Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 110 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC </b>
<b>NGUYỄN CÔNG HIẾU </b>
<i> </i>
<b>THÁI NGUYÊN – NĂM 2022 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC </b>
<b>NGUYỄN CÔNG HIẾU </b>
<b>Chuyên ngành: Y học dự phòng Mã số: 8.72.01.10 </b>
<i> </i>
<b>NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THẾ HOÀNG </b>
<b>THÁI NGUYÊN – NĂM 2022 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>LỜI CAM ĐOAN </b>
Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ cơng trình nghiên cứu nào khác.
<i>Thái Ngun, tháng 12 năm 2022 </i>
<b>Người cam đoan </b>
<b>Nguyễn Công Hiếu </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">
<b>LỜI CẢM ƠN </b>
Trong q trình hồn thành luận văn này, tơi đã nhận được sự hướng dẫn, đóng góp, giúp đỡ và động viên của tất cả thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình.
Tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo bộ phận sau đại học, Khoa Y tế Công Cộng - Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quãng thời gian thực hiện nghiên cứu.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, các Khoa, Phòng, bạn bè đồng nghiệp nơi tôi công tác, Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, Trạm Y tế xã và Ủy ban Nhân dân xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và triển khai thực hiện đề tài.
Trước tiên tơi xin bày tỏ lịng tri ân, lịng kính trọng tới TS. Trần Thế
<b>Hồng - Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên, người Thầy đã tận </b>
tình hướng dẫn, chỉ bảo tơi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Đặc biệt, tôi xin ghi nhớ công ơn sinh thành, dưỡng dục của Cha, Mẹ tôi. Xin cảm ơn vợ tôi đã luôn là người bạn, người đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
<i>Thái Nguyên, tháng 12 năm 2022 </i>
<b>Nguyễn Công Hiếu </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">IFR : Infection fatallity rate - Tỉ lệ tử vong do lây nhiễm OR : Odd ratio - Tỉ số chênh
THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông
WHO : World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">1.3. Nghiên cứu về kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 ... 14
1.4. Nghiên cứu về sẵn sàng chi trả để sử dụng vắc xin và yếu tố liên quan . 19 1.5. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu ... 23
<b>Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 25 </b>
2.1. Đối tượng nghiên cứu ... 25
2.2. Thời gian, địa điềm nghiên cứu ... 25
2.3. Phương pháp nghiên cứu ... 25
2.4. Chỉ số nghiên cứu ... 27
2.5. Tiêu chuẩn đánh giá biến số nghiên cứu ... 29
2.6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu ... 32
2.7. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số ... 33
2.8. Phân tích số liệu ... 34
2.9. Đạo đức nghiên cứu ... 34
<b>Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ... 35 </b>
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ... 35
3.2. Kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2021 ... 38
3.3. Đánh giá mức độ sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân tại xã Thạch Sơn và các yếu tố liên quan ... 45
<b>Chương 4. BÀN LUẬN ... 56 </b>
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ... 56
4.2. Kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2021 ... 59
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">4.3. Đánh giá mức độ sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 của
người dân tại xã Thạch Sơn và các yếu tố liên quan ... 67
<b>KẾT LUẬN ... 81 </b>
<b>KHUYẾN NGHỊ ... 82 </b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO ... </b>
<b>PHỤ LỤC ... 10 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b>DANH MỤC BẢNG </b>
Bảng 3.1. Phân bố nhóm tuổi theo giới của đối tượng nghiên cứu... 35
Bảng 3.2. Phân bố tình trạng hơn nhân của đối tượng nghiên cứu ... 35
Bảng 3.3. Phân bố nghề nghiệp, trình độ học vấn và kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu ... 36
Bảng 3.4. Tỉ lệ bệnh mạn tính kèm theo của đối tượng nghiên cứu ... 37
Bảng 3.5. Tỉ lệ tiền sử dị ứng và đặc điểm liên quan đến tiêm vắc xin phòng COVID-19 của đối tượng nghiên cứu ... 37
Bảng 3.6. Phân bố nguồn thơng tin về vắc xin phịng COVID-19 ... 38
Bảng 3.7. Tỉ lệ biết loại vắc xin sử dụng để tiêm phòng COVID-19 ... 38
Bảng 3.8. Tỉ lệ biết tác dụng của vắc xin phòng COVID-19 ... 39
Bảng 3.9. Tỉ lệ biết đối tượng cần tiêm vắc xin phòng COVID-19 ... 39
Bảng 3.10. Tỉ lệ biết các phản ứng có thể gặp sau tiêm vắc xin ... 40
Bảng 3.11. Tỉ lệ biết xử trí khi gặp tác dụng khơng mong muốn sau tiêm vắc xin phòng COVID-19 ... 40
Bảng 3.12. Thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 (n=300) ... 42
Bảng 3.13. Sẵn sàng tiêm vắc xin phòng COVID-19 ... 45
Bảng 3.14. Sự sẵn sàng chi trả để tiêm vắc xin phòng COVID-19 ... 46
Bảng 3.15. Số tiền sẵn sàng chi trả để tiêm vắc xin phòng COVID-19 ... 47
Bảng 3.16. Ảnh hưởng bởi tuổi, giới, tình trạng hơn nhân ... 47
Bảng 3.17. Ảnh hưởng bởi nghề nghiệp, trình độ học vấn ... 48
Bảng 3.18. Ảnh hưởng bởi kiến thức về tiêm vắc xin của đối tượng nghiên cứu ... 48
Bảng 3.19. Ảnh hưởng bởi thái độ về tiêm vắc xin của đối tượng nghiên cứu ... 49
Bảng 3.20. Ảnh hưởng bởi bệnh kèm theo của đối tượng nghiên cứu ... 49
Bảng 3.21. Ảnh hưởng bởi tiền sử dị ứng của đối tượng nghiên cứu ... 50
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Bảng 3.22. Ảnh hưởng bởi kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu ... 51 Bảng 3.23. Ảnh hưởng bởi thay đổi công việc tạo ra thu nhập và giảm thu nhập do dịch COVID-19 của đối tượng nghiên cứu ... 51 Bảng 3.24. Ảnh hưởng bởi gia đình có người mắc COVID-19 của đối tượng nghiên cứu ... 54 Bảng 3.25. Ảnh hưởng bởi truyền thông ... 55
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><b>DANH MỤC HỘP </b>
Hộp 3.1. Kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu về tiêm vắc xin phòng
COVID-19 ... 44
Hộp 3.2. Ảnh hưởng bởi cơ chế, chính sách ... 50
Hộp 3.3. Ảnh hưởng bởi kinh tế ... 52
Hộp 3.4. Ảnh hưởng bởi tính an tồn và hiệu quả của vắc xin... 53
Hộp 3.5. Ảnh hưởng bởi gia đình, cộng đồng ... 54
Hộp 3.6. Một số ảnh hưởng khác ... 55
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>DANH MỤC BIỂU ĐỒ </b>
Biểu đồ 3.1. Kiến thức chung về tiêm vắc xin phòng COVID-19 (n=300) .... 41 Biểu đồ 3.2. Đánh giá thái độ chung về tiêm vắc xin phòng COVID-19 ... 43 Biểu đồ 3.3. Mức độ chi trả để tiêm vắc xin ... 46
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><b>ĐẶT VẤN ĐỀ </b>
Đại dịch COVID-19 đã diễn biến rất phức tạp, gây ra gánh nặng bệnh tật và tổn thất lớn về kinh tế. Đến ngày 19/11/2022 trên toàn thế giới đã có 642.608.193 người mắc và 6.624.951 người chết do COVID-19 [76]. Con số này tại Châu Âu là 236.742.534 người mắc và 1.955.703 người tử vong; tại Châu Á có 196.904.030 người mắc và 1.494.261 người tử vong [76]. Tại Việt Nam, tính đến ngày 19/12/2022, Việt Nam có tổng cộng 11.510.919 người mắc và 43.168 người tử vong [18]. Theo Bộ Y tế, đại dịch COVID-19 chưa thể kiểm sốt được hồn tồn trước năm 2023; có thể xuất hiện các thể vi rút mới nguy hiểm hơn làm cho dịch diễn biến phức tạp [19].
Vắc xin phòng COVID-19 được coi là biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát đại dịch. Theo Tổ chức Y tế thế giới, việc người dân được tiếp cận rộng rãi và sử dụng vắc xin an tồn, hiệu quả chính là yếu tố quan trọng nhất để phòng đại dịch [71]. Hiện tại, trên thế giới đã có rất nhiều vắc xin được nghiên cứu và sử dụng như Pfizer BioNTech, Moderna, AstraZeneca… [73]. Nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, phòng chống đại dịch và phát triển kinh tế, Việt Nam đã triển tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho người dân [12], [22].
Trong quá trình thực hiện tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho thấy kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân còn nhiều bất cập. Theo Islam Md. Saiful và cs (2021) thì kiến thức về vắc xin COVID-19 của người dân tương đối thấp với điểm trung bình của kiến thức là 2,83/5,0, với tỉ lệ đúng chung là 57,0%; tỉ lệ biết về hiệu quả của vắc xin 54,3%; tỉ lệ biết sử dụng vắc xin q liều có nguy hiểm 63,2%. Điểm trung bình của thái độ là 9,34/12,0, với điểm 'thái độ tích cực' chung là 78,0% [44]. Trong cộng đồng còn tồn tại những cá nhân chưa thực sự tin tưởng vào việc tiêm vắc xin có khả năng dự phòng được COVID-19. Nghiên cứu của Kabir R. và cs (2021) thấy 26,0% thể hiện ý định chắc chắn sẽ tiêm, 43,0% có thể có ý định
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">tiêm, 24,0% có thể là tiêu cực và 7,0% có ý định tiêu cực rõ ràng về vấn đề tiêm vắc xin phòng COVID-19 [46].
