Tải bản đầy đủ (.pdf) (226 trang)

Luận án tiến sĩ luật học: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (64.64 MB, 226 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

DAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT

NGUYÊN THÀNH LONG

NGUYÊN TAC SUY DOAN Vô TOI

TRONG LUẬT Tổ TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

<small>Chuyên ngành : Luật hình sự</small>

<small>Mã số : 62 38 40 01</small>

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dân khoa học: 1. GS.TSKH Lê Văn Cảm

<small>2. TS. Tran Quang Tiệp</small>

HÀ NỘI - 2010

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

Chương 1: NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TÁC SUY DOAN

VO TOL TRONG LUẬT TỔ TUNG HÌNH SỰ

Lược khảo về ngun tắc suy đốn vơ tội trong lịch sử tư pháp <small>hình sự thế giới</small>

Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của ngun tắc suy đốn vơ tội <small>trong luật tố tụng hình sự</small>

Mỗi quan hệ giữa ngun tac suy đốn vơ tội với một số ngun tac của luật tố tụng hình sự Việt Nam

Nguyên tắc suy đốn vơ tội trong pháp luật tố tụng hình sự một <small>số nước trên thế giới</small>

Chương 2: SỰ THỂ HIỆN NGUN TÁC SUY ĐỐN VƠ TỘI TRONG PHÁP LUAT TO TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THUC

TIEN ÁP DỤNG

Sự thể hiện ngun tắc suy đốn vơ tội trong pháp luật tố tụng

<small>hình sự Việt Nam</small>

Thực tiên áp dụng nguyên tắc suy đốn vơ tội

Chương 3: HỒN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỔ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC NHẰM

BẢO DAM NGUYEN TAC SUY DOAN VO TỘI

<small>Nhu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình su Việt</small>

<small>Nam nhằm bảo đảm ngun tắc suy đốn vơ tội</small>

Hồn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về ngun

tắc suy đốn vơ tội

<small>Một số đề xuất hồn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình</small>

sự nhằm bảo đảm ngun tắc suy đốn vơ tội

<small>Giải pháp nâng cao nhận thức của cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp</small> luật và của nhân dân về nguyên tac suy đốn vơ tội

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

Số người tạm bị tạm giữ nhưng không được Viện kiểm sát phê chuẩn gia hạn tạm giữ - Số liệu từ năm 2004 đến 2008

<small>Tình hình xử lý người bị tạm giam - Số liệu từ năm 2004</small>

<small>đến 2008</small>

Số bị can không được Viện kiểm sát phê chuẩn tạm giam, gia hạn tạm giam, lệnh bắt để tạm giam - Số liệu từ năm

<small>Tình hình khác phục sai sót trong giai đoạn khởi tố của</small>

Viện kiểm sát - Số liệu từ năm 2004 đến 2008

<small>Tình hình truy tố vụ án hình sự - Số liệu từ năm 2004đến 2008</small>

Viện kiểm sát đình chỉ bị can do khơng có đủ căn cứ để

<small>truy tố - Số liệu từ năm 2004 đến năm 2008</small>

<small>Một số trường hợp đình chỉ bị can - Số liệu năm 2006</small>

<small>Tình hình thụ lý, giải quyết và xét xử các vụ án hình sự sơ</small>

thẩm trong giai đoạn từ 01/10/2007 đến 30/9/2008

Quyết định của Tòa án cấp sơ thấm trong giai đoạn từ

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>Các tội danh thường xảy ra tình trạng đình chi vụ an - Số</small>

<small>liệu từ năm 2004 đến nam 2008</small>

Thống kê số lượng trả hồ sơ cho Viện kiểm sát trong giai

<small>đoạn 2004 - 2008</small>

<small>Bị cáo được trả tự do - Số liệu từ năm 2005 đến năm 2008</small>

<small>Tình hình thụ lý, giải quyết và xét xử các vụ án hình sự</small>

phúc thẩm trong giai đoạn từ 01/10/2007 đến 30/9/2008

<small>Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm trong giai đoạn từ01/10/2007 đến 30/9/2008</small>

Tịa án cấp phúc thẩm đình chỉ vụ án theo Điều 251 Bộ

<small>luật tố tụng hình sự năm 2003 - Số liệu từ năm 2004 đến</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

MỞ ĐẦU

<small>1. Tinh cấp thiết của đề tài</small>

Trong lich sử luật tố tụng hình sự, việc thừa nhận nguyên tac suy đốn

<small>vơ tội được coi là thành tựu quan trọng của khoa học pháp lý hiện đại. Điều 11</small>

<small>Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên hợp quốc quyđịnh: "Moi người bị buộc tội có hành vi phạm tội được coi là vô tội cho đếnkhi sự phạm tội của người đó được xác định một cách hợp pháp trong một vụxét xử cơng khai, trong đó có những sự bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa</small>

của người đó" [62, tr. 148]. Khoản 2 Điều 14 Cơng ước quốc tế về các quyền

<small>dân sự và chính trị quy định: "Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyềnđược coi là vơ tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp</small>

<small>luật” [62, tr. 138]... Những quy định này là kết qua đấu tranh giữa các trường</small>

<small>phái khoa học tố tụng hình sự trong việc tìm kiếm các biện pháp bảo đảm tínhkhoa học, khách quan, toàn diện của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án</small>

<small>hình sự.</small>

Ở nước ta, những nội dung chủ yếu của ngun tắc suy đốn vơ tội đã

được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật tố tụng hình

<small>sự. Điều 72 Hiến pháp quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình</small>

phạt khi chưa có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật"; Điều 9

<small>Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Khơng ai có bị coi là có tội vàphải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp</small>

<small>luật", Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy định: "Trach nhiệm</small>

<small>chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có</small>

quyền nhưng khơng buộc phải chứng minh là mình vơ tội”. Ngồi ra, ngun tắc suy đốn vơ tội cịn được các nhà làm luật cụ thể hóa bằng nhiều quy định

<small>trong pháp luật tố tụng hình sự của nước ta.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<small>Việc Hiến pháp năm 1992, Bộ luật to tụng hình sự năm 1988 va Bộ</small>

luật tố tụng hình sự năm 2003 chính thức ghi nhận về mặt pháp lý những nội

dung chủ yếu của nguyên tắc suy đốn vơ tội, thể hiện bước tiến bộ về kỹ

<small>thuật lập pháp theo hướng kế thừa những giá trị pháp lý tiên tiến của nhân loại</small>

tiến bộ, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm

<small>giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, được dư luận trong và ngồi nước</small>

<small>đánh giá cao. Thực tiên áp dụng những quy định đó trên thực tế đã minh</small>

chứng sự đúng dan của ngun tắc suy đốn vơ tội, người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo đã được bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của mình với tư cách

<small>là người chưa bị coi là có tội, bởi lẽ đối với họ chưa có bản án của Tịa án kết</small>

<small>tội đã có hiệu lực pháp luật.</small>

Tuy nhiên, thực tiên điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, việc nhận thức

và thực hiện ngun tắc suy đốn vơ tội chưa thống nhất, cịn nhiều tồn tại,

vẫn cịn khơng ít người tiến hành tố tụng hoặc những người có thẩm quyền

khác có cách hiểu sai lệch, coi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có tội.

Thực tế cịn cho thấy, những nội dung của nguyên tắc này chưa được tuân thủ

triệt để và nhất quán trong hoạt động lập pháp của nước ta. Trong một số văn

<small>bản quy phạm pháp luật hiện hành, bị can, bị cáo đã bị hạn chế quyền cơng</small>

dân của mình như quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền sản xuất kinh doanh..,

<small>mà lý do đơn giản bởi vì họ là bị can, bị cáo. Dưới góc độ khoa học luật tố</small>

tụng hình sự, còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận như khái niệm, nội dung ngun tắc suy đốn vơ tội, vai trị của

ngun tắc suy đốn vơ tội trong hệ thống các nguyên tắc của luật tố tụng

hình sự, điều kiện bảo đảm thực hiện ngun tắc suy đốn vơ tội trong tố tụng

<small>hình sự và trong các lĩnh vực pháp luật khác...</small>

<small>Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Nguyên tac suy đốn vơ tội trong luật</small>

<small>to tụng hình sự Việt Nam", mang tính cấp thiết, khơng những về mat lý luận,mà còn là đòi hỏi của thực tiên hiện nay.</small>

<small>t2</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

<small>Ngun tac suy đốn vơ tội là van dé rất nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi</small>

<small>trong khoa học luật tố tụng hình sự, cho nên đã được các nhà luật học ở trong</small>

<small>và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu.</small>

<small>Một số nhà luật học của Liên Xô trước day đã có các cơng trình đề cập</small>

ngun tắc suy đốn vơ tội, như GS.TSKH M.X.Xtrơgơvich có cơng trình <small>Quyển bào chữa của bị can và suy đốn vơ tội, (Nxb Khoa học, Mátxcơva,1984); GS.TSKH A.M.Larin có cơng trình Suy đốn vơ tội, (Nxb Khoa học,</small>

<small>Matxcova, 1982); GS.TSKH. I.L.Pêtrutkhin có cơng trình: "Suy đốn vơ tội </small>

-ngun tắc hiến định của tố tụng hình sự X6 viet", (Tạp chí Nhà nước và pháp

luật Xơ viết, số 12-1978); GS.TSKH. LA.Libus có cơng trình: "Neun tắc

suy đốn vơ tội trong tố tụng hình sự Xô viet", (Tasken, 1981).

