Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

Luận văn thạc sĩ luật học: Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (47.48 MB, 85 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYEN THUY LINH

CONG NHAN SỰ THOA THUAN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SU VIET NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã so: 60.38.01.03

Người hướng dẫn khoa hoc: TS. Nguyễn Thị Thu Ha

HÀ NỘI - 2015

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

Trong suốt q trình nghiên cứu và hồn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ từ các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn. Với lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Bộ môn Luật dân sự và Tố tụng dân sự

<small>trường Dai học Luật Hà Nội và các bạn học viên khóa Cao học 21 đã tạo mọi</small>

điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tơi trong q trình học tập và hồn thành luận văn.

Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Thu Hà

-người đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt q trình hồn thành luận văn này.

Cảm ơn các thầy, cô giáo đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức nền tảng quý

<small>báu trong quá trình đào tạo tại trường Đại học Luật Hà Nội.</small>

<small>Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi</small>

trong suốt thời gian qua.

<small>Tac gia luận van</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<small>Tôi xin cam đoan đáy là cơng trình nghiên cứu cua ca nhân</small>

tơi được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình

hình thực tiên dưới sự hướng dan khoa học của TS. Nguyễn Thị Thu

Hà Các thông tin, số liệu, các luận điểm kế thừa được trích dan rõ

<small>ràng. Kêt quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực.</small>

<small>Tac giả luận van</small>

Nguyễn Thùy Linh

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>BLDS : Bộ luật Dân sự</small>

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

<small>CNSTT : Công nhận sự thỏa thuận</small>

HĐXX : Hội đồng xét xử

HĐTPTANDTC : Hội đồng Tham phán Toà án nhân dân tối cao LTCTAND : Luật Tổ chức Toà án nhân dân

LTCVKSND : Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

NQ số 03/2012/ : Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thâm phán NQ-HDTP Toà án nhân dân tối cao ngày 03/12/2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bố sung theo Luật Sửa đôi, bố sung một số điều của BLTTDS.

NQ số : Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thâm phán 05/2012/NQ- Toà án nhân dân tối cao ngày 03/12/2012 Hướng dẫn thi hành HDTP một số quy định trong Phan thứ hai “Thủ tục giải quyết vu án tạiTòa án cấp sơ thâm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đôi, bé sung một số điều của BLTTDS. NQ số : Nghị quyết số 06/2012/NQ-HDTP của Hội đồng Tham phan 06/2012/NQ- Toà án nhân dân tối cao ngày 03/12/2012 Hướng dan thi hành HDTP một số quy định trong Phan thứ ba “Thủ tục giải quyết vu án taiToa án cấp phúc thâm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bố sung theo Luật Sửa đôi, bé sung một số điều của BLTTDS. PLTTGQCVADS_ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT _ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCTCLĐ_ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

<small>TAND : Toa án nhân dân</small>

TANDTC : Toà án nhân dân tối cao TTDS : Tố tụng dân sự

<small>VVDS : Vụ việc dân sựVADS : Vụ án dân sựVDS : Việc dân sự</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

PHAN MỞ DAU

CHUONG 1: MOT SO VAN DE Li LUAN CO BAN VE CONG NHAN SU THOA THUAN CUA CAC DUONG SỰ

1.1. KHAI NIEM, DAC DIEM VA Y NGHIA CUA VIEC CONG NHAN SỰ THOA THUAN CUA CAC DUONG SỰ

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm công nhận sự thỏa thuận của đương

1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CUA CÁC DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

1.2.1. Xuất phat từ bản chat của quan hệ pháp luật dan sự

<small>1.2.2. Phù hợp với các quy định của pháp luật nội dung</small>

1.2.3. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động tố tụng dân sự

1.3. CAC YEU TÔ ANH HUONG DEN VIỆC CÔNG NHAN SỰ THỎA THUAN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

1.3.1. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự

<small>thỏa thuận của các đương sự</small>

1.3.2. Sự hiểu biết pháp luật tô tụng dân sự của đương sự về công

<small>nhận sự thỏa thuận của đương sự</small>

1.3.3. Trình độ, năng lực chun mơn của thâm phán

1.4. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VA PHAT TRIEN CUA PHÁP LUAT TO TUNG DAN SỰ VE CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUAN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 1.4.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 1.4.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

CHUONG 2: NOI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT TO

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

THUAN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

2.1. QUY ĐỊNH VE CONG NHAN SỰ THỎA THUAN CUA CAC DUONG SỰ TRONG VỤ ÁN DAN SỰ

2.1.1. Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự

2.1.2. Quy định về phạm vi các vụ án mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.1.3. Quy định về thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự

2.2. QUY ĐỊNH VE CÔNG NHẬN SỰ THOA THUAN CUA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP CÁC ĐƯƠNG SỰ TỰ THỎA THUẬN TRƯỚC KHI KHỞI KIỆN VÀ U CÂU TỊA ÁN CƠNG NHẬN

2.2.1. Quy định phạm vi các u cầu mà Tịa án cơng nhận sự thỏa

<small>thuận của các đương sự</small>

2.2.2. Quy định về thủ tục, thâm quyền, hình thức và hiệu lực của

<small>việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự</small>

CHƯƠNG 3: THỰC TIEN ÁP DỤNG VÀ KIÊN NGHỊ HOÀN THIEN VÀ BAO DAM THỰC HIỆN PHAP LUẬT TO TUNG DAN SU VE CONG NHAN SU THOA THUAN CUA CAC DUONG SU

3.1. THỰC TIEN ÁP DUNG PHAP LUAT TO TUNG DAN SỰ VIET NAM VE CÔNG NHAN SU THOA THUAN CUA DUONG SỰ

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

3.2. MỘT SỐ KIÊN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ BẢO DAM THUC HIỆN PHÁP LUAT TO TUNG DÂN SỰ VE CONG NHAN SU THOA THUAN CUA CAC DUONG SU

3.2.1. Hoan thiện pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự thỏa

<small>thuận của đương sự</small>

3.2.2. Nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật trong thực tiễn

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

PHAN MỞ DAU

1. TINH CAP THIET CUA DE TÀI

Cùng với su phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời hội nhập nền kinh tế thế giới thì các mối quan hệ dân sự cũng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Điều này một mặt thúc đây giao lưu dân sự song mặt khác cũng dẫn đến sự phát sinh của nhiều tranh chấp trong quan hệ dân sự. Báo cáo tông kết công tác của tòa án nhân dân (TAND) mười năm trở lại đây cho thấy, các tranh chấp dân sự ngày càng có xu hướng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung tranh chấp.

