Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (23.63 MB, 100 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI <small>TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT</small>
HÀ NOI - 2024
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI <small>TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT</small>
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tổ tụng dân sự
<small>Mã số: 8.38.01.01.04</small>
<small>Tôi xin cam đoan Luận văn là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Các</small>
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ cơng trình nào
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại Học Luật xem xét
<small>Tơi xin chân thành cảm ơn!</small>
<small>Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2024Tác giả</small>
<small>Ngô Thị Mỹ Linh</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Trong q trình học tập tơi xin chân thành cám ơn Thầy/Cô và Ban Giám Hiệu trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình tạo điều kiện thuận lợi cho tơi học tập và nghiên cứu. Cám ơn các Thay/C6 tai
<small>quý báu giúp tôi trưởng thành hơn trong công tác.</small>
Phan Quốc Nguyên đã tận tình hướng dẫn và động viên tơi hồn thành luận văn này. Cuối cùng, tơi cảm ơn gia đình, người thân đã động viên, tạo mọi
điều kiện thuận lợi dé tơi được học tập có hiệu quả và kết quả.
<small>Xin trân trọng cam on!</small>
<small>Tac gia</small>
<small>Ngô Thị Mỹ Linh</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><small>MỤC LỤC</small>
<small>MỤC IUỤC... 5 << (<< HH. HH. HH 00000080840 810 800.50 iii</small>
DANH MỤC TỪ VIET TÁẮTT...---s<-es<veseseexeseesrssseosrssee v
<small>DANH MỤC CAC BANG, HINH ...--2--s-s<ccsecsssesssesse vi</small>
1.1.Khái quát chung về sáng chế và quyền sử dung sáng chế... 10 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của sáng chế...-- 2 se cs 55+: 10 1.1.2. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng ché... 13 1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của quyền sử dụng sáng chế... 14 1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuyển giao quyền sử dụng sáng
1.2.1. Khái niệm chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong các
1.3. Vai trị của chính sách pháp luật đối với hoạt động chuyền giao
<small>1.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia về chuyển giao quyền sử dụng</small>
<small>1.4.1. Kinh nghiệm của Hoa Ky ...--- 55 5 S+<£*++scssseeeezee 27</small> 1.4.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc ...---- 2-2-2 sec: 30 <small>1.4.3. Kinh nghiệm của Nhat Bản...-- -- S2 SsS+ccssseresee 35</small> Kết luận chương l...--- -2- 5E 2+E£EE£EEEEEEEE2EEEEEEEEEEEEEEEEEkErkrrree 38
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIET NAM...-«--eeeeeerre 39
<small>2.1.1. Những quy định chung của pháp luật Việt Nam về chuyền giaoquyển sử dụng sáng chẾ...-- ¿22 s©x+EEt£E£E£E2EEeExrrxerkerkee 39</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">2.1.2. Quy định pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng sáng chế
<small>2.2. Thực trạng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong các trườngđại học tại Việt Nam ...--- - - --- <1 1 1123011111 930 111199311 vn 53</small>
2.2.1. Tinh hình chung về chuyên giao quyền sử dụng sáng chế trong
<small>các trường đại học tại Việt Nam... -- - +5 5+ k*+svsseeeerseeres 53</small>
2.2.2. Những van dé phát sinh trong chuyên giao quyền sử dung sáng chế trong các trường đại học tại Việt Nam...-- ---5++-s<>+<+ 63
giao quyền sử dụng sáng chế trong các trường đại học tại Việt Nam.... 71
<small>với các văn bản luật có liên quan, phải có những quy định mang tính</small> dự liệu, bắt kip và đón đầu xu thế phát triển dé áp dụng lâu dài... 72 3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng sáng chế
Đảng và chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ...- 73
chuyên giao quyên sử dụng sáng chế trong các trường đại học ... 78 Kết luận chương 3...-- +2 SESE+S22E9EEEEEEE12112152121111711 212111111 xe, S1
Luật SHTTnăm2022 : Luật SHTT 2005, sửa đôi bổ sung năm 2022
<small>SHCN : Sở hữu cơng nghiệpSHTT : Sở hữu trí tuệ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Bảng 2.1 Bang thống kê số lượng đơn đăng ký và hợp đồng chuyển giao
Hình 2.1. Số lượng đăng ký sáng chế từ 2012 đến 2022 của chủ thé người Việt Nam và chủ thé người nước ngồi ...--- 2-2 + s+++zzzxerxersrrszes 56 Hình 2.2. Số lượng bằng độc quyền sáng chế đã cấp từ 2012 đến 2022 của chủ đơn người Việt Nam va chủ thé người nước ngồi...--- - 57 Hình 2.3. Số lượng đăng ký sáng chế của người nộp đơn Việt Nam từ năm 2012-2022 theo chủ thỂ...-.:¿-552¿22+tt222xvt2EEttEEErttttrttrrrrrrrrrrrrrrrrrree 57 Hình 2.4. Số lượng đăng ký sáng chế của người nộp đơn Việt Nam từ năm
MỞ DAU 1. Tính cấp thiết của đề tài
các trường đại học đã có sự thay đổi rất nhiều, ngày nay các trường đại học là
với các van đề về Sở hữu trí tuệ (SHTT) một cách thường xuyên. Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO) gọi các trường đại học là “nha máy của nền kinh tế tri thức” có
<small>trường đại học là nơi tạo ra các tài sản trí tuệ thơng qua các chương trình nghiên</small>
vực khoa học mà cũng có thé trở thành một sự đơi mới cơng nghệ. Hơn nữa, băng sáng chế là tài liệu pháp lý cơng nhận quyền sở hữu một tài sản vơ hình là
thé khai thác sáng chế theo một cách riêng.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực đáng ghi nhận trong việc hoàn thiện pháp luật về chuyền giao SHTT, đặc biệt là sáng chế như:
theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho các chủ sở hữu sáng chế
72/2013/NĐ-CP về quản lý, khai thác tài sản trí tuệ của các cơ sở giáo dục đại
giao quyền SHTT, nhằm nâng cao nhận thức của các chủ sở hữu sáng chế và các
nhất định cần được sửa đổi, bố sung nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, yêu cầu xã hội hiện đại. Một số vướng mắc cụ thé bao gồm: Quy định về giá CGQSD sáng chế còn chưa phù hợp; quy định về các quyền và nghĩa vụ của các
nhằm đáp ứng các yêu cầu trên.
