Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (38.89 MB, 79 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGƯỜI HUONG DAN KHOA HỌC: TS. HOANG QUOC HONG
<small>Tôi xin cam đoan day là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Các tư liệuđược nêu trong luận văn là trung thực. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứucủa mình.</small>
HỌC VIÊN CAO HỌC
Nguyễn Thị Hồng Nhung
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">thể hiện kết quả học tập, nghiên cứu của tác giả trong hai năm học cao học tại
<small>Đại học Luật Hà Nội.</small>
Có được bản luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các Thầy Cô tham gia giảng dạy Lớp Cao học Luật Hiến pháp và Luật hành chính Khóa 21 (2013 - 2015), xin bay tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới Thay giáo, Tiến sy Hồng Quốc Hồng, người đã nghiêm túc, nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn tác giả triển khai thực hiện, hoàn thành luận văn này.
<small>Lời cảm ơn cũng xIn được gửi tới các cán bộ đang làm việc tại Bộ Khoahọc và Cơng nghệ, Cục An tồn bức xạ và hạt nhân, Cục Năng lượng nguyên</small>
tử vì đã tạo thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu cũng như các tài liệu chuyên ngành cần thiết, phục vụ cho nội dung của luận văn; xin ghi nhận mọi sự động viên, khuyến khích từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của tác giả.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thay, Cô trong Hội đồng phản biện, cham luận văn vì những ý kiến đóng góp, phê bình; cảm ơn Khoa Sau đại học — Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tác giả học tập và hồn thiện luận văn.
Sau cùng, tác giả xin kính chúc Thầy, Cô tham gia giảng dạy chuyên
ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính, Thay, Co cua Khoa Sau dai hoc — Dai hoc Luật Hà Nội, Thay, Cô tham gia Hội đồng phản biện, chấm luận văn déi dao sức khỏe, nhiệt huyết dé tiép tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thé hệ mai sau.
<small>Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2015.</small>
HỌC VIÊN CAO HỌC Nguyễn Thị Hồng Nhung
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">CHƯƠNG 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CUA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE NĂNG LƯỢNG NGUYEN TU ...2 << s2 sesesecses 6 1.1. Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử ...- 5-5-5 << <2 6 1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử... 6 1.1.2. Đặc điểm của quan ly nhà nước về năng lượng nguyên tử... 8 1.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử... --- II 1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử ... 17 1.2.1. Thúc day ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các lĩnh vực kinh tế
<small>1.2.2. Đảm bảo an toàn, an ninh trong ứng dụng năng lượng nguyên tử... 20</small>
1.2.3. Phòng ngừa, ngăn chặn hành vi chuyên hướng sử dụng vật liệu hạt nhân
<small>từ mục đích hịa bình sang mục đích khơng hịa bình ...- -- -- ----‹ 20</small>
1.2.4. Bảo vệ các cá nhân khỏi ảnh hưởng bat lợi của bức xa tự nhiên ... 21 1.3. Nguyên tắc quản ly nhà nước về năng lượng nguyên tử ... 21 1.3.1. Nguyên tắc bảo đảm an tồn, an ninh trong q trình nghiên cứu, ứng
<small>dụng năng lượng nguyÊn fỬ...-- - - - -- - c 1333332211111 1 11111 ng ven ia</small>
1.3.2. Nguyên tắc kiểm tra, giám sát liên tục hoạt động nghiên cứu, ứng dụng
<small>năng lượng ngUYÊN tỬ...-- - - c 011110311230 10 1011111111211 1111111110 11 kg và 23</small>
1.3.3. Nguyên tắc hợp tác quốc tế, đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế về
<small>PETES, HưƯỢN PL, Tle sao can nung, sn gan ch A Sc a A iS RA 24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">1.3.5. Nguyên tắc công khai, minh bạch trong việc nghiên cứu, ứng dụng
<small>năng lượng NGUYEN fỬ... c1 1113311212111 1 111112111111 ng tk kg vờ 26</small>
1.3.6. Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử được thực hiện thống nhất,
<small>có sự phân công, phân cap và phôi hợp giữa các cơ quan nhà nước... 27</small>
CHƯƠNG 2. CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE NĂNG LUONG NGUYÊN TỬ...28 2.1. Các quy định pháp luật phục vụ quản lý nhà nước về năng lượng
<small>IØUYÊN ẨÚY... 5. 7G GG G5 5 5.9... 9.9... 0... 00000. 00004 6.0000 28</small>
2.1.1. Từ năm 1994 đến năm 2008...-.-- ¿5+ 2t2£xtsExtsrxtsrrrrrrrrrrree 28 2.1.2. Từ năm 2009 đến 20144...--- 2+ 2+E+E++E£EE+E£EEEEEEEEEEEEEEEeErkrrrrrres 31 2.2. Thực trạng hoạt động quan lý nhà nước về năng lượng nguyên tir... 32 2.2.1. Quản lý nhà nước về các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng bức xa và các hoạt động liên quan đến nguồn phóng xạ ...--- - 55: 32 2.2.2. Quản lý nhà nước về các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng hạt nhân và các hoạt động liên quan đến vật liệu hạt nhân...--- 40 2.3.3. Quản lý nhà nước về hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến quặng
<small>0105027... .---:‹:31aS1a...ỐẦỐ 42</small>
2.2.4. Nguyên nhân những hạn chế của quản lý nhà nước về năng lượng
<small>NIQUYEN ẦỬI... Q Q Q1 TS g2 TT Tu 44</small>
CHƯƠNG 3. MOT SO KIEN NGHỊ NHAM NÂNG CAO HIỆU QUA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE NĂNG LƯỢNG NGUYEN TỬ... 56 3.1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về năng lượng nguyên tử.... 56
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">3.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ quan lý nhà nước về năng lượng
<small>HĐHYEH: EE surseeeeennantirarottttDrgiotttpotDBttnioitgi000100300012000086100910010000310991008130099040001110010000000009 64</small>
3.4. Tiếp tục đấy mạnh và đổi mới công tác tuyên truyền pháp luật về năng lượng nguyên tử nhằm hỗ trợ quản lý nhà nước lĩnh vực năng
<small>hrữñ1Ø ROW YEN. LỄ sess casa ngõ gang nes cass 111551806 155g3055810k 566.0 00306853855481043002135-200 ck-40086 64</small>
3.5. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt
<small>động quản lý nang lượng NYUYVEN ẦỦ... ---- -- < <5 5 555553 9 9955 55599 66</small>
9800.002177 ... 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Ở Việt Nam, ngay từ đầu những năm 30 của thé kỷ XX, được sự giúp đỡ cua nhà bac hoc Marie Curie, Viện trưởng Viện Radium Paris, những chiếc kim Rađi lần đầu tiên đã được sử dụng tại Viện Radium Hà Nội (nay là Bệnh viện K) để điều trị bệnh ung thư. Có thé nói đó là dau mốc lich sử cho việc sử dụng nguồn phóng xạ tại Việt Nam. Ké từ đó, kỹ thuật bức xạ và hạt nhân ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội của nước ta với nhiều ứng dụng trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, v.v..
<small>Thừa nhận những giá tri to lớn do ứng dung năng lượng nguyên tử mang</small>
lại, nhà nước ta đã có chính sách và nhiều định hướng cho việc phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hịa bình. Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/1/2006 phê duyệt “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục dich hồ bình đến năm 2020”, và Quyết định số 957/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2010 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng năng lượng ngun tử vì mục đích hồ bình đến năm 2020. Các Quyết định này đã xác định mục tiêu chung của ngành năng lượng nguyên tử là từng bước xây dựng và phát triển ngành công nghiệp công nghệ hạt nhân có đóng góp hiệu quả trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng lần lượt ban hành các Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các ngành kinh tế, kỹ thuật
<small>khác nhau.</small>
Bên cạnh các ứng dụng đem lại lợi ích cho xã hội và kinh tế, các hoạt
<small>động sử dụng năng lượng nguyên tử còn tiêm ân những rủi ro đôi với con</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Đảng và Nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của việc hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử và coi đó là một trong những giải pháp để thực hiện thành công chiến lược ứng dụng năng lượng
<small>ngun tử vì mục đích hịa bình.</small>
<small>Với bơi cảnh nêu trên, học viên đã lựa chọn đê tài “Quan lý nhà nước vềnăng lượng nguyên fứ” làm luận văn thạc sỹ. Với đê tài này, học viên mongmn góp phân cung câp cơ sở lý luận và thực tiên nhăm đưa ra giải phápnâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử tại Việt Nam.</small>
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
<small>Từ sau khi Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008 có hiệu lực, đã có một</small>
số đề tài nghiên cứu trong nước được thực hiện liên quan đến các khía cạnh pháp lý cụ thể trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Từ năm 2002 đến nay, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai một số đề tài nghiên cứu ứng dụng năng
<small>lượng nguyên tử thuộc chương trình KC (Chương trình khoa học và công</small>
nghệ trọng điểm cấp nhà nước) và các đề tài khác phục vụ xây dựng Chiến lược ứng dụng năng lượng ngun tử vì mục đích hịa bình đến năm 2020.