Trong hoạt động tố tụng dân sự (TTDS), sự thỏa thuận của các đương sự là đặc trưng cơ bản khi các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Sự thỏa thuận này khơng chỉ có ý nghĩa trong việc giải quyết tranh chấp giữa các đương sự, khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà cịn có ý nghĩa trong việc góp phần xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân.

Với tư cách là một chủ thể đặc biệt có chức năng quản lý xã hội, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật đảm bảo cho các cá nhân, tô chức bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong đó, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 là một trong những văn bản quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với việc đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của các đương sự. BLTTDS là công cu pháp lý quan trọng để các cá nhân, tô chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự cũng như đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự (VVDS) được đúng đắn khi các chủ thể xảy ra tranh chấp.

Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng trong thực tiễn, BLTTDS đã cho thấy còn nhiều vấn đề hạn chế, bất cập. Một trong những vấn đề đó là các quy định của pháp luật về việc công nhận sự thỏa thuận (CNSTT) của đương sự trong pháp luật TTDS và thực trạng của các quy định này trong đời sống xã hội. Bởi vậy, việc tiếp tục nghiên

cứu làm rõ các quy định của pháp luật và thực tiễn của việc CNSTT của đương sự

cũng như các giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này là một vấn đề cần thiết.

Vì vậy, tơi chọn đề tài “Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong to tung dan sự Việt Nam” dé làm luận văn thạc sĩ luật học của mình với mong muốn góp phan làm sáng tỏ những van dé lý luận và thực tiễn về CNSTT của đương sự trong pháp luật

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

TTDS Việt Nam, trên cơ sở đó, góp phần hồn thiện các quy định trong hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam nói chung và các quy định về CNSTT của đương sự nói riêng.

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong thời gian qua đã có một số cơng trình nghiên cứu pháp lý liên quan đến vấn đề CNSTT của đương sự trong TTDS như: Luận án tiến sĩ luật học với đề tài “Chế định hòa giải trong pháp luật Tổ tung dân sự Việt Nam — Cơ sở lý luận và thực tién” của Trần Văn Quảng năm 2004; Khóa luận tốt nghiệp với đề tai “Hoa giải trong tổ tụng dân sự - Một số vấn dé lý luận và thực tiên” của La Phương Na năm 2011; Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Nguyên tắc quyên tự định đoạt của đương sự trong TỐ tụng dân sự Việt Nam” của Nguyễn Văn Tuyết năm 2011; Khóa luận tốt nghiệp đề tài “Hỏa giải vụ án dân sự” của Bùi Ngoc Thủy năm 2012; Khóa luận tốt nghiệp đề tài “Vấn đề công nhận sự thỏa thuận cua đương sự trong Te 6 tụng dan sự ”

<small>của Ngô Thị Hà năm 2015...</small>

Ngồi ra, cịn có các bài viết đăng trên các tạp chí như: “Cần có hướng dan áp dung quy định về thời hạn ra quy định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự” của tác giả Nguyễn Thanh Trúc đăng trên Tạp chí kiểm sát số 3/2005; “Vé hiệu lực

của quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự theo quy định tại Điêu 220 Bộ

luật tố tung dân sự” của tác giả Đỗ Đức Anh Dũng đăng trên Tạp chí TAND số 16/2006; “Về sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự” của TS. Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí Luật học số 8/2007; “Wớng mắc trong việc thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự” của tác giả Phạm Cao Khải đăng trên Tạp chí TAND số 8/2010; “Thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như thé nao” của tác giả Lê Viết Tâm đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề 4/2012...

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một cơng trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về CNSTT của đương sự trong pháp luật TTDS Việt Nam và việc thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề này trong thực tiễn xét xử của Tịa án các cấp.

3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀI

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật TTDS về CNSTT của các đương sự, đánh giá thực

<small>trạng pháp luật hiện hành về vân đê này, trên cơ sở đó đê xuât một sơ kiên nghị</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

nhằm hồn thiện và bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật TTDS về CNSTT

<small>của đương sự.</small>

Với mục đích đó, nhiệm vụ chủ yếu của luận văn là:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về CNSTT của đương sự như: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở của việc quy định CNSTT của đương sự trong TTDS, các yếu tố ảnh hưởng đến việc CNSTT của đương sự trong pháp luật TTDS và lược sử hình thành và phát triển của pháp luật TTDS về CNSTT của đương sự.

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về CNSTT

của đương sự và thực trạng áp dụng các quy định đó trong thực tế.

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật

TTDS về CNSTT của đương sự.

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀI

Vấn đề CNSTT của đương sự trong TTDS bao gồm việc Tòa án CNSTT của đương sự trong quá trình giải quyết các VVDS và CNSTT của đương sự trong quá

<small>trình THADS. Tuy nhiên, trong luận văn này, tac gia chỉ nghiên cứu CNSTT của</small>

đương sự trong q trình giải quyết VVDS tại Tịa án, gồm việc dân sự và vụ án

dân sự. Vấn đề CNSTT của đương ở giai đoạn THADS tác giả xin được tiếp tục

nghiên cứu trong các cơng trình khoa học tiếp theo.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

<small>Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác — Lénin</small>

về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.

Bên cạnh đó, luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp

và sử dụng các kết quả thống kê của ngành Tòa án để làm sáng tỏ vấn đề nghiên

<small>cứu của luận văn.</small>

6. CƠ CAU CUA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về CNSTT của đương sự trong TTDS.

<small>Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm thực hiện

quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về CNSTT của đương sự.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CÔNG NHAN SỰ THOA THUẬN CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SU

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC DIEM VA Ý NGHĨA CUA CONG NHAN SỰ THỎA THUAN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

1.1.1. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân

1.1.1.I. Khái niệm thỏa thuận của đương sự trong to tụng dân sự

Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự là vẫn đề nhân quyền đã và đang được đặt ra với mỗi quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thé nếu chỉ được cơng nhận bởi pháp luật mà khơng có cơ chế bảo vệ chúng

<small>trong trường hợp bị xâm phạm thì việc ghi nhận đó chỉ là vơ nghĩa. Đúng như ông</small>

