Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (45.31 MB, 79 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tổ tụng dân sự Mã số: 60380103
<small>Các sô liệu, kêt quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực và chưatừng được ai công bơ trong bât kỳ cơng trình nào khác. Những kiên nghị, đê</small>
<small>Tác giả Luận văn</small>
Nguyễn Ngọc Nam
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>Luận văn này.</small>
<small>Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Luật tổ chức Tịa án nhân dân
Luật tơ chức Viện kiểm sát nhân dân
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
<small>Tòa án</small>
<small>Tòa án nhân dân</small>
Tòa án nhân dan tối cao
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">LOT NÓI DAU ... 2 s° <7. 7A40744 718974407289 741Apksrrk | CHUONG 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CHUAN BỊ XÉT XỬ PHÚC
THAM 0400060700100 ...H)H,HA... 5
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vu án dân
<small>SES sẽ nguy tần nhá Thì 00011004 tn 35 40004 9 RA A A I RT ES WE TAR 5</small>
1.1.1 Khái niệm chuẩn bi xét xử phúc thấm vụ án dân sự ...---:s¿ 5 1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự...----: 9 1.1.3. Y nghia cua chuẩn bi xét xử phúc thấm vu án dân sự...---: 12 1.2. Yêu cầu của chuẩn bị xét xử phúc tham vụ án dân sự...- 13 1.3. Lược sử các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử phúc thâm vu án dân sự từ năm 1945 đến nay. ...-- 16
1.3.1. Từ năm 1945 đến năm 196(...--- 2 2 £+E+SE£EE£EEEEE2EE2E22E22E 2E crxe 16 1.3.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989... cccccsssesecscsssssesesesseveveeseeeeees 18 1.3.3. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004... 2-6 + £+t+EeEeEerresesed 19 1.3.4. Giai đoạn từ 2004 đến nay...--- ¿5c St St E1 12212112121121111 111 11t. 20
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT TO TUNG DAN SỰ
VIỆT NAM HIEN HANH VE CHUAN BỊ XÉT XU PHÚC THÂM VỤ ÁN DAN
<small>B LÍ: se asssessnnats íngHh.gHgHĩNgEN HN 280005010150 0E05g00/ 02G5E4 on SSN.Su5B868Ek-0N3808u800L8Eu.SEuSS.08004 05 Sh.đ50/3800000580 24</small>
2.1. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm ...-- - 2 2s ++EeEE+Eerxerxzxee 24 2.2. Thụ lý phúc thâm vụ án dân sự...--- ¿2 2 +S++E££E+EzEerxzrerxererree 26 2.2.1. Nhận hồ sơ vụ án dân sự ...--..---c:ccc2cttrkittrirttrrrrrirrrrrrrried 27 2.2.2. Kiểm tra kháng cáo, kháng nghị...-- ¿2-52 Sx+E+E£EEEEEEErkerkerrkd 29 2.2.3. Vào số thụ lý phúc thẩm vụ án dan sự...---- 2-5 ++c+tx+E+xerxzrered 34 2.3. Những việc tiến hành sau khi thụ ly phúc thẩm vụ án dân sự... 35 2.3.1. Phân công những người có thâm quyền tiễn hành xét xử phúc thâm ....35 2.3.2. Nghiên cứu hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị...-.--5- 5-52 38 2.3.3. Chuyên hồ sơ cho Viện kiểm sát nhiên cứu...--- 2-2 s+secszss+s2 44 2.3.4. Các quyết định trong thời han chuẩn bị xét xử phúc thẩm... 46 2.4. Những công việc tiến hành sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. ...49 2.4.1. Triệu tập những người tham gia phiên tòa phúc tham ... 49
<small>2.4.2. Thực hiện các công việc khác ... --- - + * + skrsreererrrrererre 50</small> CHƯƠNG 3. THỰC TIỀN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TO TUNG DAN SỰ VIỆT NAM HIỆN HANH VE CHUAN BỊ XÉT XU
PHÚC THẤM VU ÁN DAN SỰ VÀ MOT SO KIÊN NGHỊ... 52 3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc tham vụ án dân sự ...---- 25-55 s2¿ 52
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">hiện các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thấm vụ án
<small>000805 1... 59</small>
3.2. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuẩn bị xét xử phúc tham vụ án dân sự...----¿- 2 5+ SE EEEEEEEEEEEEEEEEEErkrrkrkee 64
3.2.1. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử phúc thấm vụ án dân Su. ...cccccccccscccscscsesecesececscssecececscscscscscscscscscscscacacacscecacevseeees 64 3.2.2. Các kiến nghị thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án đân SỰ...- -- - St E3 E111 EETxrrrrrrrree 6S KET 00/007 ...Ầ... 69
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">dân sự như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996...các văn bản pháp luật này có giá trị pháp lý
nhập kinh tế quốc tế, những văn bản pháp luật này đã khơng cịn đáp ứng
Quốc hội khóa XI Quốc hội ta đã thơng qua Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên
dân sự là giai đoạn hết sức quan trọng. Do đó, Bộ luật tố tụng dân sự Việt
<small>tài luận văn của mình.</small>
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
<small>Viện nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn</small> quốc gia thực hiện năm 2001; Hội thảo khoa học cấp trường với đề tài “Việc thi hành Bộ luật tổ tụng dan sự” của trường Dai học Luật Hà Nội xây dựng năm 2005; Luận án tiễn sỹ luật học “Xáy dung bộ luật to tung dân sự” năm
tụng dân sự Việt Nam” năm 2011 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà; Bài viết
phan nào van dé nhưng vẫn còn tản mác chưa di sâu vào nội dung các chế
<small>dân sự.</small>
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
qua các thời kỳ cũng như quy định hiện hành của pháp luật về chuẩn bị xét xử
nhất như: khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc
tại các Tòa án Viét Nam trong những năm gan đây.
4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
bản về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự và nội dung những quy định
thâm và thực tiễn thi hành quy định này, từ đó thay được những bat cập trong quá trình thi hành và đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả
Đề thực hiện mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự, nghiên cứu sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua
hiệu việc thực thi những quy định này tại các Tịa án từ đó thay được những
<small>Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ</small>
diễn logic...
Phần nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thấm vụ án dân sự và một số kiến nghị.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">XÉT XỬ PHÚC THAM VỤ ÁN DAN SU
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự. 1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự
Phúc thâm VADS là cấp xét xử thứ hai trong quá trình giải quyết một VADS. CBXXPT VADS là một giai đoạn của quá trình giải quyết VADS ở TA cấp phúc thẩm. Vậy CBXXPT VADS là gì?
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003 thì các thuật ngữ chuẩn bị, xét xử, phúc thấm và dân sự được định nghĩa
<small>như sau:</small>
“Chuẩn bị” là “làm cho có san cái can thiết dé làm việc gi”.[27, tr.181] “Xét xử” là “xem xét va xử các vu dn” [27, tr.1148] “phúc thẩm” là “Toa án cấp trên xét xu lại một vụ án do TA cấp dưới đã xử sơ thẩm mà chong án ”.[27, tr.790] “Dân sự” là “việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hơn nhân, gia đình (nói khai
<small>quát) ”.[27, tr.246]</small>
Trong cuốn “Thi tuc xét xử sơ thẩm trong luật to tụng hình sự Việt Nam” của tac gia Dinh Văn Qué thì khái niệm “chudn bị xét xử” theo quan điểm một số tác giả là “chuẩn bị những điều kiện cân thiết dé dua vụ án ra xét xử theo quy định
<small>của pháp luật ”.</small>
Đối với khái niệm VADS, trước đây trong các TA dưới thời Pháp thuộc (trước năm 1945) những vụ việc thuộc thâm quyên giải quyết của TA được chia làm hai loại là việc hình và việc hộ. Theo đó, Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Tham phán chỉ rõ việc hộ bao gồm “các việc về dân sự và thương sự ” (Điều 3, Điều 17). Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã sử dụng thuật ngữ “việc kiện dan sự”. Theo quy định này, thuật ngữ “việc kiện dan sự” cũng có thé được gọi là “vụ kiện dân sự” để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được TA giải quyết. Từ “việc” và “vu” trong trường hợp này là tương đồng, có thé dùng là “việc kiện” hoặc “vu kiện ” ma không dùng “vu việc kiện”.[14, tr.154] Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Điều 1
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">các văn bản pháp luật. Tiếp theo đó, Thơng tư số 01-UB ngày 03/3/1969 của TANDTC hướng dẫn việc viết bản án sơ thâm và phúc thấm hình sự và dân sự, Thơng tư 01/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, Viện kiêm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) hướng dẫn về thủ tục giám đốc thâm và Thông tư 02/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục tái thẩm cũng sử dụng nhiều lần thuật ngữ “vu dn”. Trong giai đoạn này các thuật ngữ: “việc kiện dan sự”, “tranh chấp dan sự”, “VADS” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử dụng dé chỉ những loại việc thuộc thâm quyền giải quyết về dan sự của TAND. Chi đến khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS được ban hành ngày 29/11/1989, các loại việc thuộc thâm quyền xét xử về dan sự của TA mới sử dụng thống nhất
<small>thuật ngữ “VADS”’.</small>
Khi BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái nệm VADS. Điều 1 BLTTDS quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc co bản trong
TTDS; trình tự, thủ tục khởi kiện dé TA giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, <small>hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là</small>
VADS) và trình tự, thủ tục yêu cau để TA giải quyết các việc về yêu cau dân sự, hơn
<small>nhán và gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động (sau day gọi chung là việc dân</small> sự ); trình tự, thủ tục giải quyết VADS, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc
dân sự ) tại TA... ”. Với quy định này, đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự, gsm VADS và việc dân sự.