Trong thời gian tiếp theo, việc tiêm vắc xin COVID-19 có thể sẽ phải chi trả bởi người dân, điều này cũng có thể tác động đến sự sẵn sàng tham gia tiêm phòng loại vắc xin này. Nghiên cứu tại Indonexia thấy: 35,0% người dân sẵn sàng chi trả, 38,0% không sẵn sàng chi trả, 27,0% chưa quyết định chi trả cho việc tiêm vắc xin phòng COVID-19 [66]. Ngay cả với vắc xin COVID-19 an tồn và hiệu quả, sẽ khơng rõ ràng rằng người dân sẽ chấp nhận và mua vắc xin. Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá sự chấp nhận và sẵn sàng chi trả cho loại vắc xin phòng COVID-19.
Xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh có dân số gần 6000 người, nằm sát quốc lộ 1A-tuyến giao thơng huyết mạch và có cả kênh giao thơng đường thủy. Xã có nhiều lực lượng lao động trẻ đang tham gia làm việc tại các khu cơng nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và thậm chí là những người sang Lào, Campuchia và Thái Lan lao động. Câu hỏi là kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân ra sao? Người dân có sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phịng COVID-19 khơng và yếu tố nào ảnh hưởng? Những bằng chứng này sẽ hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý cơng tác phịng chống dịch. Đó là lý do chúng tơi
<b>tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và sự sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh” với 2 mục tiêu: </b>
<i>1. Mô tả kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2021. </i>
<i>2. Xác định mức độ sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 và một số yếu tố ảnh hưởng tại địa bàn nghiên cứu. </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><b>Chương 1. TỔNG QUAN 1.1. Thông tin chung về dịch bệnh COVID-19 </b>
<i><b>1.1.1. Khái niệm </b></i>
COVID-19 là bệnh do chủng coronavirus mới gây ra, ký hiệu bởi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là SARS-CoV-2, còn được gọi là vi rút viêm phổi Vũ Hán vì là tác nhân gây bệnh viêm phổi ở Vũ Hán (Hồ Bắc, Trung Quốc), bắt đầu xuất hiện và lây lan từ cuối năm 2019 [68].
Sau đó, dịch bệnh COVID-19 đã lan ra ngoài Trung Quốc và xuất hiện khắp nơi trên thế giới với tốc độ lây rất cao. Ngày 11/3/2020, trong báo cáo số 51, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức tuyên bố dịch bệnh hô hấp cấp do vi rút corona chủng mới gây ra (COVID-19) là “đại dịch toàn cầu” trong bối cảnh tồn thế giới có 118.319 người mắc và 4292 người chết [75].
<i><b>1.1.2. Dịch tễ học COVID-19 </b></i>
Đến nay sau hơn 02 năm, đại dịch COVID-19 đã lây lan đến 230 quốc gia, vùng lãnh thổ với trên 642 triệu ca mắc và 6,6 triệu ca tử vong [76]. Từ cuối tháng 3/2021, thế giới ghi nhận làn sóng dịch bùng phát mạnh tại nhiều quốc gia, số ca mắc mới mỗi ngày trên toàn cầu đã tăng 44,5% từ khoảng 400.000 ca/ngày vào giữa tháng 10/2021 lên hơn 578.000 ca trong ngày 26/11/2021. Dịch tuy có dấu hiệu giảm tại một số nước châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore..., nhưng dịch bệnh tiếp tục lây lan mạnh tại nhiều khu vực, nhất là tại châu Âu với số ca nhiễm mới mỗi ngày tăng gần 60,0% từ trung bình 226.000 ca/ngày trong tháng 10/2021 lên 358.000 ca/ ngày vào cuối tháng 11/2021 [19]. Tính đến ngày 19/11/2022, năm nước có số người mắc cao nhất thế giới hiện nay là Hoa Kỳ với 100.156.325 người mắc và 1.102.439 người tử vong; tiếp theo là Ấn Độ với 44.669.527 người mắc và 530.553 người tử vong; Pháp có 37.287.547 người mắc và 158.163 người tử
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">vong; Đức có 36.205.405 người mắc và 156.613 người tử vong; Brazil có 35.039.614 người mắc và 688.958 người tử vong [76].
Các nước trên thế giới đã thay đổi chiến lược từ “không COVID-19” sang “thích ứng an tồn” và áp dụng nhiều biện pháp nhằm ứng phó phù hợp với biến thể Omicron; không áp dụng biện pháp giãn cách xã hội trên phạm vi rộng, đồng thời thúc đẩy việc mở cửa, giao lưu, giao thương quốc tế: du lịch quốc tế, mở lại các chuyến bay thương mại quốc tế... [57], [61]. Theo WHO, biến thể Delta và Omicron và các biến chủng mới sẽ là mối đe dọa kép làm gia tăng số ca mắc từ đó dẫn đến số ca nhập viện và tử vong tăng lên đột biến, tiếp tục gây áp lực lớn lên các nhân viên và hệ thống y tế [19].
Tại Việt Nam, từ khi bùng phát dịch đến nay, cả nước đã trải qua 4 đợt bùng phát. Quy mô, địa bàn và mức độ lây lan qua mỗi đợt có xu hướng phức tạp hơn. Đợt dịch 1, 2: kể từ khi ghi nhận ca mắc đầu tiên là trường hợp nhập cảnh từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào Việt Nam ngày 23/01/2020, đã ghi nhận các ổ dịch tại Sơn Lôi, Vĩnh Phúc, quán Bar Buddha (Thành phố Hồ Chí Minh), Hạ Lôi (Mê Linh, Hà Nội) và Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), Bệnh viện C (Đà Nẵng). Trong đợt dịch 2, Việt Nam đã ghi nhận ca tử vong đầu tiên ngày 31/7, sau đó tăng nhanh và đến 28/9 đã có 35 ca tử vong [18]. Đợt dịch 3 từ ngày 28/01/2021 đến ngày 26/4/2021: đã ghi nhận 1.301 ca mắc (910 ca mắc trong nước và 391 ca nhập cảnh), khơng có tử vong [18]. Đợt dịch 4 tiếp diễn từ ngày 27/4/2021 đến nay với đa nguồn lây, đa chủng, đa ổ bệnh và đã xâm nhập sâu trong cộng đồng, xuất hiện ở mọi lứa tuổi (bao gồm cả trẻ em ) tấn công vào các khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở y tế, trường học, cơ quan hành chính, nhóm sinh hoạt tơn giáo... và tại các khu vực có mật độ dân cư cao làm số mắc tăng nhanh.
Trong năm 2021, cả nước ghi nhận 1.729.792 ca mắc, trong đó 1.726.428 ca ghi nhận trong nước, 1.354.286 người khỏi bệnh và 32.133 ca tử vong. Tính trên 1 triệu dân, Việt Nam có số mắc xếp thứ 144/223 nước trên
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">thế giới, 09/11 nước khu vực ASEAN; số tử vong xếp thứ 131/223 nước trên thế giới, 06/11 nước khu vực ASEAN [19]. Tính đến ngày 19/12/2022, Việt Nam có tổng cộng 11.510.919 người mắc và 43.168 người tử vong [18].
Trước tình hình dịch bệnh diễn biến hiện nay tại Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP: Nghị quyết Ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an tồn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” [23]. Nhằm thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 4800/QĐ-BYT: Quyết định Ban hành Hướng dẫn tạm thời về chuyên môn y tế thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an tồn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” [16].
<i><b>1.1.3. Tác nhân, nguồn truyền nhiễm, phương thức lây truyền và thời gian ủ bệnh, tốc độ lây truyền, tỉ lệ tử vong do COVID-19 </b></i>
<i><b>* Tác nhân gây bệnh COVID-19 </b></i>
COVID-19 là bệnh do chủng coronavirus mới gây ra, ký hiệu bởi WHO là SARS-CoV-2 [55]. SARS-CoV-2 là RNA vi rút kích thước trung bình, có vỏ bao, hạt vi rút hình tròn hoặc bầu dục, thường là đa diện với đường kính 60-140nm. Bộ gen mã hóa bốn hoặc năm loại protein cấu trúc: S, M, N, HE và E [36]. Ngồi mơi trường, SARS-COV-2 rất dễ bị chết bởi ánh sáng, tia cực tím và nhiệt độ cao. Ở mơi trường lạnh, ẩm, SARS-COV-2 có thể tồn tại trên bề mặt kim loại từ 1-5 ngày, trên một số bề mặt nhựa và kim loại đến 9 ngày; trên bìa cát tơng 24 giờ; trên đồ vật bằng đồng 4 giờ. Các bề mặt được khử trùng bằng dung dịch 0,1% Clo hoạt tính hoặc 60-70,0% cồn có thể giết chết coronavirus trong vịng 1 phút [26].
<i><b>* Nguồn truyền nhiễm </b></i>
Nguồn truyền nhiễm cộng đồng là người mắc bệnh có triệu chứng từ mức độ nhẹ đến nặng là nguồn truyền nhiễm chính lây lan dịch bệnh trong cộng đồng. Đến thời điểm hiện tại, COVID-19 chủ yếu lây truyền từ những
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">người đã có triệu chứng, và cũng có thể xảy ra ngay trước khi họ xuất hiện triệu chứng khoảng 3 ngày [24], [26].
