin hay kinh tế số.

Ở Việt Nam, Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) đã tiến hành hoạt động xây dựng Chỉ số TMĐT lần đầu tiên vào năm 2012. Chỉ số TMĐT (viết tắt là EBI từ tiếng Anh E-Business Index) được xây dựng dựa trên bốn nhóm tiêu chí lớn. Nhóm thứ nhất là nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin. Nhóm thứ hai là giao dịch DN với người tiêu dùng (B2C). Nhóm thứ ba là giao dịch giữa DN với DN (B2B). Nhóm thứ tư là giao dịch giữa chính phủ với DN (G2B). EBI sẽ giúp các đối tượng quan tâm đến

<b>Với sự phát triển của internet, 3G và các thiết bị di động, đặc biệt là smartphone cùng hàng ngàn thẻ ngân hàng phát hành mỗi ngày, hoạt động thương mại điện tử Việt Nam đang đứng trước thời cơ bùng nổ với doanh thu dự kiến lên đến 4 tỷ USD trong năm 2015...</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

phần tại các hãng TMĐT Việt Nam. Một số DN Thái Lan, Hàn Quốc cũng đang tìm đường đầu tư, có thể thơng qua một DN khác hoặc tự thực hiện.

Trong nước, mặc dù chưa có tên tuổi nào nổi bật hẳn lên nhưng số lượng các công ty tham gia lĩnh vực này đã “trăm hoa đua nở” với một số tên tuổi có thể kể đến như Vật Giá, VCCorp, Chợ Điện Tử (Peacesoft), Mekongcom....

<b>Giải pháp đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam</b>

Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển TMĐT ở Việt Nam cần phải thực thi nhiều giải pháp đồng bộ sau:

<i>Thứ nhất, xây dựng hệ thống thanh toán TMĐT </i>

quốc gia. Theo Chương trình phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2014 – 2020, một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển TMĐT là xây dựng được hệ thống thanh toán TMĐT quốc gia để sử dụng rộng rãi cho các mơ hình TMĐT, đặc biệt loại hình TMĐT DN - người tiêu dùng (B2C); thẻ thanh toán được sử dụng rộng rãi để giảm tỷ lệ sử dụng tiền mặt; áp dụng phổ biến chứng thực chữ ký số để đảm bảo an toàn, bảo mật cho các giao dịch TMĐT. Cụ thể, xây dựng hệ thống thanh toán TMĐT quốc gia; xây dựng giải pháp thẻ thanh tốn TMĐT tích hợp; xây dựng hệ thống quản lý trực tuyến hoạt động vận chuyển cho TMĐT; xây dựng hạ tầng chứng thực chữ ký số cho TMĐT. Bên cạnh đó, xây dựng các tiêu chuẩn trao đổi thông điệp dữ liệu trong TMĐT; xây dựng hệ thống đảm bảo lòng tin cho hoạt động mua sắm trực tuyến và cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến.

<i>Thứ hai, xây dựng thương hiệu trực tuyến. Phát </i>

triển các sản phẩm cũng là một giải pháp quan trọng. Trong đó, xây dựng giải pháp bán hàng trực tuyến để hỗ trợ các DN vừa và nhỏ triển khai ứng dụng TMĐT; xây dựng và duy trì sàn giao dịch TMĐT nhằm quảng bá hình ảnh, thương hiệu của các DN Việt Nam. Bên cạnh đó, hỗ trợ, nâng cao năng lực cho DN xuất khẩu tham gia các sàn giao dịch TMĐT uy tín trong nước và thế giới; xây dựng các giải pháp để phát triển ứng dụng TMĐT trên nền thiết bị di động và phát triển nội dung số cho TMĐT. Đồng thời, triển khai các chương trình, giải pháp để xây dựng thương hiệu trực tuyến cho các hàng hóa, dịch vụ chủ lực của Việt Nam; xây dựng đồng bộ giải pháp đáp ứng đơn hàng trực tuyến để các DN triển khai ứng dụng; xây dựng các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến hỗ trợ cho các cơ quan quản lý nhà nước và DN .

<i>Thứ ba, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực. TMĐT </i>

đòi hỏi mối quan hệ chặt chẽ giữa người sản xuất, lực đẩy mạnh TMĐT của Việt Nam đã mang lại hiệu

quả nhất định.

Theo Cục TMĐT và Công nghệ thông tin, (Bộ Công Thương), TMĐT đang có bước phát triển rất nhanh nhờ hệ thống viễn thông phát triển vượt bậc với khoảng 1/3 dân số Việt Nam truy cập Internet. Tỷ lệ website có tính năng đặt hàng trực tuyến là 58%, trong đó tỷ lệ website có tính năng thanh tốn trực tuyến là 15%.

Cũng theo kết quả điều tra khảo sát năm 2014 của Cục TMĐT và Công nghệ thông tin, giá trị mua hàng trực tuyến của một người trong năm ước tính đạt khoảng 145 USD và doanh số thu từ TMĐT B2C đạt khoảng 2,97 tỷ USD, chiếm 2,12% tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước. Sản phẩm được lựa chọn tập trung vào các mặt hàng như đồ công nghệ và điện tử (60%), thời trang, mỹ phẩm (60%), đồ gia dụng (34%), sách, văn phòng phẩm (31%) và một số các mặt hàng khác. Tại Việt Nam, phần lớn người mua sắm sau khi đặt hàng trực tuyến vẫn lựa chọn hình thức thanh tốn tiền mặt (64%), hình thức thanh tốn qua ví điện tử chiếm 37%, và hình thức thanh tốn qua ngân hàng chiếm 14%.

Báo cáo mới nhất của eMarketer, một hãng nghiên cứu đến từ Mỹ cũng cho thấy, Việt Nam là thị trường bùng nổ của smartphone (điện thoại thông minh) với 30% dân chúng sử dụng. Thời gian online trên thiết bị di động cũng chiếm tới 1/3 ngày của người tiêu dùng Việt Nam.

Sự phổ cập của Internet, 3G và các thiết bị di động đã chắp thêm sức mạnh cho TMĐT cất cánh. Căn cứ vào những số liệu trên và ước tính giá trị mua hàng trực tuyến của mỗi người vào năm 2015 tăng thêm 30 USD so với năm 2013, thì dự báo doanh số mua bán trực tuyến của Việt Nam năm 2015 sẽ đạt 4 tỷ USD. Các DN trong và ngoài nước đang chạy đua cạnh tranh thị phần với nhiều chiến lược kinh doanh mới, trong đó, kinh doanh trên ứng dụng điện thoại thông minh được dự báo sẽ diễn ra rất sôi động.

Google đã trở thành thành viên của Hiệp hội TMĐT Việt Nam và không giấu diếm kỳ vọng thu được 30 triệu USD mỗi năm từ thị trường này. Alibaba và eBay cũng đã nhanh chân tìm được đại diện chính thức, trong khi Amazon và Rakuten đang tiến tới việc thiết lập quan hệ đối tác hoặc mua cổ

<b>Tại Việt Nam, phần lớn người mua sắm sau khi đặt hàng trực tuyến vẫn lựa chọn hình thức thanh tốn tiền mặt (64%), hình thức thanh tốn qua ví điện tử chiếm 37%, và hình thức thanh tốn qua ngân hàng chiếm 14%.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

liên quan đến thương mại, giải quyết tranh chấp… trên mạng là những việc cần làm. Các cơ quan nhà nước phải ứng dụng TMĐT trong mua sắm công, đấu thầu; gắn với cải cách hành chính, minh bạch hóa, nâng cao hiệu lực nền hành chính quốc gia, và xây dựng chính phủ điện tử. Ngân hàng nhà nước cần tích cực triển khai đề án thanh tốn khơng dùng tiền mặt và tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến thanh toán điện tử, một khâu rất quan trọng trong hoạt động TMĐT.

Theo thống kê của Bộ Công Thương, hiện các website của các DN Việt Nam chủ yếu dùng để giới thiệu sản phẩm và dịch vụ, khoảng trên 20% số website nhận đặt hàng qua mạng internet, song chỉ có 3,2% cho phép thanh toán trực tuyến. Đây là một rào cản lớn nhất đối với phát triển TMĐT.

<i>Thứ bảy, tăng cường hơn nữa sự hợp tác khu vực và </i>

quốc tế trong phát triển TMĐT. Từ năm 2006 đến nay Việt Nam đã tích cực hợp tác đa phương về TMĐT với các tổ chức khu vực và quốc tế, như ASEAN, APEC, UNCITRAL (Ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế)… Việt Nam cũng đã chủ động hợp tác song phương trong lĩnh vực này với Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… Bộ Công Thương cũng đã hỗ trợ các DN, các hiệp hội của nước ta tham gia các tổ chức quốc tế về TMĐT, như Liên minh TMĐT châu Á - Thái Bình Dương (PAA), Liên minh các tổ chức cấp chứng nhận website TMĐT uy tín châu Á - Thái Bình Dương (ATA). Năm 2008, Trung tâm phát triển TMĐT Vietnam (EcomViet) đã trở thành thành viên chính thức của ATA. Thời gian tới, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác khu vực và quốc tế này để thực hiện tốt các cam kết quốc tế về TMĐT nhằm xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn về trao đổi dữ liệu điện tử trong nước hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế.

<b>Tài liệu tham khảo</b>

<i>1. Báo cáo TMĐT 2014 – Bộ Công Thương; </i>

<i>2. Giải pháp phát triển TMĐT - GS., TS. Đỗ Thế Tùng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; </i>

<i>3. vi.wikipedia.org/; vietnamnet.vn/; vnexpress.net.</i>

người phân phối, người tiêu thụ, các nhà cơng nghệ và cơ quan chính phủ. TMĐT bao gồm các giao dịch giữa DN với DN; giữa DN với người tiêu dùng, chủ yếu là trên thị trường bán lẻ; giữa DN và chính phủ trong việc mua sắm của các cơ quan nhà nước hay đấu thầu qua mạng và lập các website để cung cấp các dịch vụ công; giữa các cá nhân, những người tiêu dùng tự lập website hoặc thông qua các sàn giao dịch sẵn có để mua, bán, đấu giá hàng hóa… Các giao dịch trên một mặt, địi hỏi phải có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các thành tựu công nghệ thông tin mới phát sinh để phục vụ cho TMĐT và có khả năng thiết kế các phần mềm đáp ứng các nhu cầu của kinh tế số hóa. Mặt khác, địi hỏi mỗi người tham gia TMĐT phải có khả năng sử dụng máy tính, có thể trao đổi thơng tin một cách thành thạo trên mạng, có những hiểu biết cần thiết về thương mại, luật pháp… nếu là ngoại thương thì cịn phải hiểu luật pháp quốc tế và ngoại ngữ nữa. Bởi vậy, phải đào tạo các chuyên gia tin học và phải phổ cập kiến thức về TMĐT không những cho các DN, các cán bộ quản lý của nhà nước mà cho cả mọi người; đồng thời tuyên truyền về lợi ích của TMĐT để từng bước thay đổi tập quán, tâm lý của người tiêu dùng từ chỗ chỉ quen mua sắm trực tiếp tại các siêu thị, các chợ chuyển sang mua sắm qua mạng.

<i>Thứ tư, hồn thiện mơi trường pháp lý. Để </i>

TMĐT phát triển lành mạnh cần phải hồn thiện mơi trường pháp lý, thông qua việc ban hành và thực thi các đạo luật và các văn kiện dưới luật điều chỉnh các hoạt động thương mại, thích ứng với pháp lý và tập quán quốc tế về giao dịch TMĐT.

<i>Thứ năm, đảm bảo an toàn cho các giao dịch </i>

TMĐT. TMĐT có nhiều tác động tích cực nhưng cũng có mặt trái là dễ bị các tin tặc phát tán các virút, tấn công vào các website; phát tán các thư điện tử, tin nhắn rác; đánh cắp tiền từ các thẻ ATM… Mặt khác, qua internet cũng xuất hiện những giao dịch xấu như: mua bán dâm, ma túy, buôn lậu, bán hàng giả, hướng dẫn làm bom thư, làm chất nổ phá hoại, tuyên truyền kích động bạo lực …

<i>Thứ sáu, phát triển các dịch vụ công phục vụ cho </i>

TMĐT. Nhà nước khơng những đóng vai trị quan trọng trong việc hỗ trợ đào tạo nhân lực và phổ cập kiến thức về TMĐT; tạo môi trường pháp lý; xây dựng kết cấu hạ tầng cho TMĐT và quản lý các giao dịch TMĐT để bảo vệ lợi ích của người tham gia mà còn phải phát triển các dịch vụ công nhằm thúc đẩy sự phát triển của TMĐT. Đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công như hải quan điện tử; kê khai thuế và nộp thuế, làm các thủ tục xuất, nhập khẩu; đăng ký kinh doanh và các loại giấy phép chuyên ngành

<b>Theo Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Cơng Thương), thương mại điện tử đang có bước phát triển rất nhanh nhờ hệ thống viễn thông phát triển vượt bậc với khoảng 1/3 dân số Việt Nam truy cập Internet. Tỷ lệ website có tính năng đặt hàng trực tuyến là 58%, trong đó tỷ lệ website có tính năng thanh tốn trực tuyến là 15%.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

Việt Nam (VNNIC), tính đến tháng 3/2015, tổng số tên miền “.vn” đã đăng ký là 584.543 tên miền; trong đó, tổng số tên miền đang duy trì trên hệ thống là 308.678 tên miền. Đối với tên miền quốc tế mà các tổ chức, cá nhân đăng ký với VNNIC, số lượng đạt được là 217.235 tên miền quốc tế. Xét theo địa bàn hoạt động, các thành phố lớn vẫn là nơi tập trung tỷ lệ DN có website cao nhất: Hà Nội (69%), TP. Hồ Chí Minh (56%), Hải Phịng (37%), Đà Nẵng (36%) và Cần Thơ (32%). Về các hoạt động trực tuyến của người dân khi truy cập internet qua các thiết bị điện tử viễn thơng, Tập đồn nghiên cứu thị trường và thương hiệu CIMIGO đã tiến hành khảo sát và đưa ra các con số thống kê như hình 1:

<b>Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử</b>

<i><b>Theo nền tảng công nghệ</b></i>

Bên cạnh việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm số trên các thiết bị kết nối truyền thống như máy tính để bàn hay máy tính xách tay, TMĐT trên

<b>Tiềm năng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam</b>

Thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam thời gian qua đã ghi nhận những bước phát triển vượt bậc. Tính đến ngày 1/1/2015, với số dân là 92 triệu người, Việt Nam có 39,8 triệu người sử dụng internet (tương đương với 44%, đứng thứ 18 trên 20 quốc gia có số lượng người dùng Internet nhiều nhất trên thế giới, xếp thứ 8 tại khu vực châu Á và thứ 3 khu vực Đông Nam Á), 28 triệu người sở hữu tài khoản mạng xã hội (chiếm 31%), 32 triệu người sử dụng internet trên di động (tương đương với 34%).

Sự tăng trưởng Internet ở Việt Nam được coi là nhanh nhất châu Á, với tỷ lệ trung bình hàng năm 20%. Bên cạnh đó, với ưu thế lực lượng dân số trẻ, khả năng thích ứng nhanh với các thiết bị điện tử trong hoạt động giao dịch thương mại, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tiềm năng phát triển rất lớn về TMĐT. Theo thống kê của Cục TMĐT và công nghệ thông tin thuộc Bộ Công Thương (VECITA), tổng doanh thu TMĐT năm 2013 đạt 2,2 tỷ USD, năm 2014 khoảng 4 tỷ USD và năm 2015, doanh thu ước đạt 6 tỷ USD.