<small>Tuy nhiên, do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam là cơ quan nghiên cứu</small>
và triển khai các ứng dụng công nghệ về bức xạ, hạt nhân nên các đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khía cạnh thúc đây và phát triển các ứng
<small>dụng năng lượng nguyên tử tại Việt Nam, trong đó có các khía cạnh pháp lý.</small>
Năm 2011, Cục Năng lượng nguyên tử đã thực hiện đề án nghiên cứu cấp Bộ “Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng văn bản quy phạm pháp luật về điện
<small>hạt nhân của Việt Nam theo hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><small>hành theo quy định tại Luật Năng lượng nguyên tử và các Nghị định hướng</small>
dẫn ban hành; thống kê các tiêu chuẩn an toàn về nhà máy điện hạt nhân của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, so sánh, đánh giá giữa hệ thống pháp luật của Việt Nam và hệ thống tiêu chuẩn của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Đề án mới chỉ đừng ở mức độ thống kê các nội dung quy định pháp luật cần ban hành mà chưa có nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về nhà máy điện hạt nhân, trong
<small>đó có khía cạnh bảo đảm an toàn, an ninh cho nhà máy điện hạt nhân.</small>
<small>Trong Bộ Khoa học và Cơng nghệ, ngồi Viện Năng lượng ngun tửViệt Nam, Cục Năng lượng nguyên tử thì Cục An toàn bức xạ và hạt nhân</small>
cũng là đơn vị đã triển khai một số hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử. Cục An toàn bức xạ và hạt nhân đã triển khai một số đề tài nghiên cứu ở phạm vi và mức độ khác nhau đề cập đến vẫn đề pháp luật bảo đảm quản lý an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân như các Dé tài cấp Bộ “Khảo sát, đánh giá, rút kinh nghiệm 10 năm thực hiện Pháp lệnh An tồn và Kiểm sốt bức xạ” năm 2008 do TS. Ngô Đặng Nhân làm chủ nhiệm, “Nghiên cứu xây dựng tổng quan hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuân và hướng dẫn về an toàn hạt nhân” năm 2007 do CN. Nguyễn Thị Hoàn làm chủ nhiệm, “Nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử” trong các năm 2012 đến 2014 do TS. Lê Chí Dũng làm chủ nhiệm. Trong số các đề tài vừa
<small>nêu thì “Khảo sát, đánh giá, rút kinh nghiệm 10 năm thực hiện Pháp lệnh An</small>
toàn và Kiểm soát bức xạ” năm 2008, “Nghiên cứu xây dựng tổng quan hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn và hướng dẫn về an toàn hạt nhân” năm 2007 là những đề tài được thực hiện dựa trên các quy định pháp
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">dựng dự thảo Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử” do TS. Lê Chí Dũng làm chủ nhiệm thì tập trung phân tích các hạn chế của Luật Năng lượng nguyên tử, không phân tích sâu tồn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử cũng như chưa đánh giá
<small>tồn diện cơng tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử.</small>
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau trong quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, đặc biệt là khía cạnh pháp lý. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nghiên cứu nào đưa ra một cách toàn diện các van dé lý luận và đánh giá thực tiễn công tác quan ly nhà nước về năng lượng nguyên tử tại Việt Nam.
3. Đối tượng, mục đích nghiên cứu
<small>Đơi tượng nghiên cứu của luận văn là những vân đê lý luận và thực tiên</small>
của quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử trong lĩnh vực hành pháp.
<small>Mục đích của luận văn là nghiên cứu và đê xuât các giải pháp cụ thê đênâng cao tính hiệu quả cua quản lý nhà nước vê năng lượng nguyên tử.</small>
<small>4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu</small>
<small>Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lénin, tư tưởng Hô Chi Minh và các quan diém của Đảng Cộng sản Việt Namvê nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó, luận văn còn được thực hiện dựa trêncơ sở lý luận của ngành luật hành chính Việt Nam.</small>
Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, như phương pháp kết hợp lý luận
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>5. Đóng góp của luận van</small>
Ứng dụng năng lượng nguyên tử và quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử là những hoạt động khá mới ở Việt Nam và chưa có nhiều lý luận cho quản lý nhà nước. Chính vì thế, luận văn sẽ góp phan hoàn thiện cơ sở lý luận cho quản lý nhà nước về năng lượng ngun tử, trong đó trình bày các
<small>đặc điêm của hoạt động quản lý nhà nước này.</small>
<small>Dựa trên kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiên của quản lý nhà nướcvê năng lượng nguyên tử, luận văn sẽ trình bày các kiên nghị cụ thê đê gópphân nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử.</small>
<small>6. Kêt cầu của luận văn</small>
<small>Ngoài phân Lời nói đâu, Kêt luận, Tài liệu tham khảo, luận văn có kếtcâu gơm ba chương, cụ thê như sau:</small>
Chương 1. Một số van đề lý luận của quan ly nhà nước về năng lượng
<small>nguyên tử</small>
Chương 2. Các quy định pháp luật phục vụ quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử và thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về năng lượng
<small>nguyên tử tại Việt Nam</small>
Chương 3. Một số kiến nghị nhăm hoàn thiện pháp luật phục vụ quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử và hoạt động quản lý nhà nước về năng
<small>lượng nguyên tử</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">1.1. Quan lý nhà nước về năng lượng nguyên tử
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử
Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử là một loại hình quản lý đặc biệt do các cơ quan nhà nước có thâm quyền thực hiện. Quản lý nhà nước về nguyên tử được đề cập ở đây là hoạt động quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, nghĩa là hoạt động quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử do các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyên thực hiện. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là còn khá mới nếu so với các lĩnh vực quản lý nhà nước truyền thống như kinh tế, hải quan, lao động, an tồn giao thơng.
Ngành năng lượng nguyên tử phát triển ở Việt Nam chưa lâu nhưng có thé nhận thấy vai trị to lớn của năng lượng nguyên tử trong đời sống xã hội. Trong các lĩnh vực y tế, công nghiệp, nông nghiệp, môi trường, năng lượng nguyên tử đang tiếp tục được ứng dụng ngày càng sâu rộng và mang lại nhiều giá trị kinh tế, xã hội to lớn.