Ở phương Tây, một số học giả cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề này:

<small>TS. Davit Hammo có cơng trình: “Suy đốn vơ t6t và nghĩa vu trái nguoc: một</small>

văn bản cân bằng”, (Trường Đại học Tổng hợp Queensland, Australia, 2007),

trong đó cho rằng, suy đốn vô tội thể hiện sự cân bằng giữa quyền và lợi ích <small>của người bị buộc tội và lợi ích của xã hội; tác giả Jonathan Yardley có cơng</small> trình: "Nghia vụ chứng minh", (Washington Post, 2008), trong đó có dé cập

suy đốn vơ tội với tư cách là một trong những nguyên tắc của hoạt động tố

tụng hình sự, trong đó trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan thực thi

pháp luật; tác giả Michael H. Graham có cơng trình: "Sở ray về chứng cứ của

<small>bang Illiois", (Aspen, 2000), trong đó dé cập trách nhiệm chứng minh thuộc</small>

về cơ quan công tố; tác giả William C. Beecher có cơng trình: "Tóm tắt xét xử

các vụ án hình sự”, (New York, 2002), trong đó nhiều nội dung dé cập suy

đốn vơ tội; tác giả Michael. H. Postner, Giám đốc tổ chức luật sư vì quyền

con người có cơng trình "Thế nào là phiên tịa cơng bằng”, (New York, 2000),

<small>trong đó có đề cập quyền được suy đốn vô tội như là một yếu tố bát buộc đối</small>

với một phiên tịa cơng bang; TS. Marie Vannostrand có cơng trình: "Thuc

<small>S2</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

tiên pháp lý và thực tiền dua trên cơ sở của chứng cứ”, (Trung tâm Nghiên

<small>cứu tội phạm và tư pháp, Bộ Tư pháp Hoa Ky, Washington, 2007) đã dé cập</small>

ngun tắc suy đốn vơ tội với tính chất là một trong sáu nguyên tắc quan

<small>trọng nhất của luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ...</small>

Ở nước ta, một số nhà luật học đã dé cập ngun tắc suy đốn vơ tội

<small>với những mức độ và dưới các góc độ khác nhau. PGS.TS Nguyên Thái Phúc</small>

có cơng trình Neun tắc suy đốn vơ tội. (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số

11/2006, Hà Nội, 2006), đã đề cập cội nguồn lịch sử, nội dung của ngun tắc

<small>suy đốn vơ tội và nêu một số kiến nghị hoàn thiện những quy định của pháp</small>

luật tố tụng hình sự có liên quan. Mặc dù chỉ là cơng trình được đăng tải trên

tạp chí, nhưng đây là cơng trình được nghiên cứu tương đối cơng phu về ngun tắc suy đốn vơ tội, tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến xác đáng về lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc này trong tố tụng hình sự. Chúng tơi đã nghiên cứu và <small>kế thừa những ý kiến trên cho việc nghiên cứu luận án của mình.</small>

TS. Bùi Kiến Điện có cơng trình Về ngun tắc suy đốn v6 tội, (Tap

chí Luật học, số 1/1996). Theo tác giả, thừa nhận và tuân theo nguyên tắc suy

đốn vơ tội, Điều 72 Hiến pháp 1992 và Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự của

<small>nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 quy định: "Khơng ai có</small>

thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tịa

<small>án đã có hiệu lực pháp luạt”. Cũng theo tinh than của Hiến pháp và Bộ luật tố</small>

tụng hình sự, trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, mọi nghi ngờ phải

được giải thích theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo. Tác giả cho rằng, đây

chính là hai nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đốn vơ tội mà chúng ta thừa

<small>nhận và tn theo.</small>

<small>PGS.TS Phạm Hồng Hải có cơng trình "Bao dam quyền bào chữa của</small>

người bị buộc tôi", (Nxb Công an nhân dan, Hà Nội, 1999), trong đó đã đề cập mối quan hệ giữa nguyên tác bảo đảm quyền bào chữa và ngun tác suy đốn

<small>Vơ tội trong tố tụng hình sự.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Tác gia Dinh Thế Hưng có cơng trình "Neun tắc suy dodn vơ tội trong

<small>luật tố tụng hình sự Việt Nam", (Luận van Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại</small>

học quốc gia Hà Nội, 2006). Trong luận văn này, tác gia đã dé cập một số vấn

đề lý luận và thực tiễn về nguyên tắc suy đốn vơ tội trong luật tố tụng hình sự

Việt Nam, đã đưa ra được nội dung nguyên tắc suy đốn vơ tội, phân tích

những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thể hiện nguyên tắc

suy đốn vơ tội và thực tiên áp dụng. Chúng tôi đã kế thừa kết quả nghiên cứu

về nội dung của nguyên tắc và một số nội dung về sự thể hiện của nguyên tắc

trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam để nghiên cứu tiếp trong luận án của minh một cách có hệ thống hơn, sâu sac hơn.

Các cơng trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về ngun

tắc suy đốn vơ tội, nhưng chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách tồn

điện và có hệ thống về ngun tắc suy đốn vơ tội trong luật tố tụng hình sự

<small>với cấp độ luận án Tiến sĩ luật học ở Việt Nam hiện nay.</small>

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

<small>Mục đích nghiên cứu</small>

Mục đích của luận án là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

và thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đốn vơ tội, để xuất hồn thiện những

<small>quy định của pháp luật tố tụng hình sự về suy đốn vô tội, cũng như hệ thống</small>

các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này trong tố tụng hình sự.

<small>Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án</small>

Để đạt được mục đích trên, tác giả luận án đã đặt ra và giải quyết các

<small>nhiệm vụ sau:</small>

- Lầm sáng tỏ nguyên tắc suy đốn vơ tội dưới góc độ lịch sử tư pháp

<small>hình sự thế giới.</small>

- Làm sáng tỏ khái niệm, nội dung ngun tac suy đốn vơ tội và ý

nghĩa của nguyên tắc này trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.

<small>on</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<small>- Lam sáng tỏ vi trí ngun tác suy đốn vơ tội trong chế định các</small>

ngun tác của luật tố tụng hình sự Việt Nam.

- So sánh những quy định của pháp luật tố tụng hình sự của nước ta về

ngun tác suy đốn vơ tội với những quy định tương ứng trong pháp luật tố

tụng hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị hợp lý về

<small>hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.</small>

- Phân tích làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định về

nguyên tắc suy đốn vơ tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.

- Phân tích, làm rõ sự thể hiện ngun tac suy đốn vơ tội trong pháp

luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng.

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật tố

tụng hình sự về suy đốn vơ tội và hệ thống những giải pháp bảo đảm thực

hiện nguyên tắc suy đốn vơ tội trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án

<small>Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn</small>

áp dụng ngun tắc suy đốn vơ tội trong tố tụng hình sự Việt Nam. <small>Phạm vì nghiên cứu của luận án</small>

<small>Luận án nghiên cứu đề tài này dưới góc độ luật tố tụng hình sự trong</small>

<small>khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2009.</small>

4. Cơ sở lý luận, thực tiên và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác

-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Dang Cong sản Việt Nam về xây dựng

<small>Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân,</small>

<small>về chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.</small>

<small>Luận án được thực hiện trên cơ sở quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của</small>

<small>Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về suy đốn vơ tội. Cơ sở thực tiễn</small>

<small>6</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

của luận van là các bản án, báo cáo tổng kết ve đấu tranh phòng, chống tội

<small>phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật.</small>

<small>Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng</small>

và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, các phương pháp hệ

thống, phân tích, tổng hợp. lịch sử, lơ-gíc, thống kê, so sánh pháp luật, xã hội

học... đã được sử dụng để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận án đã đặt ra. <small>5. Những đóng góp mới của luận án</small>

<small>Đây là cơng trình chun khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt</small>

<small>Nam ở cấp độ luận án Tiến sĩ luật học, nghiên cứu một cách tồn diện, có hệ</small> thống về ngun tắc suy đốn vơ tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Có

thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận án:

1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nguyên tắc suy đoán vơ tội

<small>trong pháp luật tố tụng hình sự.</small>

2. Phân tích làm rõ thực trạng sự thể hiện nguyên tắc suy đốn vơ tội

trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng ở nước ta.

<small>3. Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật tố tụng hình sự</small>

của nước ta về ngun tắc suy đốn vơ tội với những quy định tương ứng trong

pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị

hợp lý về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.

4. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp

luật tố tụng hình sự về suy đốn vơ tội và nhằm bảo đảm thực hiện ngun tắc

<small>suy đốn vơ tội trong tố tụng hình sự Việt Nam.</small>

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiên của luận án

Kết quả nghiên cứu và những giải pháp được đề xuất trong luận án có <small>ý nghĩa quan trọng đối với cuộc dau tranh phòng. chống tội phạm nói chung,</small>

<small>bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<small>tố tụng hình sự nói riéng. Thông qua việc de xuất một số giải pháp hồn thiện</small>

<small>những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về suy đốn vơ tội và bảo đảm</small>

thực hiện ngun tác suy đốn vơ tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình nhằm nâng cao nhận thức về

nguyên tắc suy đốn vơ tội của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng, góp phần phát triển kho tàng lý luận pháp lý tố tụng

hình sự và tổng kết, nghiên cứu thực tiễn áp dụng ngun tắc suy đốn vơ tội

trong tố tụng hình sự Việt Nam. Dong thời, tác gia hy vọng sẽ góp phần làm

sáng tỏ luận cứ khoa học cho việc đổi mới tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ tại

<small>các cơ quan tư pháp hình sự, góp phần vào cơng cuộc cải cách tư pháp ở nước</small>

<small>ta hiện nay.</small>

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác

nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật tố tụng hình sự nói riêng, cũng như trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về

hợp tác quốc tế thuộc các ngành Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơng an.

<small>7. Kết cấu của luận án</small>

Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

<small>của luận án gồm 3 chương, 10 tiết.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dự, các quyền cơ bản của con người luôn là niềm khát vọng cháy

bỏng của loài người tiến bộ. Tồn tại với tính chất là một nguyên tác của luật tố

tụng hình sự, suy đốn vơ tội đã có q trình hình thành và phát triển từ lâu trong lịch sử nhân loại và được thể hiện ở những hình thức, mức độ khác nhau.

Nghiên cứu Bộ luật cổ Manu thời kỳ Ấn Độ cổ đại cho thấy, Bộ luật

này có nhiều quy định bảo dam Tịa án xét xử công minh. Điều 14 chương 8 Bộ luật quy định: "Luật pháp sẽ chết bởi sự lộng hành", còn Điều 17 chương

<small>này quy định: "Người bạn duy nhất luôn song hành cùng con người ngay cả</small>

sau khi họ chết, đó là sự xét xử cơng minh, cịn thì tất cả đều chết cùng thân

thể con người” (129, tr. 34]. Trong Bộ luật này, mặc dù chưa có quy định cụ

thể về ngun tắc suy đốn vơ tội, nhưng cũng đã có quy định về một trong

<small>những yếu tố cấu thành nội dung nguyên tắc, đó là nghĩa vụ chứng minh tộiphạm thuộc về người buộc tội.</small>

Phân tích các quy phạm pháp luật thời kỳ Hy Lạp cổ đại cho thấy, thời điểm đó chưa có sự phân chia quy phạm pháp luật thành quy phạm vật chất và

<small>quy phạm hình thức. Các vụ án dân sự do nguyên đơn khởi kiện, cịn các vụ án</small>

<small>hình sự do người buộc tội khởi tố. Nghĩa vụ chứng minh trong các vụ án dân</small>

<small>sự thuộc về người bị hại được gọi là nguyên đơn, cịn nghĩa vụ chứng minhtrong các vụ án hình sự thuộc về người buộc tội. Việc kết án được thực hiện</small>

bằng hình thức bỏ phiếu kín. Nếu số phiếu chơng hoặc ủng hộ bằng nhau, thì

<small>2</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

bị cáo sẽ được tuyên là vô tội. Đây cũng có thể được coi là manh nha của

nguyên tắc suy đốn vơ tội vì một trong những nội dung của ngun tắc suy

<small>đốn vơ tội được thừa nhận rộng rai trong luật t6 tụng hình sự hiện đại là trong</small>

trường hợp lỗi của người bị buộc tội không thể được chứng minh theo đúng

<small>các trình tự, thủ tục quy định thì phải được giải thích theo hướng có lợi cho</small>

họ. Với việc được tuyên là vô tội, bị cáo có quyền khởi kiện chống lại sự buộc

tội gian dối. Theo đó, những người buộc tội có thể bị phạt tiền, tước quyền

công dân và trong một số trường hợp có thể bị tử hình.

