Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (46.65 MB, 182 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>Hà Nội - 2018</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>Hà Nội - 2018</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các sôliệu trong luận án là trung thực.</small>
<small>Những kêt luận khoa học của luận án chưa từng được nhà nghiên cứu</small>
<small>MỤC LỤC</small>
<small>2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên CỨU... .-- 5 5+5 33+ ‡‡+*E++vE+veexeeereeerseess 3</small>
<small>4. Phương pháp nghiên CỨU... ..-- 5 c2 E113 E+*EE+eeEEeerererseerereerre 45. Những đóng góp mới của luận án... - -- +5 +5 + + + £+svseereerseererers 4</small>
<small>1.1.1. Tình hình nghiÊn CỨU trong HƯĨC... .c- 555cc v+seeeeereeeeeeess 81.1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngồi HỚC ... 55c £svesseesess 25</small>
<small>0140110080) 0 5... 33</small>
<small>1.3.2. Su dụng phương pháp nghiÊH CUU ... .... c5 +se+sx 35</small>
<small>¬ ... ... . . . ... .. 79</small>
<small>3.1.1. Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động dong ... S1</small>
<small>3.1.3. Nhóm do ngân sách Nhà nước AON ... -- c5 55 555 x++s +2 83</small>
<small>3.1.5. Nhóm hộ gia (đÏÌHÌÏ... - «cv ng kc 85</small>
<small>3.3.2. Quản lý và sứ dụng QH...- «cà cà +sSseeseerseeereersreree 103</small>
<small>của việc dam bảo va nâng cao qun con người trong lĩnh vực chăm sóc</small>
DANH MỤC CÁC CHỮ VIET TAT
<small>STT Ky hiéu Nguyên nghĩa</small>
<small>1 ASXH An sinh xã hội</small>
2 |BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
DANH MỤC CÁC BÁNG
<small>2009 - D ớộgớgg.ắấấấấẳ... 87</small>
<small>Bang 3.3: Chi KBCB BHYT giai đoạn 2009 - 2016 ...---«+-<<s<2 99Bảng 3.4: Thu quỹ BHYT giai đoạn 2009 - 2016...- --- 5+5 <++<s+ 103Bảng 3.5: Thu, chi quỹ BHYT cho KBCB giai đoạn 2009 - 2016... 106</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">MỞ DAU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), BHYT là một bộ phận cấu thành của
hệ thống ASXH quốc gia, có mục đích chung bảo vệ cuộc sống các thành viên xã hội. Năm 1952, ILO đã ban hành Công ước số 102 về quy phạm tối thiểu về an tồn xã hội. Mặc dù Cơng ước số 102 không trực tiếp đề cập tới BHYT nhưng chăm sóc y tế là nội dung đầu tiên được quy định trong 9 chế độ trợ cấp thuộc hệ thống
ASXH. Ở các quốc gia, với sự khác biệt về kinh tế, xã hội, phong tục tập quán và
nhận thức..., nội dung của BHYT có thể được đồng nhất với chăm sóc y tế hoặc được quy định với những nội dung riêng. Dù tiếp cận ở các góc độ khác nhau song BHYT đều được hiểu là dịch vụ hỗ trợ chi phí chăm sóc sức khỏe, được quản ly thực hiện bởi nhà nước, hướng tới mục tiêu chia sẻ rủi ro về sức khỏe trong phạm vi
<small>toàn bộ dân chúng.</small>
Ở Việt Nam hiện nay, BHYT giữ một vi trí vơ cùng quan trọng trong hệ
<small>thống ASXH quốc gia. Từ phương diện điều chỉnh pháp luật, sau 3 lần được điều</small>
chỉnh bởi các văn bản pháp quy dưới luật (Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 của Chính
phủ và Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ), BHYT đã được quy định trong một đạo luật với sự ra đời của Luật BHYT do Quốc hội khóa
<small>XII thông qua tại kỳ họp thứ tư ngày 14/11/2008. Trai qua hơn 5 năm thực hiện,</small>
Luật BHYT năm 2008 đã được sửa đồi, bổ sung bởi Luật sửa đôi, bố sung một SỐ điều của Luật BHYT năm 2014, có hiệu lực ké từ ngày 01/01/2015. Nếu như Luật BHYT năm 2008 được đánh giá là “mới tập trung bao phủ ở chiêu rộng (dân số)
mà chưa bao phú theo chiều sâu (gói dich vụ) và chiều cao (bảo vệ tài chính)”
<small>[161] thì Luật BHYT sau sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã thé hiện bước tiến rõ rệt,</small>
không chỉ tập trung bao phủ đối tượng mà còn tạo lập cơ sở pháp lý tăng cường chất lượng dịch vụ y tế và hỗ trợ tài chính.
Từ góc độ nhu cầu của mỗi cá nhân, BHYT như là một công cụ hữu hiệu nhất dé chia sẻ rủi ro về sức khỏe. Vì vậy, hồn thiện pháp luật BHYT nhằm đáp
<small>1</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">ứng một nhu cầu mang tính tất yếu khách quan. Từ góc độ Nhà nước, hồn thiện pháp luật BHYT trong bối cảnh pháp luật Việt Nam cịn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăn, dịch vụ y tế trong nên kinh tế thị trường liên tục có những bước phát triển địi hỏi có sự điều chỉnh hợp lý hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân. Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật BHYT cho thấy vẫn cịn con số khơng nhỏ (khoảng 17
<small>triệu) người dân chưa tham gia BHYT trong khi mục tiêu BHYT toàn dân đã đượcđặt ra và thực hiện theo lộ trình từ năm 2009 [16].</small>
Quyền lợi của người tham gia BHYT trong mối tương quan với mức đóng góp và khả năng đáp ứng của hệ thống y tế quốc gia cũng còn nhiều hạn chế. Một trong những van dé mang tính thời sự ảnh hưởng trực tiếp tới đảm bảo quyền và tham gia và hưởng BHYT là sự thiếu ổn định về tài chính. Quy KBCB BHYT sau
nhiều năm liên tục đảm bảo cân đối (2010 - 2015) thì đến năm 2016 lại tái diễn tình
trạng bội chi [16]. Đó là hệ quả tất yếu của tình trang thu khơng thực sự hiệu quả,
<small>trốn đóng, gian lận đóng BHYT, thu khơng đáp ứng đủ nhu cầu chỉ trong bối cảnh</small>
mở rộng phạm vi quyên lợi hưởng của người tham gia BHYT, cùng với đó là tình trạng “trục lợi” BHYT... đang diễn ra. Gần đây, với những cải cách trong quy định
về nội dung chế độ và tô chức thực hiện như mở “thông tuyến” KBCB, nâng cao vai
trò của thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về BHYT.... BHYT Việt Nam thể hiện được nhiều ưu điểm song vẫn chưa giải quyết được triệt dé những hạn chế có nguy cơ ảnh hưởng tới sự an tồn tài chính của quỹ BHYT.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài cịn thê hiện rõ ở việc đảm bảo thực hiện mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định. Pháp luật BHYT Việt Nam cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện dé đáp ứng vị trí, vai trị quan trọng trong hệ thống pháp luật ASXH, hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền
con người, đảm bảo công bằng và tiễn bộ xã hội.
Trong các lĩnh vực khoa học như triết học, kinh tế học, y học, luật hoc..., đã có nhiều cơng trình tiếp cận BHYT và pháp luật BHYT ở những góc độ, phạm vi khác
nhau. Song, cho đến nay, chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách tơng thé, tồn
diện về pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành với mục tiêu hoàn thiện pháp luật. Từ
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">những cơ sở lý luận và thực tiễn đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện
pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam” cho luận án tiễn sỹ luật học của mình.
<small>2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu</small>
Với việc lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam”, luận án xác định mục đích cần đạt được là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và có hệ thong các van đề lý luận về BHYT và pháp luật BHYT; từ đó, luận án đưa ra những đánh giá thực trạng pháp luật BHYT Việt Nam, làm cơ sở đề xuất các kiến nghị với <small>mục tiêu hoàn thiện pháp luật BHYT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.</small>
Đề đáp ứng được mục đích nghiên cứu của luận án, các nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về BHYT và pháp luật BHYT, góp phần hồn thiện cơ sở lý luận về pháp luật BHYT ở Việt Nam phù hợp với sự phát triển của quốc gia, đặt trong bối cảnh làn sóng cải cách BHYT đang diễn ra
<small>mạnh mẽ trên thế giới.</small>
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật BHYT Việt Nam bang việc phân tích, bình luận các quy định hiện hành và thực tiễn thực hiện các quy định về đối
tượng tham gia, quyền lợi hưởng, quỹ BHYT, quản lý và tổ chức thực hiện BHYT,
tập trung vào các hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân của những hạn chế đó làm cơ sở đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Thứ ba, chỉ ra sự cần thiết và các định hướng hoàn thiện pháp luật BHYT trong bối cảnh hiện nay, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
trung nghiên cứu lý luận pháp luật về BHYT và thực trạng pháp luật BHYT Việt
<small>Nam thông qua những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.</small>
Luận án cũng nghiên cứu những quy định pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về BHYT. Tuy nhiên, nội dung này không được bàn luận sâu
<small>sac mà chỉ nhăm làm cơ sở dữ liệu đê đôi chiêu, so sánh, phân tích, đánh giá quy</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>định của pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành, đảm bảo tính khách quan, bao qt</small>
<small>trong các nhận định, bình luận.</small>
Luận án nghiên cứu pháp luật BHYT với tư cách là một chế định pháp luật đảm bảo quyền chăm sóc y tế của con người, một trong các quyền con người trong lĩnh vực ASXH. Những vấn đề pháp lý về các sản phẩm bảo hiểm thương mại có đối tượng
được bảo hiểm là sức khỏe con người không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.