<small>2. Tình hình nghiên cứu</small>
Van đề CGQSD sáng chế đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngồi nước. Đã có rất nhiều cơng trình khoa học, giáo trình, tài liệu tham khảo... Cụ thể:
Phan Quốc Nguyên và Hồ Thúy Ngọc (2014), “Exploitation and
<small>Commercialization of Inventions towards Green Economy’</small>
Business and Economics, ISSN 2155-7950, USA. Bai viết nghiên cứu chính <small>, Journal of</small>
hướng tới nên kinh tế xanh ở Việt Nam. Việc khai thác và thương mại hóa các sáng chế có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và hình
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">là nhà hoạch định chính sách và cung cấp thông tin nhằm thúc đây việc khai thác, thương mại hóa các sáng chế từ kết quả nghiên cứu.
<small>Transfer From Comparative Perspective Between Vietnam and the USA, </small>
<small>US-China Law Review, February 2020, Vol. 17, No. 2, 46-55. Bài báo phân tích</small>
học, cần có những cải cách về quy định pháp luật. Các quy định pháp luật cần
hơn và tạo động lực cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động chuyển
<small>giao công nghệ với các trường đại học.</small>
<small>Youngseong Koo, Keuntae Cho (2021), The Relationship betweenPatents, Technology Transfer and Desorptive Capacity in Korean</small>
học Quản lý Công nghệ, Đại học Sungkyunkwan, Hàn Quốc. Nghiên cứu này nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa quyền sáng chế và hiệu suất chuyển giao công nghệ của các trường đại học Hàn Quốc qua đó phân tích tác động của
<small>Robin Feldman, Mark A. Lemley (2015), Do Patent Licensing</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Demands Mean Innovation? 101 Iowa L. Rev. 137. Bài viết đã phân tích các van đề liên quan đến cấp phép sáng chế, nghiên cứu đã khảo sát về những nội
thuận trong cuộc đàm phán đó có dẫn tới các sản phẩm mới, chuyển giao cơng
<small>nghệ hay khơng. Qua đó các tác giả cũng đánh giá các nội dung đàm phán</small>
mới sáng tạo. Bên cạnh đó bài viết cũng nghiên cứu vấn đề quyền sở hữu các
<small>Charlotta Dahlborgl, Danielle Lewensohnl, Rickard Danell, Carl</small>
<small>Johan Sundberg! (2017), To invent and let others innovate: a framework of</small>
<small>academic patent transfer modes, J Technol Transf (2017) 42:538-563 DOI</small> 10.1007/s10961-016-9490-7. Bài viết nghiên cứu về việc thương mai hóa và
thuật và bằng sáng chế tại Viện Karolinska. Kết quả của bài viết có đóng góp quan trọng trọng việc cung cấp tài liệu về cấp bằng sáng chế tại các trường
theo chiéu doc va rong.
Nguyễn Ngọc Điện (2013), “Thương mai hóa sản phẩm KH&CN trong <small>trường Dai học: nên chon mơ hình nào?” Tap chi Khoa hoc và Công nghệ</small> Việt Nam, sô 8 năm 2013;... Các bài viết ở góc độ rộng này đã nêu được khái
IPP Phần Lan (2012), Xây dựng năng lực giảng dạy về Quản lý Đổi mới
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Sáng tạo, Chương trình Đối tác Đôi mới Sáng tạo Việt Nam - Phần Lan (IPP) và Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Đề tài nghiên cứu nằm trong chương trình đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam -Phần Lan (IPP) do Chính phủ -Phần Lan tài trợ và Bộ Khoa học và Công nghệ
<small>trong các hoạt động quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, trường Đại học, viện</small>
Phan Quốc Nguyên (2016), Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Luật học, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã làm rõ về mặt cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn pháp luật của Việt Nam về các hình thức khai thác thương mại mang tính tự nguyện đối với sáng chế. Từ đó đề xuất các phương hướng,
trong phạm vi những vấn đề nghiên cứu đã được xác định.
Lưu Thị Dung (2022), CGQSD đối với sáng chế theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về CGQSD đối với sáng chế và nghiên cứu thực trạng pháp luật về CGQSD đối với sáng chế của Việt Nam. Bên cạnh đó, đề xuất phương hướng, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp
Luật Hà Nội. Đề tài nghiên cứu đã trình bày tổng quan về SHTT và doanh
<small>nghiệp khởi nghiệp đôi mới sáng tạo. Đê tài cũng tiên hành nghiên cứu vân đê</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên thế giới và thực trạng bảo hộ quyền SHTT đối với doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam hiện nay. Đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động này.
Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2014), Quyển sử dụng sáng chế và những
<small>Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.</small>
<small>Melba Kurman (2013), Tech Transfer 2.0: how universities can unlock</small> their patent portfolios and create more startups, Nxb. Triple Helix Press. Cuén sách đã nghiên cứu một cách cơ bản, khái quát về cách thức các trường đại hoc của Hoa Kỳ quản lý các bằng sáng chế từ nguồn bài trợ của Liên Bang.