Như vậy, khi Bộ luật Tó tụng dân sự 2004 ra đời, lần đầu tiên khái nệm VADS được khái quát bao gồm “các tranh chấp dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động”. Theo BLTTDS, VADS là những việc có vi phạm, tranh chấp, bắt đầu từ sự mâu thuẫn giữa các bên đương sự, trong đó có một bên yêu cầu TA buộc bên kia phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên. Theo quy định tại các điều 25, 27, 29, 31 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đôi bổ sung năm 2011 thì VADS bao gồm các tranh chap sau đây:
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chun giao cơng nghệ, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 29 của BLTTDS; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế dé thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, tranh chấp về kết quả bán dau giá tài sản, thanh tốn phí ton đăng ký mua tai sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, các tranh chấp khác về dân sự
<small>mà pháp luật có quy định.</small>
- Những tranh chấp về hơn nhân và gia đình như: ly hơn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng: các tranh chấp khác về hơn nhân và gia đình mà pháp
<small>luật có quy định.</small>
- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại như: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tơ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục dich lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyên giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên
hợp nhất, chia, tach, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
- Những tranh chấp về lao động như: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; tranh chấp lao động tập thé về quyền giữa tập thé lao động với người sử dụng lao động; các tranh chấp lao động khác mà
<small>pháp luật có quy định.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">BLTTDS). Việc dân sự có đặc tinh là các bên khơng có tranh chấp về quyên, nghĩa vụ mà chỉ yêu cầu TA cơng nhận cho mình các quyền về dân sự, hơn nhân và gia
<small>đình, kinh doanh, thương mại và lao động, công nhận hay không công nhận một sự</small>
kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hơn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại của mình hoặc của cá nhân, tơ chức khác [39. tr.364]. Tiêu chí để phân biệt giữa VADS và việc dân sự là loại việc có tranh chấp hay khơng có tranh chấp. Tuy nhiên, yếu tố này cũng chỉ mang tính chất tương đối. Ví dụ, đối với yêu cầu hủy hơn nhân trái pháp luật, dù chỉ có một bên yêu cầu, bên kia không muốn chấm dứt mối quan hệ đó, nghĩa là có tranh chấp giữa hai bên về việc có u cầu hủy hơn nhân hay khơng thì u cầu hủy hơn nhân trái luật vẫn được xác định là
<small>việc dân sự. [14, tr.69]</small>
Xét xử phúc thâm là một hoạt động độc lập trong quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tịa án. Một số tác giả đã đưa ra khái niệm “xét xử phúc thâm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án mà bản án, quyết định của Tịa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”. [12, tr.393] Theo đó, đối tượng của xét xử phúc thâm là những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo, kháng nghị. Pham vi phúc thấm là những phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đây là cơ sở để xác định phạm vi các công việc chuẩn bị xét xử phúc thầm VADS.
Khái niệm CBXXPT VADS có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau với những nội hàm khác nhau, phụ thuộc vào cách tiếp cận van đề của từng đối tượng tham gia TTDS. Nếu hiểu CBXXPT với tính chất là một q trình thì CBXXPT VADS là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA. [12, tr.327]. Mặt khác, nếu hiểu CBXXPT VADS với tinh chất là hoạt động tố tụng thì CBXXPT VADS gồm những cơng việc cụ thé do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật,
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>Trong phạm vi Luan van này, tác giả nghiên cứu CBXXPT VADS với tính</small>
chất là hoạt động TTDS độc lập của TA trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA cấp phúc thâm. CBXXVADS nói chung và CBXXPT VADS nói riêng đóng vai trị rất quan trọng trong q trình giải quyết vụ án dân sự.
Theo đó, Tịa án cấp phúc thâm phải tiến hành những hoạt động tô tụng cần thiết như thụ lý vụ án, nghiên cứu nội dung vụ án, chuyển hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu, hướng dẫn hoặc yêu cầu các đương sự tham gia những hoạt động tố tụng cần thiết như nhận giấy triệu tập, cung cấp, bồ sung chứng cứ...đềể hết thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định Tòa án cấp phúc thẩm phải ra một trong các quyết định như tạm đình chỉ xét xử phúc thâm VADS, đình chỉ xét xử phúc thâm VADS, quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc tham. Hơn nữa, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thâm nếu có đủ căn cứ pháp luật, Tịa án cấp phúc thâm cịn có thé ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong trường hợp có quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử phúc thâm, Tòa án cấp phúc thâm phải tiến hành các cơng việc dé đảm bảo trình tự tố tụng theo quy định như tống dat các giấy triệu tập, giấy báo, giấy mời tham gia phiên tòa phúc thâm, cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; cho phép đương sự và người bảo vệ đương sự được sao chụp các tài liệu hồ sơ vụ án dé chuẩn bị lý lẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tịa phúc thâm.
Từ những phân tích trên, có thé rút ra định nghĩa CBXXPT VADS tại Tòa án cấp phúc thâm như sau:
“Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động tơ tung độc lập do Tịa án cấp phúc thẩm tiễn hành nhằm chuẩn bị những điều kiện can thiết cho việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
<small>pháp luật có kháng cáo hoặc kháng nghị”.</small>
1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự
se CBXXPT VADS là hoạt động tố tụng bao gồm những cơng việc cụ thé do Tịa án tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật.
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Việc đầu tiên Tòa án cấp phúc thâm cần phải tién hành trong quá trình CBXXPT VADS là thụ lý vụ án dân sự. Về bản chất xét xử phúc thâm vụ án dân sự là việc Tòa án cấp phúc thâm xét xử lại bản án, quyết định của Tịa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật mà có kháng cáo, kháng nghị; vậy nên khi tiến hành thụ ly vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm thông qua các hoạt động tố tụng kiểm tra thủ tục kháng cáo, kháng nghị như: xem xét đối tượng dé đương sự kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị; kiểm tra tính hợp pháp của kháng cáo, quyết định kháng nghị; xem xét giải quyết các trường hop kháng cáo quá hạn; vào số thụ lý VADS; thông báo thụ lý phúc thâm VADS; thành lập HDXXPT, thư ký Tòa án; giải quyết các trường hợp từ chối tiến hành tố tung và đề nghị thay đổi người tiễn hành tố tụng: các thành viên của HDXXPT; nghiên cứu hồ sơ vụ án; chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nghiên cứu; giải quyết trường hợp thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi tiễn hành xét xử phúc thấm. Trong q trình chuẩn bị xét xử, Tịa án ra
thâm VADS...Trong trường hợp Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tịa án tiếp tục tiến hành những hoạt động tố tung đảm bảo cho phiên tòa phúc thấm VADS được tiễn hành.
e Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự tập trung vào việc xem xét
yêu cầu trong kháng cáo, kháng nghị
Trong q trình CBXXST VADS Tịa án cấp sơ thâm phải tiễn hành các hoạt động tô tụng cần thiết để xây dựng hồ sơ vụ án, nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Trong giai đoạn này, Tòa án cấp sơ thâm phải tiễn hành các hoạt động như lấy lời khai, xem xét thâm định tại chỗ, định giá, yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ, cho các đương sự đối chat...Trong giai đoạn xét xử sơ thấm Tòa án xét xử theo yêu cầu của đương sự nên Tòa án cấp sơ thâm phải xem xét giải quyết tat cả các van dé mà người khởi kiện nêu trong đơn kiện, người bị kiện nêu trong đơn phản tổ hoặc người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trong đơn yêu cầu độc lập. Vậy nên phạm vi nghiên cứu hồ sơ trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thâm của Tòa án
<small>câp sơ thâm phải bao gôm tât cả các nội dung liên quan đên vụ án.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">Với bản chất là lần xét xử thứ hai đối với những bản án, quyết định của Tịa án cấp sơ thâm có kháng cáo, kháng nghị nên trong giai đoạn CBXXPT Tòa án cấp phúc thâm không xây dựng lại hồ sơ vụ án mà căn cứ vào hồ sơ vụ án mà Tòa án cấp SƠ thâm đã xây dựng trước đó. Tuy nhiên, chỉ có phần bản án, quyết định nào có kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra xét xử phúc thẩm cịn những phần khác khơng có
kháng cáo, kháng nghị thì vẫn phát sinh hiệu lực và có hiệu lực thi hành. Trường hợp
toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm bi kháng cáo, kháng nghị thì thì tồn bộ bản án,
quyết định sơ thâm được đưa ra xét xử lại theo thủ tục phúc thâm.
° Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc tham vụ án dân sự, Tòa án khơng phải tiến hành thủ tục hịa giải vụ án dân sự.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 180 BLTDS thì hịa giải là hoạt động tơ tụng bắt buộc trong giai đoạn chuan bị xét xử sơ thâm vụ án dân sự. Tòa án cấp sơ thâm tiến hành hòa giải để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về cách giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tại cap phúc thâm pháp luật tố tụng dân sự nước ta lại khơng quy định Tịa án cấp phúc thâm có trách nhiệm phải tiễn hành hịa giải vụ án dân sự nên Tòa án cấp phúc thâm chỉ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự khi các đương Sự có u cầu Tịa án cấp phúc thầm công nhận sự thỏa thuận của họ.
Bởi lẽ tại cấp xét xử sơ thâm Tòa án đã tiễn hành hòa giải cho các đương sự
với tính chất là cấp xét xử thứ hai, Tịa án cấp phúc thầm khơng tiến hành hoạt động tơ tụng hịa giải vụ án dân sự nữa.
s Chuẩn bị xét xử phúc tham có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tô tụng khác.
Phúc thẩm vụ án dân sự là xét xử lại các bản án, quyết định của Tòa án cấp SƠ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị. Do đó, CBXXPT VADS có mối liên hệ pháp lý mật thiết đến các hoạt động tố tụng của Tịa án cấp sơ thâm. Có thê thấy rằng việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ở giai đoạn phúc thâm dựa trên hồ sơ vụ án mà Tòa án cấp sơ thâm đã xây dựng trước đó. Trong trường hợp đưa vụ án ra xét xử thì giai đoạn CBXXPT VADS là hoạt động tơ tụng hết sức quan trọng bởi trong thời gian đó Tịa
<small>án cap phúc thâm có thê nghiên cứu, xem xét kỹ lại những tình tiêt của vụ án, làm</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">sáng tỏ được những vẫn đề mà đương sự kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng nghị. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thâm được làm tốt mới đảm bảo phiên tòa phúc thâm được đưa diễn ra, hạn chế việc hỗn phiên tịa do những yếu tố chủ quan.
e Chuẩn bị xét xử phúc tham vụ án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý và kết thúc khi Tòa án phúc thẩm mở phiên tòa phúc thâm.
Sau khi nghiên cứu các quy định về thời hạn CBXXPT VADS có thể thấy: Hoạt động CBXXPT VADS bắt đầu từ khi Tòa án cấp phúc thâm nhận hồ sơ vụ án, kháng cáo hoặc kháng nghị, tài liệu, chứng cứ kèm theo và vào số thụ lý. Mặt khác, theo như quy định tại Điều 258 BLTTDS về thời hạn CBXXPT thì thời hạn CBXXPT VADS có thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, thời hạn CBXXPT được hiểu là khoảng thời gian từ khi Tòa án cấp phúc thâm thụ lý đến khi mở phiên tòa. Cách hiểu khác theo nghĩa hẹp thì thời hạn CBXXPT chỉ bao gồm các hoạt động từ khi thụ lý đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử mà không bao gồm thời hạn từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến thời điểm mở phiên tòa. Theo quan điểm tác giả thì cần hiểu thời hạn CBXXPT VADS được tính từ thời điểm Tịa án thụ lý vụ án đến điểm mở phiên tòa.
1.1.3. Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự
- Giúp Tịa án cấp phúc thẩm thu thập, xác mình, bồ sung thêm những chứng cứ, tài liệu để có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vụ án. Trên thực té, vì những ly do khách quan nên khơng phải lúc nào Tòa án cấp sơ thâm cũng thu thập được đầy đủ những tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án dân sự cho nên đơi khi vẫn cịn sai sót trong bản án, quyết định sơ thâm. Trong q trình CBXXPT VADS, thơng thường Tòa án cấp phúc thẩm sẽ tiến hành đánh giá các chứng cứ, tai liệu đã có trong hồ sơ do tòa cấp sơ thâm đã xây dựng. Trong trường hợp thiếu chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án thì Tịa án cấp phúc thâm sẽ u cầu đương sự giao nộp bổ sung hoặc tiễn hành thu thập chứng cứ bồ sung theo yêu cầu của đương sự để trên cơ sở đó xác định lại quan hệ pháp luật đang tranh chấp giữa các đương sự, tư cách đương sự và làm rõ nội dung kháng cáo, kháng nghị từ đó khắc phục
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">được những sai lầm, thiếu sót có thé có trong bản án, quyết định sơ thâm nhằm dam bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
- Tạo điều kiện cho đương sự thực hiện bồ sung tài liệu, chứng cứ để chứng
<small>minh cho kháng cáo cua mình là có căn cứ và hợp pháp. Khi người kháng cáo thực</small>
hiện quyền kháng cáo có thé chưa cung cấp day đủ ngay được chứng cứ dé chứng minh cho u cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Do vậy, pháp luật tố tụng dân sự quy định cho các đương sự trong khoảng thời gian CBXXPT VADS dé đương sự thu thập chứng cứ, tài liệu b6 sung, chứng minh cho yêu cầu của minh là có căn cứ
<small>và hợp pháp.</small>
- Giúp Tịa án cấp phúc thẩm tiến hành các thủ tục tô tụng can thiết dé mở phiên tòa phúc thẩm. Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thâm đảm bảo cho Tòa án những điều kiện tốt nhất để mở được phiên tòa phúc thâm thông qua các hoạt động tố tụng như phân công Hội đồng xét xử, gửi hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu, triệu tập đương sự, gửi giấy báo cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
<small>đương sự...Những người tham gia phiên tòa được Tịa án gửi thơng báo lịch xét xử</small>
trong thời hạn luật định dé họ có thé bố tri thời gian đến tham gia phiên tòa. 1.2. Yêu cầu của chuẩn bị xét xử phúc tham vụ án dân sự
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
<small>đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án: “Thực hiện</small>
nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới thủ tục giám đốc thâm dé đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng” như vậy mới đảm bảo các cơ quan tư pháp là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của Nghị Quyết 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị. Ngay từ khi nhà nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tịa án và các ngạch thâm phán, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”. Đến nay, nguyên tắc này vẫn còn
<small>nguyên giá trỊ.</small>
Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">định hướng đến năm 2020 có nêu: “Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
<small>hoạt động của toà án nhân dân, bảo đảm toà án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp</small>
thời và nghiêm minh; phân định thâm quyền xét xử của toà án sơ thẩm và toà án phúc thâm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử”.