<small>Dù được ứng dụng rộng rãi và đã chứng minh được những lợi ích to lớn</small>
song năng lượng nguyên tử vẫn tiềm ấn nguy cơ gây tốn hại đến sức khỏe, tính mạng con người, ảnh hưởng xấu đối với môi trưởng và ảnh hưởng đến trật tự, an ninh xã hội. Nguy cơ này sẽ đặc biệt cao khi trong các tô chức, cá
nhân sử dụng chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân (vật chất tạo năng lượng
nguyên tử) không tuân thủ các quy tắc bảo đảm an toàn, an ninh dẫn đến khả
năng chiếu xạ vô ý lên con người, hoặc chất phóng xa, vật liệu hạt nhân bi <small>chiêm đoạt và sử dụng sai mục dich.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">quản lý nhà nước là hết sức cần thiết. Mục tiêu của quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử chính là thúc đây các ứng dụng năng lượng nguyên tử để phục vụ lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của tơ chức, cá
<small>nhân, bảo đảm an toàn, an ninh trong các hoạt động của con người liên quan</small>
đến năng lượng nguyên tử và thậm chí bảo vệ các cá nhân khỏi ảnh hưởng bat
<small>lợi từ bức xạ tự nhiên.</small>
Chủ thể quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử là các cơ quan hành chính nhà nước có thâm quyền theo luật định thực hiện việc quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử. Theo quy định tại Điều 7 Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008, các chủ thể quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử gồm
<small>Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên</small>
quan, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
<small>Bộ Khoa học va Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản</small>
ly nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Dé giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, Nghị định số 20/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 2 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cau tô chức của Bộ Khoa học và Công nghệ đã quy định trong cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa
<small>học và Cơng nghệ có Cục Năng lượng nguyên tử và Cục An toàn bức xạ vàhạt nhân. Cục Năng lượng nguyên tử có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng thực hiện</small>
quản lý nhà nước về các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển năng
<small>lượng nguyên tử trong khi Cục An toàn bức xa và hạt nhân có nhiệm vụ giúp</small>
Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh
<small>vực năng lượng ngun tử. Ngồi Bộ Khoa học và Cơng nghệ thì các Bộ, cơ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">an, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo sự phân cơng của Chính phủ. Ở các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (tỉnh), Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo phân cấp của Chính phủ. Sở Khoa học và Cơng nghệ là cơ quan giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử trong địa bàn
Như vậy, công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử do Bộ Khoa học và Công nghệ thường xuyên, trực tiếp thực hiện với sự kết hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan có thâm quyên tại địa phương. Các chủ thé thực hiện quản ly nhà nước về năng lượng nguyên tử trên cơ sở pháp luật và áp dụng nhiều phương thức quản lý khác nhau. Một trong các phương thức
<small>quản lý quan trọng là cơ quan quản lý nhà nước ban hành các văn bản quy</small>
phạm pháp luật dé cu thể hóa, chi tiết hóa luật về năng lượng nguyên tử, tạo cơ sở pháp ly để giải quyết các nội dung công việc thuộc thấm quyền của
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử là hoạt động quản lý nhà nước chuyên ngành. Ngồi những điểm chung giống như các loại hình quản
<small>lý khác như tính mệnh lệnh hành chính, sự áp đặt ý chí đơn phương, thì quản</small>
lý nhà nước về năng lượng nguyên tử có những đặc trưng sau:
a. Quản lý nhà nước về năng lượng ngun tử có tính kỹ thuật cao Đặc điểm này xuất phát từ tính kỹ thuật chuyên sâu của ứng dụng năng
<small>lượng nguyên tử và của các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh trong các ứng</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">chuyên ngành để làm cơ sở quản lý năng lượng nguyên tử. Các quy phạm pháp luật nay có thé là những nguyên tắc kỹ thuật hoặc cũng có thé là những
tiêu chí kỹ thuật cụ thê. Chắng hạn, như quy định về giới hạn liều bức xa tôi
đa đối với từng cá nhân, quy phạm về phân chia khu vực làm việc dựa trên mức liều bức xạ có khả năng xảy ra, quy trình, quy phạm về tiêu chuẩn thiết kế che chắn bức xạ tại các phòng đặt thiết bị X-quang, quy định về tiêu chuẩn đóng gói kiện hàng phóng xạ, quy trình, quy phạm về thiết kế nhà máy điện
<small>hạt nhân. 7 hai là cơ quan quản lý nhà nước phải sử dụng các cán bộ có</small>
kiến thức, năng lực kỹ thuật và các công cụ kỹ thuật chuyên ngành dé thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước như cấp phép, thanh tra, ứng phó sự cố, v.v.. Cụ thé, khi cấp phép cho một cơ sở y tế sử dụng nguồn bức xạ để khám chữa bệnh, cơ quan quan ly nhà nước phải sử dụng các máy đo bức xạ dé kiểm tra mức bức xạ ở bên ngồi phịng đặt nguồn bức xạ và xác nhận hoạt động của cơ sở không gây ra mức bức xạ quá giới hạn cho phép. Khi thâm định để cấp phép cho nhà máy điện hạt nhân, cơ quan quản lý nhà nước cần sử dụng các chương trình tính tốn của máy tính dé phân tích xác suất tai nan
<small>hạt nhân và qua đó đánh giá độ an toàn của nhà máy điện hạt nhân.</small>
<small>b. Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử ưu tiên hang dau mụctiêu đảm bảo an toàn và an ninh</small>
Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử có hai mục tiêu căn bản là thúc đây các ứng dụng năng lượng nguyên tử để phục vụ phục vụ lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của tơ chức, cá nhân và bảo
<small>đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Trong hai mụctiêu này, thì mục tiêu bảo đảm an toàn, an ninh được cơ quan quản lý nhànước ưu tiên hơn.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">“Nhiều điều ước quốc tế, văn bản luật của các nước va ý kiến của các chuyên gia đã nhân mạnh rang an toàn là điều kiện tiên quyết cho việc ứng
<small>dụng năng lượng hạt nhân và ứng dụng bức xa ion hóa” [31, tr. 6]. Khi cáchoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử có hai mặt rủi ro và lợi ích thì</small>
“mục đích căn bản của mọi cơ chế quản lý là cân bằng rủi ro với lợi ích” [31, tr. 6] và “khi rủi ro được cho rằng lớn hơn lợi ích thì ưu tiên phải dành cho việc bao đảm an tồn, an ninh và bảo vệ mơi trường” [31, tr. 6]. Điều này thé hiện thành các nguyên tắc trong luật về năng lượng nguyên tử hoặc thê hiện qua các quyết định của cơ quan quản lý hành chính nhà nước như quyết định cấp giấy phép cho hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử hoặcquyết định đình chỉ hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử khi phát hiện sai sót về an tồn, an ninh hoặc phát hiện các yếu tố có thé dẫn tới tinh huống sự cố
<small>nghiêm trọng.</small>
<small>c. Hoạt động quản lý nhà nước về an toàn, an ninh trong lĩnh vựcnăng lượng nguyên tử có tính độc lập, khách quan</small>
<small>Vì an tồn, an ninh là mục tiêu được ưu tiên trong ứng dụng năng lượng</small>
nguyên tử nên các quyết định của chủ thể quản lý nhà nước về an toàn, an ninh cần phải được bảo đảm không bị ảnh hưởng bởi các cơ quan, tô chức, cá nhân tham gia vào hoạt động phát triển năng lượng nguyên tử, trong đó có cả các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử. Tính độc lập của hoạt động quản lý nhà nước về an tồn, an ninh có thê được đảm bảo nhờ vị trí độc lập của cơ quan trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn, an ninh trong ứng dụng năng lượng nguyên tử, điều kiện năng lực và quy trình cần thiết để ra quyết định hành chính đúng đắn về các van dé an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng
<small>lượng nguyên tử.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">1.1.3. Nội dung quản ly nhà nước về năng lượng nguyên tử
Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử có nhiều nội dung khác nhau nhưng cơ bản, có thé xếp vào các nội dung chính là: xây dựng, hồn thiện pháp luật về năng lượng nguyên tử; quy định thâm quyền quản lý của các cơ quan về năng lượng nguyên tử; tổ chức khai báo, cấp phép, cấp chứng chỉ, cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; kiểm tra, giám sát, thanh tra; phát hiện vi phạm, xử lý vi phạm; tong kết việc thực hiện quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử để rút ra những ưu điểm, khuyết điểm của hoạt động quản lý.
- Xây dựng pháp luật về năng lượng nguyên tử làm cơ sở pháp lý để
<small>quản lý năng lượng nguyên tử</small>
<small>Quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phải được thực</small>
hiện trên cơ sở pháp luật, trong khn khổ pháp luật. Vì vậy, việc xây dựng các văn bản pháp luật về năng lượng nguyên tử là hoạt động quan trọng, là
<small>tiên đê cho công tác quản lý nhà nước vé năng lượng nguyên tử</small>
Hoạt động xây dựng pháp luật về năng lượng nguyên tử là trách nhiệm thuộc về các cơ quản quản lý nhà nước có thâm quyền như Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, cơ quan ngang bộ liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và có sự tham gia của nhiều cơ quan nhà nước, tô chức xã hội và
<small>các cá nhân. Nội dung của công tác này được thực hiện thông qua các hoạt</small>
động như xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật mới; sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ những quy định pháp luật không hợp pháp hoặc không hợp lý để tạo ra một hệ thống văn bản pháp luật về năng lượng nguyên tử thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu quản lý nhà nước.