<small>Shiri M. Breznitz, Henry Etzkowitz (2019), University TechnologyTransfer: The Globalization of Academic Innovation, Nxb. Taylor & Francis</small>
<small>thông qua việc phân tích các các mơ hình thương mại hóa khác nhau. Các tác</small>
này phân chia cuộc thảo luận giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển
<small>theo khả năng thương mại hóa của trường Đại học.</small>
Trần Đắc Hiến (Chủ biên) (2019), Khoa học, công nghệ và đổi mới
lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm 2019. Tác giả đã giới thiệu hiện trạng và quá trình phát triển qua các năm của nguồn lực cho nghiên cứu khoa học và phát triển cơng nghệ. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng giới thiệu về môi trường đôi mới sáng tạo đặc biệt là hoạt
Cuốn sách cũng làm nổi bật những đóng góp của khoa học, cơng nghệ và đôi mới sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội.
Phan Quốc Nguyên (chủ biên) (2020), Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao
khoa Hà Nội. Cuốn sách đã cung cấp những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về SHTT như: các loại tài sản trí tuệ, việc đăng ký bảo hộ quyền SHTT và các biện pháp bảo vệ quyền SHTT. Ngoài ra, cuốn sách cũng trình bày các nội dung quan trọng của hoạt động chuyển giao công nghệ và quản lý quyền
<small>sáng tạo.</small>
Có thể thấy đến nay đã có nhiều sách, đề tài nghiên cứu về vấn đề chuyền giao công nghệ, chuyển giao quyền SHTT và có dé cập đến van đề đơi <small>mới sáng tạo. Tuy nhiên, các cơng trình này mới chỉ tập trung vào phân tích</small> yêu cầu thực tiễn, các chính sách về chuyển giao cơng nghệ và mục tiêu của hoạt động đổi mới sáng tạo trong chuyển giao công nghệ. Các nghiên cứu này
Tuy nhiên, chưa có cơng trình nghiên cứu cụ thể về van đề: “Chuyển
<small>luận và thực tiễn.</small>
<small>3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu3.1. Mục đích nghiên cứu</small>
Luận văn nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc dé xuất các quan điểm, kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả CGQSD sáng chế trong các
<small>trường đại học tại Việt Nam.</small>
<small>3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>trường đại học.</small>
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật của Việt Nam về CGQSD sáng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của
đại học thông qua hợp đồng CGQSD sáng chế. <small>4.2. Phạm vi nghiên cứu</small>
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật CGQSD sáng chế trong các trường đại học
- Phạm vi về không gian và thời gian:
2018 đến năm 2022.
nhân hạn chế trong lĩnh vực này ở Việt Nam.
Thứ hai, đánh giá được thực trạng CGQSD sáng chế trong các trường
<small>đại học của Việt Nam.</small>
Thứ ba, đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả quả về CGQSD sáng chế
<small>trong các trường đại học ở Việt Nam.</small>
<small>6. Phương pháp nghiên cứu</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17"><small>Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện</small>
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, các phương
phân tích, so sánh, v.v... cũng được sử dụng nhăm tổng hợp các tri thức khoa
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được thể hiện 3 chương sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về chuyên giao quyền sử dụng sáng
Chương 2. Thực trạng pháp luật về chuyền giao quyền sử dụng sáng
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả chuyền giao
<small>Nam.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small>Chương 1</small>
Gan liền với những thành tựu về sáng tạo trí tuệ của lồi người là sự ra
dé ít được chú ý thì nay SHTT trở thành một trong những yếu tổ then chốt trong việc hoạch định chính sách của chính phủ mọi quốc gia trên thế giới
phạm vi quốc tế và của hầu hết các quốc gia đều có quy định về bảo hộ quyền SHTT đối với loại đối tượng này. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã
đó, khơng thể ké tới giá trị mà các sáng chế đã mang lai. Sáng chế chính là
<small>thành quả lao động của con người, do đó ln được Nhà nước bảo hộ thơng</small>
qua hình thức thừa nhận và bảo vệ quyền cua con người, cu thé 1a bao vé
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của sáng chế
Sáng chế là một khái niệm được dùng để chỉ những giải pháp kỹ thuật
kinh doanh cũng như trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, giải
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">van đề, một nhiệm vụ xác định. Giải pháp kỹ thuật có thé được biểu hiện dưới dạng một sản phâm hoặc quy trình cụ thé.
Đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung về sáng chế, mỗi quốc gia
<small>lại có các định nghĩa khác nhau. Ví dụ: Cộng hịa Pháp khơng định nghĩa sáng</small>
độc quyền sáng chế bởi có quan có thâm quyền khai thác tạm thời đối với
nghĩa sáng chế là các giải pháp kỹ thuật mới dưới dạng một sản phẩm, một quy trình hoặc việc cải tiến sản phẩm và quy trình đó [39]. Khác với hai quốc
tưởng kỹ thuật dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên [38]. Còn Tổ
chế là sản phẩm mới hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật” [71]. Định nghĩa này của WIPO đã nhắn mạnh đến ba yếu tố: tính mới, sáng
Việt, sáng chế được hiểu là “Nghĩ và chế tạo ra cái trước đó chưa từng có”
của hau hết tất cả mọi người về sáng chế.
<small>Theo pháp luật Việt Nam, Luật SHTT năm 2005 cũng đã đưa ra định</small>
dụng các quy luật tự nhiên” [49]. Định nghĩa này đã chi rõ sáng chế chính là một giải pháp kỹ thuật. Có thé thấy, bản chat của sáng chế là một giải pháp kỹ
khoa học thì khơng thé coi đó là sáng chế.
<small>II</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. 1.1.1.2. Đặc điểm cua sáng chế
Thứ nhất, sáng chế là giải pháp kỹ thuật phải giải quyết được một vấn dé cụ thé băng việc áp dụng các quy luật tự nhiên.Sáng chế là sản phẩm, quy trình cơng nghệ do con người tạo ra, khác biệt với những gì tồn tại sẵn trong tự nhiên mà con người khám phá. Thuộc tính cơ bản của sáng chế là tính kỹ
<small>luật tự nhiên - những quy luật khoa học được khám phá qua thực nghiệm. Do</small>
thuật không được coi là sáng chế. Tương tự, nếu vấn đề được giải quyết không thuộc lĩnh vực kỹ thuật hoặc không thê giải quyết bằng phương thức kỹ
Giải pháp kỹ thuật là cách tiếp cận dé giải quyết van dé kỹ thuật, và nó có thé được thê hiện thơng qua sản phâm hoặc quy trình.