<i><b>* Phương thức lây truyền </b></i>
SARS-CoV-2 lây truyền bằng đường hô hấp thông qua các phương thức sau: lây truyền qua giọt bắn, lây truyền qua hạt aerosol, lây truyền qua tiếp xúc, lây qua đường tiêu hóa [25], [53], <b>[77]. </b>
<i><b>* Thời gian ủ bệnh </b></i>
Thời gian ủ bệnh của người nhiễm SARS-CoV-2 trung bình từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày, chủng delta có thời gian ủ bệnh ngắn hơn [20].
<i><b>* Tốc độ lây truyền </b></i>
Chỉ số lây R<small>0</small> đại diện khả năng truyền của vi rút, là số ca nhiễm thứ cấp trung bình gây ra bởi một người bị nhiễm bệnh tại một quần thể chưa có miễn dịch cộng đồng [63]. Ban đầu WHO ước tính R<small>0</small> của dịch COVID-19 trong khoảng 1,4-2,5 [74]. Nghiên cứu của Ke Ruian và cs, ước tính giá trị R<small>0</small> trung bình là 5,8 (95%CI: 4,7-7,3) ở Hoa Kỳ và từ 3,6-6,1 ở tám quốc gia châu Âu [48].
<i><b>* Tỉ lệ tử vong </b></i>
Đánh giá nguy cơ tử vong do COVID-19 có thể sử dụng hai chỉ số: tỉ lệ tử vong ca bệnh (case fatality rate-CFR) và tỉ lệ tử vong do lây nhiễm (infection fatallity rate-IFR).
- Tỉ lệ tử vong ca bệnh-CFR được tính bằng số người tử vong chia cho tổng số ca bệnh đã xác định [72]. CFR sẽ thay đổi theo thời gian do dịch vẫn còn tiếp diễn. Đến ngày 19/11/2022, có thể tính được tỉ lệ tử vong ca bệnh của một số khu vực và quốc gia như sau:
Thế giới: 1,03% (6.624.951 ca tử vong/ 642.608.193 ca mắc) Châu Âu: 0,83% (1.955.703 ca tử vong/ 236.742.534 ca mắc) Châu Á: 0,76% (1.494.261 ca tử vong/ 196.904.030 ca mắc)
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"> Việt Nam: 0,38% (43.168 ca tử vong/ 11.510.919 ca mắc)
Tỉ lệ tử vong do lây nhiễm-IFR được tính bằng số người tử vong chia cho tổng số người mắc bệnh thực sự. Theo WHO đã tổng hợp một số nghiên cứu trên thế giới và đưa ra ước tính IFR vào khoảng 0,5- 1,0% [72].
<i><b>1.1.4. Đặc điểm bệnh viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 </b></i>
<i>1.1.4.1. Các triệu chứng lâm sàng </i>
Triệu chứng lâm sàng ban đầu hay gặp là sốt, đau họng, ho khan, mệt mỏi và đau cơ. Nghiên cứu cho thấy các triệu chứng được ghi nhận bao gồm: 98,6% sốt, 69,6% mệt mỏi, 59,4% ho khan, 34,8% đau cơ và 31,2% khó thở [42]. Ngồi ra, cịn có một số triệu chứng khác ít gặp hơn là nhức đầu, chóng mặt, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn và nôn [69]. Diễn biến của bệnh:
- Hầu hết người bệnh chỉ sốt nhẹ, ho, mệt mỏi, không bị viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1 tuần [38].
- Một số trường hợp có thể viêm phổi, viêm phổi nặng, diễn tiến tới suy hô hấp cấp (thở nhanh, khó thở, tím tái,...), hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm trùng, rối loạn thăng bằng kiềm-toan, suy chức năng các cơ quan dẫn đến tử vong... [34].
- Tử vong xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch và mắc các bệnh mạn tính kèm theo, bệnh lý nền sẵn có… [64].
<i>1.1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng </i>
- Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu thay đổi khơng đặc hiệu: + Bạch cầu bình thường hoặc giảm; Lympho thường giảm.
+ Protein C phản ứng bình thường hoặc tăng; Procalcitonin thường bình thường. Một số có thể tăng nhẹ: ALT, AST, CK, LDH.
+ Trường hợp diễn biến nặng có biểu hiện suy chức năng các cơ quan, suy giảm miễn dịch, tổn thương gan, hoại tử cơ tim [80].
- Xquang và chụp cắt lớp phổi:
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">+ Giai đoạn sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên: Xquang phổi bình thường. + Khi có viêm phổi: tổn thương thường ở cả 2 bên với dấu hiệu đám mờ (hoặc kính mờ) lan tỏa ở ngoại vi hay thùy dưới.
- Xét nghiệm xác định căn nguyên:
+ Xét nghiệm Realtime RT-PCR: xét nghiệm này được thực hiện trên các mẫu bệnh phẩm hô hấp như mẫu ngoáy dịch tỵ hầu, mẫu phết họng,… Realtime RT-PCR là xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao [20], [65].
+ Xét nghiệm nhanh phát hiện kháng nguyên: nhằm phát hiện các protein bề mặt của vi rút trong mẫu bệnh phẩm [20].
<i><b>1.1.5. Chẩn đoán COVID-19 </b></i>
<i>1.1.5.1. Trường hợp bệnh nghi ngờ </i>
a. Là người tiếp xúc gần hoặc là người có yếu tố dịch tễ và có ít nhất 2 trong số các biểu hiện lâm sàng sau đây: sốt; ho; đau họng; chảy nước mũi, nghẹt mũi; đau người, mệt mỏi, ớn lạnh; giảm hoặc mất vị giác; khứu giác; đau, nhức đầu; tiêu chảy; khó thở; viêm đường hơ hấp [20].
b. Là người có kết quả xét nghiệm nhanh kháng nguyên dương tính với vi rút SARS-CoV-2 [7], [20], [26].
<i><b>* Người tiếp xúc gần là một trong số các trường hợp sau: </b></i>
- Người có tiếp xúc cơ thể trực tiếp (bắt tay, ôm, hôn, tiếp xúc trực tiếp với da, cơ thể…) với ca bệnh xác định trong thời kỳ lây truyền.
- Người đeo khẩu trang có tiếp xúc, giao tiếp trong vòng 2 mét hoặc trong cùng không gian hẹp, kín và tối thiểu trong thời gian 15 phút.
- Người khơng đeo khẩu trang có tiếp xúc gần trong vịng 2 mét hoặc ở trong cùng khơng gian hẹp, kín với ca bệnh xác định trong thời kỳ lây truyền.
- Người trực tiếp chăm sóc, khám và điều trị ca bệnh xác định khi đang trong thời kỳ lây truyền mà không sử dụng đầy đủ các phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) [6], [20].
* Thời kỳ lây truyền của ca bệnh xác định được tính từ 2 ngày trước khi
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">khởi phát cho đến khi kết quả xét nghiệm âm tính hoặc giá trị CT ≥ 30. * Người có yếu tố dịch tễ bao gồm:
- Người có mặt trên cùng phương tiện giao thơng hoặc cùng địa điểm, sự kiện, nơi làm việc... với ca bệnh xác định đang trong thời kỳ lây truyền.
- Người ở, đến từ khu vực ổ dịch đang hoạt động [20].
<i>1.1.5.2. Trường hợp bệnh xác định </i>
a. Là người có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 bằng phương pháp phát hiện vật liệu di truyền của vi rút (PCR).
b. Là người tiếp xúc gần và có kết quả xét nghiệm nhanh kháng nguyên dương tính với vi rút SARS-CoV-2.
c. Là người có yếu tố dịch tễ, có biểu hiện lâm sàng nghi mắc COVID-19 và có kết quả xét nghiệm nhanh dương tính với vi rút SARS-CoV-2.
d. Là người có yếu tố dịch tễ và có kết quả xét nghiệm nhanh kháng nguyên dương tính 2 lần liên tiếp (xét nghiệm lần 2 trong vòng 8 giờ kể từ khi có kết quả xét nghiệm lần 1) với vi rút SARS-CoV-2 [4], [7], [20].
<i><b>1.1.6. Các biện pháp phòng bệnh COVID-19 cho cá nhân </b></i>
Các biện pháp phòng chống dịch COVID-19 được thực hiện theo Quyết định số 3468/QĐ-BYT: Quyết định Về việc ban hành “Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19” của Bộ Y tế ngày 7/8/2020 [8].
- Khơng đến các vùng có dịch bệnh. Hạn chế đến các nơi tập trung đông người; khi đến nơi đông người cần thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân [5].
- Thường xuyên cấp nhật kiến thức và tình hình dịch bệnh COVID-19 từ các nguồn thơng tin chính thống.
- Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh đường hơ hấp cấp tính (ho, sốt, khó thở); khi cần thiết tiếp xúc phải đeo khẩu trang y tế đúng cách và giữ khoảng cách ít nhất 2 mét khi nói chuyện.
- Người có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh phải ở nhà, đeo khẩu trang, thông
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">báo ngay cho cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời.
- Vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên dưới vòi nước chảy bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn trong ít nhất 20 giây; súc miệng, họng bằng nước súc miệng; tránh đưa tay lên mắt, mũi, miệng để phòng lây nhiễm bệnh.
- Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi.
- Đảm bảo an toàn thực phẩm, chỉ sử dụng thức ăn nấu chín. - Khơng mua bán, tiếp xúc với các loại động vật hoang dã.
- Giữ ấm cơ thể, tăng cường sức khỏe bằng ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt hợp lý, luyện tập thể thao [1], [3], [8].
- Tăng cường thơng khí khu vực nhà ở bằng cách mở các cửa ra vào và cửa sổ, hạn chế sử dụng điều hòa [24].
- Thường xuyên vệ sinh nơi ở, cơ quan, trường học, xí nghiệp nhà máy… với xà phịng, chất tẩy rửa thơng thường hoặc dung dịch khử khuẩn [2], [8].
- Tiêm vắc xin phòng COVID-19 theo đúng chỉ định và hướng dẫn [15].
<b>1.2. Vắc xin phòng COVID-19 </b>
Vắc xin phòng COVID-19 được coi là biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát đại dịch. Theo WHO, việc người dân được tiếp cận rộng rãi và sử dụng vắc xin an tồn, hiệu quả chính là yếu tố quan trọng nhất để phòng đại dịch [71]. Hiện tại, trên thế giới đã có rất nhiều vắc xin được nghiên cứu, thử nghiệm và sử dụng như Pfizer BioNTech, Moderna, Johnson&Johnson, AstraZeneca… [73]. Các nghiên cứu đã chứng minh khả năng bảo vệ cho cơ thể chống lại COVID-19 của các loại vắc xin khác nhau đã sản xuất [30], [78]. Nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, phòng chống dịch bệnh và phát triển kinh tế, Việt Nam đã chủ trương triển khai mua và tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho người dân [12], [22]. Đến tháng 10 năm 2021 đã có 8 loại vắc-xin phịng COVID-19 được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vắc xin cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 bao gồm: vắc xin AstraZeneca, vắc xin Gam-COVID-Vac (tên khác là SPUTNIK V), vắc xin
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">Vero Cell bất hoạt của Sinopharm, vắc xin Comirnaty của Pfizer/BioNTech, vắc xin Moderna, vắc xin Janssen, vắc xin Hayat-Vax và vắc xin Abdala. Hiện đã có 7 loại vắc xin được nhập khẩu, triển khai trong chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19.
- Vắc xin phòng COVID-19 do AstraZeneca sản xuất được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện sử dụng vắc xin cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Quyết định số 983/QĐ-BYT ngày 01/02/2021 [11]. Vắc xin AstraZeneca được WHO thông qua chấp thuận sử dụng trong trường hợp khẩn cấp vào ngày 15/2/2021. Vắc xin AstraZeneca sử dụng vector là vi rút adeno mất khả năng sao chép của tinh tinh, dựa trên phiên bản suy yếu của vi rút adeno, có chứa vật chất di truyền là protein gai bề mặt của vi rút gây bệnh COVID-19 được gọi tên là Spike hoặc S. Protein, Spike chính là thành phần tiên phong mở đường tiến công cho vi rút SARS-CoV-2 xâm nhập cơ thể con người. Đây cũng là mục tiêu tấn công của hệ miễn dịch khi vi rút SARS-CoV-2 xâm nhập. Sau khi tiêm vắc xin, vắc xin sẽ mang mã di truyền của vi rút corona quy định protein S vào tế bào của cơ thể bạn. Cơ thể bắt đầu tự tạo ra protein S. Các tế bào miễn dịch trong máu của bạn nhận diện protein S là “kẻ xâm nhập”, và điều này kích hoạt phản ứng của hệ miễn dịch. Cơ thể bạn bắt đầu tạo ra kháng thể và tế bào miễn dịch, gọi là tế bào T, có thể nhắm mục tiêu và tiêu diệt các tế bào có mang protein S. Các tế bào miễn dịch còn kêu gọi sản xuất ra nhiều tế bào miễn dịch hơn để giúp chống lại những “kẻ xâm nhập”. Từ ngày 08/3/2021, vắc xin phịng COVID-19 của AstraZeneca chính thức được tiêm chủng tại Việt Nam và được chỉ định tiêm phòng cho những người từ 18 tuổi trở lên [27]. Lịch tiêm gồm 2 mũi: Mũi 1: Lần đầu tiên tiêm. Mũi 2: Sau mũi đầu tiên từ 4-12 tuần [9]. Hiệu quả của vắc xin Astrazenenca theo nghiên cứu của Knoll Maria Deloria và cs là 70,4% (95%CI: 54,8-80,6) [50].
- Loại vắc xin thứ hai được Bộ Y tế phê duyệt là Gam-COVID-Vac
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">(tên khác là Sputnik V) do Liên bang Nga sản xuất [13]. Đây là loại vắc xin dạng dung dịch tiêm với 2 mũi: Mũi tiêm 1: Mỗi liều 0,5ml thành phần I: Chứa (1,0 ± 0,5) x 10<small>11</small> hạt vi rút Adeno typ huyết thanh 26 của người tái tổ hợp mang gen mã hóa protein S của SARS-CoV-2. Mũi tiêm 2: Mỗi liều 0,5ml thành phần II: Chứa (1,0 ± 0,5) x 10<small>11</small> hạt vi rút Adeno typ huyết thanh 5 của người tái tổ hợp mang gen mã hóa protein S của SARS-CoV-2. Theo kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 trong nghiên cứu của Jones Ian và cs (2021), vắc xin Sputnik V hiệu quả lên tới 91,6%, riêng đối với tình nguyện viên trên 60 tuổi, tỉ lệ này là 91,8%. Sau tiêm, 98,0% tình nguyện viên sản sinh kháng thể chống lại vi rút SARS CoV-2 [45].
- Vắc xin COVID-19 Moderna là vắc xin RNA thông tin (mRNA). Vắc xin mRNA giúp các tế bào cơ thể tạo ra một loại protein vô hại. Sau đó, protein vơ hại này sẽ kích hoạt phản ứng miễn dịch của cơ thể tạo kháng thể chống lại vi rút SARS-CoV-2 là tác nhân gây bệnh COVID-19. Vắc xin mRNA: Không làm thay đổi hoặc tương tác với DNA của người được tiêm chủng theo bất kỳ cách nào. Không sử dụng vi rút sống gây bệnh COVID-19. Không thể gây bệnh COVID-19 cho người được tiêm chủng. Vắc xin COVID-19 Moderna của hãng Moderna đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấp Giấy phép Sử dụng Khẩn cấp (EUA) vào ngày 18 tháng 12 năm 2020 và được Tổ chức Y tế thế giới thông qua chấp thuận sử dụng vắc xin trong trường hợp khẩn cấp ngày 30/4/ 2021. Tại Việt Nam, vắc xin COVID-19 Moderna đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vắc xin cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Quyết định số 3122/QĐ-BYT ngày 28/6/2021 và Quyết định 3291/QĐ-BYT ngày 02/07/2021.
- Vắc xin phòng COVID-19 của Pfizer (Mỹ) là loại vắc xin: mRNA. Vắc xin mRNA chứa vật chất từ vi rút gây bệnh COVID-19 để cung cấp hướng dẫn cho tế bào chúng ta về cách tạo ra các protein vơ hại riêng có với
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">vi rút đó. Sau khi tế bào của chúng ta tạo ra các bản sao protein đó, chúng phá hủy các vật chất di truyền từ vắc xin. Cơ thể chúng ta ghi nhận rằng protein không nên ở đó và tạo các tế bào lympho T và lympho B sẽ ghi nhớ cách chống lại vi rút gây bệnh COVID-19 nếu chúng ta nhiễm bệnh trong tương lai. Vắc xin Pfizer là loại vắc xin dạng dung dịch tiêm với 2 mũi, cách nhau 21 ngày. Hiệu lực của vắc xin Pfizer được công bố trong nghiên cứu của Olliaro Piero và cs (2021) là 95,0% [59].
- Vắc xin COVID-19 (Vero Cell) bất hoạt của Sinopharm, Trung Quốc sản xuất là vắc xin phòng bệnh do vi rút SARS-CoV-2 (COVID-19) gây ra. Sau khi vi rút bất hoạt trong vắc xin được tiêm vào cơ thể, chúng kích thích sản xuất các kháng thể và làm cho cơ thể sẵn sàng để ứng phó với tình trạng nhiễm vi rút SARS-CoV-2. Thành phần của vắc xin này được bổ sung hydroxit nhôm để tăng cường phản ứng của hệ thống miễn dịch. Vắc xin được Tổ chức Y tế thế giới thông qua chấp thuận sử dụng trong trường hợp khẩn cấp vào ngày 7/5/2021. Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vắc xin cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Quyết định số 2763/QĐ-BYT ngày 03/6/2021; số 3121/QĐ-BYT ngày 28/6/2021; số 4254/QĐ-BYT ngày 04/9/2021; số 4622/QĐ-BYT ngày 30/9/2021.
- Vắc xin phòng COVID-19 Abdala là vắc xin phòng bệnh do vi rút SARS-CoV-2 do Trung tâm Kỹ thuật Di truyền và Công nghệ Sinh học (CIGB), Cuba sản xuất. Thành phần hoạt chất của vắc xin Abdala là protein tái tổ hợp vùng liên kết thụ thể vi rút SARS-CoV-2 (RBD) tương tác với thụ thể ACE2 của người. Phân tử được biểu hiện trong nấm men Pichia pastoris, tá dược là nhôm hydroxide. Tại Việt Nam vắc xin Abdala được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vắc xin cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Quyết định Số 4471/QĐBYT, ngày 17/9/2021.