Nguyễn Huy Dau đã nói: “Một quyền lợi được luật pháp công nhận nhiễu khi không du dam bảo cho người có chủ quyền hưởng dụng: quyên lợi có thé bị phủ nhận, bị xâm phạm” [9, tr.3]. Do đó, cần phải có cơ chế thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp khi quyền này bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Theo đó, dé bảo vệ quyên, lợi ích

hợp pháp của minh, con người có qun thực hiện các biện pháp khác nhau dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như tự giải quyết, yêu cầu Tịa án hoặc các cơ quan nhà nước có thâm quyền khác bảo vệ. Trong các biện pháp này thì việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng con đường thỏa thuận thường được các chủ thể lựa chọn áp dụng vi tinh dé sử dụng, chi phí thấp, giải quyết tranh chấp trong thời gian ngắn, các bên được tiếp cận công lý một cách nhanh nhất và họ được quyền tự quyết định việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp của mình mà khơng cần phải nhờ đến Tòa án giải quyết băng việc mở phiên tòa.

Hiện nay, ở các nước trên thế giới hầu hết đều thừa nhận thỏa thuận là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn. Việc thỏa thuận này có thé

<small>được thực hiện thơng qua việc tự thỏa thuận giữa các đương sự, hòa giải do người thứ</small>

ba tiễn hành hoặc hòa giải do Tòa án tiến hành. Chang hạn như ở Mỹ, trước khi các đương sự khởi kiện đến Tịa án thì các bên gặp nhau dé trao đổi, thỏa thuận trước khi nộp bat cứ, tài liệu gì cho Tịa án. Sau khi các bên gặp nhau mà vẫn không thỏa thuận

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

được thì họ vẫn có thể nhờ sự giúp đỡ của người thứ ba khơng phải là nhân viên của Tịa án (bạn bè, người thân, luật sư...). Nếu các bên đạt được thỏa thuận thì các bên sẽ

<small>tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó. Ngồi ra, ở Mỹ việc thỏa thuận của các đương sự</small>

cịn thơng qua một con đường hịa giải chính thức được tiến hành bởi các trọng tài viên

<small>hoặc hịa giải viên (khơng phải là nhân viên của Tịa án). Việc thỏa thuận thơng qua</small>

hịa giải chính thức có thể là bắt buộc hoặc khơng bắt buộc. Đối với việc hịa giải thơng qua các trọng tài viên thì các bên có thể chọn cho mình 1 trọng tài viên và các

<small>trọng tài viên này chọn trọng tài viên thứ ba. Các trọng tài viên này sẽ nghe các đương</small>

sự trình bày và ra phán quyết về vụ kiện. Cịn việc hịa giải thơng qua các hịa giải viên thì các hịa giải viên gặp cả 2 bên đương sự dé xác định tư cách pháp lý của họ trong vụ kiện hoặc hòa giải viên sẽ gặp 1 bên đương sự trước đề tìm hiểu chính xác yêu cầu cụ thé của bên đương sự đó là gì. Sau đó, hịa giải viên tiến hành tương tự đối với bên đương sự còn lại. Hòa giải viên là cầu nối, trung gian giữa 2 bên để giải quyết vụ kiện. Chỉ có hịa giải viên mới biết được thực chất mỗi bên đương sự yêu cầu cụ thể như thế nào. Trên cơ sở đó họ sẽ thuyết phục các bên đương sự chấp nhận phương án mà họ đưa ra dé tiến tới một giải pháp chung cho vụ kiện mà cả hai bên đương sự đều đồng ý [34. tr.13,14,15, 23]. Sở đĩ ở Mỹ hay các nước theo truyền thống pháp luật án lệ, các thâm phán khơng tiến hành hịa giải mà Tịa án chun vụ việc cho hịa giải viên ngồi Tịa án tiễn hành. Bởi vi, mơ hình nay (i) tiết kiệm được thời gian mà lẽ ra thẩm phán hoặc cán bộ tòa án phải dành ra dé hòa giải vụ việc. Hệ thong nay co thé van hanh kha

độc lập. Vi thế, mơ hình này tối ưu hóa các nguồn lực của Tòa án; (ii) thường tạo cho

các bên cơ hội để lựa chọn hòa giải viên cho mình với những kỹ năng và kiến thức chun mơn mà họ tin rằng có ích nhất cho mâu thuẫn của ho; (iii) nếu các hòa giải viên được đãi ngộ hợp lý, họ rất có thé có động lực dé dành cho các bên đủ thời gian dé hòa giải thấu đáo và có được giải pháp cơng bang dựa trên nguyên tắc [42, tr.8, 9].

Ở Cộng hòa Pháp, khi các đương sự đã khởi kiện ra Tòa án thì việc thỏa thuận của các bên đương sự được thực hiện thơng qua việc các bên tự hịa giải, thâm phán tiên hành hòa giải[20, tr.3], hòa giải do người thứ ba tiến hành do thẩm phán Tòa sơ thâm thẩm quyền hẹp ủy quyền hòa giải cho người thứ ba [19, tr.16]. Ngoài ra, khi chưa khởi kiện ra Tịa án thì các bên có thể thương lượng và u cầu Tịa án cơng nhận kết quả thương lượng giữa các bên [19, tr.17] hoặc các bên có thể yêu cầu CNSTT đối với VDS như yêu cầu cơng nhận thuận tình ly hơn (Điều 1099 BLTTDS Cộng hòa

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Pháp) [18]. Như vậy, khác với các nước theo truyền thống pháp luật án lệ thì Cộng hòa Pháp hay các nước theo truyền thống pháp luật dân sự lại sử dụng mơ hình thâm phán tiễn hành hịa giải. Bởi vì, vai trị của thâm phán thường bao gồm việc nỗ lực giúp các bên giải quyết van dé của họ đồng thời hòa giải tại tịa cho phép Tịa án có sự kiểm sốt mạnh hơn và giám sát trực tiếp toàn bộ quá trình để bảo đảm rằng mỗi vụ việc đều được giải quyết nhanh chóng, phù hợp, với chất lượng hịa giải chấp nhận được [42,

<small>tr.7, 8].</small>

Nhu vậy, dù thỏa thuận giữa các đương sự trong VVDS đạt được bằng cach nào thì đó khơng chỉ là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả mà còn là một biện pháp hàn gắn vết thương thay vi cắt bỏ vết thương [19, tr.15]. Theo đó, các cá nhân và doanh nghiệp quen với việc sử dụng hòa giải ngay khi bắt đầu có mâu thuẫn, thậm chí trước khi xem xét thủ tục tố tụng. Điều này giúp tránh được những vụ việc không cần thiết phải đưa ra khiếu kiện tại Tịa án[42, tr.3]. Thậm chí khi các bên đưa vụ kiện ra Tịa án thì các bên vẫn có thê thỏa thuận dé giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn của minh. Vậy dé có thé hiểu được thé nào là thỏa thuận của đương sự trong TTDS thì trước tiên cần phải làm rõ thuật ngữ “77DS” và “đương sự”.