Tương tự như pháp luật Ấn Độ cổ đại, pháp luật Hy Lạp cổ đại, pháp

luật La Mã cổ đại cũng chưa có quy định cụ thể về ngun tắc suy đốn vơ

tội, nhưng cũng đã xuất hiện những yếu tố cấu thành nội dung của nguyên tắc.

Nghĩa vụ chứng minh (onus probandi) trong vụ án hình sự là vấn đề đã được

dé cập từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên. Trong pháp luật La Mã cổ đại đã

hình thành nguyên tắc: trách nhiệm chứng minh thuộc về người khẳng định,

chứ không thuộc về người phủ định (ei incumbit probatio qui dicit, non quy

negat) [129, tr. 172]. Trong kiểu tố tụng tố cáo rất thịnh hành thời kỳ này,

người tố cáo có nghĩa vụ chứng minh và khơng có người tố cáo thì khơng có

<small>quan tòa (nemo judex sine actore). Người tố cáo phải thu thập chứng cứ trong</small>

<small>một thời hạn do quan tòa quy định, sau thời hạn này, người đó tiến hành việc</small>

<small>tố cáo trước quan tịa (nominis vel criminis delatio). Trình tự xét xử (in</small>

judicium) diễn ra trong sự tranh luận giữa người tố cáo - bên buộc tội với bên gỡ tội, trong đó trách nhiệm chứng minh và đề xuất chứng cứ hoàn toàn do

<small>người tố cáo chịu trách nhiệm [17, tr. 16], [44, tr. 181, 182]. Chân lý được coi</small>

là mục đích của sự chứng minh và trách nhiệm chứng minh thuộc về người buộc

<small>tội. BỊ cáo được sử dụng quyền bào chữa và sử dụng dịch vụ của người bào chữa.</small>

Pháp luật La Mã cổ đại nghiêm cấm việc sử dụng các hình thức tra tấn đối với bị

<small>cáo trong các vụ án hình sự (tra tấn chi được phép sử dụng đối với nô lệ bị coi là</small>

cơng cụ biết nói). Đặc biệt, pháp luật La Mã cổ đại quy định: mọi nghi ngờ phải

được giải thích theo hướng có lợi cho bị cáo, đây có thể nói là quy định rất tiến

<small>bơ trong lich sử tư pháp hình sư của lồi người thời kỳ này. Ngoài ra, bi cáo</small><sub>° & ll D ` g g Ị</sub>

<small>10</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<small>cịn có quyền tự do khi chưa bị kết án và có quyền rời khỏi phiên tòa bất cứ</small>

thời điểm nào. Việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ được Tòa án thực hiện bởi

niềm tin nội tâm mà không chịu sự ràng buộc nào khác.

Vào thế kỷ thứ VII, thứ VII, ở chau Âu đã xuất hiện kiểu tố tụng

tranh tụng có vai trị rất lớn trong việc phát triển những tư tưởng của nguyên tắc suy đốn vơ tội được hình thành từ thời kỳ cổ đại. Theo Giáo sư người Nga

thế kỷ thứ XIX D.G.Talbe, kiểu tố tụng tranh tụng có những đặc điểm sau:

<small>1) Việc khởi tố và đình chỉ vụ án hình sự phụ thuộc vào nguyênđơn và người bị hại; 2) BỊ đơn và bị cáo được tự do sử dụng chứng</small>

cứ để chống lại sự buộc tội; 3) Việc xuất trình chứng cứ được thực

hiện theo sự thỏa thuận của hai bên theo đúng quy định về thời hạn;

4) Thẩm phán không tham gia vào việc thu thập chứng cứ và chỉ ra

<small>phán quyết trên cơ sở chứng cứ mà hai bên đưa ra; 5) Việc xét xử được</small>

tiến hành cơng khai, bằng lời nói và trên cơ sở tranh tụng [131, tr. 34].

Kiểu tố tụng tranh tụng được tiến hành rất phổ biến thời kỳ này, tuy

<small>nhiên nghĩa vụ chứng minh lại được quy định trong luật nội dung chứ khơng</small>

phải trong luật hình thức. Điều đó có nghĩa, vào thời kỳ Trung cổ, ở châu Âu,

vấn dé nghĩa vụ chứng minh không được quy định chung, mà được quy định

đối với từng tội phạm cụ thể như tội giết người, trộm cắp, làm nhục người <small>khác... Trong thời kỳ này, về mặt lý luận, các nhà khoa học chưa giải quyết</small> mối liên hệ giữa nghĩa vụ chứng minh với các nguyên tắc tố tụng hình sự khác như nguyên tắc tranh tụng giữa các bên, nguyên tắc công khai, trực tiếp, nguyên tắc đạt được chân lý của vụ án.

Vào thế kỷ thứ XV, XVI, XVII, XVIII, ở châu Âu xuất hiện kiểu tố

<small>tụng xét hỏi, tạo tiền đề lý luận cho việc hình thành lý thuyết về ngun tắcsuy đốn vơ tội và ghi nhận về mặt lập pháp nguyên tắc này. Vào thời kỳ này,</small>

<small>ở Pháp, xuất hiện những Gens du Roi (người nhà Vua), có sứ mệnh bảo vệ lợiích của nhà Vua, thực hiện chức năng tố cáo và thực hiện nghĩa vụ chứng</small>

<small>minh trước Tòa án. O nước Nga thời kỳ trước Cách mạng tháng Mười, cơ quan</small>

<small>11</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<small>công tố thực hiện nghĩa vụ chứng minh, trừ những án kiện được gọi là tư tố;</small>

<small>người tư tố có nghĩa vụ chứng minh căn cứ của việc tố cáo. Theo Giáo sư</small>

người Nga D.G.Talbe, kiểu tố tụng xét hỏi có những đạc điểm sau:

<small>1) Nhà nước thơng qua các cơ quan chức năng khởi tố vụ ánhình sự và tiến hành điều tra mà không phụ thuộc vào đơn kiện của</small>

người bị hại; 2) Bị cáo có thể đưa ra những lý do để bào chữa, nhưng

chỉ trong giới hạn mà Tham phán cho phép; 3) Việc điều tra được

tiến hành theo những quy tac và thời hạn nhất định; 4) Phan quyết

của Tịa án được hình thành trên cơ sở những chứng cứ do Thẩm

<small>phán thu thập được một cách trực tiếp; 5) Vụ án được tiến hành một</small>

<small>cách cơng khai hoặc bí mật trên cơ sở hồ sơ vụ án [13I, tr. 60].</small>

<small>Nam 1764, luật gia người Italia Tr. Becaria đã cho ra đời cuốn sách:</small>

"Về tội phạm và hình phat" có ảnh hưởng rất lớn khơng những đối với các nhà hoạt động xã hội và tơn giáo, mà cịn có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động lập

<small>pháp tố tụng hình sự. Trong cuốn sách này, tác giả đã rút ra hai kết luận quan</small>

trọng: thứ nhất, tra tấn với tính chất là phương thức thu thập chứng cứ và

<small>chứng minh chân lý trong vụ an hình sự phải được coi là vơ nhân đạo và</small>

không nên sử dụng; tit hai, con người không thể bị gọi là người phạm tội khi <small>chưa có phán quyết buộc tội của Tịa án và xã hội khơng có quyền tước sự bảo</small>

<small>trợ đối với người này khi chưa giải quyết xong việc người đó có vi phạm điều</small>

<small>kiện phải tuân thủ hay không. Như vậy, trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sựcủa lồi người, Tr. Becaria là người đầu tiên dé cập những vấn đề lý luận về</small>

ngun tắc suy đốn vơ tội. Những cống hiến lý luận về ngun tắc suy đốn vơ tội của Tr. Becaria đã được các nhà lập pháp của châu Âu chú ý nghiên

cứu. Ở nước Nga, năm 1767, Nữ hồng Nga Êkaterina đã có ý định ghi nhận

<small>về mặt pháp lý ngun tắc suy đốn vơ tội và những nguyên tắc pháp lý tiến</small>

<small>bộ khác vào Bộ luật tố tụng hình sự của Nga, nhưng khơng thành cơng. Theo</small>

giải thích của chính Nữ hồng. cuộc chiến tranh giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đã

<small>can trở ý định tốt đẹp này.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

Cách mạng tu sản Pháp đã dua ra nhiều tư tưởng tiến bộ về quyền con

<small>người và tự do cá nhân. Một trong những tư tưởng tiến bộ đó là tư tưởng suy</small>

đốn vơ tội và được ghi nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền

<small>Cong hòa Pháp ngày 23/8/1789. Lan đầu tiên trong lịch sử nhân loại, ngun</small> tắc suy đốn vơ tội đã chính thức được ghi nhận về mặt pháp lý tại Điều 9:

"Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bat giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho việc

bat giữ đều bị luật pháp xử lý nghiêm khác” [62, tr. 114]. Việc Tun ngơn Nhân

<small>quyền và Dân quyền Cộng hịa Pháp chính thức ghi nhận về mặt pháp lý nguyên</small>

tắc suy đốn vơ tội đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự

<small>của nhân loại tiến bộ và phải coi đây là mốc son trong lịch sử hình thành và phát</small>

triển ngun tắc suy đốn vô tội.

Cùng với thời gian, nguyên tắc này ngày càng có tính quốc tế và được phi

nhận trong các điều ước quốc tế. Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên Hợp quốc, nguyên tắc suy đốn vơ tội đã được khẳng định

với nội dung day đủ hơn tại Điều 11: "Một người bị buộc tội có hành vi phạm

<small>tội được coi là vơ tội cho đến khi sự phạm tội của người đó được xác định một</small>

cách hợp pháp trong một vụ xét xử công khai, trong đó có những sự bảo đảm

cần thiết cho việc bào chữa của người đó" {62, tr. 148]. Khoản 2 Điều 14

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: "Người bị buộc là

phạm mot tội hình sự có quyền được coi là vơ tội cho tới khi tội của người đó

<small>được chứng minh theo pháp luật” [62, tr. 238].</small>

Ở Liên Xô trước đây, trong một khoảng thời gian tương đối dài, nguyên

tắc này không được thừa nhận cả về mặt lý luận, thực tiễn cũng như trong hoạt

động lập pháp. Lý do chủ yếu để không chịu chấp nhận nguyên tác này là quan

điểm cho rằng, đây là nguyên tắc của tố tụng hình sự tư sản, khơng thích hợp

<small>với tố tụng hình sự xã hội chủ nghĩa. Sau khi Hiến pháp của Liên Xơ được ban</small>

hành năm 1936 có ghi nhận quyền bào chữa của bị can, bi cáo, thì ở nước này

mới xuất hiện các cơng trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền bào chữa

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<small>của bị can, bị cáo và suy đốn vơ tội. Nam 1968, GS.TSKH M.X.Xtrơgơvich</small>

trong bộ giáo trình nổi tiếng của mình vẻ tố tụng hình sự Xơ viết (về sau đã được giải thưởng Lênin) đã khang định "có đủ cơ sở để bổ sung vào Bộ luật tố

tụng hình sự ngun tắc suy đốn vơ tội” [36]. Hiến pháp Liên Xơ năm 1977 lần đầu tiên chính thức ghi nhận nội dung cơ bản của nguyên tắc này với diễn đạt

"Khơng ai có thể bị coi là có tội cũng như phải chịu hình phạt ngồi bản án và

<small>trình tự do luật định”. Năm 1980, ở Liên Xô mới có luận án phó Tiến sĩ luật học</small>

đầu tiên về nguyên tắc này [36]. Hiến pháp 1993 và Bộ luật tố tụng hình sự năm

2001 của Liên bang Nga đã tiếp tục ghi nhận nguyên tắc này với những bổ

sung mới trên cơ sở phát triển của khoa học luật tố tụng hình sự.