<small>4. Phương pháp nghiên cứu</small>
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, định hướng của Đảng và nhà nước về chính sách xã hội, an sinh xã hội nói chung, chính sách bảo hiểm y tế nói riêng, dé thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng phương thức tiếp cận dựa trên quyền, hệ thống, đa ngành và liên ngành. BHYT được xem xét với tư cách một quyền con người trong tổng thé các quyền về an sinh xã hội; pháp luật bảo hiểm y tế là một bộ phận của pháp luật an sinh xã hội, nó được hợp thành bởi nhiều nhóm quy định, đồng thời có mối liên hệ với nhiều bộ phận pháp luật khác như pháp luật về bảo hiểm xã hội, pháp luật lao động, pháp luật về y tế... Thực hiện luận án này, tác giả
kết hợp sử dụng một số phương pháp chung được áp dụng trong nghiên cứu khoa
học xã hội như phương pháp tông hợp, phương pháp mô tả, phương pháp phân loại,
<small>phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử... Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh cũng</small>
<small>sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành luật học là phương pháp phân</small>
<small>tích quy phạm, phương pháp so sánh pháp luật.</small>
<small>5. Những đóng góp mới của luận án</small>
Là cơng trình khoa học nghiên cứu một cách sâu sắc, tồn điện và có hệ thống về pháp luật BHYT, luận án có những đóng góp mới như sau:
Một là, luận án làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về BHYT và pháp luật BHYT, góp phần hồn thiện cơ sở lý luận về pháp luật BHYT ở Việt Nam phù hợp với sự phát triển của quốc gia và xu hướng cải cách BHYT mạnh mẽ đang diễn
<small>ra trên thê giới.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>Hai là, luận án đã làm rõ thực trạng quy định pháp luật BHYT Việt Nam</small>
<small>thông qua việc phân tích, bình luận các quy định hiện hành. Những luận giải cụ</small> thể cùng sự so sánh, đối chiếu quy định pháp luật BHYT hiện hành với quy định pháp luật tương ứng trong pháp luật quốc gia những giai đoạn trước và pháp luật
quốc tế giúp nêu bật những điểm tiến bộ và những điều còn hạn chế trong các quy
<small>định hiện nay.</small>
Ba là, luận án cung cấp những thơng tin mang tính thời sự về tình hình thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật BHYT về đối tượng tham gia, quyền lợi hưởng, quỹ, quản lý và tô chức thực hiện BHYT.
Bốn là, luận án đánh giá các thành công, hạn chế trong quy định pháp luật và quá trình tổ chức thực hiện pháp luật BHYT; đặc biệt làm rõ những tồn tại, bất cập
và chỉ ra các nguyên nhân của hiện trạng đó làm cơ sở đề xuất những kiến nghị
<small>hoàn thiện pháp luật.</small>
Năm là, luận án nêu rõ sự cần thiết và các định hướng hoàn thiện pháp luật BHYT trong bối cảnh hiện nay.
Sáu là, luận án đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT Việt Nam hiện nay trên cơ sở khoa học, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
Luận án góp phần củng cố, hồn thiện co sở lý luận về BHYT và pháp luật BHYT trong bối cảnh BHYT trên thế giới đang có nhiều cải cách mạnh mẽ. Luận án cung cấp những kiến thức tiến bộ về lý luận và thực tiễn pháp luật BHYT tại một số quốc gia trên thế giới. Luận án đã làm rõ thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành, chỉ ra những thành công, hạn chế và các nguyên nhân của thực trạng đó. Luận án cũng đóng góp một số kiến nghị hồn thiện hệ thống pháp luật BHYT Việt Nam trên cơ sở khoa hoc.
Đồng thời, ở mức độ nhất định, luận án cung cấp những kiến thức hữu ích cho những người làm cơng tác thực tiễn trong lĩnh vực BHYT dé áp dụng pháp luật
<small>BHYT một cách hiệu quả. Luận án có giá trị là một tài liệu tham khảo cho các cơ</small>
<small>quan lập pháp, hành pháp trong quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện chính</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">sách, pháp luật BHYT. Những kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thé được sử
<small>dụng để tham khảo trong cơng tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở</small>
đào tạo luật học, xã hội học, công tác xã hội, kinh tế... và cho các tô chức, cá nhân quan tâm đến lĩnh vực BHYT, pháp luật BHYT.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm <small>4 chương:</small>
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tai.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về BHYT và pháp luật BHYT.
<small>Chương 3: Thực trạng pháp luật BHYT Việt Nam.</small>
Chương 4: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT Việt Nam.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>CHUONG 1:</small>
TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU DE TAI
1.1. Tinh hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tai
Bảo hiểm y tế vừa là một loại hình bảo hiểm, vừa là bộ phận của ASXH.
Trong bản chất của BHYT luôn hàm chứa cả tính kinh tế và tính xã hội. Do đó, BHYT là vấn đề được quan tâm nghiên cứu cả trong kinh tế học và một số lĩnh vực
<small>khoa học xã hội.</small>
<small>Trong khoa học pháp lý, nghiên cứu về BHYT là nghiên cứu xây dựng và</small>
thực thi pháp luật đảm bảo một quyền công dân. Tham gia và hưởng các chế độ của
<small>BHYT là quyền của con người trong lĩnh vực ASXH nói chung, lĩnh vực chăm sóc</small>
<small>sức khỏe nói riêng. Các nhà nước khác nhau, hay một nhà nước trong những thời kỳ</small>
khác nhau có phạm vi, mức độ bảo vệ quyền khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào các
điều kiện khách quan và chủ quan của mỗi quốc gia trong những giai đoạn cụ thé.
Hệ thống pháp luật BHYT do đó ln ln phải vận động dé nâng cao vai trò bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, phù hợp với từng bối cảnh lịch sử.
Trong điều kiện Việt Nam những năm gần đây đang chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, Nhà nước nâng cao việc bảo vệ quyền con người, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật BHYT là một nhu cầu tất yếu khách quan và vẫn đang cịn nhiều khoảng trống. Nghiên cứu hồn thiện pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành cần tập trung vào các khía cạnh pháp lý của BHYT, đồng thời khảo sát và tiếp thu
<small>của BHYT. Việc nghiên cứu lý luận pháp luật BHYT, thực trạng pháp luật BHYT</small>
Việt Nam hiện hành và kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT cũng cần đặt trong tong thé xu hướng phát triển của pháp luật về ASXH.
Xuất phát từ những tiền đề trên, tác giả tiến hành nghiên cứu, rà sốt các cơng trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến BHYT và pháp luật BHYT Việt Nam, tập trung trong lĩnh vực khoa học pháp ly dé đánh giá tổng quan tinh
<small>hình nghiên cứu đê tai luận án.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>LULU. Tình hình nghiên cứu trong nước</small>
1.1.1.1. Nghiên cứu lý luận về bảo hiểm y tế và pháp luật bảo hiểm y tế
Nghiên cứu lý luận về bảo hiểm y té
Những vấn đề lý luận về BHYT được nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học như luật học, triết học, kinh tế học, y học... Mỗi cơng trình khoa học như luận
cận và luận giải riêng về BHYT. Có thé kế đến một số nghiên cứu tiêu biểu trong <small>thời gian qua như:</small>
Ở cấp độ luận án tiễn sỹ, với góc độ tiếp cận tập trung nhất tới BHYT, luận
Thị Thanh Hương (2012) đã luận giải tính tất yêu khách quan và các quan niệm về BHYT, từ đó tác giả đưa ra định nghĩa, đặc điểm của BHYT. Theo tác giả:
BHYT là một chính sách ASXH của Nhà nước mang tính cộng đồng, chia <small>sé rủi ro, trên cơ sở sự dong góp của người lao động, người sử dụng lao</small> động và cộng dong, có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước nhằm mục dich khám, chữa bệnh khi thành viên 6m dau, bệnh tật và khơng vì mục tiêu lợi <small>nhuận [88, tr.12].</small>
Khái niệm này đã thé hiện khá rõ nét tính xã hội trong bản chất của BHYT. <small>Luận án cũng đã chỉ ra những đặc trưng của BHYT từ việc bóc tách nội hàm địnhnghĩa thuật ngữ BHYT ma tác gia đã xây dựng. Tuy nhiên, tac giả đã chưa luận giải</small> sâu sắc các đặc điểm của BHYT dé khắc hoa những đặc trưng riêng có của BHYT, sự khác biệt của BHYT so với các loại hình bảo hiểm khác cũng như với các nội <small>dung khác của ASXH.</small>
Từ góc độ tiếp cận rộng hơn, nhiều luận án tiến sỹ đã đề cập đến BHYT với tư cách là một bộ phận của ASXH, như: “ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Mai Thi Ngọc Anh (2009) [5], “Dam bảo ASXH
trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Đơng Thị Hồng (2015) [85], “Chính sách
ASXH với người nơng dân sau khi thu hôi dat dé phát triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” của Nguyễn Văn Nhường (2011) [103], “Dam bảo
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">ASXH gắn với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Tâm (2015) [130]... Do tiếp cận từ góc độ khá rộng, những vấn đề lý luận về BHYT mới được
trình bày ở mức cơ bản, khái quát trong tông thê lý luận về ASXH.
Ở cấp độ luận văn thạc sỹ, đề tài “Phát triển và hoàn thiện hệ thong BHYT ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Tứ (2007) đã khái quát cơ sở lý luận về BHYT. Theo tác giả, BHYT là “sự hợp nhất kinh tế của số lượng lớn những người trước cùng một loại hiểm nguy do bệnh tật gây nên mà trong từng trường hợp cá biệt khơng thể tính tốn và lo liệu được ” [145, tr.9]. Khái niệm này đã nhìn nhận về BHYT trên quan điểm kinh tế. Do vậy, khi phân tích đặc điểm, vai trị của BHYT, tác giả cũng tiếp cận theo góc độ của kinh tế học.
Trên phương diện luật học, trong nhiều luận văn thạc Sỹ, các tác giả cũng đặt
nền tảng lý thuyết cho công trình nghiên cứu của mình bằng việc trình bày những van đề cơ bản về BHYT như nguồn góc ra đời, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của
<small>BHYT... Trong mối tương quan với các luận án đã được khảo cứu, những luận điểm</small>
được đưa ra tại các luận văn này nhìn chung chưa có điểm mới đột phá trong nghiên
cứu lý luận về BHYT.