Báo cáo TMĐT năm 2014 của Bộ Công Thương cho thấy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN đang ngày càng phổ biến và rộng rãi. 100% DN có trang bị máy tính, trong đó 99% DN đã có kết nối internet, 97% DN sử dụng email cho mục đích kinh doanh. Các DN kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT ngày càng tăng. Theo thống kê của Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM), số lượng hội viên Hiệp hội TMĐT tính đến năm 2015 là 158 hội viên, gồm 138 DN và 20 cá nhân. Bên cạnh đó, theo thống kê của Trung tâm Internet

<b>HIỆN TRẠNG THU THUẾ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ </b>

<b>TẠI VIỆT NAM</b>

<b>NGUYỄN QUANG TIẾN </b><i>- Phó trưởng Ban Cải cách Hiện đại hóa (Tổng cục Thuế)</i>

<i><b>Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có một chính sách thuế và quy trình quản lý thuế riêng cho hoạt động thương mại điện tử. Thời gian tới, khi kinh tế Việt Nam hội nhập đầy đủ và chuyển từ kinh tế hàng hoá sang kinh tế dịch vụ, hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam sẽ có nhiều chuyển biến, chính sách thuế thương mại điện tử sẽ phải được hệ thống hóa và pháp điển hóa hợp lý để đáp ứng đầy đủ việc quản lý loại hình thuế này. </b></i>

<b><small>HÌNH 1: TỶ LỆ SỬ DỤNG INTERNET CỦA NGƯỜI VIỆT NAM</small></b>

<i><small>Nguồn: Bộ Công Thương</small></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Trong TMĐT nếu là hàng hóa hữu hình thì ngồi việc đặt hàng và xử lý đơn hàng trên mạng điện tử, việc giao hàng, vận chuyển và thanh toán thường vẫn theo phương thức truyền thống. Tuy nhiên, nếu là các sản phẩm số hoặc dịch vụ thì việc thanh tốn thường là hình thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt qua ngân hàng hoặc qua các kênh thanh toán trung gian khác như ví điện tử. Các hoạt động cung cấp dịch vụ, sản phẩm số qua biên giới được thực hiện theo 4 hình thức phổ biến sau:

- Cung cấp qua biên giới: Khi sản phẩm số, dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước sang lãnh thổ của một nước khác. Hoạt động này có thể được tạm hiểu là hoạt động xuất, nhập khẩu dịch vụ qua biên giới. Ví dụ xuất, nhập khẩu phần mềm, trị chơi trực tuyến.

- Tiêu dùng ở nước ngoài: Khi một người tiêu dùng dịch vụ nhưng dịch vụ này được cung cấp tại lãnh thổ của một nước khác (mua vé máy bay, thuê khách sạn, khám chữa bệnh, trả học phí ở nước ngồi).

- Cung cấp dịch vụ có sự hiện diện thương mại: Khi nhà cung cấp dịch vụ thành lập một chi nhánh, văn phòng đại diện hay một công ty con ở một nước khác để cung cấp dịch vụ; hoặc thực hiện các hoạt động hỗ trợ (ví dụ như: Các Cơng ty Google, Apple, Uber đều có các đại diện được thành lập tại Việt Nam).

- Cung cấp dịch vụ, sản phẩm số không có sự hiện diện thương mại tại Việt Nam như cung cấp dịch vụ đào tạo trực tuyến…

<b>Hiện trạng thu thuế thương mại điện tử và những vấn đề đặt ra</b>

Để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế đối với một lĩnh vực mới và đặc thù như TMĐT, trong năm 2012, Tổng cục Thuế đã thành lập Tổ công tác nghiên cứu quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT và bộ phận thường trực tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tổ cơng tác đã chỉ đạo tồn Ngành thực hiện rà sốt, thu thập thơng tin từ các nguồn khác nhau nhằm nhận diện các cá nhân, tổ chức có hoạt động kinh doanh TMĐT; nền tảng di động (mobile e-commerce) thông qua các

thiết bị di động thông minh như: Điện thoại hay máy tính bảng… cũng đang trở nên phổ biến, do mức độ thuận tiện, linh hoạt, kết nối dễ dàng, dễ định danh, dễ định vị hơn so với các thiết bị kết nối truyền thống.

- Cung cấp sàn giao dịch TMĐT (lazada.vn, Sendo.vn, zalora.vn, tiki.vn); các website khuyến mại trực tuyến (hotdeal.vn, muachung.vn, lingo.vn…); đấu giá trực tuyến (ebay.vn, kiemthem.vn, sohot.vn).

- Cung cấp các dịch vụ chứng khốn, tài chính, pháp lý (FPT securities, Vndirect, Misa, Fast accounting);

- Các dịch vụ thanh tốn trung gian (ví điện tử, mã thẻ…);

- Cung cấp các sản phẩm số (nhạc, phim, e-book…);- Kinh doanh trò chơi trực tuyến (bán vật phẩm ảo trong game, gift code, đặt quảng cáo trực tuyến…);

- Dịch vụ xử lý dữ liệu, lưu trữ điện toán đám mây, chuyển nhượng tên miền;

- Ứng dụng giải pháp công nghệ vào các hoạt động kinh doanh truyền thống như Uber, Grabtaxi, siêu thị “ảo”…

<i><b>Theo chủ thể tham gia giao dịch</b></i>

Các hình thức giao dịch phổ biến hiện nay gồm:- Giao dịch B2B (giao dịch giữa DN và DN); - Giao dịch B2C (giao dịch giữa DN với người tiêu dùng);

- Giao dịch G2B (giao dịch giữa chính phủ với DN); - Giao dịch G2C (giao dịch giữa Chính phủ với cá nhân).

<i><b>Theo chủ quyền đánh thuế của quốc gia, vùng lãnh thổ </b></i>

<b><small>HÌNH 2: MƠ HÌNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ</small></b>

<i><small>Nguồn: Tác giả tổng hợp</small></i>

<b><small>HÌNH 3: CÁC HOẠT ĐỘNG TRỰC TUYẾN CỦA NGƯỜI DÂN KHI TRUY CẬP INTERNET</small></b>

<i><small>Nguồn: Tác giả tổng hợp</small></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

GTGT và thuế thu nhập DN. Ngoài ra, trong quá trình tìm kiếm, thu thập thơng tin trên báo chí, trên mạng internet, ngành Thuế cũng đã phát hiện được nhiều cá nhân tiến hành các giao dịch mua bán tiền “ảo”, chuyển nhượng các vật phẩm “ảo” trong game; hay cho thuê ứng dụng để đặt quảng cáo trực tuyến có doanh thu lên đến hàng chục tỷ, thậm chí hàng trăm tỷ đồng nhưng chưa kê khai, nộp thuế đầy đủ.

Do TMĐT có những tính chất đặc thù như quy mơ hoạt động rộng trên mơi trường Internet có tính phi biên giới; dễ dàng thay đổi, che dấu hoặc xóa dữ liệu giao dịch nên cơ quan thuế gặp khơng ít khó khăn trong việc xác định thu nhập thực tế của DN. Mặt khác, bên cạnh các hình thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt (thẻ tín dụng, séc…) trong năm 2014, NHNN đã ban hành bổ sung Thông tư 39/2014/TT-NHNN hướng dẫn về dịch vụ thanh toán trung gian, tạo điều kiện cho các hình thức thanh tốn trực tuyến càng trở nên đa dạng hơn, linh hoạt hơn (như ví điện tử, dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ). Theo đó, các cá nhân, tổ chức hồn tồn có thể thực hiện các giao dịch qua mạng internet từ khâu đặt hàng cho đến khâu thanh toán, đặc biệt là đối với các giao dịch TMĐT xuyên biên giới. Mặc dù, chưa có số liệu thống kê đầy đủ nhưng NSNN chắc chắn là thất thu không nhỏ, trong khi sự phối hợp giữa ngành Thuế với các bộ, ngành liên quan để tăng cường hiệu quả quản lý thu NSNN đối với hoạt động TMĐT vẫn còn hạn chế.

Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế và tăng thu NSNN từ hoạt động kinh doanh TMĐT trong thời gian tới, ngành Thuế dự kiến tập trung vào các nhóm giải pháp sau:

<i>Thứ nhất, trong năm 2015, Tổng cục Thuế sẽ </i>

nghiên cứu tham mưu Bộ Tài chính ban hành bổ sung một số quy định về thuế để điều chỉnh tồn diện hơn đối với các hình thức kinh doanh TMĐT; Ưu tiên tập trung vào các giao dịch có rủi ro lớn về thuế như quảng cáo trực tuyến, cung cấp nội dung số, giao dịch tiền ảo, mua bán vật phẩm trong game, mua bán thẻ code; Ứng dụng giải pháp công nghệ di động trong hoạt động kinh doanh, các giao dịch B2B, B2C qua biên giới; Tiến đến xây dựng và ban hành một thông tư hướng dẫn đầy đủ, toàn diện về thuế đối với hoạt động TMĐT để người nộp thuế dễ thực hiện và chấp hành pháp luật thuế đầy đủ. Ngoài ra, Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất với các bộ, ngành liên quan lồng ghép các quy định về việc hoàn thành nghĩa vụ thuế của các bên là điều kiện để thực hiện các giao dịch điện tử khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực TMĐT. Ví dụ: Tại dự thảo Thơng tư về chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền của Bộ Thông tin và Truyền thông, nếu quá thời xây dựng hồ sơ để tiến hành phân tích rủi ro và lựa

chọn các DN có doanh thu lớn, rủi ro cao để đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm. Theo hướng này, một số cục thuế lớn đã tiến hành thanh tra, kiểm tra thí điểm các DN có hoạt động kinh doanh TMĐT, điển hình như: Quảng cáo trực tuyến, trò chơi trực tuyến, dịch vụ thẻ cào, bán hàng qua mạng… nhằm xác định các sai phạm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Trong năm 2012, Cục Thuế TP. Hà Nội đã thu thập hồ sơ và khảo sát thông tin của 26 DN kinh doanh TMĐT, từ đó đã ra quyết định thanh tra, kiểm tra đối với 08 DN. Kết quả cho thấy, cơ quan thuế đã giảm số thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ 2,7 tỷ đồng; giảm lỗ 26,6 tỷ đồng và truy thu 8,7 tỷ đồng. Tương tự tại Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh, năm 2012 đã thanh tra 09 DN, qua đó đã kiến nghị giảm lỗ 2,5 tỷ và truy thu 1,8 tỷ đồng. Trong năm 2013, Tổng cục Thuế trực tiếp thanh tra 4 DN kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT và đã truy thu trên 80 tỷ đồng. Mặc dù vậy, con số này vẫn là chưa tương xứng với dư địa nguồn thu từ lĩnh vực kinh doanh TMĐT.

Từ thực tiễn công tác thanh tra, kiểm tra các DN kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT, cơ quan thuế bước đầu đã nhận diện được một số sai phạm có tính chất điển hình như:

<i>Một là, đối với loại hình quảng cáo trực tuyến bằng </i>

Google: Các DN vi phạm thường không kê khai đủ hoặc kê khai sai doanh thu thuế GTGT; không kê khai thuế nhà thầu đối với dịch vụ của một số công ty đa quốc gia như Google, Yahoo… có phát sinh dịch vụ ở Việt Nam.

<i>Hai là, đối với loại hình kinh doanh thẻ điện thoại </i>

hoặc thẻ game online: Các hành vi vi phạm chủ yếu là chiết khấu thanh toán cho khách hàng theo tỷ lệ không phù hợp với khoản chiết khấu nhận được từ nhà cung cấp;

<i>Ba là, các DN sử dụng tài khoản cá nhân để thanh </i>

toán các khoản phí dịch vụ nước ngồi khơng kê khai doanh thu tính thuế. Đa số các DN sử dụng website để quảng bá sản phẩm, hàng hóa, bán trực tiếp cho người tiêu dùng là cá nhân nhưng không xuất hóa đơn bán hàng, khơng kê khai doanh thu tính thuế

<b>trong năm 2015, Tổng cục Thuế sẽ nghiên cứu tham mưu Bộ Tài chính ban hành bổ sung một số quy định về thuế để điều chỉnh toàn diện hơn đối với các hình thức kinh doanh TMĐT; Ưu tiên tập trung vào các giao dịch có rủi ro lớn về thuế như quảng cáo trực tuyến, cung cấp nội dung số, giao dịch tiền ảo, mua bán vật phẩm trong game, mua bán thẻ code.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

đà cho TMĐT phát triển thuận lợi, ngành Thuế cần đẩy mạnh việc triển khai đồng bộ và rộng rãi các dịch vụ thuế điện tử như khai thuế, nộp thuế điện tử, hoá đơn điện tử. Theo mục tiêu của ngành Thuế, dự kiến đến hết năm 2015, tỷ lệ nộp thuế điện tử phấn đấu đạt trên 90% chỉ tiêu đặt ra.

<i>Thứ tư, tổ chức đào tạo cho các công chức làm công </i>

tác quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT nhằm trang bị kiến thức về TMĐT, kiến thức ngoại ngữ, công nghệ thông tin và kỹ năng thanh tra, kiểm tra bằng phương pháp máy tính. Để thực mục tiêu này, trong Chương trình quản lý thuế đối với TMĐT năm 2015, ngành Thuế phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức các khóa đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho các cán bộ công tác trong lĩnh vực TMĐT.

<i>Thứ năm, tăng cường trao đổi thông tin với cơ </i>

quan thuế các nước. Tính đến đầu năm 2015, Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 71 nước và vùng lãnh thổ (trong đó có Điều khoản về trao đổi thơng tin). Đây là khung pháp lý quan trọng để Việt Nam thực hiện trao đổi thông tin với các nước phục vụ công tác quản lý thuế đối với các giao dịch TMĐT qua biên giới B2B và B2C. Ngoài ra, để đảm bảo công tác quản lý thu thuế trong lĩnh vực TMĐT đạt hiệu quả cao đối với các tổ chức nước ngồi (khơng có cơ sở thường trú tại Việt Nam) có thể nghiên cứu bổ sung thêm điều khoản Hỗ trợ thu thuế theo mẫu Hiệp định thuế mới của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vào mẫu Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ.

Cuối cùng là đẩy mạnh hợp tác giữa ngành Thuế với các bộ, ngành (Bộ Công Thương; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Công an; Ngân hàng Nhà nước), các công ty viễn thông, các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền dẫn, cung cấp hạ tầng mạng; cung cấp sàn giao dịch TMĐT, đăng ký tên miền, thuê máy chủ, thuê đường truyền dẫn, thanh toán qua ngân hàng… để xác định các hành vi vi phạm pháp luật thuế và kịp thời có biện pháp xử lý nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế.

hạn 90 ngày, các bên tham gia chuyển nhượng tên miền khơng có chứng từ chứng minh nghĩa vụ nộp thuế sẽ không được giải quyết hồ sơ chuyển nhượng tên miền Internet.

Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu riêng để quản lý các DN kinh doanh TMĐT bao gồm các thông tin: Thông tin định danh (tên, địa chỉ công ty, địa chỉ website, ngành nghề kinh doanh, số giấy phép đăng ký hoạt động sàn giao dịch TMĐT...); thơng tin về tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế; thơng tin về tình hình tài chính. Thực tế, việc khai thác cơ sở dữ liệu trên hệ thống của ngành Thuế hiện nay gặp nhiều khó khăn, do việc đăng ký ngành nghề kinh doanh của các DN chưa sát với hoạt động kinh doanh thực tế. Ngoài ra, cần nghiên cứu, phát triển cơng cụ tìm kiếm internet phục vụ quản lý thuế theo thông lệ quản lý của các nước phát triển. Điển hình như: Đức, Hà Lan, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc… đều sử dụng công nghệ tìm kiếm thơng minh trên các trang web có hoạt động TMĐT để xác định hoạt động TMĐT chưa được kê khai thuế; ghi chép các kết quả làm bằng chứng để sử dụng trong q trình tính thuế và thanh tra, kiểm tra…

<i>Thứ ba, thực hiện áp dụng quản lý rủi ro trong </i>

quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, tổng hợp các hành vi trốn/tránh thuế phổ biến của người nộp thuế, phân loại người nộp thuế theo các nhóm điển hình để có các biện pháp quản lý thuế phù hợp. Do TMĐT có những lợi thế đặc thù so với thương mại truyền thống (chi phí đầu tư ban đầu thấp) nên các đối tượng tham gia vào các giao dịch TMĐT rất đa dạng từ tổ chức đến cá nhân, từ DN lớn đến DN vừa, nhỏ siêu nhỏ. Do đó, việc phân loại quản lý rủi ro người nộp thuế là hết sức cần thiết. Đối với người nộp thuế là những DN có rủi ro lớn về thuế, sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra; đối với người nộp thuế là các cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ tham gia vào các giao dịch nhỏ lẻ, số lượng lớn và giá trị giao dịch thấp, sẽ đẩy mạng công tác tuyên truyền, giáo dục để họ chấp hành pháp luật thuế đầy đủ. Ngồi ra, để tạo

<b><small>HÌNH 4: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN NỀN TẢNG DI ĐỘNG</small></b>

<i><small>Nguồn: Tác giả tổng hợp</small></i>

<b>Tính đến đầu năm 2015, Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 71 nước và vùng lãnh thổ (trong đó có Điều khoản về trao đổi thông tin). Đây là khung pháp lý quan trọng để Việt Nam thực hiện trao đổi thông tin với các nước phục vụ công tác quản lý thuế đối với các giao dịch TMĐT qua biên giới B2B và B2C. </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

thu được thuế đối với các giao dịch TMĐT thì ngồi việc nắm bắt các đối tác trung gian, rất cần phải kiểm soát các đơn vị cung cấp dịch vụ cho TMĐT như các nhà mạng, các đơn vị cung cấp chứng thư chữ ký số.