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Các quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử nằm trong nhiều van bản quy phạm pháp luật khác nhau, nhưng được ban hành dé điều chỉnh các vẫn đề sau:
+ Tham quyền quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử + Biện pháp phát trién ứng dụng năng lượng nguyên tử;
<small>+ Bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân;</small>
+ Bảo đảm an ninh các nguồn bức xạ, an ninh vật liệu hạt nhân, cơ sở hạt
+ Kiểm kê, kiểm soát vật liệu hạt nhân nhằm phịng chống phổ biến vũ
<small>khí hạt nhân;</small>
+ Thủ tục khai báo, cấp phép, cấp chứng chỉ, cấp chứng nhận đăng ký
<small>hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;</small>
+ Thanh tra, kiểm tra, vi phạm và xử lý vi phạm hành chính;
la Ứng phó sự cố, chuẩn bị ứng phó sự cơ và diễn tập và thực hiện ứng phó sự cơ bức xạ, hạt nhân.
- Quy định thẩm quyên của các cơ quan quan lý nhà nước về năng lượng
<small>nguyên tử</small>
Việc quy định thẩm quyền cho các cơ quan quan lý nhà nước về năng lượng nguyên tử phải đáp ứng một số yêu cầu cụ thé. Thứ nhất là quy định thâm quyền cho các cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử phải phù hợp với các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước, trong đó có ngun tac quan ly năng lượng nguyên tử theo ngành kết hop với quan lý theo địa phương. Quy định thâm quyền cho các cơ quan quan lý nhà nước về năng lượng nguyên tử phải phù hợp với điều kiện năng lực của các cơ quan quản lý
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><small>nhà nước, dam bảo rach roi, tránh chông chéo vê chức nang, nhiệm vụ giữacác cơ quan quản lý nhà nước vê năng lượng nguyên tử.</small>
- Tổ chức khai bdo, cấp phép, cấp chứng chi, cấp giấy chứng nhận đăng
<small>kỷ hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử</small>
Nội dung này bao gồm các hoạt động sau: tơ chức khai báo chất phóng xạ, chất thải phóng xạ, thiết bị bức xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân; tổ chức cấp phép cho các công việc bức xạ; tổ chức cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ; tổ chức cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Tổ chức khai báo chất phóng xạ là việc cơ quan quản lý nhà nước đặt ra yêu cầu các tổ chức, cá nhân có chất phóng xạ, chất thải phóng xạ, thiết bị
bức xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân phải
khai báo với co quan quản lý nhà nước có tham quyền va cơ quan quản lý nhà
nước quy định các thủ tục dé thực hiện việc khai báo này. Chất phóng xạ, chất thải phóng xạ, thiết bị bức xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và
thiết bị hạt nhân là những thứ có thể gây nguy hại đến sức khỏe của con người, môi trường nếu không được quản lý hợp pháp, đúng đắn, nên việc khai báo của tô chức, cá nhân là hết sức cần thiết dé cơ quan quản lý nhà nước có được thơng tin từ đó, áp dụng các biện quản lý nhà nước nhằm đảm bảo an
<small>tồn, an ninh đơi với chât phóng xạ.</small>
<small>Những ảnh hưởng, rủi ro cho sức khỏe của con người, mơi trường khơng</small>
chỉ do chất phóng xạ, chất thải phóng xạ, thiết bị bức xạ, vật liệu hạt nhân
nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân gây ra mà cịn do các tơ chức, cá nhân tiễn hành hoạt động quản lý, sử dụng, vận chuyền, thao tác đối với các
đối tượng này. Những hoạt động như vậy được gọi là công việc bức xạ trong pháp luật về năng lượng ngun tử. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý nhà
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">nước về năng lượng nguyên tử của Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới quy định răng không một tô chức, cá nhân nào được tiễn hành công việc bức xạ khi chưa có giấy phép của cơ quan quản ly nhà nước có thầm quyên. Tổ chức cấp giấy phép cho công việc bức xạ trên thực tế được thực hiện thông qua thủ tục cấp phép do cơ quan quản lý nhà nước quy định, trong đó, tơ chức, cá nhân có ý định, kế hoạch tiến hành cơng việc bức xạ phải trình cơ quan quản lý nhà nước có thâm quyền hồ sơ dé nghị cấp giấy phép tiễn hành công việc bức xạ và cơ quan quan ly nhà nước có thẩm quyền xem xét, thâm định các điều kiện đảm bảo an toàn, an tồn trong cơng việc bức xạ, ra quyết định cap hoặc không cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ cho tổ chức, cá nhân. Nhờ thủ tục cấp phép này mà cơ quan quản lý nhà nước nắm được công việc bức xạ của tổ chức, cá nhân, thâm định các điều kiện về năng lực, tài chính, cơ sở vật chất của tô chức, cá nhân xem có đủ dé đảm bảo an tồn, an ninh hay khơng, và nếu tơ chức, cá nhân có đủ điều kiện thì cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy phép tiễn hành công việc bức xa theo quy định pháp luật.
Ngồi chất phóng xạ, chất thải phóng xạ, thiết bị bức xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân và công việc bức xạ thì nhân
viên làm việc trực tiếp với chất phóng xạ, thiết bị bức xạ, cũng là yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến an toàn, an ninh trong ứng dụng năng lượng nguyên tử. Do đó, nhà nước quản ly bang cách đặt ra quy định kiểm soát đối với một số vị trí cơng việc có ý nghĩa trong việc đảm bảo an tồn (như vị trí phụ trách
<small>an tồn bức xạ, trưởng ca lị phản ứng hạt nhân, người quản lý nhiên liệu hạtnhân v.v.). Cá nhân khơng được đảm nhận những vi trí cơng việc này khi</small>
chưa có chứng chỉ nhân viên bức xạ do cơ quan quan lý nhà nước có thắm
<small>quyên câp.</small>
Bên cạnh hoạt động tô chức khai báo, cấp giấy phép tiễn hành công việc bức xạ, cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ thi cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">động dich vụ hỗ trợ ứng dung năng lượng nguyên tử cho các tổ chức và cấp chứng chỉ hành nghề cho các cá nhân cũng là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử. Các dịch vụ cần phải có giấy chứng nhận đăng ký là dịch vụ đào tạo nhân viên bức xạ; dịch vụ lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân; dịch vụ đo liều chiếu xạ cá nhân, đánh giá hoạt độ phóng xạ; dịch vụ tây xạ (làm sạch bề mặt bị nhiễm ban phóng xa) va một số dịch vụ khác. Mục đích của hoạt động tơ chức cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử là đảm bảo chất lượng của các dịch vụ này và qua đó, góp phần gián tiếp đảm bảo an tồn, an ninh trong ứng dụng năng lượng nguyên tử.
- Kiểm tra, thanh tra trong lĩnh vực quản lý năng lượng nguyên tử
Kiểm tra, thanh tra là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước nói
<small>chung và quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử nói riêng.</small>
Kiểm tra trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp trên với cấp dưới, cơ quan quản lý ngành và người có thâm quyền về năng lượng nguyên tử nhằm đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ về năng lượng nguyên tử của đối tượng kiểm tra, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử, những thiếu sót trong hoạt động của các cơ quan, tơ chức, cá nhân, qua đó áp dụng những biện pháp xử lý, khắc phục những thiếu sót nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử. Thanh tra trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hoạt động thanh tra chuyên ngành do cơ quan nhà nước có thâm quyền về năng lượng nguyên tử tiến hành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về năng lượng nguyên tử.