Một mặt, BHYT là nội dung quan trọng của ASXH nên luôn được đề cập đến trong các tài liệu học tập về ASXH. Giáo trình ASXH của Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2008) [147], Giáo trình Nhập mơn ASXH của Trường Đại học Lao động xã hội (2013) [149] ... đã trình bày một cách khá toàn diện những vấn đề khái quất về BHYT như khái niệm, ý nghĩa, vai trò, nguyên tắc... của BHYT. Mặt khác, BHYT lại là một trong những loại hình bảo hiểm, cho nên, Giáo trình Bảo hiểm của
Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2008) [148], Giáo trình BHXH của Trường Dai học Lao động xã hội (2010) [150]... cũng viết về BHYT với tư cách là một vấn đề của bảo hiểm nói chung, bảo hiểm phi thương mại nói riêng. Các tài liệu nhìn chung thừa nhận khái niệm, đặc điểm, vai trò của BHYT dựa trên định nghĩa BHYT trong văn bản pháp luật hiện thời điều chỉnh về BHYT. Những tri thức khoa học trong các tài liệu học tập chính thống này cung cấp nền tảng lý luận cơ bản nhất về BHYT
<small>cho người học. Tuy nhiên, những luận giải sâu sắc xoay quanh các vân đê lý luận về</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">BHYT khơng thuộc phạm vi mà các giáo trình đề cập. Mặc dù vậy, những kiến thức
cơ bản đó hết sức có ý nghĩa giúp cho người học có được nên tang tri thức dé có thé
tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sâu, rộng hơn về BHYT.
Trong các cuốn sách về lý luận BHYT, đáng chú ý có tac pham “Kinh té y tế và BHYT” do Nguyễn Thị Kim Chúc chủ biên (2007) [49]. Đây là một tác phẩm có nghiên cứu về lý luận BHYT dưới góc độ kinh tế. BHYT được luận giải với tư cách là một vấn đề trong lý thuyết chung về kinh tế y tế, cùng với các bộ phận khác như chi phí y tế, tài chính y tế và viện phí. Tác phẩm “Đổi mới và phát triển BHXH ở
Việt Nam” của TS Dương Văn Thắng (2015) lại dành một chương riêng để trình bay những nghiên cứu về lịch sử ra đời và phát triển BHYT ở nước ta, trong đó khái
lược từ cơng tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân những năm đầu đổi mới,
<small>công tác xây dựng quỹ khám chữa bệnh nhân đạo tự nguyện ở Bệnh viện huyện</small> Sông Thao, tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ), việc thí điểm xây dựng quỹ bảo
<small>hiểm sức khỏe ở Hải Phòng rồi mở rộng thí điểm BHYT tới các miền và một số</small>
ngành; tới bước chuẩn bị cho sự ra đời chính sách BHYT và khi chính sách BHYT chính thức triển khai trên phạm vi cả nước, những thành công, thách thức dat ra và những đổi mới sau 5 năm, 10 năm... thực hiện [134]. Nhận xét về cuốn sách này, TS Phạm Thành (Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam giai đoạn 1995 - 2006) bày to: “... mỗi người được đọc cuốn sách này sẽ thay được hết quá trình hình thành và phát triển BHXH, BHYT ở Việt Nam...” [134, tr.9]. Bên cạnh đó, cuốn sách “BHYT
- Những bước di dau tiên ” của tác giả Bùi Thành Chi (2014) có thé xem như cuốn hồi ký sinh động của một người có đóng góp tích cực trong việc trực tiếp đặt nền
<small>móng cho sự ra đời của BHYT tại Việt Nam. Trong tai liệu này, tác gia đã trình bay</small>
những lý luận và tư duy ban đầu ở Việt Nam về BHYT, thuật lại bối cảnh và những ngày tháng đầu tiên của BHYT ở nước ta, mà cụ thé là tại Hải Phong, địa phương đầu tiên làm thí điểm BHYT, từ đó hình thành nên chính sách BHYT quốc gia [40]. Những cuốn sách này có thé xem như nguồn tư liệu quý giá mà các nhà nghiên cứu
có thé tham khảo, tiếp thu và sử dung trong nghiên cứu BHYT theo pháp luật Việt
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Nam đảm bảo bao quát toàn diện cả về chiều dài lịch sử và chiều rộng của các khía
<small>cạnh liên quan tới BHYT.</small>
Một số bài viết đăng trên các tạp chí cũng đã luận bàn về những khía cạnh khác nhau về lý luận BHYT. Nhìn nhận BHYT với tu cách là một chính sách cua Nhà nước, tác giả Lê Bạch Hồng có bài “Vai tro của chính sách BHXH, BHYT đối với ASXH của đất nước ” trên Tạp chi Cộng sản (2010). Bài viết đã tập trung luận giải vai trò của BHYT, cùng với BHXH để góp phần quan trọng tạo nên mạng lưới bảo đảm cho người dân những điều kiện sống tối thiểu [87]. Nghiên cứu các mơ hình tổ chức thực hiện BHYT, tác giả Hồ Hải có bài “Các loại hình BHYT và kẽ ho
<small>của nó ” được đăng tải trên Tạp chí Tia sáng (2010). Tác giả đã nêu lên những đặc</small>
điểm của mỗi mơ hình BHYT điền hình trên thế giới (mơ hình Otto Von Bismarck, William Henry Beveridge, BHYT quốc gia, BHYT “trả tiền túi”), từ đó có những phân tích khá sâu sắc về những bat cập trong mỗi mơ hình đó [75].
<small>Theo khảo cứu của nghiên cứu sinh, những cơng trình nghiên cứu trên đây đã</small> đưa ra các quan niệm về BHYT từ các phương diện kinh tế, xã hội và pháp lý, đồng thời cũng nêu lên đặc trưng, ý nghĩa của BHYT. Tuy nhiên, cho đến nay, ngoài định nghĩa trong pháp luật thực định, chưa có một định nghĩa thống nhất về BHYT về
thuật ngữ BHYT, những vấn đề liên quan như đặc điểm, vai trị của BHYT được trình bày trong các tài liệu cịn có nhiều điểm khá khác nhau. Thêm vào đó, do góc độ và mức độ tiếp cận, các tác giả đã chưa luận giải một cách toàn diện và sâu sắc
các vấn đề lý luận về BHYT.
Nghiên cứu lý luận về pháp luật bảo hiểm y tế
Vấn đề lý luận pháp luật BHYT được nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học luật và chủ yếu được công bố trong các luận án tiễn sỹ, luận văn thạc sỹ, sách <small>chuyên khảo.</small>
Trong luận án tiễn sỹ luật học “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về ASXH ở Việt Nam” (2008), xuất phát từ nhận thức pháp luật về BHYT là một trong bốn trụ cột của pháp luật về ASXH (cùng với pháp luật
<small>11</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">về BHXH, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội), khi bàn tới vấn đề lý luận pháp luật
ASXH, tác giả Nguyễn Hiền Phương có trình bày những nội dung lý luận chung
nhất về pháp luật BHYT như khái niệm, nội dung, nguyên tắc pháp luật BHYT [115]. Tuy nhiên, do luận án bao quát vẫn đề ASXH nói chung, tác giả đã chưa có
điều kiện luận bàn sâu sắc về lý luận pháp luật BHYT.
Nghiên cứu tập trung về pháp luật BHYT, luận án “Cơ sở lý luận và thực
<small>tiễn hoàn thiện pháp luật BHYT ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Thanh Hương (2012)</small>
đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về pháp luật BHYT như khái niệm, bản chất, <small>vai trò... của pháp luật BHYT. Luận án đã luận giải pháp luật BHYT là một bộ</small> phận của pháp luật ASXH, điều chỉnh nhiều mối quan hệ xã hội đan xen và có đối tượng bảo vệ rất rộng lớn, mang tính nhân văn, xã hội sâu sắc. Tác giả cũng làm rõ pháp luật BHYT có vai trị quan trọng trong việc đảm bảo tính cơng bằng trong tiếp
cận dịch vụ chăm sóc y tế, là một trong những cơng cụ chống lại nghèo đói, bệnh
tật, đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, cộng đồng, gia đình và cá nhân, mang ý nghĩa quốc tế [88]. Có thé xem đó là những đóng góp đáng kế của luận án trong nghiên cứu lý luận pháp luật BHYT. Mặc dù vậy, luận án vẫn để lại khoảng trống nghiên cứu lý luận về nguyên tắc điều chỉnh, nội dung điều chỉnh của pháp
<small>luật BHYT.</small>
Những van dé lý luận về pháp luật BHYT như khái niệm pháp luật BHYT, sự cần thiết phải ban hành pháp luật BHYT, vai trò của pháp luật BHYT, nội dung và hình thức thé hiện của pháp luật BHYT... là những nội dung được tác giả Phạm
<small>Thị Vy Linh luận giải trong luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật BHYT ở Việt Nam</small>
hiện nay” (2014) [97]. Những phân tích của tác giả luận văn có nhiều điểm tương
đồng với những luận giải của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương trong luận án tiến sĩ luật học “Cơ sở ly luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật BHYT ở Việt Nam ”. và nội dung điều chỉnh của pháp luật BHYT, tác giả đề cập tới chức năng quản lý Nhà nước, đối tượng, phạm vi mức đóng và phương thức đóng BHYT, thẻ BHYT, phạm
vi được hưởng BHYT, tổ chức khám chữa bệnh và thanh tốn chi phí khám chữa
bệnh BHYT, quản lý và sử dụng quỹ BHYT, quyền và nghĩa vụ của các bên liên
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">quan đến BHYT, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về
BHYT. Cách tiếp cận này bao trọn các nội dung điều chỉnh của pháp luật BHYT
Việt Nam, song tỏ ra lệ thuộc vào pháp luật thực định của nước ta và còn thiếu tính
<small>khái quát.</small>
Bảo hiểm y tế tự nguyện cho tới nay dù khơng cịn tồn tại trong hệ thống BHYT quốc gia, nhưng đã từng là một phần không thê thiếu bên cạnh BHYT bắt
buộc, nhăm từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHYT, dần tiễn tới thực hiện
BHYT toàn dân. Do đó, trong lý luận pháp luật về BHYT, không thé không ké tới những lý thuyết pháp luật về BHYT tự nguyện. Khai thác đề tài này, luận văn thạc sỹ “BHYT tự nguyện trong Luật BHYT Việt Nam” của Bùi Thị Thu Hăng (2014) dành một phần quan trọng dé luận giải khái niệm, nguyên tắc, nội dung điều chỉnh, <small>vai trò của pháp luật BHYT tự nguyện cũng như giới thiệu pháp luật BHYT tự</small> nguyện của một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam [78].
