Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.25 MB, 23 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG</b>
<b>BỘ MƠN KINH TẾ</b>
TIỂU LUẬN
<b>TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, THỰC TRẠNG VỀ NẠN TẢOHƠN TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI</b>
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Phương
3 Nguyễn Thị Khánh Huyền A39825 Chương 2 Đạt
4 Nguyễn Thị Vân Anh A39972 Phần mở đầu Chương 4
Đạt
5 Nguyễn Thị Thúy Hằng A40873 Chương 3 Đạt
HÀ NỘI - 2022
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>PHẦN MỞ ĐẦU...1</b>
<b>PHẦN NỘI DUNG...3</b>
<b>Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU...3</b>
<b>1.1. Tổng quan về nạn tảo hôn ở Việt Nam...3</b>
<b>1.2. Tổng quan về nạn tảo hôn trên thế giới...5</b>
<b>Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN...7</b>
<b>2.1 Khái niệm cơ bản về tảo hôn...7</b>
<b>2.2. Nguyên nhân dẫn đến nạn tảo hôn...7</b>
<b>2.3. Quyền con người, quy định của pháp luật trong vấn nạn tảo hôn...8</b>
<b>2.3.1. Quyền con người...8</b>
<b>2.3.2. Quy định của pháp luật về vấn nạn tảo hôn...8</b>
<b>Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...10</b>
<b>3.1. Phương pháp nghiên cứu...10</b>
<b>3.2. Nguồn thu thập dữ liệu...10</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><i><b>Lý do chọn đề tài</b></i>
Nạn tảo hôn không phải là đề tài mới mẻ hay xa lạ ở Việt Nam hay trên thế giới. Từ lâu, tảo hôn đã tồn tại ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số hay ở một số nước kém phát triển trên thế giới. Thực tế cho thấy trên thế giới tảo hơn đã có lịch sử từ thời cổ đại. Mặc dù trải qua nhiều thời kì lịch sử nhưng đến nay nạn tảo hơn vẫn cịn tồn tại và là vấn đề nhức nhối trong xã hội. Hủ tục đó đã để lại nhiều hệ lụy xấu cho gia đình và xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe các bà mẹ và trẻ em, làm suy giảm giống nòi, chất lượng dân số, nguồn nhân lực của các vùng dân tộc thiểu số. Xã hội ngày càng hiện đại nên sự quan tâm của chúng ta dành cho vấn đề này là điều vô cùng cần thiết. Khi chúng ta quan tâm đến nó nhiều hơn chúng ta sẽ giúp đỡ được những nạn nhân của hủ tục cổ hủ lạc hậu ấy. Vì những nơi cịn tồn tại hủ tục ấy là những vùng dân tộc thiểu số hay một số nước kém phát triển, vậy nên chúng ta cần phổ biến rộng rãi hơn về hậu quả của tảo hôn và cũng phải tuyên truyền rằng nó là một hành vi vi phạm pháp luật và cần phải loại bỏ nó khỏi xã hội văn minh. Từ xa xưa với quan niệm ‘cha mẹ đặt đâu con ngồi đó’ nên những cuộc hơn nhân khi chưa đủ tuổi đã được sắp đặt sẵn, nó được coi như là một điều hiển nhiên trong xã hội lúc bấy giờ. Cũng do hồn cảnh khó khăn, gia đình đơng con nên các gia đình cũng mong sớm gả được con cái vào những gia đình khá giả hơn để giúp cho kinh tế gia đình, hay gả con để gán nợ,... . Thậm chí có một số gia đình lợi dụng hủ tục ấy để trục lợi cá nhân. Nạn nhân của các cuộc tảo hôn thường là các thanh thiếu niên dưới 15-16 tuổi bất kể nam nữ. Đó là một trong những lí do vì sao chúng ta cần phải xóa bỏ hủ tục cổ hủ, lạc hậu này. Chúng ta cần đứng lên nói lên tiếng nói của mình để bảo vệ cho quyền tự do, quyền con người của những đứa trẻ còn chưa đủ tuổi vị thành niên ấy. Chúng tôi hiểu rõ về hậu quả và tác hại của
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">nạn tảo hôn gây cho xã hội và các bà mẹ, trẻ em. Vì vậy, ‘Thực trạng nạn tảo hôn tại Việt Nam và trên thế giới’ là đề tài chúng tôi chọn cho bài nghiên cứu này.