Về mặt thuật ngữ, theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "tố tung" là việc thưa kiện (procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tung (code đeprocédure)"[1, tr.302]. Sách Tiếng nói nơm na của Lê Gia[10, tr.1027-1028] giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công dé phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tung" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái". Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì "Tố tung" là việc thưa kiện ở Toa án.

TTDS được ghép hai từ “tố tụng” và “dân sự”. “Tố tụng” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh (procedere), được hiểu là một đường lối phải tuân theo dé đi đến chỗ thắng kiện. Ngồi ra, cịn có một thuật ngữ khác tương đương với thuật ngữ “tố tụng” là thuật ngữ “thủ tục”, có nguồn sốc từ tiếng Nhật Ban, được hiểu là một thé thức phải làm dé đạt được một kết quả nhất định [9, tr.3,4]. Ở các nước trên thế gidi, chăng hạn như Anh thì các nhà nghiên cứu luật học quan niệm tổ tung (procedure) là những bước tiến hành mang tính hình thức mà thơng qua đó vụ kiện được giải quyết. Các nhà nghiên cứu của Pháp thì cho rằng tố tụng là toàn bộ những thể thức phải theo dé đệ trình một yêu cầu trước Thâm phán [2, tr.11]. Như vậy, có thê thay đa số các nước đều thừa nhận TTDS là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để Tòa án giải

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

Ở Việt Nam, về nội hàm của khái niệm TTDS vẫn cịn có những ý kiến trái ngược nhau. Ý kiến thứ nhất cho rang THADS là một hoạt động của TTDS [36, tr.1 1]. Ý kiến thứ hai cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hành chính bởi THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành mà điều hành và chấp hành là đặc trưng của hoạt

<small>động hành chính. Mặt khác, THADS ở nước ta lại khơng do Tịa án - cơ quan tư pháp</small>

tổ chức. Y kiến thứ ba cho rang thi hành án là dạng hoạt động hành chính - tư pháp vì THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành quyết định của Tòa án - cơ

<small>quan tư phap[37, tr. L0].</small>

THADS khơng phải là hoạt động hành chính bởi vì bản chất của thi hành án là một dạng của hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của THADS là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trong thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành — nét đặc trưng của hoạt động hành chính. Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động THADS mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tơ tụng trước đó với ý nghĩa cao nhất là chấp

<small>hành các quy định của pháp luật. Bản thân các quy định của pháp luật được Nhà nước</small>

ban hành đã có tình bắt buộc chung mà mọi người phải tơn trọng thực hiện. Ngồi ra,

<small>THADS khơng phải là hoạt động TTDS, nó có những đặc trưng khác biệt với hoạt</small>

động giải quyết VVDS của Tòa án. Nếu hoạt động xét xử VVDS của Tòa án nham giải

quyết VVDS, xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên đương sự thì hoạt động

THADS của các cơ quan thi hành án không nhằm giải quyết về nội dung vụ việc, không xét xử lại VVDS, mà áp dụng các biện pháp cần thiết tổ chức và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án. Do đó, mục đích của hoạt động THADS khơng phải là ra các quyết định giải quyết về nội dung VVDS mà là làm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế. Như vậy, THADS có sự độc lập tương đối với việc giải quyết VVDS của Tịa án nên khơng được coi là một giai đoạn của TTDS. Hay nói cách khác, TTDS là trình tự, thủ tục được pháp luật quy định dé Tòa án giải quyết VVDS do các cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật yêu cầu. Trinh tự, thủ tục đó bao gồm: khởi kiện, yêu cầu và thụ lý giải quyết VVDS, lập hồ sơ

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

VVDS, hòa giải VVDS, xét xử VVDS theo thủ tục sơ thâm, phúc thâm, xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thâm, tái thẩm [2,

Mục đích của TTDS là giải quyết khách quan, công bằng va đúng pháp luật các VVDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thé. Tham gia vào quá trình giải quyết VVDS tại Tịa án có rất nhiều các chủ thé khác nhau. Ngồi Tịa án và Viện kiểm sát cịn có các chủ thé khác tham gia tố tụng dé bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc hỗ trợ Tòa án trong việc giải quyết VVDS. Dé thực

<small>hiện được mục đích của TTDS, pháp luật TTDS phải quy định rõ địa vị pháp lý của</small>

các chủ thé cũng như quyền và nghĩa vụ của họ trong TTDS. Trong đó, đương sự là một trong những chủ thé khơng thé thiếu trong q trình Tịa án giải quyết VVDS, đương sự có vai trị đặc biệt quan trọng trong TTDS, bởi vì quyền và lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng.

Về mặt thuật ngữ, đương sự là “øgười là đối tượng trực tiếp của một việc dang phải giải quyết” [41, tr.681]. Trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt, đương sự lại được định nghĩa là “#gười có liên quan trực tiếp tới một việc ” [14. tr.232]. Như vậy, đương sự có thê hiểu một cách chung nhất là người có liên quan trực tiếp đến một vụ việc nào đó xảy ra đang được đưa ra xem xét, giải quyết trong cuộc sống.

Về mặt pháp lý, theo Từ điển Luật học năm 2006 thì “Đương sự là cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyên lợi,

<small>nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND</small>

trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hơn nhân gia đình và lao động” [40, tr.278, 279]. Theo Từ điển Luật học của Mỹ, đương sự được định nghĩa là “#„gưởi đưa ra hoặc chong lại người đưa ra việc kiện”[43, tr.515]. Như vậy, đương su trong một vụ việc là những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc đang được xem

XÉT, giải quyết. Tùy thuộc vào tính chất của từng loại vụ việc được Tịa án giải quyết

<small>mà có đương sự trong VVDS, đương sự trong vụ án hành chính và đương sự trong vụ</small>

án hình sự. Trong đó, đương sự trong VVDS“/à người tham gia to tụng để bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có qun, nghĩa vụ liên quan đến VVDS’[38, tr.105]. Các đương sự trong VVDS có thé là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia tô tụng với tư cách là nguyên don, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

VADS; người yêu cau, người bị yêu cầu, người có liên quan trong VDS.