<i>Bốn là, khơng gian số hố cho phép thực hiện các </i>

giao dịch xuyên quốc gia mà không thể thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan. Đây là một đặc điểm quan trọng nhất của TMĐT mà pháp luật thuế phải tính đến để có các quy định mang tính khả thi. Thực tiễn cho thấy, sẽ không thể thu được thuế đối với các giao dịch TMĐT xuyên biên giới mà đối tượng là dịch vụ nếu như khơng có quy định về biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn đối với người mua dịch vụ.

<i>Năm là, trong TMĐT, tham gia cùng với hai đối </i>

tác người bán/người mua nhất thiết phải có một bên thứ ba thực hiện vai trò chứng thực và hỗ trợ kỹ thuật cho các bên trong quá trình tiến hành một giao dịch TMĐT. Bên thứ ba này có thể là chủ thể cung cấp các điều kiện hạ tầng kỹ thuật cho giao dịch như cung cấp hệ thống mạng, máy chủ, đường truyền, xác nhận chữ ký điện tử, cung cấp tiền điện tử hoặc các hình thức thanh tốn khác có thể thực hiện trên internet. Như vậy, trong mọi trường hợp, hiệu quả quản lý thuế hoàn tồn phụ thuộc vào việc kiểm sốt, quản lý bên thứ ba.

Những điểm đặc thù nêu trên đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ trong hệ thống pháp luật quản lý về nhiều lĩnh vực liên quan, các quy định về thuế cần được thiết kế cụ thể phù hợp với từng loại hình giao dịch, từng phương thức thanh toán cũng như địa vị pháp lý và vị trí của từng bên thứ ba trong TMĐT.

<b>Đặc thù của quản lý thuế thương mại điện tử </b>

Lý luận và thực tiễn quy định của Nhà nước về thương mại điện tử (TMĐT) cho thấy, để có thể quản lý thuế đối với TMĐT cần phải nhận diện rõ được những điểm đặc thù sau:

<i>Một là, các chủ thể trong giao dịch TMĐT không </i>

nhất thiết phải tiến hành các thủ tục mua bán thông thường, trao đổi trực tiếp, ký kết hợp đồng mà có thể sử dụng các phương tiện điện tử. Các văn kiện, hợp đồng, thoả thuận điều chỉnh hoặc thanh lý không nhất thiết phải sử dụng văn bản truyền thống mà sử dụng các thông điệp, dữ liệu điện tử. Do vậy, việc kiểm tra, đối chiếu, xác minh các tài liệu, số liệu lưu trữ, các bằng chứng TMĐT cũng như việc, khai thác, sử dụng, phát triển các mối quan hệ của đối tượng nộp thuế đòi hỏi cán bộ thuế phải có trình độ hiểu biết nhất định.

<i>Hai là, việc giao nhận hàng hoá rất linh hoạt, các </i>

thủ tục ký kết hợp đồng, thoả thuận, thanh lý có thể được tiến hành bằng phương tiện điện tử. Phương thức giao nhận này của TMĐT đặc biệt thông dụng và dễ dàng khi khách hàng mua các sản phẩm như âm nhạc, phim ảnh, sách báo, phần mềm. Do đó, với đối tượng của TMĐT là dịch vụ thì cơng tác quản lý thuế cần phải đặt trọng tâm vào quản lý dòng tiền.

<i>Ba là, việc thanh toán tiền trong TMĐT rất linh </i>

hoạt, người mua có thể bằng tiền mặt, chuyển tiền qua ngân hàng nhưng cũng có thể sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử, các giao dịch thanh tốn thơng qua máy tính, điện thoại thơng minh. Vì vậy, rủi ro lớn trong quản lý thuế là các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt và để có thể kiểm sốt, quản lý

<b>MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC </b>

<b>QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ </b>

<b>NGUYỄN VĂN PHỤNG </b><i>- Vụ trưởng quản lý thuế Doanh nghiệp lớn (Tổng cục thuế)</i>

<i><b>Gần đây, có nhiều ý kiến đề xuất tăng cường quản lý thuế đối với thương mại điện tử và cần phải có các quy định cụ thể về thuế đối với hoạt động này. Ngược lại, có ý kiến cho rằng pháp luật thuế đã có quy định cụ thể cả về chính sách và quản lý thuế, vấn đề là cần phải tăng cường quản lý hiệu quả về lĩnh vực này. Bài viết đề cập đến một số nội dung vừa là phản biện, vừa mang tính chất bổ sung thêm cho các ý kiến trên.</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

các hoạt động thương mại hoặc hoạt động làm công, mua/bán tài sản, không phân biệt giao dịch thương mại theo phương thức truyền thống hay theo phương thức TMĐT. Do vậy, bất kể là DN hay cá nhân với vai trò là người bán, người cung cấp trong các giao dịch TMĐT phải có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký, kê khai, nộp thuế. Trong trường hợp người mua dịch vụ là tổ chức, doanh nghiệp, hoặc cá nhân kinh doanh ở trong nước thì họ cịn có trách nhiệm khấu trừ, kê khai nộp thuế nhà thầu nước ngoài thay cho nghĩa vụ của người cung cấp dịch vụ là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

<i><b>Quản lý thuế các đối tượng tham gia thương mại điện tử thế nào?</b></i>

Từ những điểm đặc thù của TMĐT và các quy định pháp luật thuế hiện hành, để có các biện pháp quản lý thuế phù hợp, rất cần thiết phải phân loại các đối tác tham gia TMĐT theo vị trí (người mua/bán); phân loại theo các cấp độ quản lý như: Đặc biệt khó khăn; Rất khó quản lý; Khó quản lý; Có thể quản lý được. Đồng thời, khi đi vào từng vị trí quản lý thuế, cần phân loại các đối tượng tham gia TMĐT là hàng hoá hay dịch vụ, nguồn cung cấp là trong nước hay nước ngoài để xác định trọng tâm, trọng điểm và các biệp pháp quản lý cho phù hợp.

Trên giác độ trách nhiệm pháp lý về nghĩa vụ thuế, có thể phân chia các đối tác tham gia giao dịch TMĐT thành 3 vị trí: Cá nhân; Tổ chức khơng kinh doanh nhưng có dịch vụ có thu tiền; Doanh nghiệp (xem Bảng).

Tại vị trí đặc biệt khó quản lý vì cơ quan thuế khó có đủ nguồn lực để đi theo từng cá nhân người bán và người mua. Tuy nhiên, cũng có thể quản lý được đối với những cá nhân đăng ký giao dịch theo Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 của Bộ Công Thương về quản lý website thương mại điện tử. Theo đó, những cá nhân mở website TMĐT để bán hàng phải đăng ký với Cục Thương mại điện tử (Bộ Công Thương) và cơ quan thuế có khả năng thực hiện được việc phối hợp khai thác nắm bắt thông tin phục vụ công tác quản lý thuế đối với cá nhân này. Tương tự, những cá nhân bán hàng trên sàn giao dịch TMĐT

<b>Quy định pháp luật thuế đối với thương mại điện tử</b>

Cho dù các giao dịch thương mại được các bên thực hiện theo phương thức truyền thống hay giao dịch TMĐT thì đối tượng của giao dịch cũng rơi vào 1 trong 3 hoặc cả 3 đối tượng là hàng hoá, dịch vụ và vốn. Theo thông lệ quốc tế, giao dịch về vốn thường không bị áp thuế bởi vốn chưa tạo ra giá trị. Hiện tại, Việt Nam không áp thuế đối với các giao dịch về vốn cũng như các giao dịch chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

Với đối tượng của giao dịch TMĐT là hàng hố thì Việt Nam đang áp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng (GTGT). Ngồi ra, một số loại khác có thể áp thêm thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế bảo vệ môi trường (BVMT) và người nhập khẩu là đối tượng kê khai nộp các loại thuế này. Đối với hàng hoá được sản xuất, tiêu thụ trong nước thì trách nhiệm kê khai nộp thuế thuộc về người bán và tuỳ theo từng mặt hàng, với các loại thuế áp dụng là thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế BVMT. Người bán hàng hố có thu nhập nếu là tổ chức thì sẽ phải kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hoặc kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) nếu là cá nhân. Với người bán hàng là cá nhân thì có thế được miễn nộp các loại thuế GTGT, TNCN nếu mức doanh thu cả năm không vượt quá 100 triệu đồng.

Với đối tượng của giao dịch TMĐT là dịch vụ có quy định cụ thể đối với dịch vụ được cung cấp trong nước và dịch vụ được cung cấp từ nước ngoài. Theo đó, áp thuế GTGT với dịch vụ trong nước; áp thuế TNDN với người bán dịch vụ là tổ chức (thuế TNCN đối với người bán dịch vụ là cá nhân). Đối với dịch vụ được cung cấp từ nước ngồi thì trách nhiệm kê khai, khấu trừ thuế tại nguồn được áp dụng đối với người mua ở Việt Nam là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh. Không phân biệt dịch vụ được cung cấp ở nước ngoài hay trong nước, người mua dịch vụ là doanh nghiệp thì sẽ được tính giá trị dịch vụ vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu có hố đơn/chứng từ hợp pháp.

Hiện tại, Luật Quản lý thuế áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân khi có phát sinh nghĩa vụ thuế từ

<b><small>BẢNG: PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ KHÓ TRONG QUẢN LÝ THEO VỊ TRÍ</small></b>

<b>Người bán </b>

<b>Người mua<sup>Cá nhân</sup>nhưng có dịch vụ có thu tiền<sup>Tổ chức không kinh doanh </sup><sup>Doanh nghiệp</sup>Cá nhân</b> <small>Đặc biệt khó khănRất khó nhưng có thể quản lý được</small> <sup>Khó nhưng có thể </sup><sub>quản lý được</sub>

<b>Tổ chức khơng kinh doanh </b>

<b>nhưng có dịch vụ có thu tiền</b> <sup>Rất khó nhưng có thể quản lý được</sup> <sup>Khó nhưng có thể quản lý được</sup>

<small>Khó nhưng có thể quản lý được</small>

<b>Doanh nghiệp</b> <small>Khó nhưng có thể quản lý đượcKhó nhưng có thể quản lý đượcCó thể quản lý được</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

thì cơ quan thuế cũng có thể nắm bắt được thông tin thông qua các doanh nghiệp hoặc cá nhân là chủ sàn giao dịch.

Tại vị trí “Rất khó quản lý”, khi người bán là cá nhân và trường hợp cả bên bán, bên mua là những tổ chức không kinh doanh nhưng có hoạt động thu tiền qua giao dịch TMĐT. Bởi vì, với những tổ chức thuộc loại này họ chỉ chịu sự kiểm soát của cơ quan thuế trong trường hợp họ có sử dụng lao động, trả tiền lương cho nhân viên và thực hiện các thủ tục đăng ký, kê khai thuế thu nhập cá nhân và cơ quan thuế cũng rất khó đi sâu vào để kiểm tra nguồn thu, dòng tiền và nội dung chi tiêu của các tổ chức thuộc loại này.

Tại vị trí “Khó quản lý”, đối với trường hợp người bán là cá nhân hoặc tổ chức không kinh doanh nhưng cơ quan thuế có thể quản lý được ít nhất là tại khâu người mua là DN, bởi các DN cần kê khai chi phí đầu vào. Với trường hợp giao dịch TMĐT mà người bán là DN, người mua là cá nhân hoặc tổ chức không kinh doanh thì mức độ khó trong quản lý thuế cũng tương tự nhưn quản lý thuế đối với giao dịch thương mại truyền thống.

Tại vị trí “Có thể quản lý” thu thuế được bởi các bên trong giao dịch TMĐT đều là DN, có quan thuế có thể kiểm sốt được ở cả hai vị trí người bán và người mua. Tuy nhiên, vẫn có những rủi ro trong trường hợp thơng tin giao dịch là TMĐT nhưng hàng hố được giao theo phương thức truyền thống (bên bán có thể giấu doanh thu bán hàng nếu thanh toán bằng tiền mặt).

<i><b>Quản lý thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu </b></i>

Các giao dịch TMĐT đối tượng với hàng hoá xuất, nhập khẩu, phải thực hiện các nghiệp vụ kê khai hải quan, qua đó, cơ quan hải quan thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật. Việc khai thuế, tính thuế được thực hiện trên tờ khai hải quan và nộp thuế theo trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính. Đối với các cá nhân thực hiện việc mua hàng qua các trang mạng quốc tế (ví dụ ebay, amazon...) thì hàng hố được chuyển về vẫn phải thực hiện quản lý thuế tại hệ thống hải quan. Theo đó, các đại lý, nhất là đại lý phân phối độc quyền của các hãng nước ngoài, các DN làm thủ tục chuyển phát quốc tế phải thực hiện nghĩa vụ thuế trước khi làm thủ tục thông quan hàng nhập khẩu, kể cả việc nhập khẩu thực hiện theo thủ tục phi mậu dịch.

Rủi ro trong quản lý thuế với hàng hố nhập khẩu có thể xảy ra tại khâu nội địa nếu người mua là cá nhân không cần hoá đơn chứng từ và người

bán thu tiền mặt nhưng khơng xuất hố đơn, khơng hạch tốn doanh thu. Khi đó, tiền thuế có thể thất thốt gồm thuế TNDN và thuế GTGT tương ứng với phần giá trị tăng thêm (giá bán cao hơn giá nhập khẩu). Việc quản lý thuế đối với hàng hoá sau khi đã nhập khẩu và được bán trong nội địa cũng sẽ được thực hiện như các giao dịch hàng hoá nội địa (nêu dưới đây).

<i><b>Quản lý thuế đối với hàng hoá trên thị trường nội địa</b></i>

Hàng hoá được bán trong nội địa qua giao dịch TMĐT bao gồm hàng hoá được sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Như vậy, việc quản lý thuế đối với các giao dịch TMĐT cần đặt trọng tâm vào người bán là DN và cơ quan thuế cần sử dụng các biện pháp sau: Truy cập vào cổng thông tin điện tử của Cục Thương mại điện tử để tìm ra thơng tin, địa chỉ, tình trạng của DN bán hàng; Truy cập vào website của ngành Thuế, xác định địa chỉ, mã số thuế, cơ quan thuế địa phương quản lý DN trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp quản lý thuế theo quy trình quản lý thuế với đối tượng là DN. Khi đó, các giao dịch TMĐT tìm kiếm được chính là các thơng tin bổ trợ cho công tác quản lý thuế trong tất cả các khâu từ kê khai, thu nộp thuế đến kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế theo quy định chung.

Đối với trường hợp người bán hàng là các cá nhân, cần tiếp tục phân loại thành các nhóm theo mức độ rủi ro để có các biện pháp quản lý phù hợp, cụ thể:

- Nhóm cá nhân bán hàng thực hiện giao dịch trực tuyến thông qua các trang mạng xã hội mang tính quốc tế, như: google, yahoo, facebook... thì ít nhất trong vịng 5 năm tới khơng đặt kỳ vọng vào việc quản lý nhóm này vì khơng đủ nguồn lực để chạy theo từng cá nhân, trong khi chi phí quá lớn. Hiện tại, tuy các trang mạng nêu trên đã có các đại diện tại Việt Nam nhưng chúng ta mới chỉ có thể quản lý thu thuế đối với các giao dịch được hỗ trợ làm thủ tục qua đại diện, hoặc thu thuế nhà thầu đối với hoạt động quảng cáo của DN trên các trang này.

- Nhóm cá nhân có website điện tử bán hàng thuộc diện phải thực hiện thông báo cho Cục Thương mại điện tử theo quy định tại Thông tư số 47/2014/TT-BCT. Đây là những cá nhân thực hiện nghiêm túc quy định của nhà nước về TMĐT và trong điều kiện cơ sở dữ liệu của ngành thuế được bổ sung, sự phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý thị trường được cải tiến thì chúng ta có thể vươn lên quản lý thu thuế được với nhóm này. Tuy nhiên, gặp phải những khó khăn và tốn kém chi phí phân loại đối tượng để quản lý thu thuế cho phù hợp với quy định hiện hành của chính sách thuế

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

dành cho cá nhân kinh doanh có mức doanh thu năm không vượt quá 100 triệu đồng (được miễn nộp thuế GTGT, miễn nộp thuế TNCN).