Ở nhiều nước khác trên thế giới, ngun tắc suy đốn vơ tội cịn được

ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật tố tụng hình sự với các cách thể hiện

khác nhau. Điều 5 Hiến pháp Hoa Kỳ quy định: "Không một người nào phải

trả lời về trọng tội hay một tội xấu xa khác, nếu không có cáo trạng do một

đại bồi thẩm đồn đưa ra, không một người nào bị bắt buộc phải tự làm người

làm chứng chống lại mình trong một vụ án hình sự". Điều 34 Hiến pháp Nhật

<small>Bản quy định: "Không ai bị giam giữ nếu khơng có chứng cứ xác đáng”.</small>

<small>Từ sự phân tích ở trên cho thấy, nhận thức của lồi người về ngun</small>

tắc suy đốn vơ tội là một q trình phức tạp, mâu thuẫn, ln ln phát triển

<small>trong lịch sử, đi từ không biết đến biết, từ biết không day đủ đến biết day đủ</small>

hơn, từ nhận thức các hiện tượng đến nhận thức bản chất của nguyên tắc.

1.2. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CUA NGUYEN TAC SUY DOAN VÔ TOI TRONG LUẬT TO TUNG HÌNH SỰ

<small>1.2.1. Khái niệm ngun tắc suy đốn vơ tội</small>

<small>Với tư cách là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam,</small>

luật tố tụng hình sự có những nguyên tắc của mình vừa mang đặc điểm chung

của nguyên tac pháp luật, vừa mang đặc điểm riêng của luật tố tụng hình sự.

Nguyên tac của luật tố tụng hình sự được hiểu là những quan điểm, tư tưởng

<small>l4</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<small>chỉ đạo hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Trong các</small> nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, nguyên tác suy đốn vơ tội được nhiều nhà nước van minh trên thế giới thừa nhận là một nguyên tac cơ bản.

Để có thể làm sáng tỏ khái niệm nguyên tắc suy đốn vơ tội, trước hết cần làm rõ khái niệm nguyên tác. Thuật ngữ "nguyên tắc” bat nguồn từ tiếng La

tinh là "principium” có ba nghĩa: 1) luận điểm cơ bản, luận điểm gốc của hoc

thuyết; 2) niềm tin, quan điểm đối với sự vật; 3) nguyên lý cấu trúc và hoạt động

của dụng cụ, thiết bị. Theo Từ điển tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: "điều cơ

<small>bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [51, tr. 672].</small>

Dưới góc độ pháp luật, các tác giả của Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước

và pháp luật đã đưa ra định nghĩa nguyên tắc pháp luật như sau: "nguyên tắc là

những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, cấu thành một bộ

phận quan trọng nhất của pháp luật, phản ánh quy luật và cấu trúc của một

hình thái kinh tế - xã hội nhất định và liên hệ mật thiết với bản chất của kiểu

<small>pháp luật tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội đó” [18].</small>

Thuật ngữ "suy đoán” bắt nguồn từ tiếng Latinh "praesumptino", được hiểu là sự khẳng định một vấn đề nào đó là đúng cho đến khi chưa bị bác bỏ.

Tuy nhiên, suy đốn vơ tội khơng phải là sự thể hiện mối quan hệ của cá nhân

một người đối với bị can, bị cáo. Suy đốn vơ tội lại càng khơng phải là phép

suy đốn thơng thường, một phép suy đốn mang tính 16-gfc mà là sự thể hiện một quan điểm pháp lý khách quan. Quan điểm pháp lý đó là Nhà nước, xã

hội coi một người là công dân với các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy

định, cho đến khi người đó chưa bị Tịa án kết tội bằng một bản án có hiệu lực

pháp luật. Suy đốn vô tội là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc

tôn trọng nhân phẩm và danh dự của con người. Nhân phẩm và danh dự là

những giá trị nội tại, vốn có được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển và hoàn thiện của con người về mặt nhân tính. Đây là thuộc tính chung

của tất cả các cá nhân trong cộng đồng nhân loại, không dựa trên bất kỳ sự

<small>phân biệt hay khác biệt nào về địa vị xã hội, kinh tế, chính trị, chủng tộc, tôn</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<small>giáo, dân tộc, giới tính... Nhân phẩm và danh dự của con người chính là những</small>

<small>cái làm nên sự khác biệt và cũng là bước tiến vượt bậc của con người với phan</small>

<small>còn lại của giới tự nhiên. Vì chúng là những giá trị chỉ thuộc tính chung của</small>

con người, do vậy, tơn trọng nhân phẩm. danh dự của mỗi cá nhân con người

là sự tơn trọng đối với chính mình, đối với đồng loại. Tôn trọng nhân phẩm,

<small>danh dự của con người là tơn trọng những giá trị của con người, nhờ đó con</small>

người thực hiện được sự cơng bằng và bình đẳng. Người bị khởi tố với tư cách

<small>là bị can và bị đưa ra xét xử với tư cách là bị cáo, nhưng nếu đối với người đó</small>

<small>chưa có bản án của Tịa án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, thì vị trí của người</small>

đó trong xã hội khơng phải là người phạm tội. Người này có thể được Tịa án

<small>tun là người khơng phạm tội.</small>

<small>Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa bị can, bị cáo và Nhà nước phát</small>

sinh từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của người đó có

dấu hiệu của tội phạm; chủ thể của mối quan hệ này là cơ quan tiến hành tố

<small>tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Trong phần lớn các</small>

trường hợp, việc cơ quan có thẩm quyền xác định có dấu hiệu của tội phạm là

<small>có cơ sở. Tuy nhiên, điều này không loại trừ một số rất ít các trường hợp, do</small>

nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, các cơ quan tiến hành tố tụng

<small>đã xác định không đúng dấu hiệu của tội phạm dẫn đến tình trạng oan, sai</small>

<small>trong tố tụng hình sự.</small>

<small>Suy đốn vơ tội khơng những là vấn dé mang tính pháp lý, mà cịn là</small>

vấn dé mang tính triết hoc, văn hóa học, nhân van học... một cách sâu sac. Bởi

<small>lẽ, giải phóng con người, tơn trọng những quyền cơ bản của con người luôn làkhát vọng của cả nhân loại và là mục tiêu mà khoa học pháp lý, triết học, văn</small>

hóa học, nhân văn học... hướng tới. Trên thực tiễn, có thể cịn có những lúc,

những nơi, vấn đề quyền con người chưa được chú ý, quan tâm một cách đúng

mức nhưng con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của tiến trình phát triển xã hội, là mục tiêu của phát triển xã hội. Xa hội càng phát triển, các quyền

<small>con người càng được bảo vệ và tôn trọng. Từ lâu, quyền con người, thường</small>

<small>l6</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

được gọi tat là nhân quyền, đã được thừa nhận là những quyền tự nhiên của

những con người sống trong xã hội và không thể bị tước bỏ. Các quyền này mặc nhiên có, gắn liền với sự tồn tại của con người. Mọi con người được sinh

ra đều bình đẳng và được tạo hóa ban cho một số quyền khơng thể tước bỏ,

như quyền sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do, trong đó bao gồm cả các quyền trong lĩnh vực tư pháp, hình sự như quyền được xét xử, quyền được suy đốn vơ tội... Pháp luật của hầu hết tất cả các nước và vùng

lãnh thổ trên thế giới hiện nay đều đã phi nhàn các quyền cơ bản của con người. Các thể chế chính trị, các chính phủ được lập ra khơng phải là để ban phát hay tạo ra các quyền của con người mà chính các thể chế đó, các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự

tồn tại của mình, mặc dù nội dung của quyền con người có thể được ghi nhận

<small>khác nhau tùy từng hệ thống pháp luật.</small>

Hiện vẫn còn một số quan điểm nghi ngờ về việc liệu suy đốn vơ tội

có thể được coi là một nguyên tac của luật tố tụng hình sự Việt Nam hay không? Về vấn đề này, tác giả cho rằng suy đốn vơ tội thực sự là một ngun

tắc, bên cạnh nhiều nguyên tắc khác, của luật tố tụng hình sự Việt Nam. Về

mặt nội dung, nguyên tắc suy đoán vô tội là một quan điểm pháp lý khách quan, là quy định mang tính xuất phát điểm chi phối rất nhiều các quy định

<small>của luật tố tụng hình sự Việt Nam trong rất nhiều giai đoạn tố tụng, từ khởi tố,</small>

điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm cho đến xét xử phúc thẩm. Trong đó, những nội dung của ngun tắc suy đốn vơ tội đã được thể hiện rất rõ tại các chế

<small>định về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, quyền và nghĩa vụ của người</small>

tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng... Về mặt hình thức, mặc dù

<small>khơng được dat tên chính xác là suy đốn vơ tội trong các văn bản pháp lý</small>

nhưng những nội dung quan trọng nhất của nguyên tắc đã được ghi nhận tai

Điều 72 Hiến pháp năm 1992, Điều 9, Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm

<small>2003. Day là những quy định có giá trị pháp lý cao, mang tính định hướng cho</small>

<small>nhiều quy định khác của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.</small>

<small>4.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

<small>Suy đốn vơ tội là một trong những vấn dé gây tranh cai nhiều nhấttrong khoa học tố tụng hình sự. Quan điểm cực đoan nhất của những người</small>

không thừa nhận nguyên tác suy đốn vơ tội là quan điểm suy đốn có tội.