<small>Nghiên cứu lý luận về pháp luật BHYT trong tổng thể pháp luật ASXH từ</small>
kinh nghiệm pháp lý quốc tế, cuốn sách: “Pháp luật ASXH: Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam” của Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011) giới thiệu tổng quan về ASXH, pháp luật ASXH của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Nga... từ đó trình bày những vấn đề pháp luật ASXH của Việt Nam, trong đó có pháp luật BHYT [77]. Nghiên cứu sâu sắc hơn về lý luận pháp luật BHYT từ những bài học kinh nghiệm trên thế giới, cuốn “Pháp luật BHYT một số quốc gia trên thé giới và những kinh nghiệm cho Việt Nam” do TS Nguyễn Hiền Phương chủ biên
(2013) đã luận giải những vấn đề khái quát về pháp luật BHYT, giới thiệu pháp luật BHYT của nhiều quốc gia có quan điểm tiến bộ, hiện đại về BHYT như Đức, Thuy Điển, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc... từ đó đúc rút những kinh nghiệm cho q trình xây dựng va tơ chức thực hiện pháp luật BHYT tại Việt Nam [114].
Có thé thấy, những van dé lý luận về pháp luật BHYT đã được đề cập ở các mức độ khác nhau trong một sé cơng trình nghiên cứu. Dinh nghĩa, ban chất, vai trị
<small>của pháp luật BHYT đã được các tác giả luận giải, những đúc rút từ nghiên cứu</small>
pháp luật BHYT tại nhiều quốc gia trên thế giới đã được các nhà khoa học chia sẻ.
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">Mặc dù vậy, việc nghiên cứu hệ thong hoa va tiép tuc phat triển, làm sâu sắc hơn
những vấn đề lý luận về pháp luật BHYT vẫn là một yêu cầu đặt ra đối với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là van đề nguyên tắc điều chỉnh và nội dung điều chỉnh của pháp luật BHYT cần thiết phải được làm sáng tỏ.
1.1.1.2. Nghiên cứu thực trạng pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam
Các quy định về chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam được ban hành và triển
khai khá sớm, ngay sau khi nước ta giành được độc lập. Tuy nhiên, pháp luật về BHYT ở Việt Nam chỉ chính thức hình thành vào năm 1992, được đánh dấu bằng sự ra đời của Điều lệ BHYT kèm theo Nghị định số 299 - HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Các văn bản pháp quy về BHYT cũng
liên tục được sửa đổi, bổ sung, thay thé dé tạo lập cơ sở pháp lý ngày càng khoa
học, hiệu quả, nhân văn hơn cho BHYT. Đến năm 2008, Luật BHYT đầu tiên được ban hành. Sau hơn 5 năm thực hiện (từ 01/7/2009), Luật BHYT được sửa đổi, bé sung bởi Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Luật BHYT năm 2014, có hiệu lực thi hành ké từ ngày 01/01/2015. Cùng với quá trình phát triển của pháp luật BHYT, nhiều cơng trình khoa học bàn về quy định pháp luật BHYT và thực tiễn thực hiện
cũng được các tác giả công bố. Thực hiện luận án này, nghiên cứu sinh chủ yêu tập
trung khảo cứu một số nghiên cứu tiêu biểu về thực trạng pháp luật BHYT được công bồ sau thời điểm Luật BHYT năm 2008 chính thức ra đời.
Luận án tiễn sỹ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật BHYT ở
<small>Việt Nam ” của Nguyễn Thị Thanh Hương (2012) là một cơng trình dành sự nghiên</small>
<small>cứu cơng phu cho thực trạng pháp luật BHYT Việt Nam. Tác giả đã khái quát lịch</small> sử hình thành và phát triển của pháp luật BHYT nước ta, chia thành hai giai đoạn: giai đoạn từ khi BHYT chính thức hình thành (năm 1992) đến trước thời điểm Luật BHYT có hiệu lực (hết 30/6/2009) và giai đoạn từ ngày 01/7/2009 trở đi. Luận án
cho rằng:
Nhìn lại chặng đường lịch sử 20 năm tôn tại và phát triển, pháp luật
BHYT không ngừng cải cách, hoàn thiện để phù hợp hơn với thực tiễn và
<small>luôn xuất phát từ các quan diém, chủ trương của Đảng về chăm sóc y tê</small>
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><small>và BHYT qua các thời kỳ. Tuy nhiên, pháp luật BHYT hiện hành còn bộc</small>
lộ khá nhiều hạn chế can được hoàn thiện [88, tr.134].
Luận án cũng đã luận giải về các nội dung điều chỉnh của pháp luật BHYT như đối tượng áp dụng, chế độ hưởng và quỹ BHYT, từ đó đưa ra những nhận xét
về ưu điểm, hạn chế của pháp luật BHYT. Luận án đồng thời đã chỉ ra những thành
công, hạn chế trong việc thực hiện các quy định pháp luật BHYT về đối tượng tham gia, chế độ hưởng và quỹ BHYT. Bên cạnh đó, tác giả đã tìm ra một số ngun nhân của những hạn chế trong tô chức thực hiện pháp luật BHYT [88]. Tại thời điểm được cơng bó, luận án tiến sỹ luật học “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật BHYT ở Việt Nam” là nghiên cứu toàn điện nhất về thực trạng pháp luật
BHYT ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi các văn bản quy phạm pháp luật về BHYT được
sửa đôi, bố sung, đặc biệt khi Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Luật BHYT
năm 2014 có hiệu lực, hệ thống pháp luật BHYT thé hiện những bước tiến quan trọng và sau một thời gian triển khai đã nảy sinh nhiều vấn đề mới, làm xuất hiện nhu cầu có một nghiên cứu cập nhật hơn về hồn thiện pháp luật BHYT Việt Nam
<small>hiện hành.</small>
Nghiên cứu riêng về thực trạng phương thức thanh tốn chỉ phí KBCB BHYT có một số luận án như: “Nghiên cứu phương thức thanh tốn chỉ phí khám, chữa bệnh BHYT theo nhóm chan đốn đổi với nhóm bệnh tăng huyết áp” của Lưu Viết Tĩnh (2012) [133], “Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức khốn quỹ định suất đến chỉ phí và một số chỉ số khám, chữa bệnh BHYT thuộc bốn bệnh viện tỉnh Thanh Hóa” của Trần Quang Thơng (2012) [138]... Những nghiên cứu này góp phần đánh giá các quy định về phương thức thanh tốn chi phí KBCB - một yếu tơ có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sử dụng quỹ BHYT và tính an tồn của quỹ
<small>-cũng như thực tiễn áp dụng dưới góc nhìn y học.</small>
Ở cấp độ thạc sỹ, luận văn “Đánh giá Luật BHYT sau 3 năm thực hiện ” của
<small>tác giả Nguyễn Khánh Linh (2013) đã trình bày, phân tích, đánh giá các quy định</small>
của pháp luật về BHYT. Theo tác giả, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về
BHYT đã bao qt khá tồn diện các khía cạnh cần được điều chỉnh của BHYT
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">cũng như có những thay đổi, điều chỉnh phù hợp với hồn cảnh, điều kiện của từng
thời kỳ; đồng thời xác định được lộ trình dé tiến tới BHYT tồn dân, quy định
quyền lợi hưởng BHYT tương đối phù hợp và có lợi cho người tham gia, thụ hưởng, các quy định về quỹ BHYT là khung pháp lý an toàn cho tổ chức và hoạt động của quỹ. Luận văn có nhận định trong thực tiễn triển khai, Luật BHYT đã đạt được những kết quả quan trọng nhưng cũng cho thấy một số tồn tại, hạn chế liên quan tới các van dé: việc mở rộng và phát triển mạng lưới người tham gia theo lộ trình BHYT toan dân, thực hiện chế độ hưởng cho người tham gia BHYT, hoạt <small>động thanh tốn chi phí KBCB BHYT, cơng tác quản lý quỹ BHYT và giám định</small>
<small>BHYT... [96]. Luận văn “Pháp luật BHYT ở Việt Nam hiện nay” của tác giả PhạmThị Vy Linh (2014) lại tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật BHYT Việt Nam</small>
thông qua việc khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật BHYT ở <small>nước ta, từ đó, tác giả đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật BHYT theo từng tiêu</small>
<small>chí như tính tồn diện, tính thống nhất, tính đồng bộ, tính ơn định, tính minh bạch</small>
và tính khả thi [97]. Nghiên cứu ở thời điểm gần hơn, đề tài “7c trạng thi hành pháp luật BHYT bắt buộc ở Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Phương Dung (2015) đã
có những đánh giá chung về ưu điểm, những tác động tích cực cũng như những hạn
chế, tồn tại của Luật BHYT năm 2008 trong 5 năm thi hành, đồng thời đưa ra một số nhận định về tình hình thực hiện Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 theo kết quả sơ bộ 6 tháng đầu năm 2015. Qua đó, có thê thấy, mặc dù pháp luật BHYT đã có những bước tiến tích cực, song vẫn có những “nút thắt” cần được tháo gỡ để đưa Việt Nam đến gần với mục tiêu BHYT toan dân
[52]... Mỗi luận văn có những cách tiếp cận đối với thực trạng pháp luật BHYT
Việt Nam và có những đóng góp nhất định trong việc đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật BHYT trong giai đoạn Nhà nước tiến hành sửa đổi Luật BHYT năm 2008 và gợi mở hướng nghiên cứu đối với các nghiên cứu về pháp luật BHYT trong các giai đoạn tiếp theo.
<small>Pháp luật BHYT là một nội dung quan trọng của pháp luật ASXH, do đó,</small>
<small>Giáo trình Luật ASXH của Trường Đại học Luật Hà Nội (2013) [149], của Trường</small>
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">Đại học Cần Thơ (2012) [150], của Trường Đại học Huế (2012) [146]... đều dành
một chương cho pháp luật BHYT. Các tài liệu này là tư liệu chính thống để người
học trong mỗi cơ sở đào tạo tiếp cận, tìm hiểu các quy định pháp luật Việt Nam về BHYT.
Bên cạnh những luận án, luận văn, giáo trình tiêu biểu trên, thực trạng pháp luật BHYT cũng được nghiên cứu và công bố trong một số cuốn sách chuyên khảo. Các tác phẩm: “Bao đảm ASXH trong thời ly day mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế qua nghiên cứu thực trạng ở thi đô Hà Nội” do tác giả Đông Thị Hồng chủ biên (2015) [85], “4SXH đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam” do tác giả Nguyễn Thị Lan Hương chủ biên (2015) [87], “Lý thuyết và mơ hình
ASXH (phân tích thực tiễn ở Đồng Nai)” do nhóm tác giả Phạm Văn Sáng, Ngô
Quang Minh, Bùi Vân Huyền và Nguyễn Anh Dũng thực hiện (2009) [126] là những cơng trình đề cập tới thực trạng thực hiện ASXH nói chung, trong đó có
<small>những đánh giá về thực trạng thực hiện BHYT. Cuốn sách “Mi số điểm cơ bản về</small>
hệ thong y tế Việt Nam và vấn dé BHYT, đặc biệt BHYT tuyến xã” của Lương Ngoc Khuê (201 1) tập trung giới thiệu một số vấn đề cơ bản về hệ thống y tế Việt Nam,
các loại hình cơ bản của BHYT và vấn đề KBCB cho người tham gia BHYT tuyến
xã, trình bày kết quả về thực trạng y tế tuyến xã và vấn đề BHYT tuyến xã [93]. Cơng trình “Cơng bằng trong sức khỏe ở Việt Nam: góc nhìn từ xã hội dân sw” của Hoàng Tú Anh chủ biên (2011) đã dành một phan dung lượng dé đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật BHYT ở Việt Nam trên góc nhìn về cơng bằng trong tài chính
y tế [3].