Hiến pháp năm 2013 được ban hành tiếp tục khăng định, cụ thể hóa chiến lược của Nghị quyết số 48/NQ-TW tại khoản 6 Điều 103: “Chế độ xét xử sơ thâm, phúc thâm được bảo đảm”. Việc Tòa án xét xử theo hai cấp có ý nghĩa quan trọng, vừa
<small>bảo đảm cho Tòa án xét xử đúng vụ án dân sự vừa bảo đảm cho đương sự bảo vệ</small> được quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tịa án. Vì thế, thực hiện chế độ xét xử
theo hai cấp được pháp luật quy định là một nguyên tắc của luật TTDS. Theo đó, Điều 17 BLTTDS quy định như sau: “1. Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thâm của Tồ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thâm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thâm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thâm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. 2. Ban án, quyết định của Tồ án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thầm hoặc tái thâm theo quy định của Bộ luật này”.
Việc quy định một vụ án dân sự có thể được xét xử ở hai cấp là một đảm bảo pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tịa án được chính xác và đúng đắn. Bởi lẽ, qua các cấp xét xử khác nhau như vậy những vấn đề thuộc về nội dung vụ an sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích và đánh giá kỹ càng, đầy đủ hơn. Trên cơ sở đó, các phán quyết của Tịa án đưa ra sẽ bảo đảm độ chính xác cao hơn. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự tạo cơ sở pháp lý quan trọng dé các chủ thé có quyên và lợi ích pháp lý liên quan thể hiện thái độ khơng đồng tình với việc xét xử của Tịa án băng việc kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thâm của Tòa án theo quy định của pháp luật tô tụng dân sự dé vụ án được xét xử lai tại cap phúc thẩm.
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Việc quy định một vụ án dân sự có thể được xét xử ở hai cấp xét xử cũng như quy định về việc sơ thâm có thé bị sửa, bị hủy án, quyết định ở cấp phúc thâm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các vi phạm pháp luật mà cấp sơ thâm đã mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của Hội đồng xét xử sơ thẩm, giúp họ có thái độ thận trọng và trách nhiệm hơn trước khi đưa ra những phán quyết của mình. Thơng qua Hội đồng xét xử phúc thầm, Tòa án phúc thâm kịp thời chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tịa án cấp sơ thầm đã mắc phải, tự mình sửa chữa hoặc đề nghị Tịa án sơ thâm sửa chữa sai lầm của mình. Thơng qua việc xét xử phúc thâm, Tòa án cấp trên có điều kiện dé tơng kết, đúc rút kinh nghiệm và hướng dẫn kịp thời Tòa án cấp dưới thực hiện thống nhất pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét xử.
Ngoài ra, việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự góp phan rất nhiều vào việc bảo đảm cơng bang xã hội, góp phan củng cố
<small>lịng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của các cơ</small>
quan tiến hành t6 tụng nói chung và Tịa án nói riêng.
Thực tiễn cho thấy, dé ý nghĩa của nguyên tắc Thực hiện chế độ hai cap xét xử được đảm bảo thì giai đoạn từ thụ lý đến khi chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự là cực kỳ quan trọng. Bởi vì, thơng qua hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thấm vu án dân sự, Tịa án mới có thời gian cũng như những điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử phúc thâm được tốt nhất. Chỉ khi các công việc được tiến hành kỹ lưỡng thì các quyết định gồm: Tạm đình chỉ xét xử phúc thâm vụ án; Đình chỉ xét xử phúc thấm vụ án; Dua vụ án ra xét xử phúc thấm, mới thật sư chính xác, hoạt động xét xử phúc thẩm mới được tiễn hành thuận lợi, các phán quyết của Tòa án
mới dễ dàng thi hành trên thực tiễn, tránh trường hợp bị kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thâm.
Xây dựng các quy định về chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự còn đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự. Theo đó, chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự tạo điều kiện về thời gian dé các đương sự có thể bổ sung những chứng cứ cần thiết dé chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của minh là có căn cứ và hợp pháp. Bên cạnh đó, các quy định về chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự sẽ góp phần đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">vì chuẩn bị xét xử phúc tham vụ án dân sự tạo điều kiện về mặt pháp lý để các đương sự đưa ra các yêu cầu, phản đối yêu cầu, thay đổi, bổ sung yêu cầu, rút yêu cầu và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của vụ án.
Khoảng thời gian của giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự được quy định tại Điều 258 Bộ luật Tố tụng dân sự và được hướng dẫn tại Điều 13 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần II Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là khoảng thời gian đủ để cho Tòa án tiếp tục thu thập chứng cứ phục vụ cho hoạt động xét xử cũng như các đương sự cung cấp thêm chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Điều này càng khẳng định đây là giai đoạn quan trọng có tính chất quyết định, bởi chỉ cần xuất hiện một chứng cứ có lợi, hay bất lợi thì cục diện vụ án sẽ thay đơi, có thé đảo ngược hoàn toàn so với bản án sơ thâm. Cũng trong khoảng thời gian này, các
đương sự, có thể có sự hỗ trợ của các luật sư, sự phối hợp đối với Tịa án, hồn tồn
có khả năng phân tích thiệt hơn dé tiến hành hịa giải, tránh các mâu thuẫn khơng đáng có, đảm bảo ngun tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận và nguyên tắc
<small>hòa giải trong hoạt động dân sự.</small>
1.3. Lược sử các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự từ năm 1945 đến nay.
Từ năm 1945 đến nay, hệ thông pháp luật TTDS Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Căn cứ vào sự phát triển của pháp luật TTDS ở các thời kỳ có thê chia sự phát triển các quy định về CBXXPT VADS thành các giai đoạn sau:
1.3.1. Từ năm 1945 đến năm 1960
Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập các TA quân sự - cơ quan xét xử của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đề kịp thời điều chỉnh các quan hệ pháp luật nảy sinh trong xã hội, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử lúc đó chưa có điều kiện để soạn thảo văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật TTDS nói riêng. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời đã tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 47/SL theo đó, tại Điều 11 quy định cho phép tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ nếu những luật lệ này không trái với những thay đối ấn định trong Sắc lệnh.
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Ngày 24/01/1946 Sắc lệnh số 13/SL về tô chức cán bộ và các ngạch Thâm phán do Chính phủ lâm thời ban hành đã có các quy định về người tiến hành tố tụng, nghị án, tuyên án và cách thức tơ chức một phiên tịa được ban hành. Đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của nước Việt Nam dân chủ cộng hịa quy định về tơ chức, thủ tục giải quyết vụ án của TA.
Ngày 09/11/1946, Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã định ra những nguyên tắc cơ bản nhất của việc xét xử và tiễn hành phiên tòa. Từ năm 1946 đến năm 1960, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản mới trong đó có rất nhiều văn bản liên quan đến hoạt động tố tụng CBXXPT VADS. Về người có quyền kháng cáo được quy định tại Điều 24 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, Mục D Thông tư số 52/P4 ngày 18/6/1950 của Bộ Tư pháp và Thông tư số 22/HCTP ngày 18/2/1957 của Bộ Tư pháp. Về việc thực hiện quyền khiếu nại được quy định tại Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946, được bổ sung tại Điều | Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 và Thông tư số 03 của TANDTC quy định về việc chống án sơ thâm vắng mặt về ly hôn. Tại Điều 13 Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 quy định về phạm vi xét xử phúc thâm. Ngoài ra, pháp luật thời kỳ này cịn có nhiều văn bản quy định việc kháng cáo quá hạn, nội dung don kháng cáo, bé sung thay đôi và rút kháng cáo, thâm quyền kháng nghị, nội dung quyết định kháng nghị, những hậu
<small>quả của việc rút kháng cáo, kháng nghị, thủ tục nộp đơn kháng cáo... Theo quy định</small>
tại Thông tư số 1828/VHC ngày 18/10/1955 của Bộ Tư pháp về quyên chống án và thời hạn chống án thì “đối với án khuyết tịch (xử vắng mặt), thì bị can (về hình), bị cáo (về hộ) déu có qun kháng án khuyết tịch trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
Nhìn chung, trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1960 các chế định về thủ tục CBXXPT VADS bước đầu đã được ghi nhận tuy nhiên trong giai đoạn này do cả nước đang khẩn trương thực hiện cuộc kháng chiến chống Pháp nên các Tòa án chỉ tập trung xét xử các vụ án hình sự. Theo quy định tại Thông tư số 12-NV-CT ngày 19/12/1946 của Bộ Tư pháp về tổ chức tư pháp trong tình hình đặc
<small>biệt thì “các việc hộ hoặc thương mại sẽ bị đình chỉ, trừ những việc câp tôc sẽ do</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">hội thâm chun mơn của Tịa án qn sự xét xử bằng mệnh lệnh” nên pháp luật tố tụng dân sự nói chung, pháp luật về CBXXPT VADS nói riêng còn sơ sài.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989
Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 thì hai văn bản pháp luật t6 tụng quan trọng được ban hành là Luật tơ chức Tịa án nhân dân (LTCTAND) năm 1960 và Luật tô chức Viện Kiểm sát nhân dân (LTCVKSND) năm 1960 đánh dấu bước biến chuyên to lớn trong nền
<small>tư pháp nước ta. Trên cơ sở những văn bản pháp luật này, TANDTC, VKSNDTC</small>
đã ban hành các văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết các tranh chấp về dân sự
<small>và hôn nhân - gia đình nói chung cũng như các cơng việc trong giai đoạn CBXXPT</small>
nói riêng, cụ thé:
Cơng văn số 507/TC ngày 02/4/1963 của TANDTC quy định về loại việc dân sự mà Tịa án cần phải thơng báo cho VKS biết khi có sự chống án.