Những người theo quan điểm này cho rằng, nếu khơng có lỗi của cá nhân cụ

thể trong những sự việc cụ thể thì khơng thể có hoạt động điều tra, truy tố và

<small>xét xử được. Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự có lỗi, bởi lẽ nếu họ khơng</small>

có lỗi thì họ khơng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị can bị suy đốn có tội,

<small>cho nên pháp luật cần quy định cho bị can nghĩa vụ chứng minh sự vơ tội củamình tương tự như các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh tội</small>

phạm. Tố tụng hình sự khơng cần ngun tác suy đốn vơ tội để hồn thành

nhiệm vụ của mình, chỉ cần các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng yêu cầu xác định sự thật khách quan của vụ án đúng như những gi xảy ra trên thực

<small>tế là đủ [36].</small>

Chúng tơi khơng đồng tình với quan điểm suy đốn có tội, vì quan điểm này đã đồng nhất khái niệm bị can, bị cáo với khái niệm người có tội.

Một mặt, quan điểm suy đốn có tội tạo ra điều kiện thuận lợi dẫn đến oan, sai

trong tố tụng hình sự, mặt khác khơng đáp ứng được yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, khơng bảo đảm ngun tắc nhân đạo bảo vệ

<small>những người yếu thế trong tố tụng hình sự và không ràng buộc trách nhiệmcủa cơ quan tiến hành tố tụng là phải xác định sự thật khách quan của vụ án.</small>

Với những lý do trên, rõ ràng quan điểm suy đốn có tội cần được phê phán nặng nề dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự, cũng như trong nhận thức <small>của toàn xã hội.</small>

Quan điểm khác vừa phủ nhận suy đốn vơ tội, vừa phủ nhận suy đốn

có tội. Những người theo quan điểm này cho ràng, bị can, bị cáo trong tố tụng

<small>hình sự khơng bị suy đốn là có tội, cũng khơng bị suy đốn là vơ tội. BỊ can,bị cáo khơng phải là người vô tội, nhưng cũng không phải là người có tội.</small>

<small>Việc bị cáo được Tịa án tun bản ấn vô tội khi không chứng minh được lôi</small>

của bị can khơng phải là biểu hiện của ngun tác suy đốn vô tội mà là thực

<small>18</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự. Điều này cũng giống như việc không thể

<small>buộc bị can phải chứng minh lơi của mình vì luật quy định, chứ khơng phải vì</small>

suy đốn vơ tội. Những người theo quan điểm này cịn cho rằng, ở khía cạnh

thực tiễn, ngun tắc suy đốn vo tội cling khó có thể chấp nhận được, vì đa số

<small>bị cáo bị Tịa án tun là có tội, ty lệ số bị cáo được Tòa án tuyên là vô tội</small>

<small>chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số bị cáo bị kết án là có tội [36].</small>

Chúng tơi cũng khơng đồng tình với quan điểm này, vì lập luận của họ khơng có cơ sở khoa học. Khơng thể có tình trạng chiết trung trong tình trạng của bị can, bị cáo: chỉ có hoặc là có tội hoặc là khơng có tội: khơng thể có sự

<small>lựa chọn thứ ba. Trên thực tế, đúng là đa số bị can, bị cáo sau khi bị khởi tố,</small>

<small>điều tra, xét xử bị Tịa án tun là có tội. Tỷ lệ số bị cáo được Tịa án tun làvơ tội chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số bị cáo bị kết án là có tội. Tuy nhiên, suy</small>

đốn vơ tội là một trong những quyền tự nhiên của con người, gắn liền với sự tồn tại của con người. Những người sống và tồn tại trong xã hội mặc nhiên

được coi là có quyền bình đẳng với nhau. Điều này có nghĩa mọi người ln

<small>được coi là vơ tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tịa</small>

<small>án. Bên cạnh đó, đại đa số những người sống trong xã hội là những người vơ</small>

tội. Những người có tội và bị Tịa án tun là có tội chỉ là hiện tượng thiểu số.

Những người ủng hộ ngun tắc suy đốn vơ tội cho rằng, nguyên tắc

<small>này được hình thành từ những lý do sau đây:</small>

<small>Thứ nhát, xuất phát từ đặc thù của hoạt động tố tụng hình sự. TheoPGS.TS Nguyên Thái Phúc:</small>

<small>Khác với những lĩnh vực hoạt động khác của con người - nơi</small> mà hoạt động nhận thức có thể kết thúc bằng một kết quả nhận thức

mới hoặc có thể chưa đem lại kết quả - hoạt động tố tụng hình sự khơng thể kết thúc vụ án mà vấn đề có tội hay khơng có tội của bị

can cịn bị ngỏ và khơng thể nói với bị can rằng: chúng tơi không

thể chứng minh lỗi của ông, nhưng chúng tôi lại khơng thể tin là

<small>19</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

ơng khơng có tội. Tố tụng hình sự phải kết thúc rõ bảng việc xác

<small>định rõ ràng bị can là người có tội hoặc bị can là vô tội [36].</small>

Việc thừa nhận nguyên tắc suy đốn vơ tội ràng buộc các cơ quan tiến

<small>hành tố tụng phải xác định sự thật khách quan của vụ án.</small>

Thứ hai, TS. Davit Hammo, người Australia, thì cho rằng, ngun tac

suy đốn vơ tội cần thiết để tạo ra sự cân bàng hợp lý giữa lợi ích chung của

xã hội và các quyền tự do cá nhân của con người. Cụ thể hơn, sự cân bằng sẽ

được thiết lập giữa quyền của bị cáo không bị xét xử oan, sai và lợi ích của xã

<small>hội trong việc thực thi pháp luật. Việc kết án oan, sai sẽ dẫn đến hình phạt bất</small>

cơng, bơi nhọ danh dự của bị cáo; trong nhiều trường hợp, cuộc sống cá nhân

<small>và con đường công danh của bị cáo sẽ bị tan nát. Đương nhiên, xã hội cũng rất</small>

<small>cần tránh được sự bất cơng đó [113, tr. 147].</small>

Thứ ba, ngun tắc suy đốn vơ tội cần thiết để bảo vệ những người

<small>yếu thế trong tố tụng hình sự bởi lẽ, hoạt động tố tụng hình sự là một lĩnh vực</small>

khó khăn, phức tạp và nhạy cảm, liên quan đến các quyền thiết thực nhất của

<small>người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội như</small>

quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do tài sản, quyền tự do cư trú...

Việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để xác định sự thật

<small>khách quan của vụ án với yêu cầu nhanh chóng và khơng bỏ lọt tội phạm cũng</small>

như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: bất, tạm giữ, tạm giam tạo ra nguy cơ lớn trong việc xâm hại các quyền tự do cá nhân của người bị tạm giữ, bị

<small>can, bị cáo. Bên cạnh đó, do sự tác động trực tiếp hay gián tiếp của các yếu tốkhách quan, chủ quan nên các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố</small>

tụng thường dé không khách quan, toàn diện và đầy đủ. Do sự tác động chi

phối từ bên ngoài vào hoạt động tố tụng (sự chỉ phối, tác động này có thể do sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên đối với cấp dưới. có thể từ phía những người quen

<small>biết, người thân của người tham gia tố tung...), một bộ phận những người tiến</small>

hành tố tụng bị hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về năng lực công

<small>b2</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

<small>tác, nên trong việc thực hiện chức nang, thâm qun của mình, đã ra các quyết</small>

<small>định thiếu chính xác, khơng đúng pháp luật. Ngồi ra, một số người tiến hành</small> tố tụng do bị tha hóa vé phẩm chat đạo đức, lối sống, phẩm chất chính tri... <small>nên các phán quyết của họ trong một số vụ án là khơng đúng pháp luật... Vì</small>

<small>vay, việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khơng bị coi là có tội nếu chưa có</small>

<small>bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật, là phương tiện pháp lý</small> quan trọng chống lại những vi phạm có thể xảy ra đối với họ trong tố tụng

<small>hình sự.</small>

<small>Về bản chất của suy đốn vơ tội, quan điểm của các nhà luật học trênthế giới gần như thống nhất, chỉ khác biệt về cách thức diễn đạt. TS. Marie</small>

Vannostrand Hoa Kỳ cho rằng, "Bất cứ sự buộc tội chống lại một người không

<small>phải là chứng cứ về sự phạm tội; trên thực tế, người đó được coi là vơ tội và cơquan cơng tố có nghĩa vụ chứng minh người đó phạm tội” [118, tr. 5]. Nhà</small>

luật học Hoa Kỳ Jonathan Yardley thì cho rằng, bất cứ bị cáo nào trong bất cứ

<small>vụ án nào cũng có quyền được suy đốn vơ tội. Quyền được suy đốn vơ tộicủa người đó sẽ tồn tại cho đến khi nào cơ quan công tố chứng minh được</small>

<small>người đó phạm tội. Pháp luật khơng địi hỏi bị cáo phải chứng minh là mình</small>

<small>vơ tội hoặc phải đưa ra chứng cứ (Washington Post, 2008, 70).</small>

Cùng quan điểm trên, nhà luật học người Nga M.L.Iakuv cho rằng:

<small>"Suy đốn vơ tội có nghĩa là, trong tố tụng hình sự, bất cứ ai đều bị coi là</small>

khơng có lỗi cho đến khi khơng chứng minh được điều ngược lại, tức là chứng minh được người đó có lỗi" [127, tr. 72]. Những nhà tố tụng hình sự khác như

<small>I.L.Petrukhin, V.D.Lukasevich, M.X.Xtrég6vich thì đưa ra cách trình bày sau</small>

đây về suy đốn vơ tội: “bị can được coi là vô tội cho đến khi lỗi của người

<small>này chưa được chứng minh theo quy định của pháp luật” [130, tr. 145]. Một số</small>

tác giả khác cho rằng, suy đoán vơ tội - điều đó khơng phải là sự suy đốn <small>thơng thường mà đó chỉ là phương pháp nghiên cứu lơ-gíc được áp dụng trongtất ca các giai đoạn tố tụng hình sự [130, tr. 224].</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

Chúng tôi cho rằng, để làm rõ bản chất của suy đốn vơ tội, phải làm

<small>rõ được bản chất của mối liên hệ giữa quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ</small>

<small>pháp luật tố tụng hình sự. Nghiên cứu quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ</small>

pháp luật tố tụng hình sự cho thấy, chúng xuất hiện vào những thời điểm khác

nhau, bởi lẽ khi tội phạm được thực hiện, thì tại thời điểm đó xuất hiện quan <small>hệ pháp luật hình sự, nhưng lại chưa xuất hiện quan hệ pháp luật tố tụng hình</small>

<small>sự, đo chưa tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử (sự kiện pháp lý làm</small>

<small>phát sinh quan hệ pháp luật hình sự là chính sự kiện phạm tội, cịn sự kiện</small>

<small>pháp lý làm phát sinh quan hệ quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là việc cơ</small>

quan có thẩm quyền xác định được dấu hiệu của tội phạm). Khi vụ án chưa

được xét xử theo đúng trình tự, thủ tục bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật

của Tịa án, thì chưa thể kết luận tội phạm có xảy ra hay khơng và nếu xảy ra

thì ai là người phạm tội, thời gian, địa điểm phạm tội và các tình tiết khác có liên quan đến tội phạm. Nói cách khác, chưa thể xác định được có quan hệ

pháp luật hình sự hay khơng và nếu có thì bản chất của mối quan hệ này là gì?