Nghiên cứu tổng thé về pháp luật BHYT, tác phẩm “Quá trình hình thành và phát triển BHYT Việt Nam” của BHYT Việt Nam (2002) khái lược toàn bộ sự hình thành chính sách BHYT trong thời kỳ 1989 - 1992, giai đoạn bắt đầu triển khai chính sách BHYTT trong cả nước 1992 - 1997, giai đoạn đổi mới chính sách BHYT, quản lý tập trung thống nhất hệ thống BHYT Việt Nam (từ năm 1997). Với mỗi giai
đoạn, các tác giả đều trình bày về bối cảnh kinh tế - xã hội, những thành tựu, hạn
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">chế của pháp luật BHYT và sự cần thiết phải hồn thiện chính sách BHYT ở
<small>Việt Nam [19].</small>
Cũng tìm hiểu về pháp luật BHYT Việt Nam, nhưng nhìn nhận từ góc độ khác, cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển bên vững” do GS.TS Lê Minh Tâm chủ biên (2009) dành một chương riêng dé trình bày về pháp luật BHYT Việt Nam, xem xét quá trình phát triển BHYT trong quá trình hội nhập và phát triển [129]. Trong cuỗn “Quyên ASXH và đảm bảo thực <small>hiện trong pháp luật Việt Nam ” do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ biên (2014), pháp</small> luật BHYT được đánh giá theo lăng kính nghiên cứu bảo đảm quyền ASXH trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ thơng qua BHYT, theo các nhóm vấn đề như đối tượng tham gia BHYT, chế độ hưởng BHYT và quỹ BHYT [139].
Thực trạng pháp luật BHYT đồng thời là chủ đề được lựa chọn cho đề tài
nghiên cứu khoa học các cấp của nhiều nhà nghiên cứu trong những năm vừa qua,
đặc biệt phải kể tới một số nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước. Trong nghiên cứu “Khả năng thực hiện BHYT toàn dân” của Vụ BHYT, Bộ Y tế (2011), với phương pháp nghiên cứu tông hợp từ các số liệu thứ cấp cùng với trực tiếp điều tra, nhóm tác giả có những nhận định quan trọng về tình hình tham gia BHYT. Mặc dù Luật <small>BHYT năm 2008 quy định tồn dân có trách nhiệm tham gia BHYT theo lộ trình,</small> tuy nhiên, đến năm 2014, khả năng tham gia BHYT của các nhóm đối tượng vẫn
cịn ở các mức độ khác nhau. Nhóm nghiên cứu khang định có nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động đến việc mở rộng diện bao phủ, khả năng thực hiện mục tiêu BHYT tồn dân [33]. Đề án “7c hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020” do Bộ Y tế chủ trì (2012) là một cơng trình quan trọng tổng kết thực trạng thực hiện BHYT dé từ đó đưa ra mục tiêu, giải pháp thực hiện BHYT tồn dân. Đề tài này có những đánh giá quan trọng về ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật BHYT; bao phủ về dân số tham gia BHYT; bao phủ về quyền lợi BHYT; bao phủ về chi phí KBCB va cân đối thu chi quỹ BHYT cũng như nhận định về khó khăn, thách thức và nguyên nhân của khó
<small>khăn, thách thức trong thực hiện BHYT tồn dân [31]. Nghiên cứu “BHYT foàn dân</small>
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">- Thực trạng và kiến nghị” của Trung tâm Thông tin khoa học, Viện Nghiên cứu
Lập pháp (2013) dành một phần nội dung khá lớn để trình bày tình hình triển khai
và những kết quả đạt được cũng như về những bat cập trong tổ chức thực hiện BHYT sau 20 năm, nhất là sau 4 năm triển khai Luật BHYT năm 2008 [124]. Điểm
tương đồng trong các cơng trình nghiên cứu trên là đã khai thác một cách khá toàn
diện về thực trạng pháp luật BHYT, gắn với lộ trình tiễn tới BHYT tồn dân ở Việt Nam. Trong đó, các tác giả có những phát hiện tương tự về một số tồn tại cần lưu ý để khắc phục khi thi hành pháp luật BHYT. Tuy nhiên, cũng do bối cảnh thời gian nghiên cứu (các cơng trình trên hầu hết được hoàn thành trong năm 2014 trở về trước - trước thời điểm Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật BHYT năm
2014 có hiệu lực) cho nên đa số các tác giả chỉ có thể cập nhật đến thực tiễn triển
<small>khai pháp luật BHYT trước thời điểm Luật BHYT năm 2008 được sửa đổi, bồ sung.</small>
Pháp luật BHYT qua mỗi giai đoạn luôn là đề tài được nhiều tác giả của các bài báo, tạp chí khai thác. Từ góc độ chung nhất, bài viết “Thực trạng pháp luật
<small>ASXH ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện ” của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu trên</small>
Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2014) có những đánh giá về tình hình thực thi pháp luật BHYT giai đoạn trước năm 2014 trong tổng thé pháp luật về ASXH [140]. Ở góc độ cụ thé hơn, tác giả Pham Hong Hải có bài “Phân tích dau vào và dau ra của
<small>BHYT Việt Nam giai đoạn 2009 - 2012” trên Tạp chí Y hoc (2014) [76]...</small>
Trong những năm gan đây, đặc biệt là năm 2015, các bài viết đăng tải trên tạp chi tập trung khá nhiều vào chủ dé phân tích những điểm mới, tiến bộ của Luật
sửa đổi, bố sung một số điều của Luật BHYT như loạt bài: “Quyên lợi của người tham gia BHYT có nhiều điểm mới”, “Sử dụng thẻ BHYT khi khám, chữa bệnh dé
được hưởng day đủ quyên lợi theo Luật BHYT sửa doi”, “BHYT năm hoc mới có nhiều đổi mới” của Nguyễn Huy Nghị trên Tạp chí BHXH (2015)... [104, 105, 106]. Nhiều bài viết lại phản ánh các khía cạnh khác nhau của quy định pháp luật BHYT và thực tiễn thực hiện như về đối tượng bao phủ của BHYT [1, 62, 100],
<small>BHYT cho học sinh, sinh viên [4, 11, 41, 70], BHYT theo hộ gia đình [35, 95],</small>
BHYT đối người nghẻo hoặc cận nghèo [81], BHYT tại các địa phương [7, 8, 34,
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28"><small>42, 58, 60, 66], công tác KBCB BHYT [71, 82, 113], áp dụng công nghệ thông tin</small>
<small>trong quản ly và thực hiện BHYT [2, 6, 10, 57, 69], xử lý vi phạm pháp luật trong</small>
lĩnh vực BHYT [9, 12]... Nhìn chung, mỗi bài viết cung cấp những cách nhìn sâu sắc về một vài van dé của pháp luật BHYT hiện nay. Tuy nhiên, từ góc độ tong
<small>quan, những phát hiện này tỏ ra còn manh mun trong thực trạng pháp luật BHYT.</small>
Như vậy, ở mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đóng góp những phân tích, bình luận có giá trị về các quy định pháp luật BHYT và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam. Trong đó, có đề tài đề cập tới pháp luật BHYT như là một phần của nghiên cứu về pháp luật ASXH, có tài liệu trình bày về pháp
<small>luật BHYT như một nội dung nghiên cứu độc lập; có cơng trình chỉ khai thác một</small>
khía cạnh của pháp luật BHYT. Với các nghiên cứu về pháp luật ASXH nói chung,
Các nghiên cứu tông thể về pháp luật BHYT lại chủ yếu được thực hiện và công bố trước thời điểm có hiệu lực của Luật sửa đơi, bố sung một số điều của Luật BHYT năm 2014, do đó thực trạng quy định pháp luật chưa cập nhật được hệ thống văn bản hiện hành. Một số bài viết đăng tải trên các tạp chí trong thời gian gần đây mặc <small>dù đã cập nhật những nội dung quy định mới, nhưng thường chỉ khai thắc một vài</small> khía cạnh mà chưa nghiên cứu một cách tổng quát về toàn bộ hệ thống pháp luật
<small>BHYT. Các cơng trình khoa học cũng đã trình bày, phân tích những thành cơng,</small>
hạn chế trong thực tiễn thực hiện pháp luật BHYT Việt Nam. Có thể nhận thấy một số phát hiện tương đồng trong kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, đó là những thành công trong việc mở rộng đối tượng bao phủ của BHYT hay một số hạn chế trong việc thực hiện thủ tục KBCB BHYT, giải quyết quyền lợi cho người tham gia và thụ hưởng BHYT, vấn đề an tồn quỹ BHYT... Tuy nhiên, do góc độ và mức độ tiếp cận, các vấn đề đó dường như chưa được luận giải một cách sâu sắc, toàn diện.
Thêm vào đó, một số vấn đề mang tính thời sự hiện nay như “thông tuyến” KBCB BHYT, phương thức thanh toán BHYT theo định suất, phương pháp giám định BHYT đang thí điểm áp dụng, việc ứng dụng cơng nghệ thông tin trong quản lý và
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">tổ chức thực hiện BHYT... mới chỉ được bàn tới một cách khá tản mạn trong một số bài viết đăng tải trên các tạp chí thời gian gần đây.