Cơng văn số 905/NCLP ngày 22/7/1965 của TANDTC quy định trong trường hợp cần thiết Tòa án cấp phúc thâm có thê tiến hành điều tra b6 sung trước khi xét xử phúc thâm.
Công văn số 03/NCLP ngày 03/3/1966 của TANDTC về trình tự giải quyết việc ly hơn có hướng dẫn: nếu qua thâm tra hồ sơ, xét có điểm chưa sáng tỏ về một van dé nào đó thì Tịa án cấp phúc thâm phải dé ra biện pháp bổ sung trước khi xét xử ké cả việc giao Tòa án điều tra bổ sung nếu xét thay cần thiết.
Ngoài ra, trong Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1971 của TANDTC hướng dẫn trước khi xét xử phúc thâm nếu các bên đương sự tỏ ý muốn thỏa thuận với nhau dé chấm dứt tranh chấp bang hịa giải thì Tịa án cấp phúc phúc tham “nếu xét thấy thỏa thuận của đương sự phù hợp với luật pháp, chính sách thì tịa phúc thâm sẽ ra bản án phúc thâm chấp nhận việc thỏa thuận đó và chấm dứt việc kiện tụng chứ khơng dùng hình thức biên bản hịa giải thành”. Tại công văn số
<small>125/NCPL ngày 12/7/1979 của TANDTC quy định: “?rước khi mở phiên toa hoặc</small>
tại phiên tòa xét xử phúc thẩm nếu có việc rút kháng cáo hoặc rút kháng nghị thi déu do một hội dong gôm ba thẩm phán xét có thé chấp nhận hoặc khơng chấp nhận ” và theo Bản hướng dẫn gửi kèm công văn số 442/NCPL ngày 04/6/1979 của
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">TANDTC thì: “Nếu bản án sơ thẩm có sai lam thì sẽ bác rút kháng cáo của đương sự hoặc rút kháng nghị của viện kiểm sát dé xét xử phúc thẩm ngay với bản án sơ thẩm đó”. Có thể thấy rằng quy định tại Bản hướng dẫn kèm theo Công văn số 442/NCPL tiến bộ hon quy định tại Cơng văn số 125/NCPL bởi vì khi đương sự tự nguyện rút kháng cáo, viện kiểm sát rút kháng nghị thì trong phạm vi quyền hạn của mình, Tịa án cấp phúc thâm chỉ chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị đó chứ khơng vì xét thấy ban án cấp sơ thâm có sai lầm mà Tịa án cấp phúc thẩm lại bác việc rút kháng cáo, kháng nghị vì như vậy vơ hình chung đã vi phạm ngun tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt của đương sự. Thay vào đó, nếu xét thấy bản án sơ thâm có sai lầm, Tịa án cấp phúc thẩm có quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thâm dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đồng thời vẫn bảo đảm được pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, các quy định về CBXXPT VADS trong pháp luật TTDS ở giai đoạn này mặc dù cịn sơ sài nhưng cũng đã có những tiến bộ nhất định, tuy nhiên chủ yếu
vẫn là các văn bản pháp luật do TANDTC ban hành chứ chưa được quy định trong một
văn bản tố tụng dân sự có hiệu lực cao nên hiệu quả thực hiện còn hạn chế. [18, tr.16] 1.3.3. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004
Cùng với sự chuyển mình về kinh tế, xã hội của đất nước, trên tinh thần Nghị quyết của Đại hội Đảng VI là tăng cường sự quản lý Nhà nước băng pháp luật, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của cơng dân. Trước u cầu của tình hình thực tế, ngày 22/11/1989 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) đã được Hội đồng nhà nước thơng qua và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1990. Tiếp đó nhà nước ta tiếp tục ban hành các pháp lệnh như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 16/3/1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLD) ngày 11/4/1996. Đây là những văn bản pháp luật TTDS có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các VADS trong thời kỳ này, đánh dấu bước tiến mới trong q trình phát triển pháp luật TTDS nói chung và pháp luật về CBXXPT VADS nói riêng. Theo ba pháp lệnh này, CBXXPT VADS được tập hợp một cách tập trung hơn bao gồm các quy định về
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">điều kiện kháng cáo, kháng nghị; thời hạn xét xử phúc thẩm; quyền han của Tòa án cấp phúc thâm trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, hòa giải...
Cả ba pháp lệnh này đều giành riêng một chương để quy định thủ tục phúc thẩm: thủ tục phúc thấm vụ án dân sự được quy định tại Chương XI PLTTGQCVADS; thủ tục phúc thâm vụ án kinh tế được quy định tại Chương X PLTTGQCVAKT; thủ tục phúc thâm các tranh chấp lao động được quy định tai
<small>Chương X PLTTGQCTCLD.</small>
Ngoài ra, nhà nước ra đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các pháp
lệnh trên như: Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 01/10/1990 của TANDTC, VKSNDTC và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTGQCVADS; Nghị quyết số 03/HDTP ngày 19/10/1990 của HDTP TANDTC hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS; Công văn số 310/NCPL ngày 24/12/1990 của TANDTC giải thích một số vấn đề về tơ tụng dân sự đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật t6 tung dân sự Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định về pháp luật tố tụng dân sự nói chung và CBXXPT VADS nói riêng “vẫn cịn tản mạn như
<small>các giai đoạn trước. Đặc biệt với sự ra đời của PLTTGQCVAKT,</small>
PLTTGQCTCLD đã dẫn đến các quy định về tổ tụng dân sự bị xé lẻ, thiếu tập trung, chồng chéo và mâu thuẫn.” [39, tr.25]
1.3.4. Giai đoạn từ 2004 đến nay
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các yêu cầu, tranh chấp về dân sự trong giai đoạn này ngày càng tăng nhanh cả về số lượng và mức độ phức tạp, nhiều tranh chấp mới phát sinh mà quy định pháp luật chưa kịp điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế. Các Pháp lệnh mới chỉ quy định những nguyên tắc chung, những trình tự, thủ tục cơ bản của TTDS, còn thiếu nhiều quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS cũng như thiếu các quy định cụ thê về trình
các Pháp lệnh này khơng cịn phù hợp, thiếu đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác như BLDS năm 1995, BLLĐ năm 1994... Do đó, một yêu cầu tất yếu đặt ra là cần có một văn bản pháp lý cao hơn và thống nhất hơn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">Trước tinh hình này, ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 đã thơng qua BLTTDS, và bắt đầu có hiệu lực thi hành kê từ ngày 01/01/2005. Trong BLTTDS năm 2004, CBXXPT VADS được quy định tại Chương XVI từ Điều 257 đến Điều 262. Nhằm cụ thê hóa các
quy định trong bộ luật, TANDTC đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn chi
tiết thi hành trong giai đoạn này như: Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của HĐTP TANDTC hướng dan thi hành một số quy định về “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời”; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của HĐTP TANDTC hướng dan thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ”; Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04 tháng 8 năm 2006 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phan thứ 3 “Thu tuc giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
BLTTDS năm 2004 ra đời đã “khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy định tố tụng dân sự trước đây” [39, tr.26], và vấn dé CBXXPT VADS cũng được quy định khá day đủ giúp giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, qua một thời gian dài thực hiện thì một số quy định về CBXXPT VADS cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế. Vì vậy, ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã thơng qua Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS đã được sửa đổi, bố sung năm 2011) nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tố tụng dan sự nói chung và CBXXPT nói riêng. Cùng với đó là một loạt các Nghị quyết mới được ban hành để hướng dẫn chi tiết thi hành như: Nghị quyết số
03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của HĐTP TANDTC hướng dẫn
thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “những quy định chung”; Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của HĐTP TANDTC Hướng dẫn thi hành một số quy định về “chứng minh và chứng cứ”; Nghị quyết số
06/2012/NQ-HDTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của HĐTP TANDTC Hướng dẫn
thi hành một số quy định trong Phan thứ 3 “Thu tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm”...