Sáng chế dưới dạng sản phẩm có thể là: Sản phẩm vật thể: Đây là các sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi cau trúc va dấu hiệu cụ thé dé thực hiện một chức năng nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu con người. Ví dụ: Dụng
pham...; Sản phẩm dang vật liệu sinh hoc: Đây là các sản pham có chứa thơng tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tao.
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Ví dụ: Gen thực vật, gen động vật...Sáng chế dưới dạng quy trình được thé hiện thông qua cach thức tiễn hành một quá trình cụ thể, được xác định bằng
phương tiện thực hiện các thao tác nhăm đạt được một mục đích nhất định. Ví dụ: Quy trình cơng nghệ, phương pháp chuẩn đoán, dự đoán, kiểm tra...
hàng ngày, có giá trị thương mại và đem lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu của <small>nó.</small>
<small>Dựa trên sự sáng tạo và cơng sức lao động, những giải pháp kỹ thuật</small>
trong sáng chế không chỉ được áp dụng trực tiếp vào sản xuất và cuộc sống hàng ngày mà còn thúc đây sự phát triển của nền kinh tế. Đồng thời, sáng chế
cũng tạo ra giá trị kinh tế cho chủ sở hữu.
Khi nghiên cứu về quyền sử dụng sáng chế và chuyên giao quyền sử
trong văn bản pháp luật tại Pháp vào thé kỷ XVIII. Nguồn gốc của quan điểm này về việc thừa nhận và bảo vệ quyền SHCN cũng như quyên tác giả đều xuất phát từ lý luận về quyền tự nhiên của hai nhà triết học nổi tiếng của Pháp, Vonte và Rutxo. Theo lý luận này, quyền của người tạo ra một tác
<small>cơng nhận hay khơng cơng nhận từ phía nhà nước [41, tr.9].</small>
1791 tại Pháp, nội dung chỉ ra rằng “mọi ý tưởng mới có thê có lợi cho xã hội
<small>sẽ thuộc vê người sáng tạo ý tưởng đó, và sẽ là vi phạm nhân quyên nêu</small>
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">không coi sáng chế công nghiệp mới là sở hữu của người tạo ra nó”. Thuật
<small>ngữ “sở hữu công nghiệp” cũng được sử dụng trong Công ước Paris 1883,</small>
được tổng sửa đổi vào năm 1979. Theo Điều 1 của Công ước Paris, “sở hữu công nghiệp” được hiểu rộng rãi, không chỉ áp dụng cho công nghiệp và
<small>lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột [10]. Tuy</small>
SHCN, nhưng không trực tiếp xác định khái niệm quyền SHCN.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “quyền SHCN” được lần đầu ghi nhận trong Pháp lệnh Bảo hộ quyền SHCN năm 1989, tuy nhiên, không định nghĩa rõ ràng về nó. Ngày nay, chúng ta có thể hiểu quyền SHCN qua hai góc độ: góc
chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng, chuyên
với các đối tượng SHCN. Nội dung của quyền SHCN bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thé được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
Từ những phân tích nêu trên, có thé hiểu quyền SHCN đối với sáng chế là: “quyên của tổ chức, cá nhân trong việc sở hữu, tự minh sử dung, cho pháp
gồm ba thuộc tinh cơ bản: quyền sử dụng tài sản (usus) - là quyền cho phép
<small>chủ sở hữu sử dụng tài sản theo mục đích và cách thức mong muôn; quyên</small>
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">thu lợi từ tài sản (fructus) - là quyền cho phép chủ sở hữu thu lợi từ tài sản, bao gồm lợi tức, hoa lợi,...; quyền chuyên nhượng cho bên thứ ba (abusus) - là
quyền cho phép chủ sở hữu chuyền nhượng quyền sở hữu tài sản cho người
cơng dung, hưởng hoa lợi và lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình. Quyền này
<small>công dụng tự nhiên của tài sản; cho người khác sử dụng tài sản thông qua cácgiao dịch dân sự như cho thuê, cho mượn. Tuy nhiên, việc sử dụng tài sản</small>
<small>khác và không trái đạo đức xã hội. Thông thường, chủ sở hữu là người có</small>
quyền sử dụng tài sản, trừ một số trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định
<small>công dụng cua tài sản, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài san” [51]. Việc sử dung</small>
tài sản cần tuân thủ pháp luật, đạo đức xã hội và không ảnh hưởng đến lợi ích
Tài sản vơ hình là loại tài sản khơng có hình thái vật chất nhưng có thé
hữu hình là ta khơng thé nhìn thấy hay chạm vào tài sản vơ hình. Quyền sử
tế của tài sản vơ hình chỉ được tạo ra khi sử dụng (Vi dụ, một sáng chế chỉ có giá trị khi được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh) và khác với tài sản hữu hình, việc chiếm hữu không phải là yếu tố quyết định để khai thác tài sản vơ hình (Vi dụ, chủ sở hữu sáng chế có thé cho phép người khác sử dụng sáng
chế mà khơng cần chuyền giao quyền sở hữu).
<small>Do đó, khi xây dựng khái niệm vê quyên sử dụng sáng chê cân phải</small>
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">dựa trên nền tảng quyền SHCN đối với sáng chế kết hợp với lý thuyết về tài sản vơ hình. Theo đó, có thể hiểu quyền sử dụng sáng chế “là quyén của tổ chức, cá nhân trong việc có thể tự mình khai thác hoặc cho phép người khác khai thác công dụng cua sáng chế dé hưởng các lợi ích kinh tế”.