Về khái niệm thỏa thuận của các đương sự trong TTDS, dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Dai từ điển tiếng Việt “théa thuận” có nghĩa là “nhất trí, đồng ý với nhau sau khi bàn bac”[41, tr.1578]. Như vậy, theo nghĩa chung nhất thỏa thuận của các đương sự trong TTDS là việc các bên đã thống nhất ý chí với nhau về việc giải quyết VVDS sau khi đã bàn bạc, trao đơi. Thỏa thuận cũng có nghĩa là sự nhất trí chung, thé hiện ở việc khơng có sự đối lập hay mâu thuẫn nào giữa các bên liên quan đối với van đề được thỏa thuận. Thông qua thỏa thuận, mọi quan điểm của các bên đều phải được xem xét và dung hòa tất cả các tranh chấp. Bên cạnh đó, các bên tự nguyện cùng nhau thực hiện nghĩa vụ mà họ đã thương lượng, thỏa thuận vì lợi ích của nhau. Yếu tổ thỏa

thuận đã bao hàm cả yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự thống nhất, đồng tình về mặt

<small>ý chí giữa các bên.</small>

<small>Như vậy, thoa thuận của đương sự trong TTDS chính là sự tự nguyện thương</small>

lượng, thơng nhất về ý chí giữa các bên về việc giải quyết VVDS.

1.1.1.2. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tô tung dân

Khi các bên đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết VVDS thì các bên sẽ tự nguyện thực hiện thỏa thuận đã đạt được hay sự thỏa thuận này cần phải có sự cơng nhận của Tịa án. Ở Mỹ thì về ngun tắc khi các bên tự thỏa thuận với nhau hay

<small>người thứ ba đứng ra hịa giải (người thân, luật sư, bạn bè...) thì các bên sẽ tự nguyện</small>

thực hiện thỏa thuận đó. Cịn nếu thỏa thuận giữa các đương sự đạt được thông qua các trọng tài viên, hịa giải viên (khơng phải nhân viên Tịa án) tiến hành hịa giải thì vì đây là các vụ việc mà Tòa án chuyên giao cho các hòa giải viên nên các quyết định của trọng tài viên, hòa giải viên sẽ được Tòa án tôn trọng và phê chuẩn dé thi hành. Tuy nhiên, kết quả hịa giải thành sẽ khơng được Tịa án chấp nhận nếu nó xâm phạm đến

<small>trật tự, lợi ích cơng cộng hay lợi ích của người khác và Tịa án sẽ xem xét lại thỏa</small>

thuận đó từ dau[34, tr.14, 27, 28].

Còn theo quy định pháp luật TTDS của Cộng hịa Pháp thì trong suốt q trình tơ tụng các bên có thê tự hịa giải với nhau hoặc theo sáng kiến của thâm phán. Khi các bên tự hòa giải thì các bên có quyền u cầu thâm phán ghi nhận sự hòa giải giữa các bên. Sự thỏa thuận do các bên tự hòa giải hay do thẩm phán tiến hành sẽ được thâm phán ghi nhận trong biên bản có chữ ký của thâm phán và các bên đương sự (Điều

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<small>127, 129, 130 BLTTDS Cộng hoa Phap)[18]. Còn trong trường hợp khi vụ kiện được</small>

giải quyết ở Tòa sơ thẩm thâm quyên hẹp thì thâm phán Tịa sơ thâm thâm quyền hep ủy quyền hòa giải các bên cho một người thứ ba. Có hai thủ tục hịa giải mà thâm phán có thể tiến hành. Đó là, trong phạm vi một quận, thâm phán Tòa sơ thâm thâm quyền hẹp tự động chuyển mọi đơn khởi kiện mà mình nhận được cho hòa giải viên. Hòa giải viên triệu tập các bên. Nếu hịa giải thành thì thâm phán cơng nhận kết quả hịa giải. Nếu hịa giải khơng thành thì thâm phán nhận lại vụ kiện để xét xử theo thâm quyền của mình. Trong một Tịa án khác, hịa giải viên ngồi bên cạnh thẩm phán. Khi các bên đồng ý với yêu cầu của thâm phán, hòa giải viên tiến hành hòa giải trong một phòng bên cạnh phòng xử án. Nếu các bên thống nhất được với nhau thì sẽ quay trở lại gặp thâm phan dé thâm phán cơng nhận ngay lập tức kết quả hịa giải[19, tr.16, 17].

Như vậy, có thể nhận thấy rằng trong trường hợp khi các bên chưa khởi kiện ra Tòa án mà tự thỏa thuận được với nhau hoặc thỏa thuận do người thứ ba tiễn hành thì các bên sẽ tự nguyện thực hiện thỏa thuận này. Vấn đề đặt ra là sau khi đạt được thỏa thuận thì một trong các bên thay đôi ý kiến không thực hiện thỏa thuận đó thì giải quyết như thé nào? Tham phán Tòa sơ thâm thâm quyền rộng, Tòa án Quốc gia

<small>Singapore - Dorcas Quek Anderson và trọng tài viên Singapore - Mr. Lawrence Boo</small>

đều cho răng do điều kiện dân trí và văn hóa pháp lý cao nên các bên khi đã đạt được thong nhất sau rất nhiều lần trao đổi, bàn bạc về hướng giải quyết vụ kiện thì họ rat ít khi thay đơi. Nếu một trong các bên thay đổi ý kiến thì có quyền u cầu Tòa án ra lệnh buộc thực hiện kết quả hịa giải thành vì thỏa thuận của các bên có giá trị như hợp đồng và có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện'. Còn trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận là do các hòa giải viên (không phải là thầm phán hoặc nhân viên tòa án) tiến hành (thường được các nước theo truyền thống pháp luật án lệ áp dụng như Mỹ, Anh...) thì vì hịa giải viên là những người có kiến thức chun mơn, kỹ năng hịa giải nhưng lại khơng phải là người đại diện cho cơ quan thực hiện quyền tư pháp nên kết quả hòa giải cần phải được Tịa án cơng nhận. Cịn trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận là do các hòa giải viên (là các thâm phán chuyên hòa giải hoặc cán bộ Tịa án) tiến hành thì kết quả hịa giải thành được thực thi trực tiếp như các lệnh của Tòa. Trong trường hợp khi vụ kiện đã được Tòa án thụ lý giải quyết thì các thâm phán