<i><b>Mục tiêu nghiên cứu</b></i>
Đề tài nghiên cứu: “Thực trạng về vấn nạn tảo hôn tại Việt Nam và trên thế giới” Trong bài luận này chúng tơi tìm hiểu những mục đích sau:
- Tổng quan nghiên cứu về nạn tảo hôn
- Thực trạng nạn tảo hôn ở Việt Nam và các nước trên thế giới
Qua đây hiểu mục đích của đề tài nghiên cứu là nghiên cứu và làm rõ nạn tảo hôn ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Từ đó rút ra một số kinh nghiệm để có thể hạn chế tối đa nạn tảo hơn và chấm dứt nó. Đồng thời, thơng qua nghiên cứu chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về nạn tảo hôn và thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn nạn tảo hôn. Nhận diện được những hạn chế, bất cập và tìm ra các giải pháp giải quyết thực trạng tảo hôn hiện nay đã và đang diễn ra trong xã hội Việt Nam. Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu một cách hệ thống, các vấn đề lý luận khoa học cơ bản trong quy tắc pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về nạn tảo hôn, một số quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về nạn tảo hơn, phân tích cụ thể các tác động của xã hội về việc mọi người có ý kiến như thế nào đối với vấn đề tảo hôn ở Việt Nam.
<i><b>Mối quan tâm hiện nay</b></i>
Mỗi người sinh ra đều có quyền con người, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình. Khơng một ai có quyền cấm chúng ta được hưởng những quyền ấy. Vì vậy, tảo hơn là một vấn nạn chúng ta cần phải lên án để bảo vệ những nạn nhân của hủ tục ấy. Các nạn nhân của nạn tảo hôn phải đối mặt với việc sinh con đẻ cái, lo cơm áo gạo tiền, thậm chí phải chịu cảnh bạo lực gia đình. Đối với những đứa trẻ cịn q nhỏ để bước vào cuộc sống hơn nhân thì những vấn đề ấy là mối
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">nguy hiểm cho cả thể xác và tâm lí của họ. Ai sinh ra cũng đều mưu cầu hạnh phúc nhưng đối với nạn nhân của nạn tảo hôn thì hạnh phúc đối với họ thật xa vời và cả cuộc đời họ chỉ mong thốt khỏi cuộc hơn nhân không hạnh phúc ấy.
<b>Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU1.1. Tổng quan về nạn tảo hơn ở Việt Nam </b>
Hiện nay, kết hôn trẻ em vẫn là một vấn đề nan giải đối với Việt Nam. Năm 2014, cứ 10 phụ nữ ở độ tuổi 20-24 tại Việt Nam lại có một người kết hơn hoặc sống chung như vợ chồng trước tuổi 18. Cho tới nay, tỷ lệ kết hôn ở độ tuổi trẻ em chưa giảm nhiều. Tỷ lệ kết hôn trẻ em giữa các vùng miền không giống nhau, nhưng trẻ em gái ở tất cả các khu vực và tầng lớp trong xã hội đều có nguy cơ trở thành cơ dâu nhỏ tuổi. Tại Việt Nam, kết hôn trẻ em tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Nạn tảo hôn xuất hiện ở rất nhiều vùng miền trên cả nước, đặc biệt nạn tảo hôn diễn ra phần lớn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Theo thống kê, 11% phụ nữ tuổi từ 20 đến 49 đã kết hôn hoặc đã sống chung như vợ chồng trước tuổi 18. Trung du miền núi phía Bắc là các tỉnh có tỷ lệ tảo hơn cao hơn so với các vùng khác trong cả nước. Trong độ tuổi từ 10 – 17 tuổi, cứ 10 em trai thì có 01 em có vợ, cứ 05 em gái có 01 em có chồng. Sau Trung du miền núi phía Bắc thì Tây Ngun có tỷ lệ tảo hơn cao thứ hai với tỉ lệ đạt 15,8 %; Đồng bằng sông Hồng 7,9% và Đơng Nam bộ 8,1%. Các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao nhất trong cả nước gồm: Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Kạn, Kon Tum, Gia Lai. Trong số 55 dân tộc an hem thì các dân tộc thiểu số có tỷ
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">lệ tảo hơn cao gấp 6 lần so với dân tộc Kinh và gấp gần 3,5 lần so với tỷ lệ chung của cả nước.