- Vắc xin phòng COVID-19 Hayat-Vax là vắc xin phòng bệnh do vi rút SARS-CoV-2 gây ra do Beijing Institute of Biological Products Co., Ltd.–
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">Trung Quốc sản xuất bán thành phẩm và cơ sở đóng gói tại Julphar (Gulf Pharmaceutial Industries) – các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE). Vắc xin Hayat-Vax là vắc xin bất hoạt từ chủng SARS-CoV-2, được nuôi cấy trên tế bào Vero, vi rút được thu hoạch và bất hoạt bằng p-propiolactone, được cô đặc và tinh chế, sau đó được hấp phụ với tá dược hydroxyt nhôm để tạo thành vắc xin dạng lỏng. Tại Việt Nam vắc xin Hayat-Vax được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vắc xin cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Quyết định số 4361/QĐBYT, ngày 10/9/2021.
Tính đến ngày 19/11/2022, cả nước đã có 63/63 tỉnh/thành phố tiến hành tiêm vắc xin dự phòng COVID-19 với tổng số mũi tiêm là 261.827.783 mũi/số vắc xin đã phân bổ là 252.822.584 liều [18]. Trong đó, tỉ lệ phản ứng thông thường sau tiêm vắc xin COVID-19 gặp khoảng 30,0%, thấp hơn báo cáo của châu Âu và nhà sản xuất. Sau tiêm vắc xin các biểu hiện phản ứng là sốt, mệt mỏi, đau chỗ tiêm… Đây là các biểu hiện thường gặp và cũng là những phản ứng thông thường của cơ thể với tất cả các loại vắc xin nói chung và vắc xin phịng COVID-19 nói riêng. Chỉ một số trường hợp xuất hiện phản ứng dị ứng với các mức độ khác nhau, chủ yếu ở mức độ I, rất ít trường hợp ở mức độ II, III; được phát hiện kịp thời và xử trí theo đúng phác đồ của Bộ Y tế ban hành [10], [14].
<b>1.3. Nghiên cứu về kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19 </b>
Nghiên cứu của Kazi, Abdul và cs (2020) về kiến thức, thái độ và sự
<b>chấp nhân tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho kết quả: Tỉ lệ đồng ý cho rằng </b>
hiện có một loại thuốc hiệu quả để điều trị COVID-19 94,1%. Tỉ lệ đồng ý rằng có nhiều cách để giúp làm chậm sự lây lan của COVID-19 4,2%; hiện tại không có vắc xin để bảo vệ chống lại COVID-19 87,6%. Tỉ lệ cho rằng kháng sinh là một phương pháp điều trị hiệu quả đối với COVID-19 2,7%. Thường xuyên vệ sinh mũi sạch sẽ bảo vệ khỏi COVID-19 79,1%. Tỉ lệ biết các biểu hiện của nhiễm COVID-19 như sốt 96,3%; ho 95,1%; đau họng 85,2%; khó
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">thở 88,7%; buồn nôn 24,2%; nôn mửa 12,4%; tiêu chảy 16,4%. Đa số (81,5%) đồng ý mạnh mẽ rằng điều quan trọng là phải tiêm vắc xin để bảo vệ mọi người khỏi COVID-19. Bên cạnh đó, chưa đến 59,0% số người đồng ý rằng các công ty dược phẩm sẽ có thể phát triển vắc xin COVID-19 an tồn và hiệu quả. Hơn nữa, khoảng một nửa số người được hỏi (51,6%) báo cáo rằng các tác dụng phụ sẽ khiến họ không thể dùng vắc xin COVID-19 và
<b>52,1% sẽ từ chối sử dụng vắc xin COVID-19 khi đã được cấp phép [47]. Nghiên cứu của Bhartiya, Shibal và cs (2021) trên 1.342 người dân tại </b>
Tây Ấn Độ cho kết quả: Có 64,5% thanh niên từ 18-40 tuổi khơng biết được sự sẵn có của vắc xin COVID-19, tiếp theo là 56,4% người từ 40-60 tuổi và 46,2% người trên 60 tuổi khơng biết về sự sẵn có của vắc xin. Trong tổng số đối tượng nghiên cứu, 64,0% những người nói rằng khơng có vắc xin COVID có trình độ học vấn dưới lớp 10; 54,9% người khơng biết có vắc xin thuộc về khơng có nhóm thu nhập [31].
Theo Islam Md. Saiful và cs (2021) thì kiến thức về vắc xin COVID-19 của đối tượng nghiên cứu tương đối thấp với điểm trung bình của kiến thức là 2,83/5,0 (độ lệch chuẩn = 1,48), với tỉ lệ đúng chung là 57,0%. Tỉ lệ biết về vắc xin COVID-19 90,0%. Tỉ lệ biết về hiệu quả của vắc xin 54,3%; tỉ lệ biết sử dụng vắc xin quá liều có nguy hiểm 63,2%. Tỉ lệ biết tiêm phịng có phản ứng dị ứng 39,6%, tỉ lệ biết tiêm vắc xin có làm tăng các bệnh tự miễn 35,5%. Phân tích cho thấy trình độ học vấn cao hơn, gia đình 4 người, kinh tế hộ gia đình cao hơn và có tiền sử tiêm chủng các loại vắc xin cần thiết trước đó là các yếu tố liên quan đến kiến thức (p<0,05). Về thái độ đối với vắc xin COVID-19: Điểm trung bình của thái độ là 9,34/12,0 (độ lệch chuẩn = 2,39), với điểm 'thái độ tích cực' chung là 78,0%. Tỉ lệ đồng ý vắc xin COVID-19 là an toàn 25,5%. Đồng ý vắc xin COVID-19 rất cần thiết 73,9%. Tỉ lệ đồng ý dùng vắc xin COVID-19 mà không do dự 58,6%. Tỉ lệ đồng ý sẽ khuyến khích gia đình / bạn bè / người thân của mình đi tiêm phịng 65,5%. Đồng ý
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">rằng không thể giảm tỉ lệ mắc COVID-19 mà không tiêm chủng 63,4%. Đồng ý thuốc chủng ngừa COVID-19 nên được phân phối công bằng 89,1%. Kết quả phân tích cho thấy giới tính nữ và có tiền sử tiêm tất cả các loại vắc xin cần thiết trước đó là các yếu tố liên quan đến thái độ (p<0,05) [44].
Nghiên cứu của Elhadi M. và cs (2021) thấy có 39,9% tin rằng số ca nhiễm COVID-19 đã bị phóng đại, trong khi 26,6% đồng ý và 29,0% rất đồng ý rằng vắc xin COVID-19 sẽ kiểm soát bệnh hiệu quả. Có 57,2% báo cáo tình trạng thiếu vắc xin cho trẻ em. Về sự tin tưởng và an toàn của vắc xin, 18,4% người tham gia nghiên cứu đồng ý và 23,1% rất đồng ý rằng có thể nhận được một loại vắc xin an toàn và đáng tin cậy. Có 71,6% người tin rằng sẽ có khó khăn trong việc phân phối vắc xin cơng bằng và hợp lý. Gần một phần ba số người tham gia đồng ý (16,3%) hoặc rất đồng ý (20,7%) với những lo ngại về các biến chứng nghiêm trọng của vắc xin. Có 38,8% cho biết họ thích vắc xin Sputnik V hơn các vắc xin khác. Về kiến thức, thái độ liên quan đến vắc xin COVID-19: điểm trung bình±độ lệch chuẩn cho kiến thức, thái độ lần lượt là 2,35±0,9 (dao động từ 0 đến 3), 3,2±0,9 (dao động từ 0 đến 6). Đối tượng nghiên cứu đều biết vắc xin là cần thiết cho sức khỏe của trẻ em và 86,0% tin rằng tiêm chủng có thể làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong. Có 94,2% tin rằng việc tìm ra vắc xin hiệu quả là sẽ giảm gánh nặng COVID-19. Tuy nhiên, chỉ có 14,9% tin rằng lợi ích của việc tiêm chủng cao hơn nguy cơ [37].
Theo Kumari A. và cs (2021) nghiên cứu về kiến thức, rào cản đối với tiêm vắc xin phòng COVDI-19: mức độ kiến thức chung thấp vì gần một nửa số người tham gia hoặc khơng biết hoặc họ báo cáo phản hồi khơng chính xác cho rằng trẻ em và vị thành niên (<18 tuổi) (46,68%) và phụ nữ có thai và cho con bú (41,89%) đủ điều kiện để tiêm vắc xin phòng COVID-19. Hơn một nửa số người tham gia hoặc không biết hoặc trả lời khơng chính xác rằng bệnh nhân đang mắc COVID-19 (53,55%), bệnh nhân suy giảm miễn dịch
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">(62,98%) và những người bị dị ứng (57,89%) đủ điều kiện để tiêm vắc xin COVID-19. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu lại có lại có thái độ tích cực đối với vắc xin: đa số sẵn sàng tiêm vắc xin khi họ có cơ hội (83,6%), sẵn sàng trả tiền cho vắc xin (75,43%) và sẵn sàng giới thiệu cho họ gia đình và bạn bè (82,77%). Mức độ sẵn sàng tiêm chủng có liên quan đáng kể với tuổi (p <0,001) và tình trạng kinh tế xã hội (p <0,001). Nhóm tuổi cao hơn và tình trạng kinh tế xã hội có liên quan đến mức độ sẵn sàng tiêm chủng cao hơn. Ngoài ra, mức độ sẵn sàng giới thiệu vắc xin cho gia đình và bạn bè có liên quan đáng kể với nơi cư trú (p <0,05). Khu vực càng phát triển, người dân cư trú ở đó sẵn sàng giới thiệu vắc xin cho gia đình và bạn bè của họ càng lớn [51].