<small>! Ý kiến phát biểu trực tiếp tại Hội thảo Phương thức giải quyết tranh chấp thay thế khác trong hệ thống tư pháp</small>

<small>hiện đại, Hà Nội, ngày 9,10/4/215.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

tổ chức hòa giải, kết quả hòa giải thành được thâm phán ghi nhận vào biên ban hòa

<small>giải thành và có hiệu lực pháp luật ngay. Như vậy, dù thỏa thuận của các đương sự đạt</small>

được bằng phương thức nào, do ai tiến hành thì thỏa thuận đó vẫn cần được cơng nhận bởi Tịa án dé đảm bao giá trị pháp lý của thỏa thuận giữa các bên đương sự.

Về khái niệm CNSTT của các đương sự trong TTDS, theo Hán Việt Từ điển thì “cơng nhận là ai nấy đều thừa nhận” [1, tr.120]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt, “công nhận ” là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật phap[39, tr.202]. Nhu vay, theo nghĩa chung nhất CNSTT

<small>của đương sự trong TTDS là hoạt động của Toa án thừa nhận việc thương lượng,</small>

thống nhất ý chí giữa các bên đương sự.

<small>Trong TTDS, việc CNSTT của đương sự là hoạt động của Tòa án thừa nhận việc</small>

thương lượng, thống nhất ý chí của các bên đương sự trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết thì các đương sự tự thỏa thuận được với nhau và u cầu Tịa án CNSTT đó của đương sự.

<small>Thứ hai, sau khi các đương sự đã khởi kiện ra Tịa án thì các đương sự tự thỏa</small>

thuận và u cầu Tịa án CNSTT đó hoặc đương sự hòa giải thành về việc giải quyết

Như vậy, khái niệm “CNSTT của đương sự trong TTDS” có thể được hiểu như sau: “CNSTT cua đương sự trong TTDS là hoạt động của Toa án thừa nhận việc thống nhất ý chí giữa các đương sự về việc giải quyết VVDS theo quy định của pháp luật

1.1.2. Đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong to tung

<small>dân sự</small>

- Chủ thể CNSTT của đương sự là Tòa án.

Như đã phân tích ở phần 1.1.1.2 thì ở các nước nếu các đương sự đạt được thỏa

<small>thuận là do các đương sự tự thỏa thuận được với nhau hay do người thứ ba hòa giải</small>

hay do Tòa án tiến hành hịa giải thì việc CNSTT của các đương sự phải là Tòa án dé đảm bảo giá trị pháp lý của thỏa thuận. Ở Việt Nam, Điều 102 Hiến pháp năm 2013

<small>quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,</small>

thực hiện quyền tư pháp”. Như vậy, Tòa án là cơ quan có thâm quyền xét xử các vụ việc, trong đó có VVDS. Do đó, nếu như các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết VVDS thì Tòa án (cụ thé là Tham phán hoặc HDXX) sẽ ra quyết định

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

CNSTT của các đương sự. Cụ thể:

- Trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết thì các đương sự tự thỏa thuận được với nhau và u cầu Tịa án CNSTT đó của đương sự. Đây là những trường hợp mặc dù

<small>các đương sự tự thỏa thuận được với nhau trước khi khởi kiện ra Tòa án nhưng việc tự</small>

thỏa thuận này của các đương sự làm mất đi giá trị pháp lý của các quyết định trước đó nên cần phải được Tịa án xem xét và công nhận. Chăng hạn khi các đương sự thuận tình ly hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản khi ly hơn thì việc vợ chồng cùng nhau yêu cầu ly hôn sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng mà quan hệ này được xác lập trên cơ sở đăng ký kết hơn tại cơ quan Nhà nước có tham qun. Do đó, để có cơ sở xóa tên vợ chồng trong số đăng ký kết hôn và thu hồi giấy đăng ký kết hơn thì cần phải có quyết định cơng nhận thuận tình ly hơn, thỏa thuận ni con, chia tai

<small>sản khi ly hơn của Tịa án. Hoặc sau khi bản án ly hơn có hiệu lực pháp luật, vì lợi ích</small>

của con, người cha, người me có quyền thỏa thuận lại với nhau về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng việc thỏa thuận này làm quyết định giao con cho một bên ni dưỡng trước đó khơng cịn có hiệu lực nên thỏa thuận này cần phải

<small>được Tịa án cơng nhận. Hoặc trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ</small>

hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tịa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tịa án cơng nhận. Bởi vì,

thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung làm cho bản án, quyết định

của Tịa án trước đó về chia tài sản chung giữa vợ và chồng trong thời kỳ hơn nhân khơng cịn hiệu lực nên thỏa thuận này cũng cần phải được Tịa án cơng nhận. Việc cơng nhận này của Tịa án được thực hiện theo thủ tục giải quyết VDS bởi giữa các đương sự khơng có tranh chấp mà thỏa thuận cùng nhau u cầu Tòa án CNSTT.

- Sau khi các đương sự đã khởi kiện ra Tịa án thì thẩm phán hay HDXX ra

quyết định tùy thuộc vào từng thời điểm các đương sự đạt được sự thỏa thuận. Nếu các

đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị

xét xử sơ thâm, tức là trước thời điểm Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ

thâm thì thẩm quyền ra quyết định công nhận thuộc về thâm phán, bởi lúc này vụ án đang do thâm phán phụ trách. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thâm mà

<small>các đương sự thỏa thuận được với nhau thì việc thỏa thuận này phải được công nhận ở</small>

tại phiên tịa và do HĐXX quyết định. Bởi vì, mặc dù lúc này chưa mở phiên tịa

<small>nhưng đã có quyết định đưa vu án ra xét xử nên khi các đương sự thỏa thuận được với</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

nhau mà thẩm phán ra quyết định CNSTT thì vụ án có hai quyết định. Điều này là không hợp lý, nên việc CNSTT sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thâm phải do HDXX công nhận. Cịn việc cơng nhận ở tại phiên tịa sơ thâm thì đương nhiên do

<small>HDXX cơng nhận.</small>

Ở thủ tục phúc thâm, giám đốc thẩm, tái thấm thi dù các đương sự có đạt được sự thỏa thuận ở trước hay tại phiên tịa thì thâm quyền CNSTT của các đương sự vẫn phải thuộc về HĐXX phúc thâm hoặc Hội đồng giám đốc thâm, tái thâm. Bởi vì, việc thỏa thuận của các đương sự ở thời điểm này dẫn đến Tịa án cấp phúc thâm, Tịa án có thâm quyền giám đốc thẩm, tái thâm phải xem xét về số phận pháp lý của bản án sơ thâm, phúc thâm nên thâm quyền công nhận phải thuộc về HĐXX.