Tuổi kết hơn trung bình của người DTTS tảo hôn năm 2018 là 17,5 tuổi đối với nam và 15,8 tuổi đối với nữ. Như vậy, nam giới kết hôn sớm hơn 2,5 tuổi, nữ giới kết hôn sớm hơn 2,2 tuổi so với quy định của pháp luật. Chúng tơi có dịp lắng nghe những day dứt của ơng Lường Văn Tốn, Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Sơn La trước tình trạng tảo hơn ở địa phương này có chiều hướng giảm về độ tuổi. Trước đây, trẻ em gái tảo hôn cũng phải 15, 16 tuổi, nay giảm xuống chỉ còn 12, 13 tuổi. Tỷ lệ nam giới tảo hôn là 20,1%; nữ giới tảo hôn cao hơn với tỷ lệ 23,5%. Tất cả 53 DTTS đều có tình trạng tảo hơn, trong đó, 5 dân tộc tỷ lệ tảo hôn cao nhất gồm: dân tộc Mông 51,5%, Cờ Lao 47,8%, Mảng 47,2%, Xinh Mun 44,8%, Mạ 39,2%. Trung du miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng Tây Bắc có tỷ lệ tảo hơn cao hơn các vùng khác. Năm 2019, vùng Trung du miền núi phía Bắc có 583.297 trường hợp; Đồng bằng sơng Hồng có 14.922 trường hợp; Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung có 152.743 trường hợp; Tây Nguyên có 203.639 trường hợp; Đơng Nam bộ có 37.375 trường hợp; Đồng bằng sơng Cửu Long có 45.293 trường hợp.
Tỉnh Sơn La có 128.873 trường hợp; tỉnh Hà Giang có 73.772 trường hợp; Điện Biên 67.780 trường hợp; Lào Cai 56.939 trường hợp; Lai Châu 56.029 trường hợp; Yên Bái 40.842 trường hợp; Cao Bằng 37.406 trường hợp; Nghệ An 36.854 trường hợp; Gia Lai 84.067 trường hợp; Đắk Lắk 56.029 trường hợp… thuộc nhóm các địa phương có số trường hợp tảo hơn cao nhất cả nước.
Phân tích theo trình độ chun mơn kỹ thuật (tức có trình độ từ sơ cấp trở lên) thì chỉ có 1,1% người DTTS tảo hơn có trình độ chun mơn kỹ thuật, trong khi tỷ lệ này ở những người không tảo hôn cao gấp hơn 18 lần (18,8%). 31/53 DTTS có tình trạng 100% số người tảo hơn khơng có trình độ chun mơn kỹ thuật. Chỉ có
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">1,6% nam giới có trình độ chun mơn kỹ thuật tảo hôn so với tỷ lệ tương ứng của nữ là 0,6%.
<b>1.2. Tổng quan về nạn tảo hôn trên thế giới </b>
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, nạn tảo hôn phổ biến nhất ở nam Á và khu vực cận Sahara ở châu Phi. Niger, Bangladesh và Ấn Độ là những quốc gia có tỷ lệ tảo hơn cao, trong đó Niger có tỷ lệ cao nhất thế giới.