- Nhóm cá nhân có website điện tử bán hàng nhưng không thông báo cho Cục Thương mại điện tử là không tuân thủ quy định pháp luật, đồng thời cũng có thể khơng ít trường hợp vi phạm pháp luật về đăng ký, kê khai thuế. Hiện tại, chưa có lực lượng để theo dõi quản lý thuế đối với nhóm này và để có thể quản lý họ cơ quan thuế cần mất thời gian nhiều hơn để tiến hành nhiều việc. Ví dụ: Phân cơng lực lượng chun trách, có kiến thức tin học để tìm ra địa chỉ của cá nhân bán hàng thông qua các thông tin trên website; Thực hiện cơ chế điều phối, thông báo, phân công cho cơ quan thuế tại địa phương chỉ nơi mới tìm được thơng tin... từ đó mới có thể áp dụng các biện pháp quản lý chống thất thu về hộ kinh doanh, đưa dần vào đối tượng quản lý theo quy trình quản lý hộ cá thể.

- Đối với nhóm cá nhân tham gia kinh doanh trên sàn giao dịch TMĐT, việc quản lý thuế cần hướng vào các DN cung cấp dịch vụ TMĐT quy định tại Điều 14 Thông tư số 47/2014/TT-BCT. Theo đó, từ cơng tác quản lý, theo dõi các DN, các tổ chức sở hữu website cung cấp dịch vụ TMĐT để theo dõi, nắm bắt các thông tin về hợp đồng, thoả thuận hợp tác. Kiểm tra chứng từ liên quan đến các khoản thu/chi của các DN này, cơ quan thuế có thể tìm ra được thông tin về các cá nhân thực hiện kinh doanh qua sàn, nhất là các trường hợp xây dựng kho hàng trên mạng, trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp quản lý thuế như đối với các nhóm nêu trên.

<i><b>Quản lý thuế đối với hàng hố, dịch vụ, chi phí của bên mua trong nước</b></i>

Bám sát việc chi trả tiền mua hàng hoá dịch vụ từ các DN, tổ chức trong nước được xem là biện pháp có tính khả thi nhất trong điều kiện hiện nay. Bởi DN mua hàng trong TMĐT ln có nhu cầu hạch tốn vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Quy định của pháp luật hiện hành về thuế TNDN bắt buộc các DN phải có chứng từ, hố đơn mua hàng hố, chứng từ thanh toán đối với các giao dịch TMĐT. Do đó, các DN là bên mua hàng ln đòi hỏi người cung cấp phải xuất hố đơn và thơng qua đó, cơ quan thuế có thể nắm bắt thơng tin về người bán để thực hiện phối hợp trao đổi trong hệ thống nhằm áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.

Đặc biệt, qua rà sốt dịng tiền chi ra của DN, tổ chức chi trả cho các giao dịch với đối tác nước ngồi, cơ quan thuế có quyền kiểm tra chứng từ liên quan,

thông tin kinh tế, thông tin về hợp đồng, thoả thuận, thanh lý, đối chiếu cơng nợ... từ đó áp dụng các quy định về thuế nhà thầu nước ngồi (Thơng tư số 103/2014/TT-BTC) để u cầu tổ chức, DN thực hiện. Đây là biện pháp đã và đang được ngành Thuế triển khai tốt trong thời gian qua.

Qua tổng kết, đánh giá về công tác quản lý thuế giai đoạn 2012 – 2014 cho thấy, ngành Thuế đã khai thác tăng thu hàng trăm tỷ đồng tiền thuế nhà thầu nước ngoài đối với các bên liên kết trong các cơ sở giáo dục đại học, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ, các DN phần mềm... trên cơ sở rà soát, kiểm tra việc chi trả tiền bản quyền, tiền liên kết. Trong đó, khơng ít trường hợp hoạt động đào tạo, quảng cáo, cung cấp dịch vụ được các bên thực hiện theo phương thức giao dịch TMĐT. Ngoài ra, qua việc

kiểm sốt chi phí của DN, cơ quan thuế cũng tìm ra được khơng ít cơ sở kinh doanh trong nước là đối tác bán hàng hoá, dịch vụ liên quan đến các giao dịch TMĐT để thực hiện việc phối hợp kiểm tra, truy thu, xử phạt.

<i><b>Quản lý thuế đối với kinh doanh dịch vụ mạng, trò chơi trực tuyến</b></i>

Việc quản lý thuế với các đối tượng là DN trong lĩnh vực này khơng gặp nhiều khó khăn như lâu nay báo chí nêu và nhiều người lầm tưởng vì các DN ln có địa điểm kinh doanh rõ ràng, tài khoản ngân hàng minh bạch, đặc biệt trong các trường hợp phát hành thẻ để thực hiện giao dịch trực tuyến thì chúng ta hồn tồn có thể liên kết khai thác dữ liệu từ các nhà cung cấp dịch vụ mạng, các trung tâm thanh toán thẻ. Trên thực tế, cơ quan thuế đã quản lý thu thuế với các giao dịch TMĐT của các nhà cung cấp tiêu biểu như FPT, CMC, VTC, VNG. Từ thực tiễn quản lý các DN này, cơ quan thuế có thể tổng kết đúc rút kinh nghiệm và từ đó mà nghiên cứu, xây dựng một quy trình quản lý để áp dụng thống nhất tại các địa phương. Việc đào tạo kỹ năng quản lý về TMĐT cho cán bộ cơng chức thuế cũng có thể được triển khai đồng thời với việc ngành thuế đang đẩy mạnh áp dụng chương trình khai thuế qua Internet và nộp thuế điện tử.

<b>Trong giai đoạn 2012 – 2014 cho thấy, ngành Thuế đã khai thác tăng thu hàng trăm tỷ đồng tiền thuế nhà thầu nước ngoài đối với các bên liên kết trong các cơ sở giáo dục đại học, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ, các DN phần mềm... trên cơ sở rà soát, kiểm tra việc chi trả tiền bản quyền, tiền liên kết.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

quy định của pháp luật thuế Việt Nam, cá nhân hoặc DN kinh doanh TMĐT sẽ phải nộp thuế thu nhập (đối với phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam – nếu không cư trú, hoặc thu nhập phát sinh toàn cầu nếu là cá nhân cư trú) và người tiêu dùng sẽ phải nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu (nếu có) đối với hàng hóa tiêu dùng. Việc kê khai và nộp các loại thuế gián thu sẽ do cá nhân người nhập khẩu thực hiện (nếu là hàng hóa nhập khẩu) hoặc người bán hàng thực hiện trong trường hợp DN/cá nhân bán hàng trong nước.

Đối với quyền đánh thuế trong TMĐT, theo tính chất kỹ thuật của internet, rất khó xác định chính xác địa điểm kinh doanh mà các DN kinh doanh TMĐT sử dụng. Ngoài ra, do việc thành lập và chuyển nhượng DN được thực hiện rất dễ dàng trong TMĐT, cơ quan thuế gặp nhiều khó khăn trong việc xác định danh tính và nước cư trú của người nộp thuế.

Bên cạnh các vấn đề trên, với các giao dịch hàng hóa hữu hình trong TMĐT quốc tế do vẫn phải được thực hiện thông qua cơ quan hải quan nên việc thu thuế nhập khẩu hay GTGT là khá dễ dàng và có thể kiểm sốt được. Tuy nhiên, trong trường hợp xuất, nhập khẩu các hàng hóa dịch vụ trực tuyến mà khơng thơng qua sự kiểm tra, kiểm sốt của cơ quan hải quan (như phim ảnh, bài hát, các phần mềm…), cơ quan thuế sẽ rất khó phát hiện nguồn phát sinh thu nhập và gây ra xung đột lợi ích giữa các nước chịu tác động trong việc thực hiện quyền đánh thuế.

<b>Thương mại điện tử và quyền đánh thuế thương mại điện tử</b>

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của các hình thức thương mại điện tử (TMĐT). Các giao dịch TMĐT có thể được thực hiện giữa doanh nghiệp (DN) với DN; giữa DN với các cá nhân; giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa DN với Chính phủ và giữa Chính phủ với các cá nhân. Với bất kỳ giao dịch nào, nội dung chính trong kinh doanh TMĐT vẫn là hàng hóa và dịch vụ, bao gồm: tài sản hữu hình và tài sản vơ hình hoặc các dịch vụ…

TMĐT bỏ qua và thậm chí phá hủy mọi khái niệm về biên giới. Vì vậy, việc đánh thuế đối với TMĐT phải tuân thủ theo các nguyên tắc thuế quốc tế mà cơ bản nhất là các nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập hoặc cư trú và nguyên tắc điểm đến hoặc xuất xứ. Nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập, thường áp dụng khi xác định nghĩa vụ thuế thu nhập, quy định thu nhập phát sinh ở nước nào sẽ phải nộp thuế ở nước đó. Ngược lại, nếu theo nguyên tắc cư trú - một tổ chức/cá nhân được coi là cư trú ở nước nào thì sẽ phải nộp thuế tại nước đó dựa trên thu nhập phát sinh trên toàn cầu. Đồng thời, với các hình thức thuế gián thu (giá trị gia tăng, thuế hàng hóa đặc biệt, thuế nhập khẩu) – nguyên tắc điểm đến là cơ sở để một quốc gia thực hiện quyền thu thuế của mình. Nguyên tắc điểm đến quy định hàng hóa được tiêu dùng ở đâu thì được đánh thuế ở đó, ngược lại, trong nguyên tắc xuất xứ, hàng hóa sẽ bị đánh thuế tại nơi mà nó được sản xuất.

Với các nguyên tắc đánh thuế nêu trên và theo

<b>TRỐN THUẾ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ: </b>

<b>NHẬN DIỆN CÁC HÀNH VI VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ</b>

<b>TS. LÝ PHƯƠNG DUYÊN</b><i> - Học viện Tài chính</i>

<i><b>Trốn thuế có thể được hiểu là hành vi khơng hợp pháp có chủ định hoặc là hành vi liên quan trực tiếp đến việc vi phạm các quy định của luật thuế để không phải nộp thuế. Về cơ bản, các doanh nghiệp hoặc cá nhân kinh doanh thương mại điện tử cũng có các động cơ và hành vi trốn thuế tương tự như hình thức kinh doanh thương mại truyền thống.</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

Thu nhập phát sinh thơng qua việc thu phí thành viên và bán các tài sản hoặc do cá nhân là người chơi mua bán tài sản ảo kiếm được trong trò chơi cho người khác là đối tượng chịu thuế GTGT, TNDN, TNCN. Việc kinh doanh các sản phẩm trực tuyến như phim, bài hát, sách trực tuyến… cũng phát sinh thu nhập. Tuy nhiên, đây là thu nhập từ tiền bản quyền hay thu nhập từ kinh doanh các sản phẩm số hóa cũng là một vấn đề cần cân nhắc.

- Đấu giá trực tuyến: Người tham gia mua bán và đấu giá phải thực hiện đăng ký làm thành viên và được quyền trưng bày dữ liệu về hàng hoá lên trang đấu giá trực tuyến. Thực chất, hoạt động đấu giá trực tuyến là hình thức bán hàng qua mạng, do vậy, thu nhập phát sinh thông qua việc thu phí thành viên và thu nhập từ việc bán hàng đều là đối tượng chịu thuế GTGT, TNDN và TNCN.

<i><b>Các hành vi trốn thuế trong thương mại điện tử</b></i>

Với bản chất của TMĐT là khơng có trụ sở giao dịch, không thực hiện giao dịch trên giấy và một số hàng hóa thực hiện trao đổi trong giao dịch là các hàng hóa vơ hình (như các sản phẩm số), nên các giao dịch trong TMĐT là rất khó kiểm sốt, vì vậy, các hành vi trốn thuế xảy ra thường xuyên và phổ biến hơn. Có hai nhóm hành vi trốn thuế TMĐT phổ biến, đó là:

<i>Thứ nhất, không đăng ký kinh doanh/đăng ký </i>

nộp thuế. Theo quy định, cơng ty có cơ sở thường trú tại Viêt Nam phải đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế như công ty thường trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, TMĐT khơng địi hỏi phải thành lập bất kỳ cơ sở kinh doanh nào để thực hiện các hoạt động kinh doanh, giao dịch mà tất cả các bước giao dịch, ký hợp đồng, giao hàng, chuyển tiền… đều được thực hiện và xử lý thông qua hệ thống máy tính. Bên cạnh đó, việc xác định một DN/cá nhân có phải là thường trú tại Việt Nam hay khơng là hết sức khó khăn. Vì vậy, các cơng ty kinh doanh TMĐT dễ dàng phớt lờ cơ quan thuế, không thực hiện đăng ký kinh doanh cũng như đăng ký thuế. Tình trạng này cũng phổ biến với các cá nhân kinh doanh, bán hàng qua mạng.

<i>Thứ hai, không kê khai hoặc kê khai thấp giá trị </i>

giao dịch/thu nhập để trốn thuế. Đây là hành vi trốn thuế phổ biến và khó kiểm sốt nhất trong kinh doanh TMĐT. Với mỗi hình thức kinh doanh TMĐT khác nhau sẽ phát sinh các hành vi trốn thuế khác nhau. Một số hành vi trốn thuế TMĐT chủ yếu như sau:

- Đối với các hình thức bán hàng trực tuyến, trong trường hợp người mua là DN, do tính chất các giao dịch trong TMĐT đều thực hiện qua mạng, ít các bằng chứng để đối chiếu nên người bán thường kê khai với giá trị thấp để trốn thuế GTGT và thuế

<b>Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử và hành vi trốn thuế phổ biến</b>

<i><b>Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử phổ biến ở Việt Nam </b></i>

- Bán lẻ hàng hóa qua hệ thống cửa hàng trực tuyến: Với hình thức này, người mua truy cập vào trang chủ mua bán tìm kiếm hàng hố sau đó gửi thư điện tử (mail) để đặt hàng. Sau khi nhận được thư đặt hàng, bên bán sẽ kiểm tra yêu cầu xác nhận việc mua hàng và thoả thuận phương thức thanh toán. Khi yêu cầu thanh toán được chấp nhận, người bán sẽ chuyển hàng cho người mua. Việc thanh tốn có thể bằng phương thức trả tiền mặt hoặc chuyển khoản qua ngân hàng.

- Kinh doanh sàn giao dịch TMĐT theo hình thức mua theo nhóm: Trong hình thức này, DN kinh doanh sàn giao dịch TMĐT đóng vai trị trung gian, là nơi kết nối giữa DN bán hàng, cung cấp dịch vụ và người mua hàng thông qua việc đăng tải sản phẩm lên sàn giao dịch TMĐT. Khách hàng có thể nhận hàng tại DN trung gian hoặc DN bán sản phẩm.

- Quảng cáo trực tuyến, qua các banner đính trên trang điện tử (website): Hình thức quảng cáo qua banner là loại hình kinh doanh TMĐT mà bên sử dụng dịch vụ quảng cáo trả phí để đặt các banner quảng cáo sản phẩm trên trang web của bên cung cấp dịch vụ quảng cáo (ví dụ: quảng cáo trên các trang báo điện tử). Với những hình thức quảng cáo này, thu nhập phát sinh ở Việt Nam nhưng nhà cung cấp có thể ở ngồi Việt Nam, vì vậy, việc kê khai, nộp thuế tuân thủ theo quy định về thuế nhà thầu.

Bán gian hàng trực tuyến theo mơ hình đa cấp: Hình thức này, cơng ty sẽ cấp một tài khoản cho thành viên trên website của cơng ty, mỗi thành viên có thể mua bán trong gian hàng ảo đó. Theo quy định của Pháp luật thuế GTGT, TNDN, các DN kinh doanh theo mơ hình này phải thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT và TNDN đối với doanh thu thu được từ bán gian hàng ảo. Các cá nhân mua gian hàng ảo cũng phải kê khai, nộp thuế GTGT và TNCN khi phát sinh doanh thu bán hàng.

- Trò chơi trực tuyến/các sản phẩm trực tuyến: Với các trò chơi trực tuyến, người chơi phải đăng ký thành viên (mất phí hoặc miễn phí ban đầu), mua đồ, nâng cấp vật dụng sử dụng trong trị chơi thơng qua việc nạp tiền thật (bằng thẻ cào điện thoại) để mua tiền ảo, và sử dụng tiền ảo để nâng cấp, mua bán. Ngoài ra, người chơi có thể thực hiện các giao dịch bán tài sản ảo kiếm được trong game cho người chơi khác để thu tiền thật. Nhà cung cấp các trị chơi có thể là một DN sản xuất phần mềm hoặc cá nhân.