Thứ nhất, quyền sử dụng sáng chế bị giới hạn theo quy định pháp luật. Quyền sử dụng sáng chế không tự do mà bị giới hạn bởi các quy định pháp luật về không gian (nơi áp dụng), thời gian (thời hạn bảo vệ), và nội dung
được luật định thi không được coi là sử dụng quyền SHCN với sáng chế đó, và do đó khơng bị coi là vi phạm quyền SHCN. Đây cũng chính là sự khác
Đối với tài sản hữu hình, pháp luật khơng có quy định về hình thức sử dụng
dụng tải sản đó dưới mọi dạng thức theo ý chí của bản thân, miễn là khơng
phép nhiều chủ thể khác nhau cùng sử dụng sáng chế của mình thơng qua việc
Thứ ba, về tính chất độc quyền. Quyền sử dụng sáng chế của chủ sở hữu là độc quyên, chỉ có họ mới có quyền quyết định việc sử dụng, cho phép
<small>họ quyên kiêm soát và ưu tiên về việc áp dụng sáng chê.</small>
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong các trường đại học
<small>trường đại học</small>
giải quyết các vấn đề kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hăng ngày trong đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Chính vì vậy, nếu sáng chế được bảo hộ, khai thác và thương mại hiệu quả sẽ mang lại giá tri
trong những loại tài sản vơ hình có giá trị kinh tế cao.
toàn bộ sáng chế; đồng thời có các quyền nhân thân đối với sáng chế, khơng bị thay đôi, không bị cham dứt. Thông thường, tác giả có thé đồng thời là chủ sở hữu sáng chế. Tuy nhiên, nếu sáng chế được tao ra từ việc các tô chức, cá nhân thuê hoặc giao việc cho tác giả thì các tổ chức cá nhân này là chủ sở hữu
Tuy nhiên, chỉ khi sáng chế được pháp luật ghi nhận và bảo hộ thông qua việc được cấp Văn bang bảo hộ - Băng độc quyén sáng chế thì các qun tài sản,
<small>trong đó có qun khai thác thương mại đôi với sáng chê của chủ sở hữu sáng</small>
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">chế mới được ghi nhận và đảm bảo sự độc quyên trong quá trình sử dụng, khai thác sáng chế. Bên cạnh những độc quyền mà pháp luật ghi nhận thì chủ
sở hữu sáng chế cũng có quyền quyết định việc cho phép người khác được sử dụng, khai thác sáng chế trong một phạm vi nhất định. Khai thác thương mại
luật ghi nhận. Khai thác thương mại sáng chế là hoạt động khai thác các khía
sáng chế, CGQSD sáng chế hoặc chủ sở hữu thế chấp, góp vốn kinh doanh, thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHCN đối với sáng chế nhằm mục đích <small>thu lợi nhuận.</small>
Như vậy, CGQSD sáng chế là một trong những hình thức khai thác
theo những hình thức nhất định. Theo quy định của pháp luật, các quyền được
vì vậy chủ sở hữu sáng chế có thé tự sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng thơng qua hình thức CGQSD sáng chế đó.
Chuyên giao quyền sử dụng sáng chế hay còn được gọi là li-xăng sáng chế, là một từ được bắt nguồn từ Tiếng La-tinh “Licentia”, tức là sự cho phép,
giới như Anh, Mỹ, Đức. Hệ thống pháp luật của nước ta cũng đã cơng nhận khái niệm li-xăng, vì Hợp đồng CGQSD đối tượng SHCN cũng được gọi là Hợp đồng li-xăng theo khoản 2, Điều 47 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN
<small>[21. tr.18].</small>
Từ những phân tích nêu trên có thé rút ra khái niệm CGQSD sáng chế
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>trường đại học</small>
<small>Tại các trường đại học, hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong</small>
những hoạt động quan trọng, gan liền với hoạt động dạy - học của tồn <small>trường. Theo đó, thơng qua hoạt động nghiên cứu khoa học, trên cơ sở của</small>
thời áp dụng kỹ năng, trí tuệ sáng tạo của bản thân dé từ đó giúp cho sinh viên và cả đội ngũ giảng viên của các trường đại học sáng tạo ra những sản phẩm hoặc những giải pháp kỹ thuật có tính hiệu quả, có thé áp dụng vào thực tiễn
cuộc sơng hoặc quy trình sản xuất, kinh doanh dé giải quyết những van dé cụ thé. Theo đó, các sáng chế được tạo ra bởi các giảng viên, đội ngũ sinh viên
<small>nghiệp [20].</small>
Trong những năm gần đây, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
và cơng nghệ nói chung và thúc đây đổi mới sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">công nghệ gan với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tất cả các lĩnh vực,
<small>nghiệp với các viện nghiên cứu, trường Đại học, trong đó tập trung vào nângcao năng lực của doanh nghiệp từng bước tham gia, tạo ra công nghệ mới.</small>
<small>Các trường đại học là cái nôi của sáng tạo, là nơi sáng tạo ra những trithức khoa học công nghệ và kỹ thuật mới thơng qua các nghiên cứu của mình;</small>
giao tri thức khoa học, công nghệ từ các phịng thí nghiệm đến các cơ sở, tơ
nhân lực khoa học - công nghệ hiện nay đang làm việc chủ yếu trong các
<small>trường đại học. Do đó trường Đại học đóng vai trị là những trụ cột trong hệ</small>
thống đổi mới sáng tạo của quốc gia. Hoạt động CGQSD sáng chế trong các trường đại học với mục tiêu thúc đây hoạt động khởi nghiệp, đôi mới sáng tạo
cứu góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất
nghiên cứu khoa học và chuyên giao công nghệ vừa phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội, phù hợp với nhu cầu chung của khu vực và cả nước.