Mặc dù kiểm tra và thanh tra là hai hoạt động không đồng nhất, tuy
<small>nhiên vai trị và mục đích giơng nhau. Kiêm tra và thanh tra đêu được chủ thê</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">có thâm quyền tiến hành phat hiện, phân tích đánh giá một cách chính xác, khách quan, trung thực, làm rõ đúng, sai, nguyên nhân dẫn đến sai phạm, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục và xử lý sai phạm. Cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử thông qua kiểm tra, thanh tra để phát huy những nhân tố tích cực, phát hiện hoặc phịng ngừa những vi phạm, góp phan thúc đây và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, từ đó tạo điều kiện để từng bước hoàn thiện thể chế quản lý nhà
<small>nước về năng lượng nguyên tử, bảo vệ lợi ích Nhà nước, tô chức và công dân.- Phat hiện vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực năng lượng nguyên tử</small>
<small>VỊ phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hành vi do</small>
cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật quản ly nhà nước về năng lượng nguyên tử mà không phải là tội phạm và theo quy định của
<small>pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Vi phạm hành chính trong lĩnh</small>
vực năng lượng nguyên tử gây mat 6n định, trật tự quản lý hành chính về năng lượng nguyên tử, cụ thể là xâm hại đến an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử hoặc xâm hại kế hoạch, nhiệm vụ phát triển năng lượng ngun tử vì mục đích hịa bình. Chính vì thế, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thơng qua các hoạt động giảm sat, kiểm tra, thanh tra để một mặt
<small>phòng ngừa, một mặt phát hiện các vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng</small>
lượng nguyên tử và tiến hành xử ly kip thời.
<small>Hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên</small>
tử cũng như hoạt động kiểm tra, thanh tra trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, đều có vai trò phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử nhờ tính cưỡng chế, rin đe. Bên cạnh đó, hoạt động xử
<small>lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử cịn có vai trị</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><small>ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực năng lượng</small>
nguyên tử do chấn chỉnh trực tiếp hành vi vi phạm pháp luật đang xảy ra theo hướng chấm dứt hành vi đó, bao gồm việc quyết định xử phạt, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với cá
<small>nhân vi phạm.</small>
- Tổng kết việc thực hiện quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, rút ra những uu điểm, bat cập về hoạt động quản lý
Một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử là tổng kết việc thực hiện quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, rút ra những thành công, hạn chế, đánh giá nguyên nhân của hạn chế và đề xuất biện pháp khắc phục.
Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử tại Việt Nam là một ngành quản lý còn khá mới và thực sự chưa có nhiều kinh nghiệm. Chính vì vậy mà những hạn chế trong quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử là không tránh khỏi. Việc nhận biết những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân của hạn chế trong quản lý nhà nước về năng lượng ngun tử sẽ có vai trị tích cực trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Đề có được những thơng tin đó, cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử cần tổ chức tổng kết, đánh giá hoạt động của mình. Hoạt động tổng kết, đánh giá đó cần được tiễn hành định kỳ, một cách khách quan và tồn diện.
1.2. Vai trị của quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử
1.2.1. Thúc day ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Ứng dụng năng lượng nguyên tử bao gồm ứng dụng năng lượng bức xạ, ứng dụng năng lượng hạt nhân và cả hai loại ứng dụng này đều mang lại lợi
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">ich to lớn cho con người, xã hội. Trong công nghiệp, các nguồn bức xa được sử dụng trong điều khiến tự động quá trình sản xuất tại các nhà máy xi măng, nhà máy thép, nhà máy giấy, nhà máy bia v.v.; kiểm tra chất lượng vật liệu, mối han bằng phương pháp khơng phá huỷ tai các nhà máy đóng tau, các cơng trình xây dựng: thăm dị khai thác dầu khí, khống sản; chiếu xạ cơng nghiệp nhằm khử trùng và biến tính vật liệu; góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Trong nơng nghiệp, bức xa được ứng dụng dé tạo giống cây trồng, chế tạo các chế phẩm kích thích tăng trưởng và bảo vệ thực vật, sản xuất phân vi sinh, phân bón, quản lý đất, nước và nghiên cứu bệnh học gia súc. Một số giống cây trồng có giá trị kinh tế, đặc biệt là các giống lúa năng suất, chất lượng cao, thích ứng với các mơi trường sinh thái khác nhau đã được tạo ra bằng đột biến phóng xạ. Trong y tế, bức xạ được áp dụng rộng rãi trong chân đốn và điều trị bệnh, góp phần tích cực trong việc chăm lo sức khoẻ cộng đồng. Đây là một trong những kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay được áp dụng dé chân đoán, điều trị các bệnh nan y như ung thư, tim mạch mà các kỹ thuật khác không thé thay thé được. Trong ứng dụng năng
<small>lượng hạt nhân, vật liệu hạt nhân được sử dụng trong các nhà máy điện hạt</small>
nhân để sản xuất điện năng hoặc được sử dụng trong phương tiện vận chuyên,
đặc biệt là tàu ngầm, để tạo lực đây cho các phương tiện này. Như vậy, các
lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như công nghiệp, thăm dị khai thác dầu khí, nơng nghiệp, y học đều cần đến hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử dé thúc day các lĩnh vực này phát triển phục vụ đời sống con
Hoạt động ứng dung năng lượng nguyên tử chi có thé phát triển va dat
<small>hiệu quả khi có sự quản lý của nhà nước. Thơng qua các phương thức quản lý</small>
cụ thể, nhà nước bảo đảm cho các tơ chức, cá nhân tham gia tích cực vào hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử, qua đó huy động nguồn lực của xã hội
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">dé thực hiện ứng dụng năng lượng nguyên tử phat triển đúng định hướng của nhà nước. Vai trò của nhà nước đối với việc thúc đầy hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử thê hiên qua các hoạt động sau:
- Nhà nước tiễn hành điều tra, phân tích dé đánh giá nhu cầu của xã hội đối với ứng dụng năng lượng nguyên tử. Nhu cầu đó thường đo được qua nhu cầu khám, chữa các bệnh mà cần đến kỹ thuật bức xạ, hạt nhân; nhu cầu sử dụng điện năng: nhu cầu kiểm soát chất lượng hàng hóa, sản phẩm bằng các kỹ thuật bức xạ, hạt nhân; nhu cầu tạo giống mới băng kỹ thuật bức xạ, hạt nhân; v.v.. Từ các nhu cầu thực tế của xã hội mà Nhà nước có quy hoạch phát triển, thúc day ứng dụng năng lượng nguyên tử trong từng lĩnh vực kinh tế -xã hội và các tô chức, cá nhân xác định được cơ hội dé đầu tư ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các ngành, nghề cụ thé.
- Nhà nước tô chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực tham gia ứng dụng năng lượng nguyên tử vì nhân lực là một trong những yếu tơ then chốt quyết độ trình độ phát triển và sự thành cơng của chương trình ứng dụng năng lượng nguyên tử của mỗi quốc gia. Nhà nước quản lý thống nhất các
loại hình trường, lớp, SỐ lượng, chất lượng đào tạo về năng lượng nguyên tử;
ưu đãi, hỗ trợ cho sinh viên học các chuyên ngành liên quan đến ứng dụng năng lượng nguyên tử; tuyên chọn và gửi đi đào tạo, bồi dưỡng học sinh, sinh
<small>viên tới những nước có trình độ cao trong ứng dụng năng lượng nguyên tử.</small>
- Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ ứng dụng năng
<small>lượng nguyên tử như xây dựng các phòng nghiên cứu ứng dụng năng lượng</small>
nguyên tử, xây dựng kho để tiếp nhận các nguồn phóng xạ đã qua sử dụng hoặc chất thải phóng xạ, xây dựng các phịng chuẩn liều bức xạ, các trung tâm
<small>đọc liêu bức xạ.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>1.2.2. Đảm bảo an toàn, an ninh trong ứng dụng năng lượng nguyên tử</small>
Nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu các ảnh hưởng bat lợi của năng lượng nguyên tử, nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về
<small>bảo đảm an toàn, an ninh trong ứng dụng năng lượng nguyên tử. Các văn bản</small>
quy phạm pháp luật cần quy định cụ thé các yêu cầu, biện pháp bảo đảm an
<small>toàn, an ninh trong ứng dụng năng lượng nguyên tử và trách nhiệm của cácbên liên quan trong bảo đảm an toàn, an ninh trong ứng dụng năng lượng</small>
nguyên tử. Để bảo đảm thực hiện các quy định pháp luật này, các cơ quan quản ly nhà nước cần tô chức tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện và tô chức giám sát, kiểm tra, thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện hoặc ngăn chặn các
<small>hành vi vi phạm.</small>
1.2.3. Phòng ngừa, ngăn chặn hành vi chuyển hướng sử dụng vật liệu
<small>hạt nhân từ mục đích hịa bình sang mục đích khơng hịa bình</small>
Vật liệu hạt nhân bao gồm các đồng vi của urani, thori và plutoni, có kha năng duy trì phản ứng hạt nhân dây chuyền và tao ra năng lượng lớn gọi là năng lượng phân hạch. Vật liệu hạt nhân thường được sử dụng để tạo năng
<small>lượng trong các cơ sở hạt nhân (nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân</small>
nghiên cứu, tàu ngầm hạt nhân, v.v.). Ngoài ra, vật liệu hạt nhân cũng có thể được sử dụng dé tạo ra vũ khí hạt nhân (bom nguyên tử).