Điều đó có nghĩa, quan hệ pháp luật tố tụng hình sự được xác lập là nhằm làm

<small>sáng tỏ quan hệ pháp luật hình sự và việc xác định địa vị pháp lý của một</small>

người với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng là nhằm mục đích

<small>làm sáng tỏ quan hệ pháp luật hình sự đó.</small>

<small>Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đã chứng minh khơng ít trường hợpngười bị tạm giữ, bị khởi tố với tư cách là bị can và bị đưa ra xét xử với tư</small>

<small>cách là bị cáo, nhưng cuối cùng được kết luận là không phạm tội, tức là quan</small>

<small>hệ giữa những người này với Nhà nước không phải là quan hệ pháp luật hình</small>

<small>sự như cơ quan tiến hành tố tụng đã ngộ nhận. Cũng khơng ít trường hợp, trên</small>

<small>thực tế khơng có tội phạm xảy ra, nhưng cơ quan chức năng vẫn nhận thức sai</small>

là có quan hệ pháp luật hình sự. Trong các trường hợp kể trên, cơ quan tiến <small>hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được coi</small> là chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. nhưng họ lại khơng phải là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự.

<small>tho hr</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Từ sự phân tích ở trên có thể rút ra nhận xét: người bị tạm giữ, bị can,

<small>bị cáo trong tố tụng hình sự có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng</small>

hình sự, nhưng lại có thể khơng phải là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự.

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chi được coi là chủ thể của quan hệ pháp luật

<small>hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự khi đối với người đó có bản án kết tội</small>

<small>của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật; trong trường hợp chưa có ban án của Tịa</small>

án đã có hiệu lực pháp luật, thì theo ngun tác suy đốn vơ tội đã được thừa

<small>nhận chung, họ được coi là chưa có tội. Đối với những trường hợp bị cáo đượcTịa án tun là vơ tội, tức là khơng có quan hệ pháp luật hình sự, thì phải coi</small>

đây là biểu hiện của công lý xã hội chủ nghĩa, biểu hiện cụ thể của ngun tắc

suy đốn vơ tội trong thực tiên. Theo lơgíc này, chúng tơi hồn tồn đồng tình

với quan điểm của GS.TS người Nga M.X. Xtrôgôvich: "Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự chưa phải là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự,

bởi lẽ quan hệ này đang được điều tra, làm rõ” [133. tr. 55].

Từ sự phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm ngun tắc suy đốn vơ

tội như sau: )gun tắc suy đốn vơ tội trong luật tố tụng hình sự là những tc

tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, bảo đảm người bị tạm giữ, bị can, bi cáo không bi coi là có tội khi lơi của họ chưa được cơ quan tiến

hành tố tụng chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chưa

<small>có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu luc pháp luật.</small>

1.2.2. Chủ thể được suy đốn vơ tội và chủ thể có trách nhiệm thực

hiện ngun tắc suy đốn vơ tội

Về chủ thể được suy đốn vơ tội, có quan điểm cho rằng bất kỳ người

nào cũng là chủ thể được suy đốn vơ tội. Quan điểm này đã được ghi nhận

trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Chúng tơi khơng đồng tình với quan

điểm này, bởi lẽ chỉ những người bị buộc tội mới cần được suy đốn vơ tội,

<small>cịn những người khơng bị buộc tội, ln tn thủ pháp luật và là những cơng</small>

dân sống bình thường, sống tốt trong xã hội rõ ràng không cần được suy đốn

<small>ho s3</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<small>vơ tội, bởi họ đương nhiên là người khơng có tội. Theo cách suy luận này, bị</small>

can là chủ thể đầu tiên được suy đốn vơ tội, vì họ đã có quyết định khởi tố bị

can - quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự với những căn cứ cụ thể. Kể từ

thời điểm ra quyết định khởi tố bị can, giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng và bị can xuất hiện quan hệ tố tụng hình sự, mà các chủ thể

của nó có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Cụ thể, cơ quan, người tiến

hành tố tụng có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố

<small>tụng hình sự và tiến hành các biện pháp điệu tra đối với bị can do pháp luật tố</small>

<small>tụng hình sự quy định. Nếu một người chưa bị khởi tố bị can, thì cơ quan tiếnhành tố tụng không được áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự đốt với</small>

họ, trừ biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang. Bị

<small>can khi có quyết định truy tố ra trước Tịa án và được Tòa án ra quyết định đưara xét xử trở thành bị cáo. Đương nhiên, bị cáo cũng được suy đốn vơ tdi, vìchưa có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật.</small>

<small>Vấn đề được đặt ra cần nghiên cứu là người bị tạm giữ có phải là chủ</small>

thể được suy đốn vơ tội hay không? Khác với bị can, bị cáo, người bị tạm giữ

<small>chưa có sự buộc tội chính thức từ cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng vì họ là</small>

người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bị truy nã, tự thú, đầu thú, cho nên những căn cứ để áp dụng các trường hợp trên và lý do tạm <small>giữ phi trong quyết định tạm giữ chính là sự buộc tội gián tiếp đối với ngườiđó. Khi hết thời hạn tạm giữ, người bị tạm giữ được trả tự do hoặc bị khởi tố bị</small>

can - chính thức bị buộc tội. Do vậy, người bị tạm giữ cũng là chủ thể được

<small>suy đốn vơ tội.</small>

<small>Xuất phát từ đặc thù của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là quan hệ</small>

<small>do các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh, phát sinh trong quátrình tố tụng, nên quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật</small>

<small>này được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện. Trong quan hệ pháp luật tốtụng hình sự, một bên ln là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan, người tiến</small>

hành tố tụng, thực hiện quyền lực nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự

<small>24</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

<small>đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự và một bên là những người</small>

tham gia tố tụng. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được quy định xuất phát

<small>từ địa vị pháp lý của họ trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Trong hoạt</small>

động tố tụng, để ngăn ngừa sự tùy tiện, áp đặt, vi phạm pháp luật của người tiến

<small>hành tố tụng đối với người tham gia tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng, người</small>

tiến hành tố tụng chỉ được tiến hành các hoạt động do pháp luật quy định. Còn

đối với những người tham gia tố tụng, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của

<small>mình, ngồi các quyền được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, họ cịn</small>

<small>được làm những gì mà pháp luật khơng cấm.</small>

<small>Trong hoạt động tố tụng hình sự, cơ quan, người tiến hành tố tụng</small>

nhân danh Nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến việc xác định sự thật

khách quan của các vụ án hình sự để ra các phán quyết chính xác theo quy

<small>định của pháp luật. Vì vậy, với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình,</small>

cơ quan, người tiến hành tố tụng chính là chủ thể có trách nhiệm thực hiện ngun tắc suy đốn vơ tội. Pháp luật không coi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

<small>là người có tội và địi hỏi cơ quan, người tiến hành tố tụng không được đối xử với</small>

họ như đối với người có tội. Đương nhiên, khi tiến hành các hoạt động điều tra,

truy tố, xét xử, trong niềm tin nội tâm, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán

có quyền tin vào sự buộc tội của mình là chính xác và có quyền nghĩ rằng, người

<small>bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có tội, mặc dù đối với những người này chưa</small>

<small>có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật. Thực tế, pháp luật chỉ điều</small>

chính hành vi của mỗi người, quy định những gì họ được làm, những gì họ khơng

<small>được làm, chứ khơng quy định những gì họ được nghĩ, không được nghĩ. Khi</small>

Điều tra viên ra quyết định khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối

với họ, Kiểm sát viên viết cáo trạng truy tố bị can trước Tòa án, Thẩm phán ra <small>quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì rõ ràng trong niềm tin nội tâm của mình, họ</small>

khơng thể nghĩ rằng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người khơng có tội. Tuy

nhiên, suy nghĩ và hành động là hai việc khác han nhau. Người tiến hành tố tụng

có quyền nghĩ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có tội, nhưng lại khơng

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

<small>được phép đối xử với họ như đối với người có tội. Điều này tưởng chừng là một</small>

nghịch lý, nhưng lại hồn tồn có lý, bởi lẻ nó là động lực buộc người tiến hành

tố tụng phải làm rõ sự thật khách quan của vụ án, khang định niềm tin nội tâm

của minh là đúng dan. Tác giả Michael. H. Postner cho rằng:

Những người có thâm quyền trong tố tụng hình sự cũng như

những người thuộc các cơ quan cơng quyền đều phải có trách nhiệm thực hiện ngun tac suy đốn vơ tội và phải kiềm chế không được đưa ra kết quả xét xử trước. Mat khác, cũng cần chú ý về sự xuất

hiện của bị cáo tại phiên tòa để bảo đảm nguyên tắc suy đốn vơ tội.

Sẽ là vi phạm ngun tac này nếu bị cáo bị xích tay, cm chân hoặc

<small>mặc trang phục của tù nhân tại phiên tòa [120, tr. 1Š].</small>

Ngun tắc suy đốn vơ tội xác định tính chất quan hệ giữa cơ quan

nhà nước, người có thẩm quyền, tổ chức và công dân trong xã hội từ một phía và với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ phía bên kia. Mặc dù nguyên tắc này được xây dựng mang tính chất tố tụng hình sự, nhưng vì là nguyên tắc hiến

<small>định, cho nên hiệu lực của nó đã vượt ra ngồi phạm vi tố tụng hình sự, nó địi</small>

hỏi tất cả - khơng chỉ riêng cơ quan, người tiến hành tố tụng, mà địi hỏi tất cả

các tổ chức, cơng dân trong xã hội - phải đối xử với họ như là người chưa có

<small>tội, cho đến khi họ chưa có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật.</small>

1.2.3. Nội dung ngun tắc suy đốn vơ tội trong tố tụng hình sự

<small>Trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự, xung quanh nội dung nguyên</small> tắc suy đốn vơ tội cịn nhiều ý kiến khác nhau.