Có thé nói, qua những cơng trình khoa học đã cơng bố, các nhà nghiên cứu
<small>trong nước đã phác họa lên những nét vẽ cơ bản cho “bức tranh” thực trạng pháp</small>
luật BHYT ở Việt Nam. Tuy nhiên, để “bức tranh” ấy được sắc nét hơn, ý nghĩa hơn, rất cần có thêm những nghiên cứu sâu sắc và tồn diện về hệ thống pháp luật
<small>BHYT Việt Nam hiện hành và thực trạng thực hiện các quy định đó.</small>
1.1.1.3. Nghiên cứu định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế
<small>Việt Nam</small>
Nghiên cứu về sự cân thiết hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế
Theo khảo cứu của nghiên cứu sinh, có một số cơng trình nghiên cứu đề cập
tới sự cần thiết hoàn thiện pháp luật BHYT ở các giai đoạn 1989 1992, 1992 -1997, 1997 - 2002 hay sự cần thiết ban hành Luật BHYT năm 2008, sự cần thiết
ban hành Luật sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014. Cho tới nay, chưa có cơng trình nghiên cứu nào dành một nội dung độc lập dé tập trung trình bày sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành. Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, ở các mức độ khác nhau, mỗi luận án, luận văn, cuốn
sách hay bài viết đăng trên tạp chí... khi phân tích, đánh giá pháp luật về BHYT đều đã chứa đựng những thông tin cho thấy sự cần thiết hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này. Hầu hết các cơng trình nghiên cứu đều đề cập đến sự cần thiết hoàn thiện pháp luật BHYT xuất phát từ nhu cầu khắc phục những khiếm huyết, hạn chế của pháp
luật hiện hành, đảm bảo các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về BHYT.
Nghiên cứu về định hướng hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế
Về định hướng hoàn thiện pháp luật BHYT, luận án tiến sỹ luật học “Cơ sở ly luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật BHYT ở Việt Nam ” của Nguyễn Thị Thanh Hương (2012) dé cập tới bốn nội dung: (i) đảm bảo định hướng phát triển y tế và ASXH của Đảng và Nhà nước, lẫy con người là trung tâm, vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho sự phát triển; (ii) đảm bảo mục tiêu cơng bằng trong chăm sóc sức <small>khỏe nhân dân; (iii) đảm bảo yêu câu bên vững về tài chính, cân đôi thu chi; (iv)</small>
<small>21</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">đảm bảo yêu cầu tăng cường vai trò của nhà nước và cộng đồng xã hội [88]. Luận
<small>văn “Pháp luật BHYT ở Việt Nam hiện nay” của tác gia Phạm Thi Vy Linh lại nêu</small>
các quan điểm định hướng hoàn thiện pháp luật BHYT như phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với việc hoàn thiện cả hệ thong phap luật quốc gia, tiễn tới mục tiêu BHYT toàn dân [97]. Các nội dung này là một phan trụ cột cho những nghiên cứu kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật BHYT Việt Nam của các tác giả luận án, luận văn đó. Tập trung vào điều kiện để phát triển BHYT toàn dân ở Việt Nam, trong cuốn sách “Pháp luật BHYT một số quốc gia
trên thế giới và những kinh nghiệm cho Việt Nam” (2013), TS Nguyễn Hiền
<small>Phương và cộng sự đã xác định những phương hướng quan trọng khi hoàn thiện</small>
pháp luật BHYT, chủ yếu là vấn đề đảm bảo tài chính BHYT, cơng bằng trong BHYT và nâng cao chất lượng quyền lợi BHYT [114]. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với sự đôi thay của điều kiện kinh tế - xã hội, việc nâng cao bảo vệ quyền
con người cũng như xu hướng của pháp luật BHYT trên thế giới, các định hướng
hoàn thiện pháp luật BHYT cũng cần được nghiên cứu bồ sung, phát triển.
Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT Việt Nam là một nội dung được nhiều cơng trình nghiên cứu đề cập tới ở các mức độ khác khau.
Luận án tiến sỹ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật BHYT ở
<small>Việt Nam” của Nguyễn Thị Thanh Hương (2012) dựa trên việc phân tích cơ sở lý</small>
luận và thực tiễn đã đưa ra các quan điểm hoàn thiện pháp luật BHYT. Những giải pháp được tác giả luận án trình bày như: đổi mới quan điểm, nhận thức về BHYT, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng về phát triển BHYT, thực hiện BHYT toàn dân;
hoàn thiện cơng tác lập quy về BHYT; rà sốt, hệ thống hóa, pháp điển hóa hệ
thống pháp luật về BHYT và đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về BHYT [88]. Những giải pháp này đã có những giá trị khoa
học nhất định trong bối cảnh sửa đối, bổ sung Luật BHYT năm 2008 diễn ra trước
năm 2014. Tuy nhiên, đây là những giải pháp khá vĩ mô, hầu như chưa tập trung vào những kiến nghị cụ thé hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành về BHYT.
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Theo những góc độ tiếp cận khác nhau, các Luận văn thạc sỹ Luật học:
<small>“Đánh gia Luật BHYT sau 3 năm thực hiện ” của Nguyễn Khánh Linh (2013) [96],</small>
<small>“Pháp luật BHYT ở Việt Nam hiện nay” của Phạm Thị Vy Linh (2014) [97], “Thực</small> trạng thi hành pháp luật BHYT bắt buộc ở Việt Nam” của Bùi Thị Phương Dung (2015) [52] đã trình bày một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật BHYT. Bên cạnh một số nội dung tương đồng với các cơng trình đã được khảo sát, một số luận văn đưa ra những kiến nghị cụ thé về hoàn thiện pháp luật về đối tượng tham gia, mức <small>hưởng, CSKBCB BHYT.</small>
Một số cuốn sách chuyên khảo cũng trình bày những nghiên cứu kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT. Nghiên cứu về các kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT trong tổng thể pháp luật ASXH được luận giải trong một số công trình nghiên cứu về ASXH, có thể kể đến các cuốn sách “Về ASXH ở Việt Nam giai đoạn <small>2012 - 2020” của các tac giả Mai Ngọc Cường, Mai Ngọc Anh và Phan Thị Kim</small>
<small>Oanh (2013) [51], “Quyên ASXH và đảm bảo thực hiện trong pháp luật Việt Nam”</small>
<small>của PGS.TS Lê Thị Hồi Thu (2014) [139]. Nhìn nhận việc thực hiện BHYT như</small>
một biện pháp bảo đảm quyền ASXH, tác giả Lê Thị Hoài Thu cho rằng, với
BHYT, Nhà nước và các tổ chức hữu quan cần sớm ban hành các văn bản hướng
dẫn thi hành Luật BHYT đã được sửa đôi, bố sung năm 2014; đây mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHYT và chính sách BHYT đối với người dân; nâng cao cơ sở hạ tầng, nhân lực phục vụ hoạt động triển khai thực hiện BHYT. Ở phạm vi hẹp hơn, cuốn sách “Gop phan hồn thiện mơ hình KBCB BHYT tại trạm y tế
xã” của tác giả Lương Ngọc Khuê (2011) lại đóng góp những kiến nghị nâng cao
chất lượng, hiệu quả của dịch vụ KBCB BHYT tại CSYT cơ sở [94].
Khơng ít đề tài khoa học các cấp đã được thực hiện nhằm đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật BHYT Việt Nam. Đề án “Thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020” của Bộ Y tế (2012) đề ra các mục tiêu chung, mục tiêu cụ thé; trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp thực hiện BHYT toàn
dân [31]. Cũng về BHYT toàn dan, nghiên cứu “Khả năng thực hiện BHYT toàn dan” của Vụ BHYT - Bộ Y tế (2011) đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện pháp
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">luật BHYT liên quan tới việc ban hành văn bản pháp quy về BHYT, xác định lại
mức đóng và mức hỗ trợ đóng BHYT, điều chỉnh phạm vi quyền lợi, mức hưởng
BHYT, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước và tô chức thực hiện BHYT. Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những giải pháp cụ thê đối với một số đối tượng tham gia BHYT, các giải pháp thực hiện lộ trình tiễn tới BHYT tồn dân và đề xuất những nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu [33]. Các cơng trình này chủ
yếu đã chú trọng vào các giải pháp tô chức thực hiện BHYT chứ không tập trung
kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật BHYT.
Tập trung kiến nghị sửa đổi nội dung Luật BHYT năm 2008 và hệ thống các
<small>văn bản hướng dẫn thi hành, các đơn vị thành viên của Viện Nghiên cứu Lập pháp</small>
cũng có loạt cơng trình được cơng bố như: “Kinh nghiệm nước ngoài về tổ chức
KBCB cho người tham gia BHYT, kiến nghị góp phan xây dựng Luật BHYT Việt
<small>Nam” của Trung tâm nghiên cứu khoa học (2013) [125], “BHYT toàn dân - Thực</small>
trạng và kiến nghị” của Trung tâm thông tin khoa học (2013) [124]. Những kiến nghị sửa đôi, b6 sung luật chủ yếu hướng tới các điều khoản theo mục tiêu chính là: tăng tỷ lệ người tham gia BHYT, người tham gia BHYT được hưởng nhiều quyền
lợi hơn và chất lượng y tế cũng nâng cao hơn. Sửa đổi, bé sung luật BHYT phải tiến
hành đồng thời với việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Những nghiên cứu này đồng thời đã đưa ra ý kiến bình luận về một số nội dung trong dự thảo Luật sửa đổi, bỗ sung một số điều của Luật BHYT thống nhất theo quan điểm trên.