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

+ Tìm kiếm địa chỉ của đối tượng liên lạc trên tên miền thông qua website kiểm tra tên miền;

+ Yêu cầu các ngân hàng cung cấp các số tài khoản được sử dụng để thanh toán các giao dịch TMĐT nhằm nhận diện các nhà cung cấp dịch vụ TMĐT;

+ Thử thực hiện mua sắm để nhận email từ người bán để nhận diện;

Bên cạnh đó, cần phải có quy định yêu cầu DN khi muốn mở tài khoản tại ngân hàng phải nộp một bản sao giấy đăng ký kinh doanh nhằm phục vụ cho việc xác minh thông tin. Các quy định này đã giúp nâng cao tính tuân thủ trong đăng ký kinh doanh của các cá nhân kinh doanh không phải là pháp nhân.

<i><b>Đối với các hành vi không khai báo hoặc khai báo sai giá trị giao dịch/thu nhập nhận được từ các giao dịch thương mại điện tử</b></i>

<i>Thứ nhất: cơ quan thuế cần thu thập dữ liệu, lập </i>

kho dữ liệu và phân tích các hành vi trốn thuế phổ biến trong kinh doanh TMĐT để dễ dàng trong việc nhận diện.

Trong một thị trường có tốc độ thay đổi nhanh chóng như TMĐT với những cơ chế tránh thuế đang ngày càng trở nên tinh vi như hiện nay, cần phải xây dựng hệ thống phân tích và giám sát, thu thập thông tin về xu hướng phát triển TMĐT cũng như các nguồn thu từ hoạt động này từ các cơ quan liên quan. Có thể kiểm tra khối lượng giao dịch TMĐT bằng việc thu thập các thống kê về TMĐT và các gian hàng trực tuyến.

Bằng việc thường xuyên tìm kiếm các website, thu thập và phân tích dữ liệu thuế như ngày giao dịch, đại lý giao dịch, thông tin chi tiết về giao dịch từ các tổ chức thanh toán, các nhà quản lý sàn giao dịch TMĐT, cơ quan thuế sẽ phát hiện ra các loại giao dịch, các phương thức thanh tốn và dự tính được số lượng người truy cập vào các địa chỉ website thông qua việc sử dụng các công cụ phân tích, xếp hạng để phát hiện ra các nghi vấn trốn thuế. Bên cạnh việc tìm kiếm thơng tin từ chính các website của DN, cơ quan thuế có thể tập trung thu thập và sử dụng dữ liệu từ các công ty giao hàng và các đại lý quảng cáo để phát hiện ra với các loại giao dịch mới, các giao dịch phổ biến, có giá trị lớn.

Ngồi việc tìm kiếm, thống kê trên các tài liệu có sẵn, ngành Thuế cần xây dựng một hệ thống dò tìm tự động trên mạng internet để thu thập thơng tin từ các trang điện tử. Đây là hệ thống hoạt động hiệu quả mà Nhật Bản đã áp dụng. Hệ thống dị tìm tự động trên mạng internet cho phép người dùng tìm TNDN. Trong trường hợp người mua hàng là cá

nhân thì người bán thậm chí có thể khơng xuất hóa đơn, khơng kê khai đối với hàng hóa xuất bán.

- Đối với loại hình quảng cáo trực tuyến bằng công cụ của Google, Yahoo..., DN không kê khai đủ doanh thu hoặc kê khai doanh thu sai thuế suất thuế GTGT, không kê khai thuế nhà thầu đối với số tiền dịch vụ của các Công ty đa quốc gia như Google...phát sinh dịch vụ tại Việt Nam.

- Đối với loại hình kinh doanh thẻ điện thoại hoặc thẻ trị chơi trên mạng (game online) có các hành vi như chiết khấu thanh toán cho khách hàng khơng đúng đối tượng, thường xuất tồn bộ hóa đơn cho khách lẻ với tỷ lệ chiết khấu cao nhưng thực tế mua bán thông qua rất nhiều đại lý (là các cá nhân hoặc DN) để giảm doanh thu, thu nhập, đồng thời, không kê khai thuế khấu trừ thuế TNCN đối với các cá nhân không kinh doanh.

- Đối với hình thức bán sản phẩm trực tuyến (như phim ảnh, bài hát, phần mềm…): không kê khai hoặc kê khai rất thấp thu nhập nhận được.

<b>Giải pháp xử lý các hành vi trốn thuế thương mại điện tử</b>

Các hành vi trốn thuế trong kinh doanh TMĐT hay thương mại truyền thống đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật về thuế chung. Vì vậy, việc xử phạt đối với các hành vi trốn thuế cũng được quy định chung, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi đó. Tuy nhiên, việc phát hiện và có bằng chứng để buộc tội các hành vi trốn thuế trong kinh doanh TMĐT là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp. Để hạn chế tình trạng này cần tập trung vào một số vấn đề sau:

<i><b>Đối với việc không đăng ký kinh doanh/đăng ký nộp thuế</b></i>

Trước hết, để xác định các DN/cá nhân có kinh doanh TMĐT, cơ quan thuế cần lập ra một đội giám sát, định kỳ rà sốt các website. Dựa trên thơng tin liên lạc trên website, nếu cán bộ thuế phát hiện DN/cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh mà không đăng ký, cán bộ thuế sẽ gửi công văn hoặc cử đội kiểm tra thuế đến địa chỉ DN để nhắc nhở, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đăng ký kinh doanh. Nếu DN vẫn tiếp tục vi phạm nghĩa vụ đăng ký kinh doanh, cán bộ thuế sẽ tiến hành các bước tiếp theo bao gồm cả việc khởi tố. Trong trường hợp khơng có các thơng tin liên lạc sẵn có trên website, cán bộ thuế sẽ tiến hành thu thập thông tin thông qua các cách sau:

+ Gửi thơng báo tới ngân hàng có liên quan, nếu thơng tin về số tài khoản ngân hàng của cá nhân/DN thể hiện trên website;

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

dựa trên số lượt mua sắm. Vì vậy, có thể sử dụng điểm thưởng và giá chiết khấu làm cơ sở dữ liệu tính thuế. Ngồi ra, có thể kiểm tra việc tặng quà trong các sự kiện để kiểm tra xem liệu việc thống kê số lần tổ chức sự kiện có kê khai sai hay khơng hoặc kiểm tra chi phí giải trí liên quan.

- Sử dụng dữ liệu trên Máy chủ (Database Server): Hầu hết các DN TMĐT đều có máy chủ lưu trữ cơ sở dữ liệu nhằm kết nối giữa thơng tin về hàng hóa tồn kho và lượng hàng hóa tiêu thụ thơng qua việc sử dụng cơ sở dữ liệu trực tuyến và quản lý cơ sở dữ liệu. Tồn bộ cơ sở dữ liệu tính thuế gồm thông tin về người sử dụng TMĐT, lịch sử mua hàng và thơng tin thanh tốn như thẻ tín dụng, chi tiết về hàng tồn kho và việc giao hàng được tích hợp và quản lý bởi máy chủ, do đó cơ quan thuế cần kiểm tra dữ liệu trên máy chủ của người nộp thuế.

Để thực hiện các biện pháp nêu trên, điều kiện hết sức cần thiết là phải có đội ngũ cán bộ thuế đủ trình độ. Vì vậy, cần có chiến lược đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý thuế đối với lĩnh vực TMĐT. Phải chú trọng vào việc đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực phục hồi bằng chứng dữ liệu thu thập từ máy tính và thu thập các bằng chứng kỹ thuật số. Ngoài ra, cũng cần phải có những khóa học đặc biệt về kỹ thuật điều tra tội phạm máy tính, trang bị kiến thức về Luật Sở hữu trí tuệ, bản quyền đối với tội phạm liên quan đến máy tính, kỹ năng sử dụng cơng cụ internet để tìm kiếm thông tin và sử dụng kỹ thuật mạng xã hội cho các cán bộ thanh tra thuế trong lĩnh vực kinh doanh TMĐT để có thể đối mặt với những hình thức trốn thuế ngày càng tinh vi, phức tạp và ngày càng trở nên phổ biến trên toàn cầu trong kinh doanh TMĐT.

<b>Tài liệu tham khảo</b>

<i>1. Dale Pinto, Taxation issue in a world of e- Commerce, Jounal of Australian Taxation, 1999;</i>

<i>2. Nguyen Xuan Hien, Brave new world: Taxing e-commerce transactions in Vietnam, 2013; </i>

<i>3. Báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra đối với các DN kinh doanh theo phương thức TMĐT. Nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2014, Tổng cục Thuế, 2013;4. Đề tài NCKH “Quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT – Kinh nghiệm quốc tế </i>

<i>và bài học đối với Việt Nam”, Tổng cục Thuế, 2013.</i>

được tên và địa chỉ URL của các trang điện tử dựa trên các từ khóa tìm kiếm cụ thể và thu thập hình ảnh, đường dẫn và thơng tin khác trên trang điện tử một cách tự động nhằm nhận diện những người nộp thuế không rõ ràng. Hệ thống này giúp nâng cao hiệu quả và giảm nguồn lực thu thập thông tin thông qua việc thực hiện các thao tác thủ công như sử dụng Yahoo, Google và các trang tìm kiếm khác.

Tất cả các thơng tin đã được phân tích và tổng hợp; các mơ hình kinh doanh điển hình và cơ chế hoạt động của các mơ hình này; cách thức kiểm tra, các trường hợp kiểm tra cụ thể và các kỹ thuật chuyên sâu trong kiểm tra các nhà cung cấp dịch vụ TMĐT cần được đưa vào cổng thông tin trên mạng nội bộ ngành thuế để chia sẻ thông tin và nâng cao kỹ năng nhận diện các hành vi trốn thuế phổ biến cho cán bộ thuế.

<i>Thứ hai, kiểm tra, đối chiếu, để phát hiện và tập </i>

hợp các bằng chứng của các hành vi trốn thuế. - Cơ quan thuế cần thường xuyên thu thập dữ liệu về hoạt động mua bán của những người bán hàng trực tuyến từ sàn giao dịch TMĐT và đối chiếu, kiểm tra với nội dung tờ khai thuế của người nộp thuế.

- Kiểm tra việc khai sai doanh thu khi thanh toán bằng tài khoản ngân hàng bằng cách kiểm tra số tài khoản được công bố trên trang điện tử hoặc thực hiện một đơn đặt hàng giả và sau đó tiến hành xác minh giao dịch tài chính, cơ quan thuế có thể xác định được liệu doanh thu có kê khai sai hay không.

- Nhận biết doanh thu, thu nhập của DN/cá nhân kinh doanh TMĐT bằng các biện pháp như: (1) so sánh dữ liệu về doanh thu của công ty cần kiểm tra với dữ liệu của công ty giao hàng; (2) Đối chiếu, so sánh bảng kê tổng hợp giá trị mua hàng của người nộp thuế với với bảng kê tổng hợp dữ liệu doanh số của các nhà cung cấp (dữ liệu tổng hợp doanh số bán hàng…); (3) Đối chiếu, so sánh bảng kê tổng hợp giá trị nhập khẩu của người nộp thuế với bảng tổng hợp giá trị nhập khẩu của cơ quan Hải quan; (4) Đối chiếu, so sánh bảng kê tổng hợp mua hàng của người nộp thuế với bảng tổng hợp về tình hình nộp thuế đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn; (5) Đối chiếu, so sánh bảng kê thuế khấu trừ tại nguồn do người nộp thuế kê khai với bảng tổng hợp doanh số bán hàng do người nộp thuế thu nhập cá nhân đã kê khai.

- Sử dụng dữ liệu phân tích khách hàng: Các DN TMĐT xây dựng cơ sở dữ liệu về tất cả các giao dịch, sử dụng thông tin cá nhân về khách hàng như giới tính, tuổi tác, địa chỉ, thông tin về số lượng, lịch sử mua hàng và khuynh hướng mua hàng như dữ liệu tiếp thị và các khoản thưởng cho khách hàng

<b>Với bản chất của thương mại điện tử là khơng có trụ sở giao dịch, không thực hiện giao dịch trên giấy và một số hàng hóa thực hiện trao đổi trong giao dịch là các hàng hóa vơ hình, nên các giao dịch trong thương mại điện tử rất khó kiểm soát.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam đều phải khai thuế trước khi bắt đầu tiến hành các hoạt động kinh doanh. Các DN nước ngoài khơng có cơ sở thường trú tại Việt Nam bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ vào Việt Nam cho tổ chức, cá nhân kinh doanh thì tổ chức, cá nhân kinh doanh trong nước là người mua sẽ phải khai thuế theo từng hợp đồng và khấu trừ nộp thay thuế cho DN nước ngoài. Tuy nhiên, việc đăng ký thuế khi DN nước ngoài cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay chưa được quy định cụ thể do điều này chỉ xảy ra trong TMĐT theo nghĩa hẹp.

Chính sách thuế hiện hành của Việt Nam được điều chỉnh đối với tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm cả kinh doanh thương mại, quảng cáo, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực giải trí... khơng phân biệt là thương mại truyền thống hay TMĐT.

Khi bắt đầu tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, các tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đăng ký thuế: Thực hiện kê khai những thông tin của DN hoặc cá nhân theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước. Đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh đã thực hiện đăng ký thuế với cơ quan thuế, được cấp mã số thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nay mở rộng thêm hoạt động kinh doanh TMĐT thì chỉ cần khai bổ sung thông tin với cơ quan thuế.

Trong trường hợp các tổ chức, các nhân nước ngồi khơng hiện diện ở Việt Nam cung cấp các dịch vụ như trò chơi điện tử, quảng cáo trực tuyến

<b>Chính sách thuế đối với kinh doanh thương mại điện tử </b>

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, xu hướng kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. TMĐT cũng là hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, trong đó có các hoạt động như mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, trị chơi điện tử, quảng cáo hàng hóa dịch vụ trực tuyến…

Bên cạnh hoạt động kinh doanh TMĐT trên Website thì gần đây kinh doanh TMĐT trên thiết bị điện thoại di động (Mobile) đã bùng nổ nhanh chóng ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam có khoảng 140 triệu thuê bao di động, trong đó thuê bao di động 3G khoảng 32 triệu thuê bao. Đây chính là tiềm năng để hoạt động TMĐT, bao gồm cả trị chơi điện tử, quảng cáo hàng hóa dịch vụ trực tuyến có cơ hội tăng trưởng doanh thu, tăng lợi nhuận cho nhà kinh doanh.

Về nguyên tắc, hoạt động sản xuất kinh doanh tăng trưởng thì tiền thuế phát sinh từ hoạt động này cũng tăng trưởng tương ứng. Tuy nhiên, việc quản lý thuế đối với kinh doanh TMĐT nói chung, trị chơi điện tử, quảng cáo hàng hóa dịch vụ trực tuyến nói riêng đang đặt ra nhiều thách thức với cơ quan thuế trong việc xác định doanh thu, chi phí, thu nhập để tiến hành quản lý thu đúng, thu đủ tiền thuế phát sinh đối với hoạt động này vào ngân sách nhà nước.

Theo quy định của Luật Quản lý thuế, các chủ thể

<b>GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THUẾ </b>

<b>ĐỐI VỚI KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ</b>

<b>NGUYỄN THỊ CÚC</b><i> - Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam</i>

<i><b>Ở nước ta đã có chính sách thuế áp dụng đối với kinh doanh thương mại điện tử hay chưa? Các trò chơi điện tử, quảng cáo hàng hóa, dịch vụ trực tuyến phải nộp những loại thuế nào? Việc tổ chức quản lý thu nộp của cơ quan thuế được căn cứ vào đâu?... Đó là những vấn đề sẽ được giải đáp trong bài viết, từ đó đưa ra những giải pháp để hiện thực hóa các chính sách thuế vào thực tế cuộc sống. </b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

thuế điện tử tại 18/63 tỉnh, thành phố với khoảng trên 40.500 DN đăng ký và thực hiện nộp thuế điện tử. Có được kết quả này là nhờ vào toàn ngành Thuế đã đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Để tiếp cận với loại hình dịch vụ này, DN chỉ việc đăng nhập vào website của Cục thuế nơi DN đăng ký thuế. Theo đó, việc kê khai nộp thuế đối với các DN kinh doanh TMĐT là rất thuận lợi.