Nghiên cứu của Ciardi F. và cs về kiến thức, thái độ tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho thấy: Ý định tiêm vắc xin trong 30 ngày phụ thuộc đáng kể vào vai trò của người được hỏi trong hệ thống chăm sóc sức khỏe (p<0,001). Ý định tiêm vắc xin phòng COVID-19 dao động từ 47,0% trong số các nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân đến 100% trong số các sinh viên y khoa. Có mối tương quan chặt chẽ giữa kiến thức của người tham gia về nhiễm COVID-19 và thái độ tích cực đối với việc tiêm chủng COVID-19 (p<0,001). Những đối tượng theo dõi tin tức chặt chẽ hơn có điểm thái độ về vắc xin tăng lên (p <0,001). Nguồn thông tin phổ biến nhất mà những người tham gia khảo sát tìm kiếm để tìm hiểu kiến thức liên quan đến vắc xin phòng COVID-19 là các tổ chức tin tức, tiếp theo là các nguồn chính phủ. Bên cạnh đó, kinh nghiệm cá nhân với người bị nhiễm COVID-19 làm tăng đáng kể ý định tiêm phòng trong 30 ngày tới (p<0,001) [35].
Theo Paul Elise và cs (2021) thì có 7,2% đối tượng nghiên cứu bày tỏ sự nghi ngờ cao về tính an toàn của vắc xin, trong khi 17,2% không chắc chắn; 16,3% bày tỏ lo lắng về những tác động không lường trước được khi tiêm vắc xin, trong khi 52,9% bày tỏ lo lắng vừa phải. Có 8,1% bày tỏ rất lo
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">lắng và 28,8% lo lắng về trục lợi thương mại trong mua bán vắc xin COVID-19. Có 8,5% rất đồng ý với đối với miễn dịch tự nhiên và 44,7% đồng ý rằng miễn dịch tự nhiên có thể tốt hơn vắc xin. Phân tích hồi quy thấy có mối liên quan với thái độ tiêu cực về vắc xin là tình trạng kinh tế xã hội, mức thu nhập hộ gia đình và trình độ học vấn thấp. Những người thuộc các nhóm dân tộc thiểu số, những người tuân thủ kém các biện pháp phòng ngừa COVID-19 và những người có kiến thức kém về COVID-19 cũng có quan điểm tiêu cực hơn về vắc xin. Sự tin tưởng thấp vào hệ thống y tế để xử lý đại dịch cũng liên quan đến sự không tin tưởng nhiều hơn về tính an toàn của vắc xin (coef=0,23; 95%CI: 0,15-0,32), nhiều lo lắng hơn về các tác dụng không lường trước của vắc xin (coef= 0,16; 95%CI: 0,08-0,24), và những lo ngại về trục lợi thương mại (coef=0,23; 95%CI: 0,15-0,31), trong khi niềm tin thấp vào chính phủ để xử lý đại dịch có liên quan đến điểm số thấp hơn do lo lắng về những tác động không lường trước được khi tiêm vắc xin (coef=-0,08; 95%CI: -0,14 đến -0,02) [60].
Một nghiên cứu cắt ngang tại Thành phố Hồ Chí Minh của Huynh G. và cs (2021) cho kết quả: trong tổng số 425 người trưởng thành đủ điều kiện tham gia cuộc khảo sát, có tuổi trung bình là 52,9 ± 15,6 tuổi; 67,8% trong số họ là phụ nữ, hơn một nửa trong số họ có trình độ học vấn trung học phổ thông trở lên (57,4%) và nhận thông tin về COVID-19 chủ yếu qua truyền hình và mạng xã hội, lần lượt chiếm 82,4% và 58,1%. Tổng điểm kiến thức về vắc xin phòng COVID-19 được báo cáo là tương đối tốt với điểm trung bình là 7,11±1,77 (ngưỡng điểm từ 0-9), với hơn 80% trả lời chính xác các câu hỏi về mầm bệnh SARS-CoV-2 85,2%, biết đường lây truyền 92,2%, biểu hiện bệnh 83,1%), thời gian cách ly nếu nghi ngờ nhiễm bệnh 88,0%, và sự nguy hiểm của COVID-19 93,2%. Có 74,6% biết các biện pháp phòng ngừa COVID-19 và 76,0% biết những người bị bệnh mãn tính có nguy cơ lây nhiễm cao. Tỉ lệ trả lời đúng vắc xin khơng có sẵn cho tất cả mọi người
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">41,6% và khơng có phương pháp điều trị cụ thể bệnh 40,0%. Hầu hết những người tham gia đều có niềm tin tích cực liên quan đến tiêm phịng COVID-19, với điểm trung bình cao cho mức độ nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng của bệnh 3,33±0,74; nhận thức về phương án hành động 3,96±0,51; nhận thức lợi ích của việc tiêm chủng 2,78 ± 0,83; nhận thức được rào cản đối với việc tiêm chủng 3,63±0,56 [43].
<b>1.4. Nghiên cứu về sẵn sàng chi trả để sử dụng vắc xin và yếu tố liên quan </b>
Nghiên cứu quốc tiến hành trên 13.426 người ở 19 quốc gia của Lazarus Jeffrey V. và cs (2021) trong bối cảnh đang thử nghiệm vắc xin trên người, kết quả nghiên cứu cho thấy 48,1% sẵn sàng tiêm vắc xin nếu cơ quan họ khuyến cáo tiêm phịng. Có sự khác biệt về tỉ lệ chấp nhận tiêm phòng ở các quốc gia, ví dụ Trung Quốc là 88,6% nhưng ở Nga chỉ có 54,9% [52]. Nghiên cứu của Kelly Bridget J. và cs (2021) tại Mỹ trên 2.279 người cho thấy 75,0% sẵn sàng sử dụng vắc xin cho họ và 73,0% sẽ tiêm vắc xin cho con của họ. Người da đen có mức độ chấp nhận sử dụng thấp hơn người da trắng (47,0% so với 79,0%, p<0,001). Phụ nữ có mức độ sẵn sàng thấp hơn nam giới (72,0% so với 79,0%, p<0,001). Những người khơng có bảo hiểm thì mức độ sẵn sàng thấp hơn người có bảo hiểm (47,0% so với 78,0%, p<0,001). Những người cao tuổi thì sẵn sàng sử dụng cao hơn người trẻ (85,0% ở những người ≥65 tuổi so với 75,0% ở những người trong nhóm 50– 64 tuổi, p<0,017; 72,0% ở những người trong nhóm 35-49 tuổi, p<0,002; 70,0% ở những người trong nhóm 25-34 tuổi, và 75,0% ở những người trong nhóm 18-24 tuổi). Những người có nguy cơ mắc các bệnh cần điều trị, béo phì khơng sẵn sàng dùng vắc xin so với nhóm cịn ít nguy cơ hơn [49].
Nghiên cứu của Liu Rugang và cs (2021) tại Trung Quốc với chính sách tiêm miễn phí so với trả phí, tỉ lệ chấp nhận tiêm tăng từ 73,62% lên 82,25%. Các yếu tố dẫn đến từ chối tiêm là quan tâm đến sự an tồn, tác dụng phụ. Tuổi, sự sẵn có bảo hiểm y tế, sự an toàn của vắc xin là các yếu tố tác
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">động đến sự chấp nhận tham gia với cả nhóm có chính sách miễn phí hay trả phí. Thu nhập, nghề nghiệp, hiệu quả của vắc xin là các yếu tố ảnh hưởng tới việc chấp nhận tiêm khi chính phủ cấp miễn phí [56]. Một nghiên cứu khác tại Trung Quốc của Gan L. và cs cho kết quả: 60,4% sẵn sàng tiêm vắc xin. Kết quả phân tích hồi quy chỉ ra rằng lứa tuổi, trình độ học vấn, tiền sử cúm, tin tưởng vào hiệu quả vắc xin, cập nhật tin tức vắc xin là các yếu tố ảnh hưởng đến chấp nhận tiêm chủng [39]. Nghiên cứu tại Nhật trên 1.100 người dân cho thấy 65,7% sẵn sàng dùng vắc xin, đặc biệt là nhóm người già, nhóm ở nơng thơn, nhóm có bệnh nền. Nam có xu hướng lưỡng lự tiêm vắc xin hơn nữ [79].
Nghiên cứu của Catma Serkan và cs (2021) về tính sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 ở Mỹ cho thấy mức sẵn sàng chi trả cao hơn ở người có thu nhập cao, có bệnh nền, nhận thức về sự nguy hại của vi rút. Hiệu suất của vắc xin và thời gian bảo vệ là các yếu tố quan trọng đóng góp vào sự sẵn sàng chi trả. Mức sẵn sàng chi trả trung bình cho vắc xin có hiệu lực 95,0%, bảo vệ được 3 năm, chi phí 318,76 USD là 35,0%, mức này cao hơn vắc xin có hiệu lực 50,0% và 1 năm bảo vệ với mức chi phí là 236,85 USD [32].