Đề đảm bảo vật liệu hạt nhân chỉ sử dụng cho các mục đích đã được cơ quan quản lý nha nước cho phép thì co quan quan ly nhà nước tơ chức thực hiện các biện pháp hành chính và kỹ thuật để kiểm soát một cách thường xuyên, chặt chẽ đối với các hoạt động sử dụng vật liệu hạt nhân. Cũng thơng qua việc kiểm sốt này, cơ quan quản lý nhà nước có thê kịp thời phát hiện những dấu hiệu, hành vi thay đổi mục đích sử dụng vật liệu hạt nhân và có thể ngăn chặn, trấn áp kịp thời.
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">1.2.4. Bảo vệ các cá nhân khỏi ảnh hưởng bắt lợi của bức xạ tự nhiên Bức xạ tự nhiên là bức xạ sinh ra từ đồng vị phóng xạ tồn tại trong tự nhiên như đồng vị phóng xạ trong vỏ trái đất, trong nước biển hoặc trong vật liệu xây dựng. Tại một vi trí nhất định thì tùy thuộc vào loại đồng vị phóng xạ, mức độ tập trung đồng vị phóng xạ mà mức bức xạ tự nhiên, hay cịn được
<small>gọi là phơng bức xạ tự nhiên, có giá trị khác nhau. Thơng thường, mức bức xạ</small>
tự nhiên có giá trị thấp và xác suất, mức độ gây ảnh hưởng cho con người là không đáng kể. Tuy nhiên, mức bức xạ tự nhiên có thé cao một cách bất thường ở một số nơi trên trái đất, đặc biệt trong các hầm mỏ, bãi khai thác quặng, trong các tịa nhà kín có vật liệu xây dựng chứa nhiều đồng vị phóng xạ tự nhiên và có thể ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe của người dân sinh sống, làm việc tại những vi trí đó. Nhằm kip thời bảo vệ người dân, cơ quan quan ly nhà nước cần phải tơ chức tìm kiếm, phát hiện những vị trí có mức
<small>bức xa tự xạ tự nhiên cao và thực hiện các biện pháp can thiệp kip thời, trong</small>
đó có hoạt động di dân, buộc các tơ chức, cá nhân liên quan áp dụng các biện pháp bảo vệ như làm thơng thống nơi có mức bức xạ tự nhiên cao để giảm
mức bức xạ tự nhiên, hoặc trang bị cho các cá nhân quần, áo, mũ, ủng, găng tay, khẩu trang bảo hộ dé hạn chế chiếu xạ tự nhiên lên cơ thé.
1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử
Nguyên tắc quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử là những tư tưởng chủ đạo định hướng cho hoạt động quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử. Ngoài các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử còn tuân theo các nguyên tắc riêng, tạo thành sự khác biệt của quản lý nhà nước về năng lượng nguyên
<small>tử so với quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">1.3.1. Nguyên tac bảo đảm an tồn, an ninh trong qua trình nghiên
<small>cứu, ứng dụng nang lượng nguyên tử</small>
Nghiên cứu và ứng dụng năng lượng nguyên tử vào đời sống là một trong những hoạt động góp phần thúc đây phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này tiềm an nguy cơ gây mất an toàn đối với con người và môi trường. Do vậy quản lý nhà nước là hết sức quan trọng nhằm bảo đảm an toàn và an ninh, tránh những anh hưởng xấu của nguồn năng lượng này đối với
<small>môi trường, sức khỏe của con người</small>
<small>Bảo đảm an toàn trong nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử</small>
được thê hiện thành các nguyên tắc phụ là nguyên tắc phòng ngừa và nguyên tắc bảo vệ. Theo nguyên tắc phòng ngừa, cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử phải tính đến các kịch bản trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng năng lượng ngun tử có thé gây mat an tồn đối với con người, môi trường và buộc tổ chức, cá nhân phải có biện pháp ngăn ngừa tác động có hại trong những kịch bản như vậy. Theo nguyên tắc bảo vệ, ngay khi phát hiện ra
<small>rủi ro gây hại lớn hơn những lợi ích mang lại từ hoạt động nghiên cứu, ứngdụng năng lượng nguyên tử thì cơ quan quản lý nhà nước phải có hành động</small>
ưu tiên cho việc bảo vệ con người và môi trường, kế cả quyết định tạm dừng
<small>hoặc đình chỉ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử.</small>
<small>Trong khi bảo đảm an toàn trong nghiên cứu, ứng dụng năng lượng</small>
nguyên tử nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác hại bất lợi có thể xảy ra
<small>trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử thì bảo đảm an</small>
ninh trong nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử là nhằm duy trì nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân, cơ sở hạt nhân dưới sự quản lý của tô chức, cá nhân cụ thể để phục vụ mục đích cụ thể hợp pháp mà đã được cơ quan quản
<small>lý nhà nước có thâm quyên cho phép. Bảo đảm an ninh nhăm ngăn chặn việc</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân bị sử dụng cho các mục đích khơng hịa bình phi pháp như chế tạo vũ khí hạt nhân hoặc bom phóng xạ. Ngồi ra, bảo đảm an ninh cũng ngăn ngừa, giảm thiểu khả năng nguồn phóng xạ bị lấy trộm, lấy cắp, bỏ rơi và có thé gây ton thương thé chất đối với những người thiếu hiểu biết về bức xạ, nguồn phóng xạ khi tới gần hoặc tiếp xúc nguồn
<small>phóng xạ đó.</small>
Nguyên tắc bảo đảm an tồn, an ninh trong q trình nghiên cứu, ứng dung năng lượng nguyên tử được thé hiện tại Điều 6 Luật Năng lượng nguyên tử (Nguyên tắc hoạt động và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng
<small>lượng nguyên tử) theo đó, “hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tửphải bảo đảm an toàn cho sức khỏe, tính mạng con người, mơi trường và trật</small>
tự, an toàn xã hội” [19]. Ngoài ra, nguyên tắc bảo đảm an tồn, an ninh cịn được thê hiện xun suốt qua các văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử. Trong hệ thống pháp luật về năng lượng nguyên tử của Việt Nam cũng như của các nước, số lượng các quy định pháp luật về bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân, cơ sở hạt nhân lớn hơn rất nhiều so với số lượng các quy định nhằm thúc đây phát triển
<small>nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử.</small>
1.3.2. Nguyên tắc kiểm tra, giám sát liên tục hoạt động nghiên cứu,
<small>ứng dụng năng lượng nguyên tử</small>
Hoạt động quản lý nhà nước về năng lượng ngun tử có tính chất phịng ngừa và ngăn chặn kịp thời những tình huống gây mất an tồn, an ninh trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng ngun tử. Với tính chất như vậy thì cơ quan quản ly nhà nước can tiễn hành kiểm tra và giám sát liên tục các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử dé bao đảm các hoạt
<small>động đó được được tiên hành một cách an tồn và an ninh.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Nguyên tắc nay được thé hiện qua việc cơ quan quản lý nhà nước có thâm quyền yêu cầu các tô chức, cá nhân tiến hành nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử báo cáo về tình hình bảo đảm an tồn, an ninh và việc cơ quan quản lý nhà nước có quyền thanh tra, kiểm tra các cơ sở có hoạt động
<small>nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử.</small>
1.3.3. Nguyên tắc hợp tác quốc tế, đảm bảo tuân thủ các cam kết
<small>quôc tê về năng lượng nguyên tử</small>
<small>Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử ở nước ta là một</small>
chuyên ngành mới, vì vậy cần phải có sự hợp tác, liên kết quốc tế. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để thúc đây ứng dụng năng lượng nguyên tử, đóng góp vào việc phát triển kinh tế đất nước. Ứng dụng năng lượng nguyên tử đòi hỏi phải có sự đầu tư về vốn, tri thức và công nghệ tiên tiễn. Với những nước dang phát triển và chưa có lịch sử lâu dài ứng dụng năng lượng nguyên tử thì hội nhập quốc tế sẽ là phương án hữu hiệu dé tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ thuật cũng như tranh thủ được sự hỗ trợ về đào tạo
<small>nhân lực.</small>
Thực tế cho thấy, khả năng gây tác động xuyên biên giới do các sự cố
<small>trong nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử đòi hỏi cơ quan quản lý có</small>
thâm quyền của các nước phải hài hịa các chính sách và phát triển các chương trình hợp tác dé giảm thiểu nguy cơ gây thiệt hại lên cơng dân và lãnh thổ của mình. Ngồi ra, các bài học kinh nghiệm về nâng cao an toàn trong nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử tại một quốc gia hồn tồn có thể
<small>giúp cải thiện tình hình bao đảm an tồn trong nghiên cứu, ứng dụng năng</small>
lượng nguyên tử tại các quốc gia khác. Do đó, việc học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau giữa các nước về bảo đảm an toàn trong nghiên cứu, ứng dụng năng
<small>lượng nguyên tử là hêt sức cân thiệt và cân được đây mạnh.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Quá trình sử dụng vật liệu hạt nhân liên quan đến rủi ro mất an ninh ở nhiều quốc gia. “Các mối đe dọa về hành động khủng bố và buôn bán trái phép vật liệu hạt nhân, phố biến vũ khí hạt nhân từ lâu đã được thừa nhận như là một van đề địi hỏi có sự hợp tác quốc tế ở mức cao dé giải quyết” [31, tr. 10].