<b>Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam có khoảng 140 triệu thuê bao di động, trong đó thuê bao di động 3G khoảng 32 triệu thuê bao. Đây chính là tiềm năng để hoạt động thương mại điện tử, bao gồm cả trò chơi điện tử, quảng cáo hàng hóa dịch vụ trực tuyến có cơ hội tăng trưởng doanh thu, tăng lợi nhuận cho nhà kinh doanh. </b>

<b>Một số khó khăn và hạn chế</b>

Khi nói đến thu thuế đối với hoạt động TMĐT, chúng ta thường nặng về đánh giá việc thất thu thuế, chưa quản lý thu thuế… đối với tổ chức, các nhân cung cấp dịch vụ từ nước ngồi nhưng trong thực tiễn thì việc quản lý thuế với hoạt động kinh doanh TMĐT đang có lỗ hổng khá lớn khơng chỉ với phía nước ngoài mà ngay cả với các tổ chức, cá nhân Việt Nam đang kinh doanh trong lĩnh vực này. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã hình thành các DN chuyên kinh doanh TMĐT. Các DN này đều có tốc độ tăng trưởng nhanh, một số DN có doanh thu hàng nghìn tỷ đồng, trong khi đó số tiền nộp ngân sách lại không đáng kể.

Chẳng hạn, hai thành phố lớn nhất cả nước Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là nơi phát triển hoạt động kinh doanh TMĐT sớm nhất, có doanh thu quảng cáo, mua bán các dịch vụ, sản phẩm qua mạng cao nhất cả nước. Tuy nhiên, tiền thuế do DN tự khai, tự tính, tự nộp vào ngân sách tại hai thành phố này lại chưa tương ứng với doanh thu thực tế. Qua công tác thanh tra theo cơ chế quản lý rủi ro, cơ quan thuế ở hai địa bàn này đã phát hiện và truy thu hàng trăm tỷ đồng của các DN kinh doanh TMĐT.

Bên cạnh đó, việc thực hiện cơng tác thanh tra của cơ quan thuế đang chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 11 - 12% số lượng DN đang hoạt động. Hơn nữa, việc thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực kinh doanh trò chơi điện tử trực tuyến (game online), quảng cáo trực tuyến cịn gặp nhiều khó khăn hơn, bởi công tác thanh, kiểm tra trong lĩnh qua hệ thống các trang mạng xã hội, trang thông

tin điện tử… cho tổ chức, cá nhân kinh doanh tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân kinh doanh mua dịch vụ của phía nước ngồi tại Việt Nam phải ký hợp đồng với phía nước ngoài, khấu trừ và nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài, thực hiện nghĩa vụ nộp hồ sơ khai thuế, hồ sơ khai quyết toán thuế cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp của bên Việt Nam. Bên Việt Nam mua dịch vụ của nước ngoài cũng có trách nhiệm đăng ký thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để thực hiện nộp thay thuế cho phía nước ngồi trong phạm vi 20 ngày làm việc kể từ khi ký hợp đồng. Việc thực hiện nghĩa vụ cho trường hợp này được áp dụng tại Thông tư số 103/2014/TT- BTC ngày 6/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam và các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý thuế.

Tuy nhiên, các quy định về nghĩa vụ thuế tại Thông tư số 103/2014/TT-BTC được hướng dẫn chung cho tất cả các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngồi có phát sinh nghĩa vụ thuế mà chưa có văn bản hướng dẫn đặc thù trong quản lý, kê khai, thu nộp, quản lý thuế riêng cho hoạt động kinh doanh TMĐT: Trò chơi điện tử trực tuyến (game online), quảng cáo trực tuyến, sàn giao dịch TMĐT... nên trong thực tế cịn gặp nhiều khó khăn.

Đối với DN kinh doanh trò chơi điện tử trực tuyến (game online), quảng cáo trực tuyến; đăng ký nộp thuế giá trị giá tăng theo phương pháp khấu trừ thuế thì theo chế độ hiện hành; DN phải nộp thuế GTGT theo thuế suất 10% và nộp thuế thu nhập DN theo thuế suất là 22%. Riêng DN có doanh thu khơng q 20 tỷ đồng/năm, áp dụng thuế suất thuế thu nhập DN là 20%. Đối với cá nhân kinh doanh trò chơi điện tử trực tuyến (game online), quảng cáo trực tuyến thực hiện nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% trên doanh thu; nộp thuế thu nhập cá nhân theo mức thuế suất 2% trên doanh thu. Đối với trường hợp cá nhân có mức doanh thu khơng q 100 triệu đồng/năm thì khơng phải nộp thuế GTGT và thuế thu nhập cá nhân.

Tại Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/03/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hố đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Về kê khai, nộp thuế điện tử trong thời gian qua đã được ngành Thuế quyết liệt triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả tích cực. Tính đến tháng 3/2015, Tổng cục Thuế đã phối hợp với 20 ngân hàng thương mại triển khai dịch vụ nộp

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

luật Việt Nam; Cá nhân người Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT.

<i>Thứ ba, cần xây dựng, ban hành quy trình quản </i>

lý thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động kinh doanh TMĐT. Thực hiện công tác đào tạo chuyên sâu các kiến thức về TMĐT và công nghệ thông tin; kỹ năng khai thác dữ liệu điện tử cho đội ngũ cán bộ công chức thuế, để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế cũng như công tác thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở kinh doanh TMĐT.

<i>Thứ tư, tăng cường phối hợp với cơ quan quản lý </i>

nhà nước có liên quan như: Bộ Thơng tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước. Đồng thời, phối hợp với các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại; các cơng ty viễn thông, các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền dẫn, cung cấp hạ tầng mạng… để trao đổi, thu thập, nắm bắt thông tin của các đơn vị có hoạt động kinh doanh TMĐT. Cùng với đó, cần kiểm sốt chặt chẽ việc đăng ký tên miền, thuê máy chủ, thuê đường truyền dẫn, thanh toán tiền cung ứng dịch vụ theo phương thức thanh tốn trực tuyến linh hoạt, như ví điện tử, thẻ visa, qua dịch vụ trung gian và thanh toán qua ngân hàng…

<i>Thứ năm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo </i>

dục chính sách chế độ thuế, nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế, kết hợp với công tác xây dựng cơ sở dữ liệu của ngành Thuế về DN nói chung, DN kinh doanh liên quan đến TMĐT nói riêng. Triển khai rộng rãi đồng bộ dịch vụ khai thuế điện tử với nộp thuế điện tử, hoá đơn điện tử… tạo điều kiện cho các DN tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ này, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế.

<i>Thứ sáu, thực hiện đầy đủ chế độ trao đổi thông </i>

tin với cơ quan thuế các quốc gia, vùng lãnh thổ đã ký kết hiệp định tránh đánh thuế trùng với Việt Nam, mà ở các quốc gia, vùng lãnh thổ này các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh TMĐT tại Việt Nam, để nắm bắt thông tin về doanh thu, thu nhập phát sinh tại Việt Nam; xác định nghĩa vụ thuế, ngăn ngừa hành vi gian lận, trốn thuế ở nước ta.

Có thể nói, nếu chúng ta triển khai thực hiện tốt các giải pháp trên, tin tưởng rằng công tác tổ chức thu nộp, quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT, trò chơi điện tử trực tuyến, quảng cáo hàng hoá dịch vụ trực tuyến sớm được cải thiện, từng bước thực hiện bình đẳng về nghĩa vụ thuế, tạo môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh; đồng thời góp phần tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

vực này đòi hỏi cán bộ cơng chức thuế ngồi trình độ nghiệp vụ thuế chun sâu cịn phải tinh thơng tin học, ngoại ngữ và có kiến thức về các giao dịch TMĐT. Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng cán bộ của ngành Thuế đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trước tình hình mới cịn ít.

Đặc biệt, trong q trình thanh tra, kiểm tra phải có sự hỗ trợ vào cuộc của các tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý chức năng có liên quan mới có thể xác định được luồng tiền thanh tốn; truy tìm dấu vết giao dịch, kết xuất dữ liệu lịch sử giao dịch… Từ đó làm cơ sở truy thu thuế đối với các doanh thu không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ trong giao dịch mua bán dịch vụ trên hệ thống máy tính của DN…

<b>Việc kê khai, nộp thuế điện tử thời gian qua đã được ngành Thuế quyết liệt triển khai và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến tháng 3/2015, Tổng cục Thuế đã phối hợp với 20 ngân hàng thương mại triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử tại 18/63 tỉnh, thành phố với khoảng 40.500 DN đăng ký và thực hiện nộp thuế điện tử...</b>

<b>Giải pháp đẩy mạnh quản lý thuế đối với kinh doanh thương mại điện tử</b>

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động TMĐT, đảm bảo bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các phương thức kinh doanh, giữa kinh doanh TMĐT, trị chơi điện tử, quảng cáo hàng hóa dịch vụ trực tuyến với hoạt động kinh doanh dịch vụ “thực”, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

<i>Thứ nhất, cần rà sốt sửa đổi, bổ sung hồn thiện </i>

các văn bản pháp luật về thuế hiện hành để phù hợp với sự phát triển, cũng như tình hình thực tế hoạt động của DN kinh doanh TMĐT. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý thuế đối với hoạt động này.

<i>Thứ hai, Bộ Tài chính cần phải ban hành thơng tư </i>

hướng dẫn chi tiết thực hiện chính sách và quản lý thuế áp dụng đặc thù đối với kinh doanh TMĐT, trò chơi điện tử, quảng cáo hàng hóa dịch vụ trực tuyến. Trong đó, xác định trách nhiệm, nghĩa vụ thuế, cách kê khai tính thuế, khấu trừ thuế tại nguồn, nộp tiền thuế vào NSNN đối với từng đối tượng cụ thể: DN nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt nam, khơng có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Cá nhân người nước ngồi cư trú tại Việt Nam, khơng cư trú tại Việt Nam. DN thành lập theo quy định của pháp

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

- Có tờ khai hàng hóa xuất khẩu (chỉ dùng cho mục đích hồn thuế xuất khẩu) đối với hàng hóa xuất khẩu. Thơng tin trên tờ khai này phải tương thích với các thơng tin điện tử đi kèm;

- Đã nhận được ngoại tệ đối với hàng xuất khẩu trước khi hết hạn thời gian ghi trong tờ khai hoàn thuế (miễn thuế);

- Nếu đó là DN ngoại thương thì cần có hóa đơn giá trị gia tăng và biên lai thu thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho hàng xuất khẩu đã mua (hoặc hóa đơn thanh tốn thuế giá trị gia tăng và biên lai thu thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho hàng nhập khẩu). Các nội dung trong các phiếu giảm giá (voucher) phải phù hợp với các thông tin liên quan trong tờ khai xuất khẩu.

Đối với các DN xuất khẩu TMĐT không đáp ứng những yêu cầu trên thì có thể miễn trừ thuế nếu như đáp ứng các điều kiện sau: đã hoàn tất đăng ký thuế; đã hoàn thành tờ khai xuất khẩu của hải quan; có giấy tờ hợp pháp và có giá trị để chứng minh đã mua hàng hóa để xuất khẩu.

<i><b>Hàn Quốc </b></i>

Là một trong những nước có tiềm năng thu hút đầu tư của các nhà phân phối, bán lẻ toàn cầu lớn trên thế giới, Hàn Quốc đã mở rộng các quy định về giá trị tính thuế giá trị gia tăng, trong đó đánh thuế đối với những nội dung số hóa dành cho khách hàng là người Hàn Quốc. Mặt khác, từ ngày 1/7/2015, các nhà cung cấp dịch vụ điện tử ở nước này sẽ bị tính 10% thuế giá trị gia tăng trên doanh số bán hàng cho khách hàng là người Hàn Quốc,

<b>CHÍNH SÁCH THUẾ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ </b>

<b>TẠI MỘT SỐ NƯỚC VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM</b>

<b>ThS. ĐỖ THỊ MAI HOÀNG HÀ</b><i> - Đại học Tài chính Marketing</i>

<i><b>Những lợi ích mà hoạt động thương mại điện tử đem đến là cơ hội về việc mở rộng thị trường và các kênh phân phối cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, đi liền với cơ hội cũng là những thách thức cho cơ quan thuế trong việc quản lý thuế thương mại điện tử. Bài viết phân tích thực trạng chính sách thuế thương mại điện tử ở một số nước, từ đó đưa ra những gợi ý cho Việt Nam. </b></i>

<b>Kinh nghiệm từ một số nước</b>

<i><b>Trung Quốc </b></i>

Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc, đến hết năm 2014, ở nước này có hơn 2.000 doanh nghiệp (DN) thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới. Các giao dịch xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài (Hoa Kỳ 17,2%, Anh 16,3%, Hong Kong 15,8%) được thực hiện bởi các thương nhân Trung Quốc. Từ tháng 7/2013 đến tháng 11/2014, giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của các DN TMĐT đạt lần lượt là 112,4 triệu USD và 118,8 triệu USD. Bên cạnh đó, theo hệ thống giám sát hải quan ước tính, tổng thời gian từ khi đặt hàng, thanh toán cho đến khi kiểm tra và thơng quan hàng hóa ở Trung Quốc chỉ chưa tới 5 phút. Thời gian nhanh chóng khiến hoạt động bn bán TMĐT có tiềm năng phát triển tại nước này.

Trong bối cảnh cần tăng cường nguồn thu ngân sách nhà nước, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp để thúc đẩy việc quản lý các khoản thuế đối với hoạt động TMĐT, đặc biệt với hoạt động xuất, nhập khẩu. Ngày 30/12/2013, Bộ Tài chính Trung Quốc đã phối hợp với cơ quan quản lý thuế ban hành Thông tư số 89 về chính sách thuế cho xuất khẩu bán lẻ hàng hóa TMĐT xuyên biên giới, có hiệu lực kể từ 1/1/2014. Theo đó, hồn thuế, miễn thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ dành cho hàng xuất khẩu của những DN bán lẻ TMĐT nếu DN đáp ứng được điều kiện sau:

- Là người đóng thuế và có giấy xác nhận được giảm hoặc miễn thuế bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

Tại Thành phố Seoul – Trung tâm kinh tế của Hàn Quốc, Cục Thuế Seoul đã thành lập Trung tâm chống trốn thuế công nghệ cao, nhằm phát hiện các trường hợp trốn thuế, thu thập chứng cứ để đấu tranh thông qua việc tìm kiếm, phát hiện các power blog thực hiện mua bán đối với đa số các cư dân mạng trên các trang điện tử… góp phần phịng ngừa trốn thuế hiệu quả.

<i><b>Ấn Độ</b></i>

Là nước đứng thứ ba trên thế giới về tốc độ tăng trưởng và thâm nhập của Internet, hoạt động TMĐT tại Ấn Độ đang được kỳ vọng sẽ đạt doanh thu lên tới 70 tỷ USD đến năm 2020.

<b><small>BẢNG: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG INTERNET Ở ẤN ĐỘ NĂM 2014</small></b>

<b>Số người </b>

<b>sử dụng Internettrưởng Internet<sup>Tốc độ tăng </sup>truy cập Internet<sup>Mức độ </sup></b>

<i><small>Nguồn: Internet Live Stats</small></i>

Tuy nhiên, hiện Ấn Độ vẫn chưa có chính sách quản lý thuế hoàn chỉnh về hoạt động TMĐT. Cơ chế thuế quản lý chi tiêu tiêu dùng ở nước này hiện nay được đánh giá là phức tạp và kém hiệu quả. Bởi Ấn Độ là nước Cộng hòa Liên bang nên các loại thuế áp dụng ở nước này thường bị chồng chéo, tạo ra áp lực nặng nề lên những người chịu thuế. Năm 2014, Chính phủ Ấn Độ đã tìm cách giải quyết trường hợp trốn thuế của trang bán hàng trực tuyến Amazon. Nước này cấm đầu tư vốn trực tiếp nước ngoài trong hoạt động TMĐT, nên trang Amazon đã phải áp dụng mơ hình kinh doanh khác, thay vì bán sản phẩm của họ thì Amazon cho phép các nhà phân phối thứ ba bán sản phẩm thông qua trang điện tử này và nhận tiền hoa hồng. Đây là thành công lớn của Amazon và các DN TMĐT lớn khác ở Ấn Độ như: Flipkart, Snapdeal và Jabong.

Tuy nhiên, các quy định của pháp luật ở Ấn Độ chưa đáp ứng với yêu cầu của mô hình kinh doanh trực tiếp (online) này, chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp các công ty TMĐT thực hiện cung cấp dịch vụ cho đối tác nước ngoài và mở nhà kho tại thị trường trong nước. Vì vậy, Luật Thuế hàng hóa và dịch vụ (GST - Goods and Service Tax) được ban hành năm 2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/2016 đang được kỳ vọng trở thành động lực cho khu vực TMĐT, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ. Động thái này của Chính phủ Ấn Độ nhằm giải quyết những khó khăn và những “lỗ hổng” trong quản bất kể họ có hiện diện tại Hàn Quốc hay khơng.