Kết quả cuộc khảo sát 1.188 người trả lời được chọn ngẫu nhiên ở Trung Quốc cho thấy sự sẵn chi trả để có được vắc xin COVID-19 là: 79,41% số người được hỏi sẵn sàng tiêm vắc xin ở Trung Quốc và mức trung bình số tiền mà họ sẵn sàng trả cho một mũi tiêm vắc xin COVID-19 là 130,45 NDT. Người cao tuổi ít sẵn sàng tiêm vắc xin hơn và không sẵn sàng trả nhiều tiền cho mũi tiêm. Trợ cấp của chính phủ và TT-GDSK liên quan đến vắc xin COVID-19 là yếu tố cần quan tâm để mở rộng phạm vị tiêm vắc xin phòng COVID-19 [62]. Nghiên cứu khác tại Trung Quốc của Wang Jiahao và cs (2021) thấy số tiền sẵn sàng chi trả trung bình của các cá nhân để tiêm chủng đầy đủ vắc xin phòng COVID-19 là 254 NDT (36,8 USD) với mức trung vị
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">của số tiền là 100 NDT (14,5 USD). Hầu hết những người được hỏi tin rằng chính phủ (90,9%) và bảo hiểm y tế (78,0%) cần phải trả tiền cho một số hoặc toàn bộ phần tiền để tiêm chủng COVID-19, mặc dù 84,3% nói rằng các cá nhân cần phải trả tiền. Thu nhập hàng năm của gia đình, quy mơ nhân viên tại nơi làm việc và việc xem xét đại dịch COVID-19 ở Trung Quốc theo xu hướng giảm có ảnh hưởng đáng kể đến sự sẵn sàng chi trả của người tham gia nghiên cứu [70].
Nghiên cứu online tại Indonexia về tính sẵn sàng chi trả cho vắc xin phòng COVID-19 cho kết quả: 35,0% đối tượng nghiên cứu sẵn sàng chi trả, 38,0% không sẵn sàng chi trả, 27,0% chưa quyết định. Các yếu tố dự báo đến sự sẵn sàng chi trả gồm nhóm nghèo thì mức sẵn sàng là thấp nhất (22,0%), cao nhất là 74,0% ở nhóm thu nhập cao. Phụ nữ sẵn sàng chi trả hơn nam giới. Tuy nhiên, 1/3 phụ nữ và 1/4 nam giới chưa quyết định. Mức độ sẵn sàng chi trả cũng tăng lên theo lứa tuổi, già thì sẵn sàng chi trả cao hơn. Nghề nghiệp cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng chi trả. Theo nghiên cứu này, trên 31,0% sẵn sàng chi trả mức 50,000 Rp; 28,0% sẵn sàng chi trả mức 100,000 Rp và 4,0% chi trả mức 500,000 Rp [66]. Một nghiên cứu khác tại Indonexia của Harapan H. và cs (2020) bằng cách tiếp cận định giá nhị phân đơn giản trên 1.359 cá thể cho kết quả về sự sẵn sàng chi trả cho vắc xin phòng COVID-19: 29,3% chỉ sẵn sàng chi trả ở mức 15,47 USD; 26,7% sẵn sàng chi trả ở mức 30,94 USD; 16,1% sẵn sàng chi trả ở mức 61,88 USD; và 27,7% sẵn sàng chi trả ở mức 123,76 USD. Cán bộ y tế, người có thu nhập cao, nhận thức tốt về nguy cơ của COVID-19 liên quan chặt chẽ với mức độ sẵn sàng chi trả [41]. Nghiên cứu mức sẵn sàng chi trả cho tiêm phòng COVID-19 tại Chile thấy mức cao nhất là 232 USD. Thu nhập, trình độ học vấn, gia đình có người mắc COVID-19 ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng chi trả cho vắc xin [33].
Kết quả khảo sát cắt ngang trực tuyến trên 697 người trưởng thành tại
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">Bangladesh của Kabir R. và cs (2021) cho kết quả: trong số những người tham gia, 26,0% thể hiện ý định chắc chắn, 43,0% có thể có ý định, 24,0% có thể là tiêu cực và 7,0% có ý định tiêu cực rõ ràng về vấn đề tiêm vắc xin phòng COVID-19. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy có mối liên quan giữa ý định xác định tiêm vắc xin phịng COVID-19 và tình trạng nhiễm COVID-19 trước đó (OR=2,86; 95%CI: 1,71-4,78), cho rằng COVID-19 là nghiêm trọng (OR=1,93; 95%CI: 1,04-3,59), tin rằng tiêm chủng sẽ giảm bớt lo lắng về việc nhiễm COVID-19 (OR=4,42; 95%CI: 2,25-8,68) và lo ngại về khả năng chi trả vắc xin (OR=1,51; 95%CI: 1,01-2,25). Những người sợ tác dụng không mong muốn của vắc xin (OR=0,34; 95%CI: 0,21-0,53) và những người sẽ dùng vắc xin nếu nhiều người khác đã dùng vắc xin (OR=0,44; 95%CI: 0,29-0,67) ít có ý định tiêm vắc xin. Có 68,4% đối tượng nghiên cứu sẵn sàng trả tiền cho vắc xin. Số tiền trung bình mà họ sẵn sàng trả là 7,08 USD [46].
Theo Amirah Azzeri và cs (2021), thì khả năng chi trả trung bình của người dân Malaysia cho vắc xin phòng COVID-19 là 52,08 USD và người dân sẵn sàng chi trả cho vắc xin phòng COVID-19 là 32,38 USD. Nữ giới, người gốc Mã Lai, đã kết hôn, nhân viên đã được biên chế và người trả lời có thu nhập phụ thì có khả năng chi trả và sẵn sàng chi trả cao hơn, có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [29]. Nghiên cứu phân tích cắt ngang của Abedin Minhazul và cs (2021) trên 3646 người thấy có 74,6% cho biết họ sẵn sàng tiêm vắc xin phịng COVID-19 khi có vắc xin an tồn và hiệu quả mà khơng phải trả phí, trong khi 8,5% khơng muốn tiêm chủng. Với một khoản phí tối thiểu, 46,5% số người được hỏi cho thấy có ý định tiêm chủng. Trong số những người được hỏi, 16,8% cho biết tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn sức khỏe và 35,5% cho biết có sự tin tưởng cao vào hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước. Việc từ chối tiêm vắc xin COVID-19 cao đáng kể ở những người cao tuổi, nông thôn, bán thành thị và khu ổ chuột, nông dân, lao động phổ thông, nội trợ, nhóm có trình độ học vấn thấp và những người không tin tưởng vào
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước. Tỉ lệ do dự tiêm vắc xin cao ở nhóm dân số cao tuổi, nhóm dân trí thấp, lao động phổ thơng, những người mắc bệnh mãn tính và những người khơng tin tưởng vào hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước [28].
Theo Wake A.D. (2021), các yếu tố như tuổi cao, trình độ học vấn cao, giới tính nữ, thu nhập ổn định, nơi cư trú thành thị, nghề nghiệp, tình trạng hơn nhân, chủng tộc / dân tộc, nhận thức về nguy cơ mắc COVID-19, sự tin tưởng vào hệ thống chăm sóc sức khỏe, có bảo hiểm y tế, thái độ đối với vắc xin, nhận thức về lợi ích của vắc xin, nhận thức rào cản của vắc xin, hiệu quả phòng chống COVID-19 của bản thân, cập nhật thông tin về tiêm chủng, đã kiểm tra xét nghiệm COVID-19 trong quá khứ, được khuyến nghị tiêm chủng, khuynh hướng chính trị, nhận thức mức độ nghiêm trọng của COVID-19, nhận thức hiệu quả của vắc xin COVID-19, niềm tin rằng tiêm chủng khiến họ cảm thấy bớt lo lắng hơn về COVID-19, tin tưởng vào việc tiêm chủng bắt buộc COVID-19, sự hiện diện của bệnh mãn tính, sự tự tin về phịng bệnh, mối quan tâm về an tồn vắc xin COVID-19, làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, tin rằng vắc xin có thể ngăn chặn đại dịch, lo sợ về COVID-19, tiêm bất kỳ loại vắc xin nào trong 5 năm qua đều liên quan đến việc sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 (p<0,05) [67].
Theo Han. K và cs (2021) thì hầu hết (89,1%) đối tượng sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin COVID-19. Các yếu tố xã hội - nhân khẩu học không liên quan đáng kể đến việc sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin; nhưng sự tin tưởng vào tầm quan trọng của vắc xin (OR=8,71, 95%CI: 5,89-12,89), tính an toàn của vắc xin (OR=1,80, 95%CI: 1,24-2,61) và hiệu quả của vắc xin (OR=2,66, 95%CI: 1,83-3,87) có liên quan tích cực đáng kể đến việc sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin COVID-19 [40].