Một số bài viết đăng tải trên các tạp chí cũng luận bàn về kiến nghị tơng thê hoan thiện pháp luật BHYT nước ta. Bai viết “Thực trạng pháp luật ASXH ở Việt <small>Nam và phương hướng hoàn thiện ” của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu trên Tạp chí Nha</small> nước và pháp luật (2014) đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ASXH
ở nước ta, trong đó bao gồm các kiến nghị đối với pháp luật BHYT. Theo tác giả,
pháp luật BHYT cần được sửa đổi, bổ sung các nội dung về nhóm đối tượng tham
gia, chế độ hưởng BHYT, cơ sở KBCB BHYT, sử dụng quỹ BHYT [140]. Tập trung vào các giải pháp thực hiện BHYT sau khi có Luật sửa đổi, bỗổ sung một số
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">điều của Luật BHYT, trong bài “Thực hiện các giải pháp đông bộ đẩy nhanh tiến
độ phát triển BHYT tiến tới BHYT tồn dân” trên tạp chí BHXH, TS Nguyễn Thị
Minh cho rằng trong việc tô chức trién khai BHYT, BHXH Việt Nam cần thực hiện, phối hợp thực hiện tốt các giải pháp đồng bộ, tổng thê và quyết liệt, trong đó có giải pháp xây dựng, hồn thiện và ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể những vấn đề còn chưa rõ ràng trong quy định pháp luật. Các giải pháp được đưa ra chủ yêu mang tính chất vĩ mô, không đi sâu vào những kiến nghị cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật BHYT [102]. Bài viết “Kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT” của tác giả Phùng Thị Câm Châu dăng tải trên Tạp chí BHXH lại gợi mở hướng đề xuất hoàn thiện pháp luật BHYT hiện hành theo bốn nhóm nội dung với các mục tiêu lớn của BHYT về bao phủ đối tượng, nâng cao quyền lợi, an toàn quỹ và tăng cường hiệu
quả quan lý và tổ chức thực hiện BHYT [39]. Bên cạnh đó, trên các tạp chí, nhiều
tác giả đã có những bài viết nhằm đưa ra giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
<small>BHYT, tập trung vào từng khía cạnh như BHYT cho học sinh, sinh viên [79, 91,108], BHYT hộ gia đình [35, 95], cơng tác khám chữa bệnh BHYT [71, 82, 113]...</small>
<small>Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu pháp luật BHYT của các tác gia trong</small>
nước đã đưa ra được một số kiến nghị chung cho hồn thiện pháp luật BHYT. Một
số cơng trình cũng đã có những kiến nghị cụ thể hồn thiện những nội dung nhỏ trong hệ thống pháp luật BHYT. Mặc dù vậy, dường như vẫn cịn thiếu vắng một
cơng trình nghiên cứu quy mô dé cập tới những kiến nghị cụ thé cho việc hoàn thiện pháp luật BHYT hiện hành trên nhiều khía cạnh.
<small>1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngồi nước</small>
1.1.2.1. Nghiên cứu lý luận về bảo hiểm y tế và pháp luật bảo hiểm y té
Trên thế giới, tài liệu “Thinking of introducing social health insurance? Ten questions” (Nghĩ về việc giới thiệu BHYT xã hội? Mười câu hỏi) của Ole Doetinchem, Guy Carrin và David Evans (2010) có thể xem như một cuốn câm nang về BHYT. Các tác giả đã trình bày một cách cơ đọng, có hệ thống về những van đề lý luận chung của BHYT như khái niệm BHYT, cơ chế thực hiện BHYT, những đối tượng được hỗ trợ bởi BHYT, khuôn khổ pháp lý cho BHYT, nguồn lực
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">thiết lập tổ chức BHYT, những lợi ích mà người tham gia BHYT được hưởng, cách
thức cung cấp dịch vụ BHYT, vấn đề cân bằng quỹ BHYT... [182]. Tác phẩm
“Social Security, Medicare and Government Pension” (ASXH, chăm sóc y tế va trợ cấp của Chính Phủ) của tác giả Joseph Matthews Attorney (2014) dành một phan dung lượng đáng ké tập trung bàn về lợi ích của hệ thơng chăm sóc y tế và luận giải về cách thức đảm bảo tối ưu hiệu quả của BHYT [178]. Tập trung vào BHYT bắt buộc - hình thức BHYT cốt lõi trong hệ thống BHYT của hầu hết các quốc gia,
cuốn sách “Governing mandatory health insurance: Learning from experience” (Quản ly BHYT bat buộc: Bai hoc từ kinh nghiệm) của William D. Savedoff va Pablo Gottret (2008) lại giới thiệu tổng quan về BHYT bắt buộc và vấn đề quản lý loại hình BHYT này, các quan niệm và thước do để đánh giá việc thực hiện BHYT
bắt buộc [186]. Những tài liệu kể trên đã cung cấp hiểu biết cơ bản nhất về BHYT
nói chung, BHYT bắt buộc nói riêng theo quan niệm quốc tế, từ đó giúp người tiếp cận có sự đối chiếu với thực tế tại Việt Nam khi nhìn nhận, đánh giá hệ thống
<small>BHYT Việt Nam.</small>
Trong những năm gần đây, cùng với làn sóng cải cách BHYT mạnh mẽ trên toàn thé giới, những van dé lý luận về BHYT cũng được tiếp cận một cách mới mẻ hơn. Một số nhà nghiên cứu quốc tế đã có những phát hiện quan trọng về lý luận BHYT từ việc tìm hiểu thực tiễn BHYT tại các quốc gia. Cuốn sách “Social health insurance for developing nations” (BHYT xã hội cho các quốc gia đang phát triển) của William C. Hsiao và R. Paul Shaw (2007) luận giải về những nguyên tắc, kế hoạch và thực tế BHYT ở các nước đang phát trién như Kenya, Philippin..., những điều kiện cần thiết cho sự tổn tai va phát triển của BHYT, nghiên cứu các kế hoạch và việc thực hiện BHYT, đưa ra các trở ngại mà các quốc gia phải đối mặt và cách khắc phục [185]. Tác phẩm “Social heatlth insurance: Key factors affecting the transition towards universal coverage” (BHYT: Những yếu tô cơ bản ảnh hưởng đến q trình chun đổi hướng tới BHYT tồn dân) của các tác giả Guy Carrin va Chris James (2005) lại giới thiệu kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên chặng đường
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">tiến tới BHYT toàn dân như Đức, Uc, Bi, Luxembourg, Israel, Costa Rica, Nhật <small>Bản... Từ đó, các nhà nghiên cứu đưa ra những nhận định chung là:</small>
Trong tất cả các quốc gia được nghiên cứu, tiễn tới BHYT toàn dân là một quá trình dan dan, với việc mở rộng hệ thống trong giai đoạn chuyển
tiếp. Tuy nhiên, sự sắp xếp, to chức dé đạt được tới sự mở rộng đó có khác biệt. Họ bắt dau từ việc mở rộng thành viên của nhiều quỹ hỗ trợ
óm dau, từ cơ chế bảo hiểm tự nguyện, đến một chương trình BHYT được chỉ đạo chung bởi Chính phi. Tốc độ chuyển đổi rất khác nhau giữa các
<small>nước [174].</small>
Đây là điều đáng lưu tâm cho rất nhiều quốc gia đang trên lộ trình tiến tới
<small>mục tiêu BHYT tồn dân, trong đó có Việt Nam.</small>
Nền tảng lý luận quan trọng của pháp luật BHYT được phản ánh trong tác
phẩm: “Social Health Insurance” (BHYT xã hội) của Tổ chức Lao động quốc tế
ILO (1999). Tập thé tác giả đã đề cập tới các van đề mà mỗi quốc gia cần quan tam
<small>khi xây dựng pháp luật BHYT như vai trị của chính sách BHYT trong chăm sóc</small>
sức khỏe, tính khả thi của chính sách, van đề kế hoạch hành động, đối tượng bao
phủ, chế độ hưởng, bên cung cấp dịch vụ y tế, tài chính BHYT, đơn vị tổ chức thực
hiện BHYT, hệ thống thông tin BHYT... [176]. Có thể xem đây là khung pháp lý
<small>chung cho pháp luật BHYT các nước.</small>
Với cùng chủ đề, cuốn sách “Social Health Insurance” (BHYT xã hội) của Charles Normand và Axel Weber (2004) cũng là một tài liệu giá trị có bàn về nội dung điều chỉnh của pháp luật BHYT. Theo các tác giả, Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị mỗi quốc gia khi xây dựng
pháp luật BHYT cần thiết kế những quy định về đối tượng tham gia BHYT, gói quyền lợi BHYT, phương thức cung cấp dịch vụ BHYT va chi trả BHYT, quản lý và tổ chức thực hiện BHYT [173].
Ngồi ra, có khá nhiều nghiên cứu về pháp luật BHYT các nước của một số tổ chức quốc tế, học giả tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới như: “Social <small>Health Insurance Selected case studies from Asia and Pacific” (BHYT xã hội </small>
<small>-27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">nghiên cứu trường hợp từ châu Á và Thái Bình Dương) của Tổ chức Y tế thế giới <small>(WHO) (2005) [187], “The impact of Rural Mutual Health Care on health care use,financial risk protection and health status in rural China” (Tác động của việc chăm</small>
<small>sóc sức khỏe ở nông thôn qua việc sử dung dich vu chăm sóc sức khỏe, bao vệ rủi</small>
ro tài chính và tình trạng sức khỏe ở nơng thơn Trung Quốc) của Maria Luisa
<small>Escobar, Charles C. Griffin va R. Paul Shaw (2010) [179], “Universal HealthCoverage for Inclusive and Sustainable Development - Lessons from Japan’,</small>
(BHYT toàn dân cho phát triển toàn diện và bền vững - Những bai học từ Nhat <small>Bản) cua Naoki Ikegami (2013) [180], “National Health Insurance System of</small> Korea” (Hệ thông BHYT quốc gia của Han Quốc) của Dịch vụ BHYT Quốc Gia Hàn Quốc (2014) [181]... Kinh nghiệm xây dựng pháp luật BHYT tai các quốc gia
đã được chia sẻ trong những cơng trình trên, đặc biệt là kinh nghiệm của các quốc
gia có hệ thống pháp luật BHYT tiến bộ sẽ có giá trị tham khảo hữu ích cho nhiều quốc gia khác trong q trình hoàn thiện pháp luật BHYT.
1.1.2.2. Nghiên cứu thực trạng pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam
Các học giả nước ngồi, các tổ chức phi chính phủ cũng có những đóng góp vào tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật BHYT Việt Nam. Trong luận án tiến <small>sy “Essays in economics of Public Health Insurance in developing countries:</small> Evidence from ThaiLand and Vietnam” (Bài luận về những van đề kinh tế của BHYT công ở các nước đang phát triển: Bằng chứng từ Thái Lan và Việt Nam)
(2011), Phatta Kirdruang đã trình bày những nghiên cứu của mình về thực trạng sử dụng BHYT ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, vai trị của BHYT cơng
<small>trong việc bảo vệ người nghèo và xóa đói giảm nghèo, các chính sách và chương</small>
trình nhằm phát huy vai trị của BHYT công [183]. Cuốn sách “Health financing and delivery in Vietnam: Looking forward” (Tài chính y tế và sự phân bỗ tại Việt Nam: nhìn về phía trước) của các tác giả Samuel S. Liberman và Adam Wagstaff
(2009) lại tập trung đánh giá hệ thống y tế ở Việt Nam từ khi đổi mới, về vai trị, lợi
ích và định hướng của BHYT đối với các dịch vụ y tế và những cải cách về chính sách và dịch vụ y tế ở Việt Nam [184].