Cụ thể là, các nhà cung cấp dịch vụ điện tử và nhà cung cấp trung gian thứ ba đều có trách nhiệm nộp thuế. Ví dụ: Bên thứ ba là các nhà hoạt động thị trường ứng dụng như Google Play và Apple sẽ phải thanh toán tiền thuế giá trị gia tăng cho phần doanh thu phát sinh của mình. Trước đây, các nhà cung cấp nội địa phải chịu 10% tiền thuế giá trị gia tăng, trong khi các nhà cung cấp ở nước ngồi thì khơng phải trả thuế giá trị gia tăng. Trong trường hợp này có sự bất bình đẳng giữa các nhà cung cấp, vì vậy các cơ quan hữu quan đang cố gắng để tạo sự bình đẳng giữa các chủ thể trong và ngoài nước trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Theo đó, một số điểm chính trong quy định mới này là:

<i>Một là, đơn giản hóa quy trình đăng ký kinh </i>

doanh. Cơ quan thuế Hàn Quốc sẽ giảm thiểu các thủ tục đăng ký và cụ thể hóa các yêu cầu tại trang điện tử của cơ quan thuế. Các đơn vị kinh doanh có thể tải mẫu đăng ký trên trang điện tử và nộp thông qua thư điện tử email. Đối với những DN có ngày hoạt động đầu tiên vào trước 1/7/2015 thì người nộp thuế có thể làm thủ tục đăng ký với cơ quan thuế vào ngày 20/7/2015 (trong trường hợp này, các hoạt động kinh doanh được coi là bắt đầu từ ngày 1/7/2015 và người trả thuế có 20 ngày để hoàn thành thủ tục đăng ký này). Mục đích của hoạt động này là nhằm quản lý các cơ sở kinh doanh trong và ngoài nước đang thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT mà chưa thuộc diện quản lý của cơ quan thuế.

<i>Hai là, tiền nộp thuế giá trị gia tăng: không sử </i>

dụng đồng Won của Hàn Quốc. Việc thanh toán các dịch vụ TMĐT có thể thực hiện bằng đồng ngoại tệ, số lượng tiền thanh toán nên được chuyển thành đồng Won theo tỷ giá ngoại tệ cơ bản kể từ ngày cuối cùng của giai đoạn tính thuế liên quan.

<i>Ba là, biện pháp phạt nếu chưa thực hiện nộp </i>

thuế giá trị gia tăng: nếu DN đã nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng nhưng khơng thanh tốn đúng hạn thì đơn vị đó sẽ phải chịu phạt 3% phần thuế giá trị gia tăng chưa thực hiện cùng với thuế phạt bổ sung là 1,2% mỗi tháng kể từ ngày hết hạn.

Để phục vụ tốt công tác quản lý thuế, Cơ quan thuế Hàn Quốc được trang bị các thiết bị công nghệ thông tin hiện đại. Bên cạnh các cán bộ chuyên ngành về nghiệp vụ thuế, Cơ quan thuế Hàn Quốc còn được hỗ trợ bởi các cán cán bộ công nghệ thông tin trong việc điều tra tội phạm kỹ thuật số; thu thập cơ sở dữ liệu của hệ thống quản lý kế tốn và phân tích các cơ sở dữ liệu…

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

mạng, làm cơ sở pháp lý để điều chỉnh hoạt động giao dịch TMĐT. Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước cần nỗ lực hơn nữa trong việc triển khai thực hiện các văn bản đã ban hành. Đặc biệt, trong quá trình triển khai cần chú ý đến các hoạt động hướng dẫn, phổ biến để mọi người hiểu đúng chính sách và thực hiện tốt.

<i>Thứ hai, tăng cường quản lý của Nhà nước</i>

Cơ quan Thuế và các cơ quan hữu quan cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ với nhau để quản lý các giao dịch TMĐT hiệu quả để tránh thất thu NSNN, tạo mơi trường kinh doanh bình đẳng cho DN. Cùng với đó, thường xuyên thanh tra, giám sát các hoạt động này tại các ngân hàng, các trang điện tử mua bán trực tuyến để tránh tình trạng trốn thuế của DN.

<i>Thứ ba, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thơng tin</i>

Cần có biện pháp đầu tư xây dựng hạ tầng truyền thông mạnh, nâng cao chất lượng dịch vụ internet, tăng tốc độ đường truyền, tránh tình trạng nghẽn mạch, đảm bảo tính bảo mật đường truyền cao. Xây dựng hạ tầng cơ sở về thông tin: Trung tâm chứng thực (CA), hạ tầng thanh toán điện tử, cổng thanh toán…tạo điều kiện khuyến khích các nhà cung cấp giải pháp an ninh mạng phát triển.

<i>Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh mạng </i>

Hiện nay, quy mô cũng như khả năng lan rộng các nguy cơ mất an tồn thơng tin khơng chỉ gói gọn trong phạm vi một quốc gia, do đó cần có sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh mạng. Giải pháp hữu hiệu khắc phục tình trạng này là tăng cường phối hợp với cơ quan quản lý của các nước trong khu vực và trên thế giới để xây dựng khung chung đảm bảo an ninh mạng và bảo vệ hạ tầng thông tin trọng yếu. Đồng thời, hợp tác giữa các tổ chức xây dựng chuẩn quốc tế, các chính phủ liên quan tới an ninh mạng nhằm xây dựng văn hóa an ninh mạng, các tiêu chuẩn kỹ thuật, cảnh báo và phản ứng nhanh trước các sự kiện an ninh mạng.

lý thuế TMĐT. Bởi hiện mỗi bang ở Ấn Độ có luật thuế riêng nên GST sẽ giúp đem tới một hệ thống thuế chung, thay thế hầu hết các khoản thuế gián thu bằng một loại thuế đơn nhất với mức thuế suất giảm, từ 18% - 22%. Thuế đã trả ở bang trước được coi là nguồn tín dụng đầu vào của doanh nghiệp nên sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau, tránh được tình trạng cùng một hàng hóa dịch vụ nhưng phải chịu nhiều loại thuế.

<b>Một số gợi ý cho Việt Nam</b>

Với đặc thù về dân số trẻ, khả năng tiếp cận Internet lớn, nên hoạt động kinh doanh TMĐT sẽ có chiều hướng phát triển mạnh ở Việt Nam trong những năm tới. Vì vậy, giải pháp quản lý hiệu quả TMĐT, tránh thất thu cho NSNN và đảm bảo mơi trường kinh doanh bình đẳng là yêu cầu cấp thiết. Trong xu thế hội nhập kinh tế tồn cầu hiện nay thì kinh nghiệm quản lý thuế TMĐT của một số nước sẽ là bài học hữu ích cho Việt Nam.

<i>Thứ nhất, nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách quản lý hoạt động giao dịch điện tử</i>

Ở Việt Nam hiện nay có hệ thống pháp luật quản lý hoạt động giao dịch TMĐT như: Luật Giao dịch điện tử, Nghị định 57/2006/NĐ-CP về TMĐT, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính… Từ năm 2012 đến nay, hoạt động TMĐT ở Việt Nam phát triển nhanh và đa dạng đồng thời cũng xuất hiện những mơ hình mang danh nghĩa TMĐT thu hút đông người tham gia, song vẫn còn một số bất cập, hạn chế trong việc quản lý chống thất thu thuế. Khắc phục vấn đề này, ngày 16/5/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT thay thế cho Nghị định 57/2006/NĐ-CP về TMĐT. Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đã quy định những hành vi bị cấm trong TMĐT, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT, từ đó tạo mơi trường thuận lợi hơn cho TMĐT, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến.

Các văn bản chính sách trên đã phần nào đáp ứng được yêu cầu từ thực tiễn của hoạt động TMĐT ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước tốc độ phát triển của giao dịch TMĐT ở Việt Nam, thời gian tới chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý trong Luật TMĐT, Luật Công nghệ thông tin nhằm quản lý tiến trình giao dịch trên

<b>Theo xếp hạng của Tổ chức Internet Live Stats, Việt Nam đứng thứ 15 trong danh sách các nước có tốc độ tăng trưởng Internet. Cục Thương mại điện tử của Việt Nam thống kê, năm 2014 doanh số từ hoạt động thương mại điện tử theo hình thức giao dịch giữa người tiêu dùng và người tiêu dùng ở nước ta là 2,97 tỷ USD, chiếm khoảng 2,12% tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<b>THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC</b>

- Về thu NSNN: Dự tốn thu NSNN cả năm 2015 là 911,1 nghìn tỷ đồng, lũy kế thu 6 tháng đầu năm 2015 ước đạt 446,12 nghìn tỷ đồng, bằng 49% dự tốn, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2014. Ước tính có 52/63 địa phương thu đảm bảo tiến độ dự toán (từ 50% dự toán trở lên).

- Về chi NSNN: Dự tốn chi NSNN cả năm 2015 là 1.147,1 nghìn tỷ đồng, lũy kế chi 6 tháng đầu năm 2015 đạt 545,18 nghìn tỷ đồng, bằng 47,5% dự tốn, tăng 8,2% so cùng kỳ năm 2014.

- Tính đến ngày 24/6/2015, Kho bạc Nhà nước đã phát hành gần 100 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ để bù đắp bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển, bằng khoảng 36,8% kế hoạch; Thanh toán gốc, lãi trái phiếu được thực hiện đầy đủ, đúng hạn.

<b>TRANG SỐ LIỆU KINH TẾ - TÀI CHÍNH</b>

<b>THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN</b>

<b>THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN VIỆT NAM</b>

<b><small>BẢNG 1: GIAO DỊCH CỔ PHIẾU TẠI HSX TỪ 1/6/2015 ĐẾN NGÀY 30/6/2015</small></b>

<b>Tuần từ 1/6 – 5/6Tuần từ 8/6 – 12/6Tuần từ 15/6 – 19/6 Tuần từ 22/6 – 26/6Ngày 29/6 – 30/6VN-Index (điểm)</b> <small>574,98 - 578,07579,83 - 582,73586,48 - 584,70594,08 - 581,75591,75 - 593,05</small>

<i><small>Nguồn: HSX</small></i>

<b><small>BẢNG 2: GIAO DỊCH CỔ PHIẾU TẠI HNX TỪ 1/6/2015 ĐẾN NGÀY 30/6/2015</small></b>

<b>Tuần từ 1/6 – 5/6Tuần từ 8/6 – 12/6Tuần từ 15/6 – 19/6 Tuần từ 22/6 – 26/6Ngày 29/6 – 30/6HNX-Index (điểm)</b> <small>83,89 - 86,7187,85 - 87,9588,36 - 87,187,09 - 85,5285,49 - 84,94</small>

<i><small>Nguồn: HNX</small></i>

<b><small>BẢNG 3: GIAO DỊCH CỔ PHIẾU TẠI UPCOM TỪ 1/6/2015 ĐẾN NGÀY 30/6/2015</small></b>

<b>Tuần từ 1/6 – 5/6Tuần từ 8/6 – 12/6Tuần từ 15/6 – 19/6 Tuần từ 22/6 – 26/6Ngày 29/6 – 30/6UPCoM-Index (điểm)</b> <small>60,98 - 62,9762,29 - 59,6259,07 - 57,3257,86 - 56,0456,21 - 56,26</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) trong tháng 6/2015 diễn biến theo chiều hướng tích cực. Các chỉ số chứng khốn chính có xu hướng tăng mạnh vào cuối tháng. Tính thanh khoản tăng lên cả về khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch.

<b>THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ </b>

<b>THÁNG 06/2015</b>

<b><small>HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TRÊN THỊ TRƯỜNG SƠ CẤP</small></b>

<i><small>Nguồn: Bloomberg</small></i>

TTCK thế giới tháng 6/2015 diễn biến theo chiều hướng suy giảm. Các TTCK lớn trên cả 3 châu lục đều giảm điểm. Cụ thể, các chỉ số chứng khoán của Mỹ như Dow Jones, S&P và Nasdaq giảm lần lượt 2,33%, 2,30% và 1,89%. Tại TTCK châu Âu, chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 4,79%. Tại châu Á, chỉ số chứng khoán Shanghai Composite của Trung Quốc sụt giảm mạnh nhất với mức giảm 11,42%.

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

<b><small>DIỄN BIẾN THAY ĐỔI TỶ GIÁ USD/VND (TỪ NGÀY 1/6/2015 ĐẾN NGÀY 30/6/2015)</small></b>

<b>Tuần từ 1/6 – 5/6Tuần từ 08/6 – 12/6 Tuần từ 15/6 – 19/6 Tuần từ 22/6 – 26/6 Tuần từ 29/6 – 30/6Giá mua vào</b> <small>21.780 - 21.78021.770 - 21.77021.770 - 21.77021.770 - 21.78021.780 - 21.780</small>

<b>Giá bán ra</b> <small>21.840 - 21.84021.840 - 21.83021.830 - 21.83021.830 - 21.84021.840 - 21.840</small>

<i><small>Nguồn: Vietcombank.com</small></i>

<b><small>GIAO DỊCH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TRÊN THỊ TRƯỜNG THỨ CẤP</small></b>

<b>STTKỳ hạn còn lạiKhối lượng giao dịch (trái phiếu)Giá trị giao dịch (đồng)Vùng lợi suất (%)</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

Chỉ số USD - Index trong tháng 6/2015 diễn biến tăng giảm liên tục trong biên độ giao động lớn, đặc biệt giảm mạnh giai đoạn nửa đầu tháng, sau đó phục hồi nhẹ vào cuối tháng. Chỉ số đạt mức cao nhất tại 97,43 (ngày 1/6) và thấp nhất tại 94,01 (ngày 18/6). Trong tháng 6/2015, đồng EUR diễn biến với xu hướng tăng so với đồng USD. Diễn biến cặp tỷ giá EUR/USD: 1 EUR đổi được 1,0959 USD (ngày 1/6), 1,1293 USD (ngày 10/6), 1,1373 USD (ngày 19/6), 1,1136 USD (ngày 30/6).

<b><small>CHỈ SỐ USD TỪ NGÀY 1/6/2015 ĐẾN NGÀY 30/6/2015</small></b>

<b>Tuần từ 1/6 – 5/6Tuần từ 08/6 – 12/6 Tuần từ 15/6 – 19/6 Tuần từ 22/6 – 26/6 Tuần từ 29/6 – 30/6USD index (điểm)</b> <small>97,43 – 95,5895,25 – 95,194,83 – 94,0194,32 – 95,2194,99 – 95,53</small>

<i><small>Nguồn: www.marketwatch.com</small></i>

<b> 1. Lúa gạo</b>

- Tại miền Bắc: Giá thóc tẻ thường dao động phổ biến ở mức 6.000-8.500 đồng/kg, một số loại thóc chất lượng cao hơn giá phổ biến ở mức 7.500 - 8.500 đồng/kg; giá gạo tẻ thường dao động phổ biến ở mức 8.000-13.000 đồng/kg.

- Tại miền Nam: giá lúa dao động ở mức 5.350 đồng/kg; gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm giá trong khoảng 7.200-7.400 đồng/kg; loại 25% tấm giá ở mức 6.800-6.950 đồng/kg.

4.700-- Xuất khẩu gạo: Lũy kế xuất khẩu gạo từ ngày 01/1/2015 đến ngày 25/6/2015 đạt 2,45 triệu tấn, trị giá giao hàng trên tàu (FOB) đạt 1,027 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, số lượng xuất khẩu gạo giảm 18,42%, trị giá FOB giảm 20,76%.

<b>2. Thực phẩm tươi sống</b>

- Tại miền Bắc: Tháng 6/2015, thịt lợn hơi giá phổ biến khoảng 46.000 – 49.000 đồng/kg; thịt mông sấn giá phổ biến khoảng 90.000 – 95.000 đồng/kg; thịt bò thăn giá phổ biến khoảng 250.000 – 265.000 đồng/kg; thịt gà ta và gà cơng nghiệp làm sẵn có kiểm dịch giá phổ biến khoảng 125.000 – 130.000 đồng/kg.

- Tại miền Nam: Giá bán thịt lợn hơi giá phổ biến khoảng 45.000 – 47.000 đồng/kg; thịt mông sấn giá

phổ biến khoảng 80.000 – 85.000 đồng/kg; thịt bò thăn giá phổ biến khoảng 250.000 – 265.000 đồng/kg; thịt gà ta và gà công nghiệp làm sẵn có kiểm dịch giá phổ biến khoảng 120.000 – 127.000 đồng/kg.