hoạt động mà theo đó trường đại học, với tu cách là chủ sở hữu sáng chế, cho phép một tổ chức, cá nhân khác (được gọi là bên nhận chuyển giao) được sử
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">định, với các điều kiện và nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng <small>chuyên giao.</small>
<small>trường đại học</small>
trường đại học, đặc biệt là trong giai đoạn các cơ sở giáo dục đại học chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính. Việc thúc day hoạt động CGQSD sáng chế trong các trường đại học sẽ góp phần khai thác thương mại các sáng chế, mang lại
nghiên cứu và phát triển nằm trong kế hoạch hăng năm của nhà trường. Theo
<small>đó, các giảng viên, sinh viên các trường đại học tham gia nghiên cứu, phát</small>
minh ra các sáng chế mới, có khả năng ứng dụng thực tế. Tuỳ vào từng trường hop cụ thé, các sáng chế được tạo ra trong phạm vi các trường đại học
<small>trong các trường đại học là giảng viên, sinh viên của nhà trường hoặc một</small>
nhóm giảng viên, nhóm sinh viên đã sáng tạo ra sáng chế hoặc chủ thể CGQSD sáng chế là trường đại học nơi sáng chế đã được tạo ra.
Hai là, hoạt động CGQSD sáng chế trong các trường đại học thường
<small>21</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">được thực hiện thơng qua các Văn phịng/ Trung tâm tư vấn, nghiên cứu và chuyền giao công nghệ.
Đặc điểm quan trọng trong CGQSD sáng chế tại các trường đại học là việc thực hiện thông qua các Văn phòng/ trung tâm tư vấn, nghiên cứu và
nhiệm vụ tìm kiếm, xác định và quản lý các ý tưởng sáng tạo, SHTT từ cán bộ giảng viên và sinh viên trong trường. Đồng thời, chúng cũng giúp kết nối các nhà nghiên cứu và nhà sáng tạo với các cơng ty hoặc tổ chức có khả năng phát triển và thương mại hóa các sản pham, dịch vụ dựa trên sáng chế. Văn phòng/ trung tâm tư vấn, nghiên cứu và chuyên giao công nghệ không chỉ đơn thuần
<small>nghệ trong các trường đại học.</small>
<small>Ba là, các trường đại học thường có các chính sách hỗ trợ hoạt động</small>
CGQSD sáng chế, chăng hạn như hỗ trợ kinh phí, đào tạo cán bộ...
Điều này thường bao gồm việc cung cấp hỗ trợ tài chính dé phát triển
và sinh viên tham gia vào các hoạt động này. Kinh phí hỗ trợ từ các trường
ý tưởng sáng tạo từ giai đoạn ban đầu đến giai đoạn thương mại hóa. Điều này giúp đây mạnh việc chuyên đổi các ý tưởng thành các sản phẩm hoặc dịch vu
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">có thé được thị trường hố.
Ngồi ra, việc cung cấp đảo tạo và bồi dưỡng cho cán bộ và sinh viên là một phần quan trọng của chính sách hỗ trợ này. Đảo tạo này có thể bao gồm kiến thức về quản lý sáng chế, kiểm soát về SHTT, kỹ năng thương
<small>lượng, và quản lý dự án, giúp nâng cao khả năng thực hiện và thương mại hóacác ý tưởng sáng tạo từ các trường đại học.</small>
<small>trường đại học</small>
1.1.3.1. Đối với các trường đại học
Việc chuyên giao thành công các sáng chế sẽ tạo động lực cho các nhà nghiên cứu tập trung vào các cơng trình nghiên cứu ứng dụng cao, có tiềm năng thương mại hóa. Điều này góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
<small>của hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường. Bên cạnh đó, các khoản</small>
<small>cứu khoa học. Việc giảm bớt gánh nặng tài chính cho nhà trường cũng tạo</small>
động CGQSD các sáng chế sé khang định vi thé của nhà trường trong hệ thống giáo dục đại học, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là cơ hội dé nhà trường quảng bá thương hiệu va tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước.
<small>thức bảo vệ SHTT của cán bộ, giảng viên và sinh viên.</small>
1.1.3.2. Đối với nhà nghiên cứu
Hoạt động CGQSD sáng chế mang lại nhiều lợi ích cho nhà nghiên
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">cứu. Khi sáng chế được chuyên giao và khai thác thương mại thành công, nhà nghiên cứu sẽ nhận được phần lợi nhuận theo thỏa thuận. Đây là nguồn thu nhập bồ sung, đồng thời khang định giá tri và tam quan trọng của cơng trình
<small>nghiên cứu. Việc được cơng nhận và chia sẻ lợi ích sẽ tạo động lực cho nhà</small>
triển further nghiên cứu của mình. Hợp tác với doanh nghiệp cũng giúp nhà nghiên cứu mở rộng mạng lưới quan hệ và nâng cao vị thế trong cộng đồng
dịch vụ mới có giá trị, góp phần thúc đây phát triển kinh tế - xã hội. Nhà nghiên cứu sẽ được ghi nhận là người đóng góp vào sự phát triển chung của
cứu; góp phan thúc day đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nghiên cứu. 1.1.3.3. Đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, CGQSD sáng chế từ các trường đại học mang đến rất nhiều lợi ích. Doanh nghiệp với việc này, tận hưởng sức mạnh
<small>dịch vụ đột phá, đáp ứng nguyện vọng của thị trường. Ngoài ra, việc mua lại</small>
nghiên cứu, tập trung nguồn lực vào marketing, bán hàng va quản lý — những hoạt động khác vô cùng quan trọng. Đồng thời, CGQSD sáng chế của các
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><small>trường đại học cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp hợp tác với các nhà</small>
nghiên cứu, trường đại học mở đường cho việc đổi mới, sáng tao trong công
<small>nghệ. Sức mạnh từ tri thức và kinh nghiệm của họ giúp doanh nghiệp thăng</small>
hạng khả năng sáng tạo, mang đến những giải pháp mới mẻ.
thu và lợi nhuận, cũng như nâng tầm uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp.