<b>1.5. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu </b>
Xã Thạch Sơn có diện tích 10,49 km² với 08 thôn, dân số gần 6000
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">người, mật độ dân số đạt 500 người/km². Địa bàn xã có tuyến kênh Nhà Lê nối từ kinh đơ Hoa Lư đến Đèo Ngang đi qua, là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Tuyến kênh giúp xã thông ra Sông Hạ Vang và từ đó đổ ra biển. Xã nằm sát quốc lộ 1A, là tuyến giao thông huyết mạch của cả nước với lượng phương tiện và con người thường xun di chuyển. Ngồi ra, xã có nhiều lực lượng lao động trẻ đang tham gia làm việc tại các khu công nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và thậm chí là những người sang Lào, Campuchia và Thái Lan lao động. Đây là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến cơng tác phịng chống COVID-19 trên địa bàn xã. Trong đợt dịch thứ 4, xã tăng cường chủ trương tuyên truyền cho các các công dân đi về từ các vùng có dịch tiến hành khai báo y tế và động viên đến các con em làm ăn xã quê với phương châm "con em đang công tác ở đâu ở yên chỗ ấy" hạn chế nhất việc trở về địa phương từ là các vùng có dịch, và người dân thực hiện đúng, đủ 5K trong phòng dịch. Trong đợt dịch thứ 4, xã đã triển khai tốt việc huy động cộng đồng trong phòng dịch. Cùng với chủ trương đẩy mạnh tiêm vắc xin phòng COVID-19 của Bộ Y tế, những thắc mắc của người dân về vấn đề tiêm vắc xin phòng COVID-19 là điều cần quan tâm. Giả thuyết đặt ra là người dân sẵn sàng tiêm và chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 trên địa bàn. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức của người dân về vấn đề tiêm vắc xin phòng COVID-19, giúp phòng chống dịch bệnh trên địa bàn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><b>Chương 2. </b>
<b>ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU </b>
<b>2.1. Đối tượng nghiên cứu </b>
- Người dân ≥18 tuổi tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. - Cán bộ tham gia cơng tác phịng chống dịch COVID-19 tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
<i><b>2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn </b></i>
- Có hộ khẩu thường trú tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. - Hiện sinh sống liên tục trong 6 tháng tại xã.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
<i><b>2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ </b></i>
- Đang mắc bệnh tâm thần hoặc không có khả năng trả lời câu hỏi.
<b>2.2. Thời gian, địa điềm nghiên cứu </b>
- Thời gian nghiên cứu: từ 5/2021 đến 5/2022.
- Địa điểm nghiên cứu: xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
<b>2.3. Phương pháp nghiên cứu </b>
<i><b>2.3.1. Thiết kế nghiên cứu </b></i>
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng với định tính.
<i><b>2.3.2. Cỡ mẫu </b></i>
<i><b>* Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng </b></i>
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả một tỉ lệ mắc
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">Z<small>(1-α/2)</small>: hệ số giới hạn tin cậy, mức tin cậy 95% → Z<small>(1-α/2)</small> = 1,96.
p = 0,7543 (Kết quả nghiên cứu của Kumari A. và cs (2021) với tỉ lệ không sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 là 24,57% [51]).
<i><b>* Chọn mẫu nghiên cứu định lượng </b></i>
Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, cụ thể:
- Lập danh sách người dân ≥ 18 tuổi của xã Thạch Sơn đảm bảo tiêu chuẩn lựa chọn (dùng danh sách từ phần mềm quản lý dân số-sức khỏe sinh sản).
- Đánh số thứ tự cho danh sách người dân (thực tế có 4252 người dân đảm bảo tiêu chuẩn lựa chọn).
- Dùng phần mềm Stata 15.0 chọn ngẫu nhiên 300 người trong danh sách theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. Cách chọn như sau:
+ 4252 người dân sẽ được đánh số từ 1 đến 4252 (khung mẫu).
+ Lấy số thứ tự khung mẫu vào dữ liệu phần mềm Stata 15.0. với biến số được tạo trong Stata là ID.
+ Chọn 300 người dân một cách ngẫu nhiên bằng phần mềm Stata 15.0 theo câu lệnh “sample 300, count”.
+ Sau đó sắp xếp lại thứ tự các số thứ tự bằng câu lệnh “sort ID”.
+ Dựa trên các các số ID đã được chọn ngẫu nhiên, đối chiếu ra danh sách khung mẫu sẽ được họ tên, địa chỉ của người dân cần phỏng vấn.
<i><b>* Chọn mẫu nghiên cứu định tính </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><i><b> Chọn chủ đích: </b></i>
04 cuộc phỏng vấn sâu với:
- Trưởng ban/phó Ban chỉ đạo phòng chống COVID-19 của xã. - Trưởng Trạm Y tế xã Thạch Sơn.
- Cán bộ ban chỉ đạo phòng chống COVID-19 của xã.
- Tổ trưởng tổ cơ động phòng chống dịch của xã Thạch Sơn. 02 cuộc thảo luận nhóm với:
- 01 cuộc thảo luận nhóm với Ban chỉ đạo phòng chống COVID-19. - 01 cuộc thảo luận nhóm với người dân tại xã.
<b>2.4. Chỉ số nghiên cứu </b>
<i><b>2.4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu </b></i>
- Phân bố nhóm tuổi theo giới của đối tượng nghiên cứu - Phân bố tình trạng hơn nhân của đối tượng nghiên cứu - Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
- Phân bố trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu - Phân bố kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu - Tỉ lệ bệnh mạn tính kèm theo của đối tượng nghiên cứu - Tỉ lệ tiền sử dị ứng của đối tượng nghiên cứu
- Tỉ lệ bị thay đổi công việc tạo ra thu nhập do COVID-19
- Tỉ lệ bị giảm thu nhập do COVID-19 của đối tượng nghiên cứu - Tỉ lệ bản thân/ người nhà đã tiêm vắc xin phòng COVID-19 - Tỉ lệ bản thân/người nhà đã được chẩn đoán mắc COVID-19 - Phân bố nguồn nhận thơng tin về vắc xin phịng COVID-19
<i><b>2.4.2. Chỉ số về kiến thức, thái độ tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2021 </b></i>
- Tỉ lệ biết loại vắc xin sử dụng để tiêm phòng COVID-19 - Tỉ lệ biết tác dụng của vắc xin phòng COVID-19
- Tỉ lệ biết đối tượng cần tiêm vắc xin phòng COVID-19
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">- Tỉ lệ biết các phản ứng có thể gặp sau tiêm vắc xin
- Tỉ lệ biết xử trí khi gặp tác dụng khơng mong muốn sau tiêm vắc xin phịng COVID-19
- Phân bố kiến thức chung về tiêm vắc xin phòng COVID-19 - Tỉ lệ thái độ về tiêm vắc xin phòng COVID-19
- Phân bố thái độ chung về tiêm vắc xin phòng COVID-19
- Nhận định chung về kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu về tiêm vắc xin phòng COVID-19
<i><b>2.4.3. Chỉ số đánh giá mức độ sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 của người dân tại xã Thạch Sơn và các yếu tố liên quan </b></i>
<i>* Sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin phòng COVID-19 </i>
- Tỉ lệ sẵn sàng tiêm vắc xin phòng COVID-19
- Tỉ lệ sẵn sàng khuyên bạn bè, người thân tiêm vắc xin phòng COVID-19 - Tỉ lệ sẵn sàng tiêm vì cộng đồng (phịng lây cho cộng đồng)
- Phân bố mức độ chi trả để tiêm vắc xin
- Tỉ lệ sẵn sàng chi trả để tiêm vắc xin phòng COVID-19
- Phân bố số tiền sẵn sàng chi trả để tiêm vắc xin phòng COVID-19
<i>* Yếu tố ảnh hưởng đến sẵn sàng chi trả cho tiêm vắc xin </i>
- Ảnh hưởng bởi tuổi, giới, tình trạng hơn nhân của đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng bởi nghề nghiệp, trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng bởi kiến thức về tiêm vắc xin của đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng bởi thái độ về tiêm vắc xin của đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng bởi bệnh kèm theo của đối tượng nghiên cứu
- Ảnh hưởng bởi tiền sử dị ứng của đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng bởi cơ chế, chính sách
- Ảnh hưởng bởi kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu
- Ảnh hưởng bởi thay đổi công việc tạo ra thu nhập và giảm thu nhập do dịch COVID-19 của đối tượng nghiên cứu
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">- Ảnh hưởng bởi kinh tế
- Ảnh hưởng bởi tính an toàn và hiệu quả của vắc xin
- Ảnh hưởng bởi gia đình có người nhà mắc COVID-19 của đối tượng nghiên cứu
- Ảnh hưởng bởi gia đình, cộng đồng - Ảnh hưởng bởi mức độ nặng của bệnh - Ảnh hưởng bởi truyền thông
<b>2.5. Tiêu chuẩn đánh giá biến số nghiên cứu </b>
- Tuổi của đối tượng nghiên cứu được tính theo năm dương lịch, được chia thành các nhóm: 18-29, 30-39, 40-49, 50-59, ≥60.
- Kinh tế hộ gia đình (đối với vùng nơng thơn):
+ Hộ nghèo: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống; thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
+ Hộ cận nghèo: Có thu nhập bình qn đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống; thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Hộ có mức sống trung bình: Có thu nhập bình qn đầu người/tháng hơn 1,5 triệu đồng đến 2,25 triệu đồng [21].
- Đánh giá kiến thức của đối tượng tham gia nghiên cứu: Sử dụng bảng hỏi đánh giá kiến thức của người dân về vắc xin phòng COVID-19. Các câu hỏi được xác định theo mỗi ý trả lời đúng là 1 điểm, tính tổng điểm và phân nhóm theo thang đo Bloom như hướng dẫn dưới dây:
≥80% (tổng số điểm): Xếp loại tốt.
>60% - <80% tổng số điểm): Xếp loại trung bình. ≤60% (tổng số điểm): Xếp loại yếu.
</div>