- Toa an CNSTT của các đương sự khi việc thỏa thuận cua các đương sự xuất phát tự ý chí tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cam của pháp luật và

<small>không trai đạo duc xã hội.</small>

Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, các đương sự được tự do lựa chọn cách giải quyết như tự thỏa thuận với nhau, hòa giải hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của mình. Khi u cầu Tịa án giải quyết tranh chấp, các đương sự vẫn có quyên tự định đoạt về tranh chấp của mình trong vụ án phù hợp với

<small>quy định của pháp luật.</small>

Đương sự là chủ thé của quan hệ pháp luật dân sự, do đó chỉ đương sự mới có quyền tự mình, băng hành vi tố tụng của mình để tự thương lượng, thỏa thuận với nhau hoặc thơng qua sự giúp đỡ của Tịa án dé thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ

<small>án. Việc thỏa thuận giữa các đương sự chỉ đạt được trên cơ sở thương lượng một cách</small>

tự nguyện, trung thực, hop lý, hop tình và khơng một ai với bất kì một hình thức nào cưỡng ép, can thiệp vào việc thỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiên, không phải bat cứ thỏa thuận nào của các đương sự cũng đều được Tịa án cơng nhận mà nội dung của thỏa thuận đó phải khơng vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với dao đức

<small>pháp luật. Hay nói cách khác, Tịa án chỉ cơng nhận những thỏa thuận nào của các</small>

đương sự xuất phát từ ý chí tự nguyện, nội dung thỏa thuận khơng vi phạm điều cắm

<small>pháp luật và không trái đạo đức xã hội.</small>

- Hình thức CNSTT của đương sự là bằng một quyết định hoặc một ban an.

Sự thỏa thuận của các đương sự có thể được Tịa án cơng nhận bằng một quyết định hoặc một bản án, tùy thuộc vào thời điểm mà Tòa án CNSTT của đương sự. Cụ

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

+ Trước khi khởi kiện các đương sự tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án CNSTT thì như đã phân tích ở phần trên đây là một loại VDS nên Tòa án sẽ CNSTT bằng một quyết định.

+ Khi các đương sự đã khởi kiện VADS ra Tịa án thì nếu Tịa án CNSTT của các đương sự tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thâm, tức là thời điểm trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Thâm phán ra quyết định CNSTT đó. Khi đã mở phiên tịa sơ thâm và HĐXX tiến hành xét xử thì sự thỏa thuận của đương sự phải được công nhận bằng một bản án. Việc CNSTT của các đương sự ở giai đoạn phúc thâm thì do HDXX phúc thâm ra quyết định công nhận bằng một bản án phúc thấm. Ở thủ tục giám đốc thâm, tái thâm thì do hội đồng giám đốc thâm, tái thâm không xét xử nên việc CNSTT của đương sự bằng một quyết định.

- Trinh tự, thủ tục CNSTT của đương sự phải tiễn hành theo quy định của pháp

<small>luật TTDS.</small>

Việc CNSTT của đương sự cũng như các thủ tục tố tụng khác đều được Tòa án tiễn hành trên cơ sở các quy định của pháp luật. Việc quy định trình tự, thủ tục CNSTT của đương sự trong pháp luật TTDS nhằm đảm bảo sự khách quan, công bằng trong hoạt động tố tung của Tòa án cũng như đảm bảo sự bình dang giữa các đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc. Các quy định của pháp luật TTDS về trình tự, thủ tục

CNSTTT của đương sự là cơ sở dé Tịa án ra quyết định cơng nhận và bắt buộc Tòa án

<small>phải tuân thủ những quy định đó. Nhu vậy, việc CNSTT của đương sự cũng chỉ cóhiệu lực pháp luật khi được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật TTDSquy định.</small>

- Thời điểm Tòa án CNSTT của các đương sự là trước khi mở phiên tòa, phiên

<small>họp hoặc tại phiên tòa, phiên họp.</small>

Quyền tự định đoạt của đương sự có thể được thực hiện ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng. Do đó, đối với VADS, sự thỏa thuận của các đương sự có thé được thực hiện trước khi mở phiên tòa sơ thâm, tại phiên tòa sơ thâm, trước khi mở phiên tòa phúc thâm, tại phiên tòa phúc thâm hoặc ngay cả khi Tòa án xét lại bản án,

quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm. Tuy nhiên,

nếu việc thỏa thuận của các đương sự đạt được do Tịa án tiễn hành hoạt động hịa giải thì việc CNSTT của các đương sự chỉ được thực hiện ở thời điểm trước khi mở phiên

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

tòa so thâm. Bởi vi, xét xử sơ thâm là xét xử lần đầu đối với VADS nên pháp luật quy định Tịa án có trách nhiệm hịa giải, giúp các bên hiểu rõ hơn quan hệ pháp luật đang tranh chấp và các quy định pháp luật để thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án,

qua đó tránh được tình trạng khiếu kiện kéo dài, giảm thiểu chi phí cho các bên tham

gia tố tung. Cịn các giai đoạn sau của quá trình tố tụng thì do các đương sự đã được Tòa án tổ chức hòa giải trước khi mở phiên tịa sơ thâm nhưng khơng thành nên sau đó Tịa án khơng tiến hành hịa giải nữa.