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Nhìn chung với việc sửa đổi bố sung này các quy định về TTDS nói chung và CBXXPT VADS nói riêng đã có nhiều thay đổi theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch. Đương sự đóng vai trị chủ động trong việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tịa án.
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">KET LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc nghiên cứu một số van đề lý luận về chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự có thê rút ra một số kết luận sau:
1. Phúc thâm VADS là cấp xét xử thứ hai để giải quyết một VADS tại TA. Đề đảm bảo hoạt động xét xử phúc thấm được tiến hành thuận lợi, trước khi tiễn hành xét xử phúc thâm TA phải tiến hành việc CBXXPT VADS. CBXXPT VADS là hoạt động tổ tụng do TA cấp phúc thâm tiễn hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thâm chưa có hiệu
<small>lực pháp luật mà có kháng cáo, kháng nghị.</small>
2. CBXXPT VADS có đặc điểm như: CBXXPT VADS là hoạt động tô tụng dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án cấp phúc thâm thụ lý và kết thúc khi Tòa án phúc thâm mở phiên tòa phúc thẩm; CBXXPT VADS là hoạt động tố tụng bao gồm những cơng việc cu thé do Tịa án tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật; CBXXPT VADS sự tập trung vào việc giải quyết yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị; trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự, Tịa án khơng phải tiến hành hịa giải vụ án dân sự; CBXXPT VADS có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác.
3. Với mục đích chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử phúc thầm VADS, CBXXPT có ý nghĩa lớn trong việc giúp TA cấp phúc thâm có đủ chứng cứ, tài liệu, nhận thức đúng và khách quan về tình tiết của vụ án từ đó giải quyết vụ án chính xác, đúng pháp luật, tạo điều kiện cho các bên đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ dé chứng minh cho kháng cáo của minh là có căn cứ và hợp pháp hoặc phản bác yêu cầu của phía bên kia. Bên cạnh đó, CBXXPT VADS giúp TA tiến hành các công việc cần thiết dé chuẩn bị cho phiên tòa phúc thâm.
<small>4. CBXXPT đã được quy định trong các văn bản pháp luật từ sau khi Cách</small>
mạng Tháng Tám thành công. Trong suốt thời kỳ từ năm 1945 đến năm 2004, mặc dù các quy định pháp luật về CBXXPT đã ngày càng được bồ sung, sửa đổi góp phần khơng nhỏ trong q trình giải quyết các VADS. Đặc biệt, khi BLTTDS 2004 ra đời và Luật sửa đôi, bé sung một số điều của BLTTDS năm 2011, các quy định về CBXXPT VADS đã được hoàn thiện tương đối đầy đủ làm cơ sở cho việc giải quyết các VADS có hiệu quả. Đây cũng là cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về CBXXPT VADS.
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30"><small>CHƯƠNG 2</small>
NOI DUNG QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT TO TUNG DAN SỰ VIỆT NAM HIỆN HANH VE CHUAN BỊ XÉT XU PHÚC THÁM VU ÁN DAN SỰ
2.1. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thắm
Dé công việc CBXX giải quyết vụ việc dân sự hay CBXXPT VADS thì thời hạn dé giải quyết là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm quỹ thời gian cần thiết dé có
nhằm đảm bảo cho TA tiến hành các công việc cần thiết giải quyết vụ án trong khoảng thời gian nhanh chóng, tránh sự y lại của đương sự ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 258 BLTDS, trong thời hạn hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:
- Tạm đình chỉ xét xử phúc thâm vụ án; - Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; - Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì khi thời hạn chuẩn bị xét xử cịn lại khơng q năm ngày, Chánh án Tịa án cấp phúc thâm có thê quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thâm những không được
<small>quá một tháng.</small>
Theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTP TANDTC thì “những vụ án có tính chất phức tạp” hoặc “trở ngại khách quan” được hiéu như sau:
“Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian dé nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật
<small>phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc</small>
người Việt Nam dang cu trú, hoc tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoai cần
<small>phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">nước ngoài, cho Toà án nước ngoài,... Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kế cả thời gian gia hạn), thì Thâm phán căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
<small>“Tro ngại khách quan” là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động</small>
như: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu,...làm cho Tồ án khơng thé giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định.
Đối với những vụ án đơn giản, các tình tiết, sự kiện có liên quan đã được làm rõ, đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình thì Tham phán được phân cơng giải quyết vụ án có thé sớm ra các quyết định tương ứng dé rút ngắn quá trình giải quyết vụ án. Đối với những vụ án TA phải ra quyết định tạm đình chỉ thì thời hạn CBXX tạm ngừng vào ngày ra quyết định tạm đình chỉ vụ án. Thời hạn CBXX được bat đầu lại kể từ ngày TA tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình
<small>chỉ khơng cịn nữa.</small>
Theo quy định tại khoản 2 Điều 258 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn một tháng kế từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA phải mở phiên tịa phúc thâm; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng”.
Để hướng dẫn quy định trên, theo khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số
<small>05/2012/NQ-HDTP ngày 03/12/2012 của HDTP TANDTC thì: “Ly đo chính dang”</small>
quy định tại khoản 3 Điều 179 của BLTTDS được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, khơng lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phan công lại người tiến hành tố tụng có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thắm quyền chưa cử được người khác thay thế; vụ án có tinh chất phức tạp đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Tồ án khác nhau, nên khơng cịn đủ Tham phan dé tiễn hành xét xử vụ án đó mà phải chuyển vụ án cho Toà án cấp trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thâm phán từ Toà án khác đến,... nên cản trở Toà án tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định.
Quy định của BLTTDS về gia hạn thời hạn CBXXPT và các quy định về lý do được gia hạn thời hạn CBXXPT trong Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP có ý
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">nghĩa rất lớn cho Tòa án cấp phúc thâm trong việc chuẩn bị xét xử phúc thâm, tránh được trường hop vi phạm pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thấm nhất là trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay, số lượng các vụ án dân sự ngày càng nhiều, tính chất của tranh chấp ngày càng gay gắt, phức tạp...đòi hỏi nhiều thời gian dé nghiên cứu hồ sơ, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc thu thập, xác
<small>minh chứng cứ.</small>
Theo Điều 179 BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thâm vụ án dân sự được quy định dài hơn thời hạn của CBXXPT VADS. Có thể thấy rằng quy định
<small>thời hạn CBXXST dài hơn so với thời hạn CBXXPT VADS là hoàn toàn hợp lý bởi</small>
xét xử sơ thâm là cấp xét xử đầu tiên đòi hỏi cần nhiều thời gian hơn để nghiên cứu tồn bộ hồ sơ. Cịn phúc thâm là cấp xét xử thứ hai chỉ xét xử lại những phan ban án, quyết định sơ tham chưa có hiệu lực pháp luật mà có kháng cáo, kháng nghị chứ khơng phải xét xử lại tồn bộ vụ án, trường hợp toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Tịa án cũng đã có cơ sở là hồ sơ mà Tịa án cấp sơ thâm đã xây dựng trước đó.
2.2. Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử đã “thé hiện tính dân chủ trong hoạt động tô tụng, bảo đảm cho các đương sự bảo vệ quyền của mình khi bị xâm phạm” [6, tr.242]. Theo đó, đương sự có quyền kháng cáo, viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tịa án chưa có hiệu lực pháp luật. Tịa án cấp phúc thâm, xem xét chấp nhận đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và vào sô thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự. Từ đó tạo cơ sở pháp lý dé Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành các hoạt động tố tụng khác nhằm giải quyết vụ án dân sự.
Thụ ly phúc thẩm vụ án dân sự là cơng việc đầu tiên mà Tịa án cấp phúc thâm cần tiến hành thực hiện trong hoạt động phúc thâm vụ án dân sự. Hoạt động thụ ly phúc thấm vụ án dân sự gồm những công việc cụ thé như: nhận đơn, hồ sơ vụ án, tài liệu, chứng cứ kèm theo; kiểm tra tính hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị (khoản 1 Điều 257 BLTTDS); vào số thụ lý phúc thâm.