1.1.3.4. Đối với xã hội
Hoạt động CGQSD sáng chế của các trường đại học khơng chỉ mang lại lợi ích cho xã hội mà cịn có tác động lớn đến nhiều khía cạnh:
Đầu tiên, việc áp dụng sáng chế vào sản xuất, kinh doanh giúp tăng
triển kinh tế. Sản phẩm, dịch vụ mới sinh ra từ sáng chế đáp ứng nhu cầu
động và giảm tình trạng thất nghiệp. Tăng cường năng suất lao động cũng góp phan vào việc giảm bớt tình trạng nay; Ba /à, thành cơng trong CGQSD sáng chế của các trường đại học tạo động lực mạnh mẽ cho các nhà nghiên cứu tiếp tục sáng tạo, phát triển các cơng trình nghiên cứu mới. Sự áp dụng thực tiễn
và thúc đây phát triển bền vững. Nó cũng thúc đây hợp tác quốc tế trong lĩnh
<small>vực khoa học công nghệ, tạo điêu kiện cho việc trao đôi kiên thức và kỹ năng</small>
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">giữa các quốc gia, góp phan vào sự tiến bộ tồn cau.
Có thé thấy, hoạt động CGQSD sáng chế của các trường đại học có ý nghĩa quan trọng đối với nhà trường, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và xã hội.
Đây là một hoạt động cần được quan tâm và thúc day dé góp phan phát triển <small>kinh tê - xã hội và nâng cao chât lượng cuộc sơng.</small>
Hoạt động CGQSD sáng chế trong các trường đại học đóng vai trị quan trọng trong việc thúc đây đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế xã hội. Các trường đại học là nơi tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao, nơi nghiên cứu và sáng tạo ra tri thức khoa học - kỹ thuật mới. Việc chuyển giao
thương mại hóa kết quả nghiên cứu, góp phần vào sự phát trién chung của đất
<small>các bên liên quan.</small>
Thứ nhất, chính sách pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp. Các ưu đãi về thuế, tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật khuyến khích các bên liên quan hợp tác nghiên cứu và phát triển, chia sẻ
<small>Thứ hai, chính sách pháp luật đơn giản hóa thủ tục và giảm chi phí giao</small>
rút ngắn thời gian và giảm chi phí cho q trình chun giao, từ đó thúc day hoạt động CGQSD sáng chế trong các trường đại học.
Thứ ba, các quy định pháp luật về SHTT, chia sẻ lợi nhuận và giải
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">quyết tranh chấp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Điều này tạo mơi trường an tồn và tin cậy cho hoạt động CGQSD sáng chế trong các trường
đại học, khuyến khích các bên tham gia vào q trình này.
Tuy nhiên, nếu các quy định pháp luật quá phức tap và khó hiểu, có thé
<small>gây khó khăn cho việc tuân thủ và thực thi, làm giảm hiệu quả của quá trình</small>
1.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia về chuyển giao quyền sử
<small>1.4.1. Kinh nghiệm của Hoa Ky</small>
Thiết lập hệ thống quản lý và chính sách nhằm thúc đây việc thúc đây và sử dụng quyền SHTT - một biện pháp quan trọng dé chính phủ liên bang
liên bang Hoa Kỳ đã ban hành một loạt luật và quy định nhằm thúc day phát
<small>liên bang (1986), đạo luật thương mại và cạnh tranh toàn diện (1988), Đạo</small>
luật nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia về chuyển giao công nghệ (1989), Đạo luật ưu tiên công nghệ (1991), Đạo luật chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ (1992), Đạo luật chuyên nhượng và khuyến khích cơng
liên bang (1997), và Đạo luật kinh doanh hóa cơng nghệ (2000) v.v. Trong số
các kết quả nghiên cứu do liên bang tài trợ và bất kỳ khoản thu nhập nào từ các hoạt động chuyển giao công nghệ của họ.. (2) Đạo luật Khuyến khích
<small>27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>Sáng tạo, đạo luật này rõ ràng quy định Chính phủ Liên bang có trách nhiệm</small>
chuyền giao và thúc đây việc sử dụng kết quả nghiên cứu từ nguồn vốn đầu tư quốc gia.
Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ thì các trường đại học có thể hồn
<small>dịch. Theo Đạo luật Bayh-Dole, các trường đại học không được phép nhượng</small>
quyền cho bên thứ ba bất kỳ băng sáng chế nào bảo vệ cho một sáng chế do Chính phủ Liên bang Hoa Kỳ tài trợ, trừ khi họ đề nghị trả lại cho cơ quan Chính phủ Liên bang đã tài trợ cho nó. Các sáng chế được tài trợ bởi chính
<small>nhuận hoặc chính các trường đại học khơng phải chịu nghĩa vụ theo quy định</small>
<small>của đạo luật Bayh-Dole.</small>
mình thơng qua hai kênh chính: CGQSD và bán. CGQSD sáng chế được đặc
phụ thuộc vào đặc điểm của sáng chế và các bên tham gia trong hợp đồng. Hợp đồng CGQSD sáng chế có thé bao gồm một khoản thanh tốn cé định, tiền phí dựa trên việc chia sẻ doanh thu, hoặc sự kết hợp giữa hai phương pháp này, với các kế hoạch phức tạp hơn liên quan đến việc chuyền từ thanh
thanh toán một lần. Theo nghiên cứu của Hiệp hội AƯTM năm 2016 đã cho
CGQSD sáng chế cho phép vượt qua sự khơng chắc chắn khi thương mại hóa <small>các cơng nghệ mới theo hai cách: băng cách chia sẻ rủi ro giữa người bán và</small>
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">người mua và trì hỗn việc thanh tốn các loại thuế sang tương lai và kết nối chúng với doanh thu thương mại của sản phẩm tích hợp sáng chế [66]. CGQSD sáng chế cũng đảm bảo một mức độ tự do cao trong quá trình thương lượng, nguồn thu lâu dai và, trong trường hợp cấp phép khơng độc qun, có lựa chọn xác định nhiều bên cấp phép và giữ quyền kiểm soát đối với phát minh với khả năng áp đặt hạn chế sử dụng. Các hợp đồng CGQSD sáng chế
đến sự khơng chắc chăn khi thương mại hóa. CGQSD sáng chế cũng có thể là lựa chọn ưu tiên khi có nhiều người được chuyển nhượng và nhà phát minh tham gia, do đó gây ra chi phí giao dịch cao hơn trong việc bán bằng sáng chế
và hoàn toàn chuyền quyền sở hữu.