Trung bình mỗi năm trên tồn thế giới có 16 triệu trẻ sơ sinh chào đời từ những bà mẹ trong độ tuổi từ 15-19, chiếm 11% tổng số sản phụ toàn cầu. Số bé gái mang thai ở độ tuổi từ 10-14 tuy ít song rất đáng lo ngại, trong đó số sản phụ sinh con ở độ tuổi dưới 15 tại nhiều quốc gia ở phía Nam sa mạc Sahara lại chiếm tỷ lệ khá cao, lên tới 12% số sản phụ tại vùng này và tỷ lệ tương ứng ở khu vực Mỹ Latinh là 3%.
Trước thực trạng có tới 10-12 triệu cơ gái trẻ, thậm chí chỉ là các cơ bé mới 5 tuổi, bị ép gả chồng mỗi năm, Liên Hợp Quốc đã lên tiếng kêu gọi tất cả các quốc gia tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống lại nạn tảo hơn nhức nhối đang có xu hướng phát triển mạnh ở nhiều nơi, nhất là tại các nước kém phát triển.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Nạn tảo hôn thường phổ biến ở các đất nước nông nghiệp và nghèo nàn, và những hệ quả của nó càng làm nghèo đói trở thành một tình trạng dai dẳng. Các cô dâu trẻ em phải nghỉ học, bị tước đoạt giáo dục và những công việc ý nghĩa. Họ phải chịu những nguy cơ về sức khỏe liên quan tới những hành vi tình dục sớm và sinh đẻ, dẫn tới tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em cao, cũng như những bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm HIV. Họ có nhiều khả năng trở thành những nạn nhân của bạo hành gia đình, lạm dụng tình dục và cơ lập xã hội.
Nạn tảo hơn có nguồn gốc từ truyền thống và văn hóa nên rất khó để thay đổi. Thường thì các cơ gái và các bậc cha mẹ cũng muốn trì hỗn chuyện hơn nhân nhưng họ thiếu những chọn lựa.
Chính quyền và các cộng đồng đang có những hoạt động tích cực để ngăn chặn tục lệ này qua việc tăng cường nhận thức về những hệ quả bất lợi cho các cơ gái, tiến hành chương trình cung cấp cho các cơ gái những lựa chọn hơn nhân thích hợp, và yêu cầu sự cưỡng chế có hiệu quả hơn những luật lệ đang lưu hành cấm nạn tảo hôn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><b>Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN2.1 Khái niệm cơ bản về tảo hôn</b>
Tảo hôn là hành vi kết hôn khi vợ hoặc chồng hoặc cả 2 bên chưa đủ tuổi đăng kí kết hơn theo quy định của pháp luật (theo như quy định tại điểm a, khoản 1, điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành), tức là nam chưa đủ 20 tuổi trở lên và nữ chưa đủ 18 tuổi trở lên nhưng vẫn tiến hành việc nam lấy vợ, nữ gả chồng. Đây là một hành vi vi phạm pháp luật, khơng chỉ thế nó cịn trái với những chuẩn mực đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến mục đích của hơn nhân hướng tới là duy trì và phát triển giống nịi.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Tảo hôn ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất, tâm sinh lý, sức khỏe sinh sản của người phụ nữ, nhất là trẻ em gái. Bởi chưa đủ tuổi trưởng thành, cơ thể phát triển chưa hoàn thiện, việc quan hệ tình dục sớm, mang thai, sinh đẻ, ni con sớm làm chậm q trình phát triển thể chất tự nhiên của con người, dẫn tới thoái hóa và các di chứng bệnh tật, làm suy kiệt sức khỏe của bố, mẹ và con.
Hiện nay hành vi tảo hôn vẫn đang diễn ra tại các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp với các hủ tục lạc hậu cần xóa sổ.
<b>2.2. Nguyên nhân dẫn đến nạn tảo hôn</b>
- Do những hủ tục lạc hậu của một vài dân tộc ít người, cần thời gian dài để xóa bỏ hồn tồn phong tục khơng tốt đẹp này.
- Do một số quy định của pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp liên quan đến việc kết hôn khi chưa đủ tuổi theo quy định ở mức rất thấp, không đủ sức răn đe, ngăn chặn kịp thời.