Cũng giống như trong giai đoạn CBXXPT, thụ lý VADS ở giai đoạn CBXXST VADS cũng là hoạt động tô tụng đầu tiên, tạo tiền dé và cơ sở dé tiễn hành
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">các hoạt động tố tụng khác. Với bản chất là cấp xét xử đầu tiên, tòa án cấp sơ thâm cần xem xét giải quyết tất cả các yêu cầu của các đương sự do đó trong trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, thì ngày thụ lý vụ án được xác định là ngày Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố hoặc đơn về yêu cầu độc lập cuối cùng, nếu họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc khơng phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí; hoặc là ngày
trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí (khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP). Do đó, thời điểm thụ lý dé tính thời hạn CBXXST có thé bị kéo dài, làm anh hưởng đến quyên và lợi ích của đương sự. Với bản chất là cấp xét xử thứ hai - xét xử lại theo yêu cầu nên khi nhận được hồ sơ vụ án kèm kháng cáo hoặc kháng nghị mà tòa án cấp sơ thâm chuyền lên tòa án cấp phúc thẩm tiễn phải tiến hành thụ lý ngay như vậy mới đảm bảo xét xử vừa nhanh chóng, vừa đúng dan.
2.2.1. Nhận hồ sơ vụ án dân sự
Theo quy định tại Điều 245 và Điều 252 BLTTDS thì thời hạn kháng cáo của đương sự đối với ban án của Tòa án cấp sơ thầm là mười lam ngày kề từ ngày tuyên án; đối với đương sự khơng có mặt tại phiên tịa thì thời hạn kháng cáo được tình từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tịa án cấp sơ thâm là bảy ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thâm của viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, ké từ ngày tuyên án. Trường hợp viện kiểm sát khơng tham gia phiên tịa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án. Thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thấm là bảy ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười ngày ké từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
Theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/20012 của HĐTP TANDTC thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị ban án sơ thâm là ngày tiếp theo của “ngày được xác định” (ngày tuyên
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">án đối với trường hợp đương sự có mặt tại phiên tịa sơ thầm, viện kiểm sát có tham gia phiên tịa sơ thẩm; ngày ban án sơ thâm được giao hoặc niêm yết khi đương sự khơng có mặt tại phiên tịa sơ thẩm; ngày ban án sơ thâm được giao cho viện kiểm sát cùng cấp khi viện kiểm sát cùng cấp không tham gia phiên tịa). Trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án được ban hành tại phiên tòa sơ thâm và Hội đồng xét xử giao ngay quyết định này cùng ngày cho đương sự có mặt tại phiên tịa; đại điện viện kiểm sát tham gia phiên tịa (nếu có) thì thời điểm bắt đầu thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày ban hành quyết định đó. Trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án được ban hành trước khi mở phiên toà sơ thấm hoặc tại phiên toà sơ thầm mà đương sự vắng mặt, thì ngày được xác định đối với đương sự là ngày quyết định đó được giao hoặc được niêm yết; đối với Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp là ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định đó.
Thời điểm kết thúc kháng cáo, kháng nghị là ngày cuối cùng của thời hạn. Trong trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kháng cáo kháng nghị kết thúc vào hai mươi tư giờ của ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng quy định trong Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/20012 của HĐTP TANDTC tiến bộ hơn rất nhiều so với các quy định trước đây vì đã quy định thống nhất thời điểm bắt đầu kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của “ngày được xác định” chứ không còn tách
<small>riêng thời hạn khang cáo, kháng nghị.</small>
Tòa án cấp sơ thâm căn cứ quy định tại Điều 246 và Điều 255 BLTTDS có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị sau đó hướng dẫn đương sự nộp tạm ứng án phí phúc thâm theo quy định tại Điều 248 BLTTDS. Chỉ khi kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị và đương sự đã nộp tạm ứng án phí theo quy định thì Tịa án cấp sơ thâm mới chuyền hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thâm.
Trên thực tế, có những vụ án chưa hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nhưng
<small>Tịa án cap sơ thâm đã chun hơ sơ cho Tòa án cap phúc thâm. Tuy nhiên cũng có</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">những trường hợp hé sơ đã quá thời hạn khang cáo, kháng nghị mới được Toa án cấp sơ thâm chuyên lên để Tòa án cấp phúc thâm xem xét. Việc này dẫn đến hậu quả xét xử phúc thẩm chậm, ảnh hưởng đến quyên lợi của đương sự.
Sau khi nhận được hồ sơ Tòa án cấp phúc thâm phải kiểm tra xem hồ sơ có
<small>đủ các tài liệu theo quy định hay không như: đơn khởi kiện, đơn kháng cáo hoặc</small>
quyết định kháng nghị, bản án hoặc quyết định sơ thâm, biên bản nghị án, biên bản phiên tòa; biên bản tong đạt bản án, quyết định cho các đương sự vắng mặt tại phiên tịa sơ thâm; thơng báo kháng cáo, kháng nghị để các đương sự khác có quyền nộp ý kiến phản hồi về việc kháng cáo, kháng nghị; biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp thiếu một trong các tài liệu quan trọng kể trên, Tòa án cấp phúc thâm trả lại hồ sơ dé Tòa án cấp sơ tham bổ sung. Nếu hé sơ đã day đủ, Tòa án cấp phúc thâm tiễn hành nhận hồ sơ và tiếp tục triển khai các thủ tục tiếp theo dé mở phiên tòa phúc thẩm.
2.2.2. Kiểm tra kháng cáo, kháng nghị
Tòa án cấp phúc thâm căn cứ các quy định của pháp luật đối chiếu với hồ sơ mà Tịa án cấp sơ thâm chuyền lên từ đó xác định có thụ lý phúc thâm được hay khơng, cụ thể phải làm rõ các điều kiện sau:
¢ Kiểm tra đối tượng của khang cáo, kháng nghị
Theo quy định tại Điều 242 BLTTDS thì đối tượng được xem xét theo thủ tục phúc thấm là các bản án, quyết định của Tịa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật mà có kháng cáo, kháng nghị. Mặt khác theo quy định tại Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP thì quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết sơ thẩm cũng được coi là đối tượng để các đương sự kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp phúc thâm xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thâm. Việc pháp luật tố tụng dân sự không quy định quyết định áp dụng BPKCTT là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị là rất khoa học bởi “nó khơng phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự. Nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp khan cấp tạm thời, nếu ly do của việc áp dụng khơng cịn nữa thì Tịa án có thể hủy bỏ quyết định này ngay trong quá trình chuẩn
<small>bị xét xử, hoặc khi Tịa án ra qut định ci cùng sẽ phải có phán quyét vê biện</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">pháp khan cấp tạm thời mà Toa án áp dụng”. [38. Tr3] Như vậy, Tòa án cấp phúc thâm cần kiểm tra xem việc kháng cáo, kháng nghị có đúng đối tượng như đã phân tích ở trên khơng đề thụ lý xét xử phúc thâm.
se Kiếm tra điều kiện về đơn kháng cáo
Điều 244 BLTTDS đã quy định rất rõ về nội dung đơn kháng cáo, do đó khi nhận được don kháng cáo trong hé sơ do Tòa án cấp sơ thầm chuyền lên, Tòa án cấp phúc thầm can phải kiêm tra xem nội dung đơn có đúng quy định không.
+ Thứ nhất: ngày, tháng, năm kháng cáo.
Theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP thì ngày kháng cáo được tính như sau: trong trường hợp người kháng cáo trực tiếp nộp đơn kháng cáo tai Toa án cấp sơ thấm, thì ngày kháng cáo được xác định là ngày nộp đơn kháng cáo; đối với trường hợp người kháng cáo gửi đơn kháng cáo đến Toà án cấp sơ thâm qua bưu điện thì ngày kháng cáo được xác định là ngày có dấu bưu điện nơi
<small>gửi đơn. Trường hợp khơng có hoặc khơng xác định được ngày, tháng, năm theo</small>
dau bưu điện nơi gửi trên phong bi, thì ngày kháng cáo được xác định là ngày Toa án nhận được đơn. Trong trường hợp người kháng cáo trực tiếp nộp đơn kháng cáo tại Tòa án cấp phúc thâm hoặc gửi đơn kháng cáo đến Tòa án cấp phúc thâm thơng qua đường bưu điện thì Tịa án cấp phúc thâm cũng phải vào số nhận đơn kháng cáo để theo dõi; ghi ngày, tháng, năm nhận đơn kháng cáo theo hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 06/2012/NQ-HDTP. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thâm phải chuyển ngay đơn kháng cáo và các tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp sơ thâm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo dé Tòa án cấp sơ thâm tiến hành các thủ tục cần thiết lập hồ sơ kháng cáo.