<small>nghiệp, ngay cả khi chúng được thành lập bởi một nhóm các nhà phát minh,</small>
miễn hoặc chỉ thu các khoản thanh toán trả trước rất thấp, cho phép các cơng ty trả phí CGQSD sáng chế sau khi bán hàng và các khoản chiết khấu khác. Phí CGQSD sáng chế có thé được thanh tốn bằng tiền mặt hoặc vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, về điều kiện CGQSD sáng chế, các trường đại học có u cầu
mong đợi thì quyền sử dụng bằng sáng chế sẽ bị thu hồi.
Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ đó là xây dựng một hệ thống
<small>mạnh mẽ vê nghiên cứu cơ ban và tài san trí tuệ. Họ đã thành công trong việc</small>
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các công nghệ vào sản xuất. Cách tiếp cận của
<small>Hoa Kỳ là thông qua việc tạo ra môi trường hỗ trợ khởi nghiệp và sáng tạo,</small>
cung cấp vốn đầu tư, đảo tạo và hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp khởi <small>nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ [27].</small>
bố Chương trình thử nghiệm cấp phép mở bằng sáng chế. Theo Điều 50 của
sáng chế tự nguyện tuyên bố bằng văn bản trước CNIPA rằng họ sẵn sàng cấp phép cho bat kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào khai thác bằng sáng chế của mình, đồng thời chỉ định phương tiện và tiêu chuẩn thanh tốn phí cấp phép, CNIPA sẽ thông báo công khai về giấy phép mở” [5]. Khác biệt so với phương thức
chỉ phí giao dịch hệ thống.
bằng sáng chế, hệ thống cơ quan cấp bằng sáng chế. Chủ sở hữu sáng chế sau khi đưa ra tuyên bố rằng họ sẵn sàng cấp phép mở bằng sáng chế, ngay sau đó thơng tin về cấp phép mở đối với sáng chế sẽ được công bố tới những người có tiềm năng được chuyên giao. Nội dung cơng bó sẽ liệt kê những thơng tin
<small>một nên tang giao dịch băng sáng chê quôc gia và một nên tảng xuat bản định</small>
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">hướng thị trường. Điều này giúp giảm chỉ phí tìm kiếm thơng tin bằng sáng chế, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc chuyền giao.
Về phạm vi của Chương trình thử nghiệm cấp phép mở bằng sáng chế.
được phép tun bố một giấy phép mở cho cùng một bang sáng chế; Ba la, về nguyên tắc thời hạn li-xăng khơng ít hơn 01 năm, và tất cả những người được cấp bang sáng chế đồng ý cấp phép cho bat kỳ đơn vị hoặc cá nhân nao dé thực hiện nó; Bon là, đối với các bằng sáng chế thiết kế và mơ hình tiện ích,
khai giấy phép mở.
án nhân dân ra quyết định áp dụng biện pháp bảo lưu quyền sử dụng sáng chế; Bằng sáng chế đang trong thời hạn nộp phí hàng năm; Bằng sáng chế được cầm có mà khơng được phép của bên nhận cầm cố và một số trường hợp khác không đáp ứng các điều kiện theo luật định đối với giấy phép mở bằng sáng
Qua đây có thể thấy mơ hình “Cấp phép mở bằng sáng chế” là một trong những mơ hình mới trong hoạt động phát trién hệ thống bằng sáng chế
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">của Trung Quốc với ưu điểm vượt trội như: Trong thời hạn của giấy phép mở, phí gia hạn bằng sáng chế hàng năm do người được cấp bằng sáng chế trả sẽ được giảm hoặc miễn. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có thơng kê cụ thé về mức giảm phí hàng năm có thể được giảm bao nhiêu và các yêu cầu đề được miễn phí hàng năm là gì. Với việc cơng bố tuyên bố về giấy phép mở trong hệ
đồng cấp phép.
Ví dụ: Tại Thượng Hải sau khi mở trang web “Cấp phép mở” của Trung tâm trao đôi SHTT Thượng Hải và ké từ ngày 17/6/2022 trang web nay bắt đầu công bồ thông tin cap phép mở bang sáng chế trên nền tang nay. Đồng thời sử dụng Mơ hình “giao dịch giá miễn phí hoặc từ thấp đến trung bình và
nhanh hơn và tốt hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chỉ 3 ngày đã có 35
Hải đã chuyền giao tổng cộng 40 băng sáng chế thông qua trung tâm. Các đơn vị tham gia cấp phép mở bằng sáng chế bao gồm: Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thượng Hải (sau đây gọi là Đại học Kỹ thuật), Đại học Bách khoa số 2 Thượng Hải và Công ty TNHH Tập đồn Phát triển Cơng nghệ Jilian Thuong
<small>Hải Cơng ty và Công ty TNHH Công nghệ sinh thái Guohuan Thượng Hải.</small>
Chương trình thử nghiệm về Cấp phép mở Bằng sáng chế đã thu hút sự tham
Bằng sáng chế. Đến nay đã có gần 1.000 thỏa thuận cấp phép Băng sáng chế
<small>32</small>
</div>