- Do trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật của một bộ phận người dân tại một số vùng núi, vùng sâu vùng xa còn hạn chế, chưa kịp tiếp thu những thay đổi tiến bộ, phù hợp hơn.
- Công tác tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật liên quan đến vấn đề này còn chưa rộng rãi, thường xuyên và chưa sâu sắc. - Bên cạnh đó, chính quyền địa phương tại một số nơi có trường hợp tảo hơn
thì cũng chưa can thiệp mạnh mẽ, thiếu đi sự kiên quyết, bền bỉ chống lại hành vi sai trái này.
<b>2.3. Quyền con người, quy định của pháp luật trong vấn nạn tảo hôn2.3.1. Quyền con người</b>
Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận. Tôn trọng, bảo vệ và
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế. Nói cách khác, quyền con người được áp dụng mơ •t cách bình đẳng với tất cả mọi người th •c mọi dân tơ •c đang sinh sống trên phạm vi tồn cầu, khơng phụ th •c vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền.
<b>2.3.2. Quy định của pháp luật về vấn nạn tảo hôn</b>
Theo quy định của pháp luật, kết hôn không chỉ là nghi lễ cưới hỏi do hai bên gia đình nhà trai, nhà gái tổ chức mà còn là sự kiện pháp lý quan trong đánh dấu cuộc hôn nhân. Kết hơn địi hỏi nhiều điều kiện, trong đó điều kiện về độ tuổi là điều kiện được nhiều người quan tâm; bởi trong bối cảnh xã hội hiện nay, với lối sống vội của các bạn trẻ, nhiều cặp nam nữ tổ chức cưới hỏi khi còn rất trẻ hoặc thậm chí là chưa đủ tuổi để đki kết hơn.
Một vài người trong chúng ta có suy nghĩ rằng tảo hôn là việc kết hôn sớm chỉ xảy ra ở các vùng sâu vùng xa, các vùng có điều kiện kinh tế cịn khó khăn, thiếu thốn. Tuy nhiên, trên thực tế tảo hôn hiện nay khá phổ biến ở nhiều nơi và xuất phát từ nhận thức pháp luật còn hạn chế của người dân. Quy định pháp luật về tảo hôn thông qua việc pháp luật đưa ra định nghĩa về tảo hôn. Cụ thể, Khoản 8 Điều 3 Luật hơn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này. Tảo hôn không đơn thuần là không đủ điều kiện để kết hôn mà là hành vi bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hành vi cưỡng ép kết hơn bị xử phạt vi phạm hành chính, tổ chức tảo hơn bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hơn nhân gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Cụ thể, theo Điều 58 Nghị định 82/2020/ND-CP quy định xử phạt về hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn như sau:
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">“ Điều 58. Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án.”
Bên c nh vi c x lý hành chính, ạ ệ ử đốối v i m t s t ng h p, hành vi này còn bớ ộ ốố ườ ợ ị truy c u trách nhi m hình s theo quy nh c a B lu t Hình s n m 2015. Cứ ệ ự đị ủ ộ ậ ự ă ụ thể, t i ạ Điềều 183 quy nh v t i t ch c t o hôn nh sau:đị ềề ộ ổ ứ ả ư
“Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà cịn vi phạm, thì phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.”
Như vậy, quy định pháp luật về tảo hôn nêu rõ hành vi tổ chức tảo hôn khi bị nhà nước cơ quan có thẩm quyền phát hiện sẽ tiến hành lập biên bản và xử lí vi phạm hành chính, một số trường hợp khi đủ yếu tố cấu thành sẽ truy cứu về trách nhiệm hình sự.
<b>Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1. Phương pháp nghiên cứu</b>
Để đạt được kết quả nghiên cứu nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính phỏng vấn 50 người theo độ tuổi, giới tính. Phỏng vấn qua bảng khảo sát 100 người đạ diện từ nhiều độ tuổi hiện sống trong các hộ gia đình hoặc sống đơn thân/ tạm trú trong thời điểm nghiên cứu.
</div>