Pháp luật đã quy định tương đối đầy đủ và rất cụ thể việc xác định ngày kháng cáo từ đó giúp Tịa án cấp phúc thẩm kiểm tra việc kháng cáo trong hạn hay
<small>quá hạn luật định từ đó có cách xử lý kháng cáo phù hợp.+ Thir hai: Tên, dia chỉ của người khang cáo.</small>
Theo quy định tại Điều 243 BLTTDS thì người kháng cáo bao gồm đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tô chức khởi kiện. Pháp luật t6 tung dan su đã quy định rất rõ ràng khái niệm đương sự tại Điều 56 BLTTDS và Điều 2 Nghị
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">quyết số 06/2012/NQ-HDTP; người đại diện của đương sự quy định tại điều 73 BLTTDS; cơ quan, tô chức khởi kiện tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 BLTDS. Như vậy khi các chủ thể theo quy định tại Điều 243 thực hiện quyền kháng cáo có nghĩa vụ cung cấp rõ họ tên, địa chỉ để trong q trình điều tra Tịa án có thể cần xác minh điều tra xem có thuộc đối tượng được quyền kháng cáo hay không.
<small>+ Thự ba: nội dung don khang cáo.</small>
Tòa án kiểm tra nội dung đơn kháng cáo nhằm xác định xem đương sự kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp lý; ly do của việc kháng cáo, yêu cầu của việc kháng cáo. Đồng thời tông hợp những nội dung kháng cáo chưa rõ ràng, chưa đầy đủ để yêu cầu người kháng cáo sửa chữa, bổ Sung nhằm bảo đảm cho đương sự thực hiện hiệu quả quyền tự bảo vệ của mình.
+ Thứ tu: chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
Việc kiểm tra chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm kháng cáo nhằm mục đích xác định người làm đơn kháng cáo có quyền kháng cáo theo quy định khơng, kháng
<small>cáo có hợp lệ khơng.</small>
<small>+ Thier năm: các chứng cứ, tài liệu gửi kèm don khang cáo.</small>
Đề chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của minh là hợp pháp là có căn cứ đương sự có thê gửi kèm theo đơn kháng cáo các tài liệu, chứng cứ. Tòa án xem xét các tài liệu chứng cứ mà đương sự bồ sung kèm theo đơn kháng cáo vào hồ sơ vụ án.
¢ Kiểm tra quyết định kháng nghị của viện kiểm sát
Nếu như trước đây, PLGQCVADS không quy định việc kháng nghị phải gửi băng văn bản, nội dung của kháng nghị, việc gửi kháng nghị và các tài liệu, chứng cư bồ sung cho Tòa án cấp sơ thâm thì pháp luật tơ tụng hiện nay, mà cụ thé là tại Điều 251 BLTTDS đã quy định về nội dung quyết định kháng nghị. Do đó, trong q trình thụ lý, Tịa án cấp phúc thâm kiểm tra quyết định kháng nghị của đại diện viện kiểm sát phải đảm bảo những nội dung sau: ngày, tháng, năm ra quyết định; số của quyết định; tên của viện kiểm sát ra quyết định; nội dung, lý do kháng nghị; họ tên người ký quyết định. Nếu quyết định kháng nghị khơng có đầy đủ các nội dung
<small>trên thì Tịa án câp phúc thâm có qun u câu sửa chữa, bô sung.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">Theo quy định tại Khoản 2 Điều 264 BLTTDS thì viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia phiên tòa phúc thắm nên Tịa án có thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án để gửi bản án cho viện kiểm sát cùng cấp (khoản 2 Điều 241 BLTTDS) mặt khác Điều 252 BLTTDS đã quy định rất cụ thê về thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát.
<small>Tuy nhiên, vì những lý do khách quan cũng như chủ quan nên Tòa án thường</small>
chuyên bản án cho viện kiểm sát vào ngày cuối cùng của thời hạn này. Như vậy, thực chất thời gian kháng nghị của viện kiểm sát theo quy định tại điều 252 BLTTDS đã bi mắt đi 10 ngày. Từ những phân tích trên có thé thay rằng việc pháp luật tố tụng dân sự không quy định về kháng nghị quá hạn gây bất lợi cho hoạt động kháng nghị của viện kiểm sát. Do đó, pháp luật cần quy định về kháng nghị quá hạn của viện kiểm sát nhăm tạo thuận lợi cho hoạt động của viện kiểm sát trong việc bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của các đương sự.
e Kiếm tra về việc thông báo kháng cáo, kháng nghị của của Tòa án cấp sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 249 và 253 BLTTDS thì ngay sau khi chấp nhận don kháng cáo hợp lệ Tòa án cấp sơ thâm phải thông báo ngay bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo; Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị. Việc pháp luật quy định phải có thơng báo kháng cáo, kháng nghị để cho những người được thông báo biết về việc kháng cáo của các đương sự khác hoặc kháng nghị của viện kiểm sát dé họ chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như có quyền gửi những văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thâm nhằm làm sáng tỏ vụ án. Vì vậy, trong quá trình thụ lý, Tịa án cấp phúc thâm phải kiểm tra trong hồ sơ vụ án có thơng báo kháng cáo, kháng nghị hay chưa, nếu khơng có thơng báo này thì trả lại hồ sơ dé Tịa án cấp sơ thâm bổ sung. Trường hợp đương sự nộp văn bản nêu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị thì Tịa án cấp phúc thâm phải đưa vào trong hồ sơ vụ án để xem xét trong quá trình xét xử phúc thẩm.
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>¢ Trường hợp kháng cáo quá hạn.</small>
Theo quy định tại Điều 247 BLTTDS thì kháng cáo quá hạn là kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 245 BLTTDS. Ngoài ra, trường hợp kháng cáo được làm trong thời hạn luật định những việc nộp tiền tạm ứng án phí chậm thì vẫn bị coi là kháng cáo quá hạn. Trường hợp kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thâm yêu cầu người kháng cáo trình bầy rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cử về việc nộp đơn kháng cáo hoặc tiền tạm ứng án phí chậm, sau đó đưa bản tường trình cùng tài liệu chứng cứ kèm theo vào hồ sơ rồi chuyển cho Tòa án cấp phúc thâm xem xét quyết định có chấp nhận kháng cáo quá hạn hay không.
Theo khoản 5 Điều 6 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP thì sau khi Tịa án cấp phúc thâm nhận được đơn kháng cáo, bản tường trình lý do kháng cáo quá hạn, tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án cấp sơ thâm gửi lên, trong thời hạn mười ngày phải thành lập hội đồng gồm ba thâm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Trong trường hợp cần thiết hội đồng xem xét đơn kháng cáo quá hạn có quyền triệu tập người kháng cáo quá hạn đến phiên họp trình bày bồ sung về ly do kháng cáo quá hạn hoặc yêu cau họ cung cấp tai liệu, giấy tờ bổ sung chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn của mình là có lý do chính đáng. Đại diện viện kiêm sát cùng cấp tham gia phiên họp xét lý do kháng cáo quá hạn đối với các trường hợp viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa phúc thấm theo quy định tại khoản 2 Điều 264 BLTTDS.
Theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HDTP quy định “lý do chính đáng” là “trường hop bat khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác (như: do thiên tai, lũ lụt; do 6m dau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện...) làm cho người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định” [11, tr.8]
Hội đồng xét kháng cáo quá hạn có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc khơng chấp nhận vào quyết định. Tịa án cấp phúc thâm phải gửi quyết định về việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo quá hạn cho người kháng cáo quá hạn và Tòa án cấp sơ thâm. Trường hợp Tòa án cấp phúc thâm chấp nhận kháng cáo q hạn thì Tịa án cấp sơ
<small>thâm phải thơng báo về việc kháng cáo và gửi hô sơ vê Tòa án cap phúc thâm.</small>
</div>