Các quốc gia đều có chung nhận thức về lợi ích to lớn của năng lượng nguyên tử đem lại đồng thời với những rủi ro kèm theo. Chính vì vậy, rất nhiều các điều ước quốc tế đã được ký kết để pháp điển hóa nghĩa vụ của các quốc gia trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử như Hiệp ước không phổ biến
<small>vũ khí hạt nhân, Cơng ước An tồn hạt nhân, Công ước Thông báo sớm tai</small>
nạn hạt nhân, Công ước trợ giúp trong trường hợp tai nạn hạt nhân hoặc sự có phóng xạ. Khi một quốc gia đã trở thành thành viên của một điều ước quốc tế thì khơng chỉ chính phủ phải tận tâm thực hiện điều ước này mà ngay cả các nhà làm luật, các cơ quan quan ly nha nước các cấp cũng phải lưu ý hạn chế sự tự định đoạt của mình trong việc xây dựng các quy định pháp luật về năng lượng nguyên tử nhằm đảm bảo không trái với điều ước quốc tế. Tại Việt Nam, yêu cầu này không chỉ được thể hiện trong Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế mà còn được thể hiện trong Luật Năng lượng nguyên tử tại Điều 4: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
<small>hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật</small>
này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” [19].
1.3.4. Nguyên tắc đảm bảo bồi thường thiệt hại do sự có bức xạ, hạt
<small>nhân xảy ra trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử</small>
Bồi thường thiệt hại do sự cố thường được coi là một chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật dân sự. Tuy nhiên, bồi thường thiệt hai do sự cơ bức xạ, hạt nhân gây ra có những điểm rất khác biệt so với các
<small>loại bôi thường thiệt hại khác nên cân có sự quản lý đặc biệt của nhà nước.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">Thứ nhất, anh hưởng do bức xa ion hóa lên các tế bào sống, đặc biệt là tế
bào của cơ thể người, thường không nhận biết được ngay mà có thể mất một
thời gian dài mới phát hiện thấy. Hơn nữa, việc xác nhận một tôn thương, một <small>căn bệnh, như bệnh ung thư, có phải do ảnh hưởng cua bức xạ ion hóa hay</small>
khơng thực sự khó khăn và khơng có độ chính xác tuyệt đối vì biểu hiện tổn thương hay bệnh tật do tác động của bức xạ lên cơ thể con người nhiều khi có
<small>tính xác st và cũng có thê do các nguyên nhân không phải bức xạ gây ra.</small>
<small>Thứ hai là ngay cả khi hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng</small>
nguyên tử đã đạt được tiêu chuẩn an tồn cao nhất thì cũng khơng loại trừ khả
<small>năng xảy ra sự cô bức xạ, hạt nhân.</small>
Thứ ba là những sự cố bức xa, hạt nhân có thé gây ra những thiệt hại rất lớn về người, tài sản, mơi trường và thiệt hại có thể có trên diện rộng. Trong những trường hợp đó, nếu khơng có sự quản lý, bảo đảm của nhà nước thì việc bồi thường sẽ không khả thi.
Nguyên tắc đảm bảo bồi thường thiệt hại do sự cô bức xạ, hạt nhân gây ra nhăm bảo vệ quyên và lợi ích chính đáng của những cá nhân chịu thiệt hai từ sự cố bức xạ, hạt nhân và đồng thời nâng cao trách nhiệm bảo đảm an toàn của tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Nguyên tắc này được thé hiện qua các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại bức xạ, hạt nhân, trong đó có quy định về trách nhiệm của tô chức, cá nhân tiễn hành công việc bức xạ phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường.
1.3.5. Nguyên tắc công khai, minh bạch trong việc nghiên cứu, ứng
<small>dụng năng lượng nguyên tử</small>
<small>Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử là hoạt động khá</small>
nhạy cảm vì có tính hai mặt đối lập là có khả năng mang lợi ích cho phát triển
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">kinh tế - xã hội và rủi ro gây mất an toàn, an ninh đối với con người, xã hội. Đề đảm bảo các chương trình nghiên cứu, ứng dụng năng lượng ngun tử vì mục đích hịa bình được thực hiện thành cơng và phát triển bền vững thì nhà nước cần tạo được niềm tin và sự ủng hộ của công chúng trong nước cũng như cộng đồng quốc tế thông qua việc thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng ngun tử. Ngun tắc này địi hỏi các tơ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử, các cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử cung cấp đầy đủ, công khai, minh bạch thơng tin về tình hình nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử, những lợi ích và rủi ro có thé có, và những sự cố có
<small>thê tác động đên sức khỏe con người, môi trường.</small>
1.3.6. Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử được thực hiện thống
<small>nhât, có sự phân cơng, phân câp và phơi hợp giữa các cơ quan nhà nước</small>
Nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử. Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và Bộ Khoa học
<small>và Cơng nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản ly nhà nướctrong lĩnh vực này. Các Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nướctrong lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo phân công của Chính phủ và các</small>
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phó trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo sự phân cấp của chính phủ.
Sự phân cơng, phân cấp của Chính phủ cho các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương phải bảo đảm sự hợp lý, tạo ra cơ chế quản lý nhịp nhàng, đồng bộ, có hiệu quả cao trong hoạt động quản lý nhà nước về
<small>năng lượng nguyên tử.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">CHƯƠNG 2.