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">Trước nhu cầu đánh giá tổng thê thực tiễn thi hành pháp luật BHYT nhằm xây dựng Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật BHYT (năm 2014), cuốn sách
<small>“Moving toward universal coverage of social health insurance in Vietnam:</small>
assessment and options” (Tiến tới bao phủ BHYT toàn dân ở Việt Nam - đánh giá và giải pháp) của tập thể tác giả Aparnaa Somanathan, Ajay Tandon, Đào Lan Hương, Kari L. Hurt và Hernan L. Fuenzalida - Puelma (2014) do Ngân hàng Thế giới (WB) xuất bản là một cơng trình cơng phu được thực hiện theo đề nghị của Chỉnh phủ Việt Nam. Với phần đánh giá việc thực hiện BHYT của Việt Nam, nghiên cứu này đã phân tích hiện trạng tiễn trình thực hiện hai mục tiêu chính của Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT tồn dân. Cơng trình cũng đánh giá khả năng
sẵn sảng của Việt Nam dé dat được các mục tiêu dé ra, các thách thức sẽ phải đối
mặt trong lộ trình đạt được bao phủ tồn dân cũng như các cải cách thiết yếu để <small>vượt qua các thách thức này. Việc đánh giá được thực hiện trên góc nhìn tài chính y</small> tế, tập trung vào cách thức huy động các nguồn tài chính, tập hợp và phân bổ các nguồn tài chính và cách thức mua dịch vụ y tế. Báo cáo cũng đánh giá hoạt động
quản lý tài chính gồm cơng tác tổ chức quản lý và điều hành BHYT bởi nó tác động
trực tiếp tới mục tiêu bao phủ tồn dân. Theo nhóm nghiên cứu, một trong những
tồn tại của BHYT Việt Nam khiến cho sự bảo vệ tài chính BHYT chưa vững chắc, chưa đảm bảo sự cơng bằng là mức chi phí tiền túi khi sử dung dịch vụ y tế còn khá cao. Điều đó xuất phát từ sự kết hợp của nhiều nguyên nhân như nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế tăng cao, chi phí y tế leo thang, khó khăn từ các CSYT khiến họ phải thu thêm phí dé bù đắp phan thiếu hụt trong chỉ trả của BHYT, CSYT tự tăng giá va
tăng cung cấp dịch vụ không cần thiết... [172].
Trong tác phẩm “Vietnam: Learning from smart reforms on the road to universal health coverage” (Việt Nam: Bai hoc từ những cai cách tiến bộ trên con đường tiến tới BHYT toàn dân) của các tác giả Helene Barroy, Eva Jarawan và Sarah Bales (2014) lại có những nhận định về BHYT Việt Nam trên các khía cạnh: q trình phát triển BHYT ở Việt Nam, tăng cường trợ cấp tài chính và các thách <small>thức cho Việt Nam trên lộ trình BHYT tồn dân. Theo các tác giả, kinh nghiệm</small>
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">được rút ra từ thực tiễn thi hành BHYT Việt Nam là: Để mở rộng phạm vi của
BHYT tới toàn dân, các quy định phải liên tục được điều chỉnh sao cho phù hợp với
thực tế và có thê áp dụng rộng rãi với những người nghèo, người làm việc trong khu
<small>vực phi chính thức [175].</small>
Có thé xem những thơng tin tại các cơng trình nghiên cứu trên là những ghi nhận hết sức khách quan của các học giả nước ngồi về thực trạng BHYT Việt
<small>Nam. Cùng với các cơng trình của các tác giả trong và ngồi nước khác, những</small>
nghiên cứu này góp thêm một số cách nhìn đa diện về quy định pháp luật BHYT
<small>Việt Nam trong thực tiễn thực hiện.</small>
1.1.2.3. Nghiên cứu định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế
<small>Việt Nam</small>
Bên cạnh nhiều cơng trình nghiên cứu trong nước, các học giả nước ngồi
cũng đóng góp những kiến nghị quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật BHYT Việt
Nam trong một số nghiên cứu của họ. Cơng trình “Vietnam: Learning from smart
<small>reforms on the road to universal health coverage” (Việt Nam: Bài học từ những cai</small>
cách tiễn bộ trên con đường tiến tới BHYT toàn dân) của các tác giả Helene Barroy, <small>Eva Jarawan và Sarah Bales (2014) sau khi đánh giá thực trạng BHYT Việt Nam,phát hiện được những thách thức trong tương lai của BHYT Việt Nam đã đưa ra</small> những khuyến nghị quan trọng, tập trung vào hai nhóm vấn đề, đó là: xem mở rộng và tăng cường cung cấp dịch vụ y tế là vấn đề cốt lõi của chính sách BHYT Việt Nam; đặc biệt lưu tâm cải cách vấn đề thanh tốn, nhằm góp phần tăng cường chất
lượng dịch vụ KBCB, sử dụng quỹ BHYT hiệu quả [175]. Cuốn sách “Moving
<small>toward universal coverage of social health insurance in Vietnam: Assessment and</small>
options” (Tiến tới bao phủ BHYT toàn dân ở Việt Nam - đánh giá va giải pháp) (2014), tập thể tác giả Aparnaa Somanathan, Ajay Tandon, Đào Lan Hương,
cũng như các đề xuất cải cách cụ thể và giải pháp cần thiết để thực hiện được các
khuyến nghị tập trung vào các mục tiêu chính liên quan tới bao phủ tồn dân như:
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">mở rộng bao phủ BHYT theo chiều rộng; tăng cường cơng băng, bảo vệ tài chính; tạo cơ chế tài chính bền vững cho bao phủ tồn dân; tăng cường công tác tô chức,
quản lý và quản trị BHYT. Các cải cách và giải pháp được đưa ra theo ba nhóm vấn đề: các giải pháp về luật và quy định dưới luật; các giải pháp tăng cường hệ thống y
pháp về quy định pháp luật đã phần nào được Việt Nam tiếp thu khi xây dựng Luật
sửa đôi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014.
1.2. Kế thừa và phát triển trong khuôn khổ đề tài luận án 1.2.1. Những kết quả nghiên cứu luận án được kế thừa
Tình hình nghiên cứu tơng quan được luận giải ở trên cho thấy các nghiên
cứu trong và ngoài nước đã xây dựng được nền móng lý luận cơ bản cho BHYT và
pháp luật BHYT trên thế giới nói chung, tại Việt Nam nói riêng. Các cơng trình đã dé lại cho tác giả luận án này và những nhà nghiên cứu khác những thành tựu quan trọng có thể kế thừa như:
Thứ nhất, các cơng trình đã cung cấp một số kiến thức lý luận chung về BHYT và pháp luật BHYT. Từ các kết quả nghiên cứu, có thé thấy khái niệm BHYT đã được xem xét từ các khía cạnh kinh tế, xã hội và pháp lý. Đặc điểm của BHYT với những nội dung về đối tượng tham gia, chủ thé quan ly và tổ chức thực
<small>hiện, mục đích thực hiện đã được luận giải ở mức độ khái quát. Khái niệm pháp luật</small>
BHYT đã được xây dựng. Nội dung điều chỉnh của pháp luật BHYT được trình bày một cách cơ bản. Những kết quả này sẽ được tác giả luận án nghiên cứu với tính kế thừa nhằm đưa ra khái niệm BHYT và pháp luật BHYT day đủ, hiện đại hơn, luận giải đặc điểm, vai trò của BHYT và nguyên tắc, nội dung điều chỉnh của pháp luật BHYT toàn diện, sâu sắc hơn, đặt trong mối tương quan với những nội dung khác
của hệ thông ASXH và pháp luật ASXH.
<small>Thứ hai, mỗi cơng trình nghiên cứu đã đóng góp những nét vẽ đậm - nhạt,</small>
những mảng vẽ lớn - nhỏ với những màu sắc khác nhau vào bức tranh tổng quan thực trạng pháp luật BHYT trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Những kết quả
<small>nghiên cứu găn với giai đoạn trước thời điêm Luật sửa đôi, bô sung một sô điêu của</small>
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40"><small>Luật BHYT năm 2014 có hiệu lực thi hành có ý nghĩa gợi mở hướng nghiên cứu</small>
cho những nghiên cứu tiếp theo về thực trạng pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành.
Nghiên cứu pháp luật BHYT hiện nay, hầu hết các học giả đã có những đánh giá quy định pháp luật gắn với thực tiễn thực hiện chủ yếu theo cách tiếp cận sâu vào
<small>từng nội dung nhỏ, từng khía cạnh của pháp luật BHYT như BHYT tồn dân,</small>
BHYT theo nhóm đối tượng (người nghẻo, người cận nghèo, học sinh sinh viên, hộ gia đình...) hoặc việc triển khai pháp luật BHYT tại các địa phương, phương thức <small>thanh tốn chi phí KBCB BHYT, giám định BHYT... Day là những tài liệu mà tác</small> giả có thé tiếp thu, sử dụng làm cơ sở dit liệu cho những luận điểm trong một nghiên cứu vừa mang tính chuyên sâu, vừa mang tính tổng quát về pháp luật BHYT.
Thứ ba, một số công trình có những kiến nghị hồn thiện pháp luật BHYT. Các đề xuất tập trung vào việc sửa đôi, bé sung các quy định pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật đó trong các giai đoạn cụ thể Song hầu hết là trước năm 2015 (Trước khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 có hiệu lực). Những kiến nghị có giá trị về mở động đối tượng tham gia BHYT, về hồn thiện chế độ hưởng BHYT, về tài chính của BHYT... nhìn chung đã gợi mở ra
hướng nghiên cứu tiến bộ, bắt đầu tiếp cận với xu hướng mới của pháp luật BHYT
tại nhiều quốc gia trên thế giới. Những giá trị nghiên cứu này sẽ được tác giả tiếp tục nghiên cứu phát triển để đi đến việc đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT khả thi hơn trong bối cảnh hiện nay và dam bao tinh dự báo trong tương lai.
1.2.2. Những van đề luận án can tiếp tục nghiên cứu
Dựa trên kết quả nghiên cứu về tình hình nghiên cứu và những nội dung được kế thừa từ các cơng trình nghiên cứu trước đây, với phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả nhận thấy một số nội dung cần tiếp tục làm sâu sắc hơn, có tính hệ thống và tồn diện, phù hợp với mục đích nghiên cứu ma dé tài đã đặt ra. Cụ thé, luận án cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
(1) Hệ thống hoá và làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về BHYT, tiếp cận
với các quan điểm tiến bộ trên thế giới về BHYT. Đưa ra định nghĩa có tính bao
<small>32</small>
</div>