<b>3. Giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi</b>

Tháng 6/2015: Giá sữa bột dành cho trẻ em dưới 6 tuổi ổn định so với tháng 5/2015. Tính đến ngày 22/6/2015 đã có 721 sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi được công bố giá tối đa, giá đăng ký, kê khai giá trên Cổng Thơng tin điện tử của Bộ Tài chính và Sở Tài chính các địa phương. Giá bán lẻ các sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi hiện đã giảm khoảng từ 0,1- 34% so với thời điểm trước khi Nhà nước áp dụng biện pháp bình ổn giá.

<b>4. Phân bón Urê</b>

Trong tháng 6/2015, giá phân bón Urê thị trường trong nước tăng nhẹ so với tháng 5/2015. Giá Urê tại miền Bắc dao động trong khoảng 8.300-8.500 đồng/kg, tăng 100-200 đồng/kg; tại miền Nam, giá phổ biến khoảng 8.000-8.500 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg.

<b>5. Thức ăn chăn nuôi</b>

Trong tháng 6/2015, giá thức ăn chăn nuôi hỗn hợp giảm nhẹ so với tháng 5/2015. Cụ thể, giá thức ăn hỗn hợp cho lợn khoảng 9.200 -9.500 đồng/kg, giảm 70

<b>DIỄN BIẾN GIÁ CẢ MỘT SỐ MẶT HÀNG CHÍNH </b>

<b>THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA - DỊCH VỤ</b>

<b><small>KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU THÁNG 6/2015</small></b>

<b>Tổng kim ngạch xuất khẩu Tổng kim ngạch nhập khẩuNhập siêu</b>

<i><small>Nguồn: Tổng cục Thống kê</small></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

đồng/kg; giá thức ăn hỗn hợp cho gà khoảng 10.360 – 10.760 đồng/kg, giảm 100 đồng/kg. Giá ngô và lysine tăng nhẹ so với tháng 5/2015: giá ngơ bình qn ở mức 5.400 đồng/kg, tăng 3,8%; giá lysine ở mức 36.000 đồng/kg, tăng 2,8%. Giá cám gạo, methionine giảm mạnh so với tháng 5/2015: giá cám là 6.100 đồng/kg, giảm 6,2%; giá Methonine là 150.000 đồng/kg, giảm 6,2%.

<b>6. Nguyên vật liệu xây dựng</b>

- Giá bán lẻ xi măng trong tháng 6/2015 trên thị trường vẫn giữ ổn định so với tháng 5/2015. Tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung hiện giá phổ biến từ 1.050.000 -1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000 -1.850.000 đồng/tấn.

- Giá bán lẻ thép xây dựng trong tháng 6/2015 ổn định so với cuối tháng 5/2015. Tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động phổ biến ở mức 14.500 - 15.200 đồng/kg; tại các tỉnh miền Nam dao động phổ biến ở mức 14.700 -15.200 đồng/kg.

<b> 7. Khí hóa lỏng – LPG</b>

Giá bán lẻ khí hóa lỏng – LPG trong tháng 6/2015 tại TP. Hồ Chí Minh (giá bán lẻ đến người tiêu dùng): 273.000 – 302.000 đồng/bình 12kg, tùy từng khu vực, giảm 14.000 đồng/bình 12 kg; tại Hà Nội (giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng) dao động từ 277.000- 308.880 đồng/bình 12kg, giảm khoảng 12.804-13.000 đồng/bình 12kg.

Trong tháng 6/2015, căn cứ biến động giá xăng dầu thế giới, Liên Bộ Tài chính và Cơng Thương đã điều hành giá xăng dầu trong nước như sau:

- Ngày 04/6/2015, căn cứ biến động giá xăng dầu thế giới, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Cơng Thương có cơng văn 5507/BCT-TTTN ngày 04/6/2015 về điều hành giá xăng dầu, theo đó: Giảm sử dụng Quỹ BOG với các mặt hàng xăng, dầu madut (xăng giảm sử dụng Quỹ BOG7 đồng/lít – xăng khống từ 1.054 đồng/lít xuống cịn 1.047 đồng/lít, xăng E5 từ 889 đồng/lít xuống cịn 882 đồng/lít; dầu madut giảm sử dụng Quỹ BOG 226 đồng/kg từ 324 đồng/kg xuống còn 98 đồng/kg); ngừng sử dụng Quỹ BOG với dầu điêzen.

- Ngày 19/6/2015, căn cứ giá xăng dầu thế giới bình quân 15 ngày (từ ngày 04/6/2015 đến hết ngày 18/6/2015); Bộ Công Thương đã có Cơng văn số 6056/BCT-TTTN về điều hành kinh doanh xăng dầu. Theo đó, yêu cầu các thương nhân xăng dầu đầu mối: sau khi thực hiện việc trích lập, sử dụng Quỹ BOG, giá bán xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá cơ sở theo quy định. Cụ thể: Xăng Ron 92 là 20.711 đồng/lít; xăng E5 là 20.381 đồng/lít; dầu điêzen 0,05S là 16.077 đồng/lít; dầu hỏa là 15.099 đồng/lít; dầu ma dút 180CST 3,5S là 12.730 đồng/kg.

Giá bán lẻ xăng dầu trong nước, mức trích, mức sử dụng Quỹ BOG, thuế suất thuế nhập khẩu các chủng loại xăng, dầu từ sau thời điểm 15 giờ 00 ngày 19/6/2015 cụ thể như sau:

<b><small>CÁC CHỦNG LOẠI </small></b>

<b><small>XĂNG DẦUHIỆN HÀNH (ĐỒNG/LÍT,KG)</small><sup>GIÁ BÁN TRONG NƯỚC </sup></b>

<i><small>Nguồn: Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính)</small></i>

<b><small>THỊ TRƯỜNG XĂNG, DẦU THẾ GIỚI</small></b>

<b>THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<b>THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGỒI VÀO VIỆT NAM</b>

<i><small>Nguồn: Cục Đầu tư nước ngồi (Bộ Kế hoạch & Đầu tư)</small></i>

G

iá vàng trong nước tháng 6/2015 diễn biến với xu hướng chung là giảm, đặc biệt giá vàng giảm mạnh giai đoạn cuối tháng. Giá vàng SJC tăng mạnh nhất lên 34,87 – 34,96 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra) ngày 1/6 và thấp nhất tại 34,3 – 34,42 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra) ngày 26/6. Tính chung cả tháng, chỉ số giá vàng giảm 0,08% so với tháng 5/2015. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới tại thời điểm cuối tháng khoảng 3,5 triệu đồng/lượng.

<b>THỊ TRƯỜNG VÀNG</b>

<b><small>DIỄN BIẾN GIÁ VÀNG TRONG NƯỚC</small></b>

<b><small>(TỪ NGÀY 1/6/2015 ĐẾN NGÀY 30/6/2015) (Triệu đồng/lượng)</small></b>

<i><small> Nguồn: sjc.com.vn</small></i>

<b><small>DIỄN BIẾN GIÁ VÀNG THẾ GIỚI (USD/OUNCE) (TỪ NGÀY 1/6/2015 ĐẾN NGÀY 30/6/2015)</small></b>

<i><small>Nguồn: kitco.com</small></i>

<b><small>THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 6 THÁNG NĂM 2015 THEO NGÀNH TÍNH TỪ 01/01/2015 ĐẾN 20/06/2015</small></b>

<b>TTNgành<sup> Số dự án </sup><sub>cấp mới </sub><sup>Vốn đăng ký cấp </sup><sub>mới (triệu USD)</sub><sub>án tăng vốn</sub><sup>Số lượt dự </sup><sup>Vốn đăng ký tăng </sup><sub>thêm (triệu USD)</sub><sub>và tăng thêm (triệu USD)</sub><sup>Vốn đăng ký cấp mới </sup></b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

các bộ cho thấy:

<i>- Về tự chủ tài chính: Có 30 đơn vị tự bù đắp chi </i>

phí, trong đó có 22 đơn vị có số thu lớn hơn chi, gồm: Cơ sở đào tạo, giáo dục (trường đại học, học viện, cao đẳng, trung cấp) có 15 đơn vị, 5 viện nghiên cứu, 2 bệnh viện; 8 đơn vị có số thu bằng chi, gồm: Cơ sở đào tạo, giáo dục (trường đại học, học viện, cao đẳng, trung cấp) có 5 đơn vị; các viện có 2 đơn vị; bệnh viện có 1 đơn vị; 8 đơn vị không tự bù đắp được chi phí, gồm: Cơ sở đào tạo, giáo dục có 6 đơn vị; viện nghiên cứu có 1 đơn vị; bệnh viện có 1 đơn vị. Như vậy, các đơn vị sự nghiệp cơng lập tự bù đắp được chi phí là 30 đơn vị có thể thực hiện thí điểm cổ phần hóa.

<i>- Về tình hình tài sản: Có 14 đơn vị có tổng tài sản </i>

trên 100 tỷ đồng, trong đó: 11 đơn vị có số thu lớn hơn chi; 07 đơn vị có tổng tài sản trên 50-100 tỷ đồng (trong đó 4 đơn vị có số thu lớn hơn chi); Có 14 đơn vị có tổng tài sản trên 10-50 tỷ đồng (trong đó 6 đơn vị có số thu lớn hơn chi); 3 đơn vị có tổng tài sản dưới 10 tỷ đồng, (trong đó 1 đơn vị có số thu lớn hơn chi).

Thực hiện các chính sách trên, tại một số đơn vị sự nghiệp cơng lập đã xuất hiện hình thức cá nhân góp tiền mua máy móc thiết bị đưa vào bệnh viện khai thác, đã thực hiện có hiệu quả thu hồi vốn và có lãi. Nhiều bệnh viện đã mở thêm khoa dịch vụ khám chữa bệnh tự nguyện và thực hiện hạch toán kết quả hoạt động như đối với các bệnh viện tư nhân. Số lượng bệnh viện tư nhân và các trường ngồi cơng lập ngày càng tăng, chứng tỏ mơ hình cổ phần, tư nhân hóa các đơn vị sự nghiệp đang phát huy hiệu quả, giảm tải gánh nặng ngân sách nhà nước. Đối với lĩnh vực đào tạo cũng xuất hiện nhiều trường có hình thức đào tạo tự nguyện hoặc hợp tác đào tạo với các

<b>Từ thực tiễn đổi mới </b>

Việc xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công để đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp cơng lập, nâng cao trình độ quản trị để ngày càng phù hợp với nền kinh tế quốc dân, thực chất là việc cổ phần hóa các đơn vị này.

Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công lập đang hoạt động theo quy định tại các Nghị định: Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/05/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngồi cơng lập, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/05/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, mơi trường. Mới đây, ngày 14/2/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP.

Những chính sách trên đã trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính; chi phí lãi vay được tính vào chi phí các hoạt động dịch vụ; được thực hiện trích khấu hao đối với các tài sản cố định theo chế độ áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước; hạch tốn kết quả hoạt động tài chính; trích lập các quỹ.

Theo khảo sát về mức độ tự chủ tài chính và tình hình tài sản tại 41 đơn vị sự nghiệp cơng lập thuộc 07 tập đồn và 11 tổng công ty nhà nước trực thuộc

<b>CƠ CHẾ MỚI CHUYỂN ĐỔI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP </b>

<b>SANG CƠNG TY CỔ PHẦN</b>

<b>ThS. NGUYỄN THỊ THANH HỊA</b>

<i><b>Chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần sẽ có bước đột phá mới khi ngày 22/6/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg quy định cụ thể cho việc chuyển đổi này. Quyết định đã xác định rõ nguyên tắc, đối tượng, cách thức định giá, xử lý tài chính khi đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chuyển đổi thành cơng ty cổ phần.</b></i>

<b>PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN CHÍNH SÁCH</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

đầu là bán đấu giá công khai, bảo lãnh phát hành và thỏa thuận trực tiếp.

Sau khi chuyển thành công ty cổ phần, đơn vị hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các luật chuyên ngành và các quy định của pháp luật hiện hành; các đơn vị chuyển đổi được tiếp tục thực hiện việc cung cấp các loại dịch vụ công cho xã hội; được tự quyết định thu giá dịch vụ trên cơ sở khung giá tính đủ các chi phí hợp lý, đúng pháp luật do cấp có thẩm quyền ban hành.

Khi thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần, đơn vị có trách nhiệm sắp xếp, sử dụng tối đa số lao động tại thời điểm quyết định chuyển đổi và phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết chế độ nghỉ việc, thôi việc cho người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động và các quyền lợi khác theo quy định hiện hành; kế thừa mọi trách nhiệm đối với người lao động từ đơn vị sự nghiệp cơng lập chuyển sang; có quyền tuyển chọn, bố trí sử dụng lao động...

Quyết định cũng đưa ra các nguyên tắc xử lý tài chính là đơn vị sự nghiệp công lập sau khi chuyển đổi thành công ty cổ phần tiếp tục thừa kế các nghĩa vụ tài chính và nghĩa vụ khác đã bàn giao; có trách nhiệm theo dõi, đơn đốc thu hồi nợ phải thu và thực hiện nghĩa vụ trả nợ; được sử dụng toàn bộ tài sản, nguồn vốn nhận bàn giao để tổ chức kinh doanh hiệu quả. Đơn vị sự nghiệp cơng lập có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan kiểm tra, xử lý các vấn đề tài chính để xác định giá trị phần vốn nhà nước của đơn vị tại thời điểm chính thức chuyển thành cơng ty cổ phần... Ngoài ra, các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của đơn vị sự nghiệp công lập thành sở hữu của cơng ty cổ phần; được miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp...

Đặc biệt, đối với người lao động có trình độ chun mơn nghiệp vụ cao, là các chuyên gia giỏi, là chủ đề tài nghiên cứu khoa học, bằng phát minh sáng chế đã được ứng dụng làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập có cam kết làm việc lâu dài ít nhất 05 năm được mua thêm theo mức 800 cổ phần/01 năm cam kết làm việc tiếp nhưng tối đa không quá 8.000 cổ phần cho một người lao động.

tổ chức giáo dục nước ngoài. Ngoài ra, hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nguồn nhân lực của các đơn vị sự nghiệp công lập từ trước đến nay chưa được đầu tư đúng mức do ngân sách nhà nước cịn hạn hẹp; cơng tác quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập cũng mang nặng tính bao cấp, chưa chủ động vì vậy cũng chưa phát huy hết khả năng cung cấp dịch vụ của các đơn vị này.

Cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập là cần thiết nhưng thực tế lại chưa có quy định cụ thể cho việc thực hiện cơ chế chuyển đổi. Chính vì vậy, việc ban hành quyết định thí điểm chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần là nhằm tạo hành lang pháp lý, góp phần đẩy mạnh việc xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp cơng lập, huy động các nguồn lực xã hội, cung cấp sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xã hội. Đồng thời, phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế trong việc cung cấp dịch vụ công, nâng cao chất lượng dịch vụ cho xã hội, khai thác và sử dụng hiệu quả hơn cơ sở vật chất hiện có; Từng bước đổi mới phương thức quản lý tài chính theo cơ chế thị trường, nhằm nâng cao hiệu quả, cơ sở vật chất hiện có của các đơn vị sự nghiệp công lập. Bên cạnh đó, các đơn vị sự nghiệp cơng lập khi chuyển sang công ty cổ phần được tự chủ về tài chính, phát huy được vai trị của doanh nghiệp, công khai minh bạch hạch toán theo nguyên tắc thị trường; đa dạng hóa sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để nâng cao năng lực tài chính, đầu tư đổi mới cơng nghệ.

<b>Cơ chế cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp cơng lập </b>

Trước thực tiễn trên, ngày 22/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg về việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần. Có hiệu lực từ ngày 10/8/2015, Quyết định quy định các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chuyển thành công ty cổ phần khi bảo đảm đủ các điều kiện: Tự đảm bảo được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được tồn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi; thuộc danh mục chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Hình thức chuyển đổi là giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại đơn vị sự nghiệp công lập, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ; bán một phần vốn nhà nước hiện có; kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. Phương thức bán cổ phần lần

<b>Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của đơn vị sự nghiệp được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc với giá bán bằng 60% giá đấu thành công thấp nhất hoặc bằng 60% giá bán thành công thấp nhất cho các nhà đầu tư chiến lược.</b>

</div>

×