2.1. Các quy định pháp luật phục vụ quản lý nhà nước về năng
<small>lượng nguyên tử</small>
2.1.1. Từ năm 1994 đến năm 2008
Trong bối cảnh đất nước thực hiện công cuộc đôi mới và chuẩn bị bước vào thời kỳ đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơng tác quản lý an toàn
<small>bức xạ và hạt nhân đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm trên quan</small>
điểm đảm bảo sự phát triển bền vững, đảm bảo an toàn cho con người và môi trường khi triển khai áp dụng các kỹ thuật bức xạ, hạt nhân. Ngày 30 tháng 7 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 389/TTg về việc thành
<small>lập Ban An toàn bức xạ và hạt nhân thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môitrường, giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện</small>
chức năng quản lý Nhà nước về an tồn bức xạ và hạt nhân. Sau đó, ngày 4
<small>tháng 3 năm 1995, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ký</small>
Quyết định số 159/QD-TCCB ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của
<small>Ban An toàn hạt nhân, tạo cơ sở cho sự ra đời và hoạt động thực sự của Ban</small>
này. Đây là những văn bản pháp lý đầu tiên của Việt Nam quy định trực tiếp về van dé quản ly nhà nước về năng lượng nguyên tử, cụ thé là xác định cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp, thường xuyên thi hành các nhiệm vụ dé
<small>thực hiện chức năng quản lý nhà nước vé an toàn bức xa và hạt nhân. Ngoài</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>các van bản nay ra, cho dén năm 1996, hoạt động quan ly nha nước vê nănglượng nguyên tử chủ yêu dựa vào các tiêu chuan kỹ thuật về an tồn bức xa.</small>
Dé luật hóa các quy tắc về đảm bảo an toàn trong ứng dụng năng lượng nguyên tử và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, ngày 25 tháng 6 năm 1996, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thơng qua Pháp lệnh An tồn và kiểm sốt bức xạ (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 1 năm 1997). Pháp lệnh là văn bản pháp luật đầu tiên xác định các nguyên tắc, yêu cầu về bảo đảm an toàn bức xạ trong các hoạt động liên quan đến bức xạ ion hóa; cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử; trách nhiệm của các bên liên quan trong đảm bảo an toàn bức xạ; và các hoạt động khai báo, cấp phép, thanh tra chun ngành về an tồn và kiểm sốt bức xạ. Về cơ quan quản lý nhà nước, Pháp lệnh quy định “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an tồn và kiểm sốt bức xạ trong phạm vi cả nước” [29], “Bộ Khoa học, Công
<small>nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước</small>
về an tồn và kiểm sốt bức xạ” [29] và “các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý nhà nước về an tồn và kiểm sốt bức xạ” [29]. Hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh An tồn và kiểm sốt bức xạ, các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành thêm một số các văn bản quy phạm pháp luật khác như Nghị định số 50/1998/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 1998 quy định chỉ tiết việc thi hành Pháp lệnh An tồn và kiểm sốt bức xạ, Nghị định số 19/2001/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an tồn và kiểm sốt bức xạ, và các Thơng tư, Quyết định của các Bộ trưởng, chủ yếu là Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Đến năm 2008, mặc dù số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử không nhiều nhưng đã quy định khá cụ thể
<small>nhiêu vân đê trong quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, bao gôm: bảo</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">đảm an toàn bức xạ trong các hoạt động liên quan đến bức xạ; bảo đảm an ninh nguồn phóng xạ; khai báo nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ và cấp phép cho các hoạt động liên quan đến bức xạ; thanh tra chuyên ngành an tồn bức xạ và xử lý vi phạm hành chính; ứng phó sự cơ bức xạ. Sự hình thành hệ thống pháp luật về năng lượng nguyên tử trong giai đoạn này đã tạo sơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử, thúc day hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử đồng thời đảm bảo an toàn và an ninh trong các hoạt động đó.
Bên cạnh ưu điểm như trên thì Pháp lệnh An tồn và kiểm sốt bức xạ và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bộc lộ một số hạn chế như sau:
- Phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật chưa bao quát được hết các nội dung cần quản lý trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Các văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử mới chỉ quy định về an tồn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ và rõ ràng bỏ trống các khía cạnh phát triển ứng dụng
<small>năng lượng nguyên tử, an toàn và an ninh trong ứng dụng hạt nhân, thanh sát</small>
hạt nhân nhằm phòng ngừa, chuyên hướng mục đích sử dụng hịa bình vật
<small>liệu hạt nhân.</small>
- Chua có day đủ các quy định pháp luật cụ thé về các yêu cau, thủ tục, biện pháp bảo đảm an toàn trong ứng dụng năng lượng như giới hạn liều bức xạ chiếu lên các bộ phận trên cơ thê người; thiết kế che chắn bức xạ tại các cơ sở tiễn hành công việc bức xạ; thủ tục thanh lý các nguồn phóng xạ, các thiết bị bức xạ; quản lý chất thải phóng xạ; ứng phó sự cô bức xạ; v.v..
- Thủ tục cấp giấy phép được áp dụng như nhau cho các nguồn bức xạ không phân biệt mức độ nguy hiểm cao, thấp nên đơi lúc gây khó khăn q
<small>mức cho các cơ sở bức xạ có ngn phóng xạ với mức độ nguy hiêm thâp.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">2.1.2. Từ năm 2009 đến 2014
Để giải quyết những bất cập của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử được hình thành cho đến năm 2008, ngày 03 tháng 6 năm 2008, Quốc hội đã thông qua Luật Năng lượng nguyên tử thay thế cho Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ. Luật Năng lượng nguyên tử có hiệu
<small>lực thi hành từ ngày 01 thang 1 năm 2009.</small>
<small>Sau khi Luật Năng lượng nguyên tử được thông qua, Chính phủ và các</small>
Bộ đã tổ chức soạn thảo và ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thực
<small>hiện Luật Năng lượng nguyên tử. Các văn bản quy phạm pháp luật do Chính</small>
phủ ban hành bao gồm Nghị định số 07/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử, Nghị định số 70/2010/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử về Nhà máy điện hạt nhân và Nghị định số 107/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Ở cấp Bộ, nhiều Thông tư về năng lượng nguyên tử đã được ban hành. Riêng Bộ Khoa học và Công nghệ, từ năm 2009 đến năm 2014, đã ban hành gần 30 Thông tư quy
<small>định các vân đê liên quan đên năng lượng nguyên tử.</small>
Nhìn chung, các quy định pháp luật về năng lượng nguyên tử từng bước thé chế các đường lối, chính sách của Đảng về phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử, đảm bảo tính hợp hiến, phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và đảm bảo an toàn, an ninh
<small>trong ứng dụng năng lượng nguyên tử.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">2.2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử 2.2.1. Quản lý nhà nước về các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng bức xạ và các hoạt động liên quan đến nguồn phóng xạ
<small>Quản lý của nhà nước trên lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng năng lượng</small>
nguyên tử trong thực tiễn những năm qua đạt được những kết quả khả quan và được thể hiện trên những bình diện sau:
- Thúc đây sự phát triển của ứng dụng bức xạ trong các lĩnh vực kinh tế
<small>- xã hội</small>
Trong lĩnh vực y tế, năng lượng bức xạ ngày càng được ứng dụng rộng
<small>rãi trong các chuyên ngành y học hạt nhân, xa tri và điện quang tại Việt Nam,</small>
góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm số ngày nằm viện, đặc biệt giảm đáng kê chi phí điều trị do khơng phải ra nước ngoài trong một số bệnh như ung thư, tim mạch. Về y học hạt nhân, cả nước hiện nay có khoảng 20 cơ sở y học hạt nhân với các “kỹ thuật xạ hình SPECT và PET/CT được phát triển nhanh chóng, an tồn và phục vụ tốt cho chân đoán một số bệnh lý mới về
<small>ung thư, tim mạch, nội ngoại khoa và nhi khoa” [1, tr. 17], “qua đó đã nang</small>
cao được chất lượng khám chữa bệnh, giá trị khoa học, lợi ích xã hội và đào tạo cán bộ chuyên môn” [1, tr. 17]. “Về xạ trị, hiện cả nước có 23 cơ sở xạ trị, 4 bệnh viện chuyên khoa ung bướu, trong đó có 3 cơ sở lớn điều trị ung thư có các thiết bị xạ trị hiện đại là Bệnh viện K, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Ung bướu ở TP Hồ Chí Minh” [17]. Cơng nghệ và kỹ thuật xạ phẫu bằng dao gamma quay cho một số loại u não và bệnh lý sọ não đã được triển khai, áp dụng thành công và Trung
<small>tâm Y học hạt nhân và ung bướu thuộc Bệnh viện Bạch Mai đã trở thành cơ</small>
sở đầu tiên ở Việt Nam và cũng là cơ sở duy nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có cơng nghệ và kỹ thuật xạ phẫu này. Ngồi ra, “một số cơng
</div>