Quan điểm thứ nhất hoàn toàn phủ định sự tồn tại của suy đốn vơ tội

trong tố tụng hình sự, chẳng hạn M.A.Trenxov khang định rằng, suy đốn vơ

<small>tội khơng chứa đựng nội dung bảo đảm thực tế, không đặt ra trách nhiệm cho</small>

cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án phải nghiên cứu các tình tiết của vụ án một

cách khách quan, tồn điện, đầy đủ và khơng bảo đảm quyền bào chữa của bị can. Sự bảo đảm tố tụng đối với quyên bào chữa của bị can không xuất phát từ

<small>20</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

<small>suy đốn vơ tội và chưa bao giờ được ghi nhận trong luật tố tụng hình sự của</small>

chúng ta mà chính từ nguyên tac pháp chế với tính chất là sự bảo đảm dân chủ

<small>và cơng lý trong tố tụng hình sự [ 130, tr. 96].</small>

Quan điểm thứ hai cho rang, nội dung của nguyên tắc suy đốn vơ tội phải được hiểu với nội hàm rộng như quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

<small>Liên bang Nga [20, tr. 171]. Dieu 14 của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang</small>

Nga năm 2001 quy định về suy đốn vơ tội như sau:

1. Bi can được coi là khơng có tội, chừng nào lỗi của họ

<small>khơng được chứng minh theo dung trình tự, thủ tục do Bộ luật này</small> quy định và không bị Tịa án tun phạt bằng bản án đã có hiệu lực

<small>pháp luật.</small>

<small>2. Người bị tình nghi hoặc bị can khơng có nghĩa vụ chứng</small>

minh sự vơ tội của mình. Vấn dé chứng minh tội phạm và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo vệ cho người bị tình nghi hoặc bị can

thuộc trách nhiệm của bên buộc tội

3. Mọi nghi ngờ về tội phạm của bị can nếu không được loại

<small>trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì phải được giải</small>

<small>thích có lợi cho bị can.</small>

4. Bản án kết tội không thể được dựa trên giả định [54, tr. 11].

Quan điểm thứ ba của Thể. Trịnh Quốc Toản là phải quy định nguyên

tắc suy đoán vô tội trong cùng một điều luật với nội dung sau:

<small>Trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, bị can, bị cáo</small>

<small>khơng bi coi là có tội. Bi cáo chỉ bị coi là có tội sau khi có bản án của</small>

<small>Tịa án độc lập và khơng thiên vị theo đúng trình tự, thủ tục do luật tố</small>

<small>tụng hình sự quy định. Trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan</small>

<small>tiến hành tố tụng. Bi can, bị cáo có quyền nhưng khơng có nghĩa vụ</small>

<small>phải chứng minh mình vo tội. Mọi nghĩ ngờ về tội phạm của bị can, bị</small>

<small>cáo nếu khơng được loại trừ theo trình tự, thủ tục luật tố tụng hình sự</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

<small>quy định phải được giải thích có lợi cho bị can, bị cáo, bản án kếttội không được dựa trên những chứng cứ gia định [Š0, tr. 171].</small>

Quan điểm thứ tu của TSKH.GS. Lê Van Cảm cho rang:

1. Khơng ai có thể bị coi là có tội khi mà tội phạm do họ <small>thực hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của Bộ</small>

luật này và chưa được xác định bang ban án kết tội của Tòa án đã có

<small>hiệu lực pháp luật; 2. Nghĩa vụ chứng minh tội là trách nhiệm củabên buộc tội, còn người bị buộc tội khơng có nghĩa vụ phải chứng</small>

minh sự vơ tội của mình; 3. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án kết tội của Tòa án cần phải dựa trên các chứng cứ khẳng định lỗi

<small>của người bị buộc tội trong việc thực hiện tội phạm; 4. Tất cả mọi sự</small>

nghi ngờ về lỗi của người bị buộc tội nếu như không thể loại trừ

<small>được theo trình tự do luật định, cũng như mọi sự nghi ngờ xuất hiện</small>

<small>trong việc giải thích và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và</small>

pháp luật tố tụng hình sự, đều phải được giải quyết theo hướng có

<small>lợi cho họ [7, tr. II1].</small>

Chúng tơi đồng tình với quan điểm thứ hai, thứ ba và thứ tư. Bởi lẽ,

nếu hiểu nội dung ngun tắc suy đốn vơ tội như quan điểm thứ nhất thì q

hẹp, chưa có những bảo đảm về mặt pháp lý cho việc người bị buộc là phạm

<small>một tội có quyền được coi là vơ tội cho tới khi lỗi của người đó được chứng</small>

minh theo pháp luật. Do đó, để bảo đảm cho việc người bị buộc là phạm một

tội có quyền được coi là vơ tội cho tới khi lỗi của người đó được chứng minh

<small>theo pháp luật, cần phải có đủ cả bốn nội dung như đã trình bày ở trên. Bốn</small>

nội dung này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung

cho nhau và đều nhằm mục đích chung là bảo vệ quyền con người, mang nội

<small>dung nhân đạo và nhân văn sâu sắc. Thiếu một trong bốn nội dung thì ngun</small>

tắc suy đốn vơ tội sẽ khơng cịn ý nghĩa. Chang hạn, nếu như bản án kết tội

<small>được dựa trên những giả định, thì bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tịa</small>

án sẽ khơng cịn ý nghĩa cơng bằng, đúng pháp luật. Một người chưa bị coi là

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<small>có tội khi lỗi của họ chưa được xác định bảng một bản án của Tịa án đã có</small>

<small>hiệu lực pháp luật. Cho nên, trong khi người đó chưa bị coi là có tội thì họ</small>

<small>khơng có nghĩa vụ phải chứng mình lơi của họ. Nhà nước và xã hội, mà đạidiện là co quan tiến hành tố tụng, cho rang họ phạm tội thì cơ quan tiến hành</small>

<small>tố tụng có trách nhiệm phải chứng minh tội phạm đó. Ngồi ra, ý nghĩa nhân</small> đạo, nhân văn của nguyên tác suy đốn vơ tội cũng khơng thể có được trong

trường hợp các nghi ngờ về lỗi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được giải

<small>thích theo hướng bất lợi cho họ.</small>

Từ sự phân tích ở trên, nội dung ngun tắc suy đốn vơ tội bao gồm <small>bốn nội dung sau đây:</small>

Nội dung thứ nhất, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được suy đốn vơ

<small>tội cho đến khi có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật.</small>

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được suy đốn vơ tội, điều đó có nghĩa <small>đây là một suy đoán pháp lý - một giả thiết được pháp luật quy định và đượccoi là đúng cho đến khi xuất hiện những sự kiện, tình tiết nhất định. Trongtrường hợp này, giả thiết do pháp luật dat ra - người bị tạm giữ, bị can, bi cáo</small>

<small>là người khơng có tội - được coi là chân lý cho đến khi có sự kiện - bản án kết</small>

<small>tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi nào chưa xảy ra sự kiện này, thìkhi đó giả thiết trên vẫn tồn tại, vẫn được thừa nhận là đúng [36]. Như vậy,</small>

<small>người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khơng đồng nghĩa với người có tội hay người</small>

<small>phạm tội. Vì vậy, chúng tơi đồng tình với GS.TSKH người Nga M.X. Xtrơgơvich:</small>

"Hồn tồn khơng thể chấp nhận được và hoàn toàn sai lầm trong lý luận cũng

<small>như trong quan hệ thực tế khi đồng nhất bị can với người có lỗi, đối xử với bị</small>

<small>can như đối xử với người đã được Tòa án tuyên là phạm tội” [109]. Bi can mới</small>

<small>chi là người bị buộc tội về việc thực hiện những hành vi có dấu hiệu của tội</small>

phạm, còn vấn đề xác định người đó có tội hay khơng, tại thời điểm khởi tố bị <small>can chưa giải quyết được. Đương nhiên, bị can là người bị truy cứu trách</small>

<small>nhiệm hình sự, nhưng việc truy cứu trách nhiệm hình sự bị can là quá trình</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

<small>chứng minh các điều kiện trách nhiệm hình sự của người bị nghỉ là có hành vi</small>

nguy hiểm cho xã hội và khởi tố bị can mới chỉ là thời điểm bát đầu của quá

<small>trình này. Pháp luật hình sự quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự, nhưng</small>

<small>trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật</small>

hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất

định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội. Cụ thể, Nhà nước, mà

đại diện là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền xử lý người phạm tội, <small>nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn</small>

<small>do pháp luật quy định, còn người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặchạn chế quyền, tự do nhất định, nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự</small>

tuân thủ từ phía Nhà nước đối với các quyền và lợi ích của con người và của

công dân theo đúng các quy định của pháp luật. Trách nhiệm hình sự được thể <small>hiện trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tịa án áp dụng đối với</small>

người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật

<small>hình sự quy định. Bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở</small> pháp lý quan trọng xác nhận một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho

<small>xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, chính thức bị coi là "có toi". Nói</small>

một cách khác, đây là hậu quả pháp lý thể hiện một trong những nội dung

<small>quan trọng của trách nhiệm hình sự, mà người phạm tội phải gánh chịu trước</small>

<small>Nhà nước, trước xã hội. Điều đó có nghĩa, trách nhiệm hình sự bắt đầu khi bản</small>

án kết tội của Tồ án có hiệu lực pháp luật, chứ khơng phải từ thời điểm có

<small>quyết định khởi tố bị can và pháp luật cũng không quy định khi khởi tố bị can</small>

<small>thì phải chứng minh đầy đủ lỗi của bị can, mà chỉ quy định căn cứ khởi tố bịcan là khi có đủ căn cứ xác định mối quan hệ của người bị khởi tố với cáchành vi có dấu hiệu tội phạm xảy ra. Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự năm</small>

2003 quy định "một người đã thực hiện hành vi phạm tội” ở thời điểm khởi tố

<small>bị can là chưa chính xác, đáng lẽ phải quy định là "một người đã thực hiện</small>

<small>hành vi có dấu hiệu tội phạm” thì chính xác hơn. “Cách diễn dat của Điều 126</small>

<small>tư^~aH</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

có thể dan đến cách hiểu quyết định khởi tð bị can là van bản kết luận hành vi

<small>mà bị can thực hiện là hành vi phạm tội, do vậy bị can là người phạm tội. Cách</small>

hiểu này hồn tồn sai, vì chỉ có bản án của Tòa án mới kết luận hành vi bị <small>truy tố có phải là tội phạm hay khơng [36].</small>

Chúng tơi hồn tồn đồng tình với quan điểm trên của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc, vì căn cứ để khởi tố bị can khơng đồng nghĩa với việc có đủ chứng

<small>cứ hành vi phạm tội của người đó. Khởi tơ bị can không kết thúc hoạt động</small>

điều tra, mà là sự tiếp tục hoạt động điều tra để kiểm tra tính đúng đắn của nó.

Khởi tố bị can và lỗi của bị can là hai vấn dé khác nhau. Có thé tại thời điểm

khởi tố bị can đã có đủ thơng tin về sự liên quan của bị can với sự kiện có dấu

hiệu tội phạm, nhưng để xác định người đó có lỗi hay khơng và là hình thức

lỗi gì: cố ý hay vơ ý, cần có q trình điều tra, truy tố, xét xử tiếp theo.

Người bị tạm giữ không phải là bị can, trước hết họ là người bị bắt

trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, tự thú, đầu thú hoặc đối

với người bị bat theo quyết định truy nã. Khoa học luật tố tụng hình sự ít dé

cập đến căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ, nhưng theo quan điểm của

chúng tôi những căn cứ được áp dụng để bắt người trong trường hợp khẩn cấp,

phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã cũng chính là căn cứ để áp dụng biện

<small>pháp tạm giữ. Đối với những người ra tự thú, đầu thú có nghĩa họ đã khơng có</small>

ý định trốn tránh hay gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

Tuy nhiên, căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ không đồng nghĩa với việc có

<small>đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người bị tạm giữ. Nếu hết thời</small>

hạn tạm giữ, mà Cơ quan điều tra khơng có cơ sở để chứng minh được người

<small>tạm giữ đã thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan này phải tra tự do ngay chongười bị tạm giữ. Như vậy, người bị tạm giữ không phải là bị can và cũng</small> không thể đồng nhất họ với người có tội được.

<small>Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người bị buộc tội, nhưng</small>

<small>khái niệm người bị buộc tội lại không đồng nhất với khái niệm người có tội.</small>

<small>3l</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<small>Chúng tơi đồng tình với quan điểm của GS.TSKH Lê Van Cảm: "Người bị coi</small>

là có tội là người sau khi đưa ra xét xử tại phiên tịa đã khơng được tha bổng mà

<small>bị Tòa án tuyên bang bản án kết tội có hiệu lực pháp luật" [7, tr. 364]. Như</small>

<small>vậy, người bị coi là có tội phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ</small>

tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được

quy định trong pháp luật hình sự một cách có lơi; người này bị điều tra, truy tố

<small>và bị đưa ra xét xử tại phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố</small>

tụng hình sự quy định; người này bị Tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực

<small>pháp luật. Thiếu một trong những nội dung trên, thì người đó khơng bị coi làcó tội và khơng phải chịu trách nhiệm hình sự.</small>

Cũng không thể đồng nhất khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

<small>với khái niệm người phạm tội. Thuật ngữ “người phạm tội” là khái niệm của</small>

<small>luật hình sự. Người phạm tội là người phạm một tội đã được pháp luật hình sự</small>

quy định. Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự nam 1999 đều <small>quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới</small>

<small>phải chịu trách nhiệm hình sự”. Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự</small>

<small>khi đáp ứng đây đủ cơ sở và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định.</small>

Trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam chỉ được áp dụng đối với thể nhân (con người cụ thể), pháp nhân khơng phải chịu trách nhiệm hình sự.

<small>Khái niệm "người phạm tội” ở đây khác với khái niệm người bị buộc tội, vì chỉ</small>

có Tịa án mới có thể phán quyết một người phạm một tội được pháp luật hình

<small>sự quy định và buộc người đó phải chịu trách nhiệm hình sự bằng bản án kết</small>

tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, theo quan điểm của chúng <small>tôi, khái niệm "người phạm tội” đồng nhất với khái niệm "người có tội".</small>

<small>Người bị buộc tội đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, thậm chí bị đưa ra xétxử với tư cách là bị cáo, nhưng họ chưa bị coi là có tội hay chưa bị coi là phạmtội, nếu Tòa án chưa đưa ra bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Điều này có</small>

<small>nghĩa, trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, người bị tạm giữ, bị can, bị</small>

<small>cáo khơng bị coi là có tội. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

<small>tội, tức là họ có day đủ các quyền công dan, do vậy các cơ quan tiến hành to</small>

tụng phải bảo đảm cho họ thực hiện đầy đủ quyền bào chữa và các quyền năng

<small>khác theo quy định của luật tố tụng hình sự. Trên cơ sở tiêu chí mối quan hệđối với sự buộc tội, GS.TS người Nga M.X. Xtưrôgôvich phân loại những vấn</small>

đề phải chứng minh thành hai nhóm: nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội và nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất gỡ tội.

Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội bao gồm: có sự

<small>kiện phạm tội hay khơng? Những dấu hiệu của cấu thành tội phạm; bị can có</small>

thực hiện hành vi phạm tội đó hay khơng? Hình thức lỗi của bi can? Những

tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết về đặc điểm nhân thân

<small>của bị can. Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất gỡ tội bao gồm:</small>

có hay khơng có những tình tiết bác bỏ sự buộc tội đối với bị can, bị cáo?

Những tình tiết miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; những tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo [134, tr. 169-170].

<small>Tố tụng hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà</small>

nước có thẩm quyền khi tội phạm xảy ra; nó được pháp luật tố tụng hình sự

<small>quy định và mang tính hệ thống. Những bộ phận cấu thành hệ thống đó là cácgiai đoạn tố tụng hình sự khác nhau, điển ra liên tục, kế tiếp nhau. Các giai</small>

đoạn tố tụng hình sự tuy có tính độc lập tương đối, nhưng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành hoạt động tố tụng hình sự chung thống nhất, trong đó giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện giai đoạn sau, giai

đoạn sau có tác dụng kiểm tra, bổ sung giai đoạn trước.

Để làm sáng tỏ bản chất của vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm thu thập và ghi nhận chứng cứ như khám người, khám chỗ ở, địa điểm, thu giữ thư tín, bưu điện, bưu phẩm; các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm hoạt động tố tụng

<small>được thực hiện bình thường và thuận lợi như áp giải bị can, bị cáo, thi hành kỷ</small>

<small>luật đối với những người vi phạm trật tự phiên tòa; các biện pháp ngăn chan</small> như bat người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bat bị can, bị cáo

<small>33</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

để tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có

giá trị để bảo đảm; thực hiện các biện pháp điều tra như hỏi cung bị can, lấy

lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị hại, đối chất, nhận dạng... Tất

<small>cả các biện pháp mà các cơ quan tiến hành to tụng thực hiện trong quá trình</small>

chứng minh nói trên, đều được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự.

Người bị buộc tội có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng

hình sự như đã nêu ở trên, nhưng can phân biệt với người có tội là người phải

chịu trách nhiệm hình sự ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự bao gồm các hình thức: hình phạt, các biện pháp tư pháp và các biện pháp pháp lý hình sự khác, được áp dụng đối

<small>với người đã có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật, trong khi</small>

đó biện pháp cưỡng chế có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị kết án hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc

<small>phạm tội quả tang).</small>

Thứ hai, chủ thể áp dụng trách nhiệm hình sự là Tịa án, bởi lẽ, theo

luật hình sự Việt Nam, cơ sở của trách nhiệm hình sự là “chỉ người nào phạm

<small>một tội được Bộ luật hình sự quy định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự”,</small>

cịn chủ thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là cơ quan,

người có thẩm quyền.

Thứ ba, mục đích của việc áp dụng trách nhiệm hình sự khơng chỉ trừng

trị người phạm tội, mà còn để giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý

thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, cịn <small>mục đích của các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là ngăn chặn tội phạm,</small>

<small>bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.</small>

<small>Thứ tw, căn cứ áp dụng trách nhiệm hình sự là tính chất và mức độ</small>

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các

<small>tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự; còn căn cứ áp dụng các</small> biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là: để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc

<small>34</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy

<small>tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bao đảm thi hành án.</small>

Trong các cơ quan tiến hành tô tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,

Tịa án, thì chỉ có Tịa án mới có quyền xét xử vụ án hình sự, quyền phán

<small>quyết một người có tội hay khơng có tội và áp dụng trách nhiệm hình sự đối</small>

với người đó. Điều này có nghĩa. mac dù một người có thể bị khởi tố, điều tra,

<small>thậm chí bị truy tố, nhưng người đó van được coi là vơ tội, nếu chưa có ban án</small>

kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tịa án. Chỉ khi nào có bản án kết tội của

<small>Toa án đã có hiệu lực pháp luật, người đó mới bi coi là người có tội. Mac dù</small>

Tịa án là cơ quan có quyền phán quyết một người phạm tội hay không, nhưng

<small>việc phán quyết phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng</small> hình sự, trên cơ sở tơn trọng quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Mọi sự vi

phạm về thủ tục, trình tự trong hoạt động tố tụng của Tịa án đều có thể dẫn đến hậu quả pháp lý là bản án do Tịa án đó tun có thể bị Tịa án cấp có thẩm quyền hủy để điều tra, xét xử lại hoặc hủy và đình chỉ vụ án. Trong trường

<small>hợp bị can, bị cáo không đưa ra được những chứng cứ chứng minh mình vơ</small>

tội, thì khơng phải vì thế mà có thể coi là họ phạm tội; trái lại họ được coi là <small>vô tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.</small>

Khi xét xử, các Tịa án phải bảo đảm cho mọi cơng dân bình đẳng

trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập

<small>và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu</small>

<small>vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét day đủ, toàn diện các</small>

chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm

chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan đến vụ án... để ra bản án, quyết định đúng pháp luật và

trong thời hạn do pháp luật quy định. Bản án kết tội được hiểu là bản án hình

<small>sự mà nội dung của nó là thực hiện trách nhiệm hình sự, vì trong bản án đó,</small>

<small>Tịa án dựa trên các căn cứ pháp lý do luật định tại phiên tịa tun bị cáo là có</small>

<small>tội. Ngoài điều kiện trên, bản án kết tội phải đáp ứng điều kiện thứ hai tức là</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

phải có hiệu lực pháp luật. Bản án phúc thẩm của Tịa án cấp phúc thẩm đương nhiên có hiệu lực từ ngày tuyên án, nhưng bản án sơ thẩm chỉ có hiệu lực khi

<small>khơng bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn nhất định do pháp luật quy định.</small>

Ngoài ra, cần khẳng định: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không phải

<small>là cơ quan Xét xử, nên mọi quyết định của các cơ quan này khơng có giá trị</small>

<small>xác định một người có tội hay khơng có tội.</small>

Nội dung thứ hai, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc Về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền, nhưng khơng

<small>buộc phải chứng minh mình vơ tội.</small>

<small>Cơ sở lý luận của nội dung trên đã được hình thành trong luật La Mã</small>

cổ đại: trách nhiệm chứng minh thuộc về người khẳng định, chứ không thuộc

về người phủ định. Các cơ quan tiến hành tố tụng khẳng định một người phạm

<small>tội, thì các cơ quan đó phải có trách nhiệm chứng minh. Người bị buộc tội là</small>

<small>người phủ định mình khơng có tội, khơng có trách nhiệm chứng minh. Các cơ</small>

quan tiến hành tố tụng trên cơ sở chức năng, quyền hạn của mình thực hiện

nghĩa vụ chứng minh tội phạm. Khang định trách nhiệm chứng minh tội phạm

thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng có nghĩa là nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được tội phạm, thì phải coi người bị buộc tội

<small>là khơng phạm tội.</small>

Trách nhiệm chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng trong mỗi

giai đoạn tố tụng hình sự có những đặc điểm của mình, bởi lẽ mỗi giai đoạn có

<small>những nhiệm vụ riêng.</small>

Ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có trách

<small>nhiệm chứng minh có hay khơng có căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Trong giai</small>

đoạn này, theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, các cơ quan có thẩm quyền như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát... chỉ được phép kiểm tra, xác minh

nguồn tin khi nhận được tố piác hoặc tin báo về tội phạm, mà không được <small>phép tiến hành bất cứ hoạt động điều tra nào, trừ khám nghiệm hiện trường.</small>

<small>36</small>

</div>

×