Đối với trường hợp đương sự tự thỏa thuận trước khi khởi kiện và yêu cầu Tòa án CNSTT thì về ngun tắc do các đương sự khơng có tranh chấp nên Tòa án sẽ mở phiên họp để ra quyết định công nhận. Tuy nhiên, đối với yêu cầu cơng nhận thuận

tình ly hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản thì trước khi mở phiên họp Tịa án van

tiến hành hòa giải. Trong đời sống xã hội, quan hệ hôn nhân là yếu t6 cơ bản, đầu tiên để bảo đảm sự tôn tại và phát triển của gia đình - tế bào của xã hội. Việc ly hôn sẽ tác động tiêu cực đến các quan hệ xã hội khác như phân chia tài sản, nuôi dạy con cái... Trong thực tiễn không phải mọi trường hợp thuận tinh ly hôn đều do “tinh trang tram trọng, đời sống chung khơng thể kéo dài, mục đích của hơn nhân khơng đạt được ”[L5] mà có thé do mâu thuẫn nhất thời, do tự ái, hiểu lầm. Việc giúp đương sự trong trường hợp thuận tình ly hơn có cơ hội để khắc phục sai lầm, đồn tụ với nhau, hàn gắn những rạn nứt trong hôn nhân là một van đề nhân đạo sâu sắc. Do đó, hịa giải khi vợ, chồng có u cầu ly hôn là vô cùng cần thiết.

<small>- CNSTT của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay</small>

Quyết định CNSTT của đương sự được ban hành dựa trên sự tự nguyện thỏa

thuận của các đương sự và được tiến hành theo thủ tục chặt chẽ của pháp luật. Do đó, khi các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết VVDS thì thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực ngay tại thời điểm các đương sự thỏa thuận. Bởi vì “bản chất các thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết tranh chấp tại Tịa án là giao dich dân sự thơng thường thì bản thán thỏa thuận đó có hiệu lực ngay tại thời điểm các bên thỏa thuận (được ghi nhận băng biên bản hịa giải thành) và có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên, việc Tòa án ra quyết định CNSTT do vừa có tinh cơng chứng, vừa có tính cưỡng chế thi hành, nếu sau đó các bên không tự nguyện thi hành” [29, tr.49]. Tuy nhiên, đề phòng tránh các sai lầm và vi phạm pháp luật có thé xảy ra, quyết định CNSTT của đương sự van có thé bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

thâm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận trước đó của đương sự là do bị nhằm lẫn, lừa đối, de dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc xuất hiện tình tiết mới.

Như vậy, qua phân tích các đặc điểm của CNSTT của các đương sự trong TTDS, có thé thấy việc CNSTT của các đương sự trong TTDS ở Việt Nam có điểm

<small>khác biệt cơ bản với hịa giải thành ngồi Tịa án (hịa giải thành ở cơ sở, hòa giải</small>

thành tranh chấp lao động, hòa giải thành các tranh chấp thương mại, hòa giải thành tranh chấp quyền sử dụng dat...). Do là, quyết định CNSTT của đương sự trong TTDS có hiệu lực pháp luật ngay, còn kết quả hòa giải thành ngồi Tịa án khơng có giá trị pháp lý để cưỡng chế thi hành. Hiện nay có quan điểm cho rang, cần quy định chặt chẽ điều kiện, thủ tục dé Tịa án cơng nhận kết quả hịa giải thành ngồi Tịa án nhằm nâng cao hiệu quả cơng tác hịa giải ngồi Tịa án, giảm bớt việc khởi kiện u cầu Tịa án giải quyết[33, tr.17].

Đúng là việc cơng nhận kết quả hịa giải thành ngồi Tịa án làm giảm bớt việc khởi kiện tại Tòa án nhưng hiện nay ở Việt Nam việc tiến hành hịa giải ngồi Tịa án được giao cho những người chưa có đủ tiêu chuẩn nhất định (tiêu chuẩn pháp lý, kỹ năng hòa giải, tiêu chuẩn đạo đức.. .) mà điều này thì các nước lại quy định rất cụ thé nên hịa giải thành ngồi Tịa án có thể khơng chính xác thậm chí vi phạm điều cắm của pháp luật. Do đó, Tịa án chưa thể cơng nhận kết quả hịa giải thành ngồi Tịa án

1.13. Ý nghĩa của cơng nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tô tụng dân

CNSTT của đương sự khơng chỉ có ý nghĩa trong đời sống xã hội mà cịn có vị

<small>trí quan trọng trong hoạt động tư pháp.</small>

1.1.3.1. Ý nghĩa về chính trị - xã hội

Thứ nhất, việc CNSTT là phương thức giải quyết VVDS hiệu quả và bảo toàn các mối quan hệ giữa các đương sự.

Trong nhiều thập kỷ qua hòa giải hay cụ thể hơn là sự thỏa thuận, thương lượng đã trở thành một truyền thống tốt đẹp, góp phần giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, củng cô khối đồn kết giữa các quốc gia nói chung và giữa cộng đồng của dân tộc Việt Nam nói riêng. Việc CNSTT giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau, góp phần khơi phục, duy trì mối quan hệ bình thường giữa các bên đương sự, hạn chế sự đối

<small>đâu căng thăng cũng như mâu thuân giữa các bên, ngăn ngừa tội phạm có ngn gơc từ</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

tranh chấp dân sự phát sinh. Đúng như nguyên Chánh án Tòa án Tối cao Singapore

<small>-Yong Pung How đã nhận xét: “hoa giải không phải như một phương tiện giúp giảm</small>

lượng án ton dong mà như một cách tránh đối dau dé giải quyết mâu thuan nhằm duy trì các mối quan hệ. Trong một xã hội châu A bảo tôn các mỗi quan hệ thông qua xung đột là một giá trị quan trọng” [42, tr. 21]. Ké cả khi các đương sự khơng hịa giải thành, thì việc thỏa thuận cũng giúp các đương sự kiềm chế mâu thuẫn và không làm tranh chấp phát triển phức tạp bởi trong thỏa thuận khơng có người thắng, người thua.

Thứ hai, CNSTT của các đương sự là một trong những cách tốt nhất dé tang cường tiếp cận công ly.

Trên thực tế, việc tiếp cận công lý của người dân cịn vơ cùng khó khăn. Chính vì vậy, khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự thường gặp trở ngại trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thơng qua việc giải thích pháp luật của Tịa án trong phiên hòa giải cũng như khi ra quyết định CNSTT của đương sự, các đương sự sẽ hiểu được những quy định của pháp luật về van dé mà họ tranh chấp. Từ đó, các bên có thé hiểu và tự đưa ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp đúng với quy định của pháp luật. Việc các đương sự đạt được thỏa thuận đã mang lại nhiều lợi ích cho các bên như hiểu được các quy định của pháp luật, giải quyết được tranh chấp nhưng vẫn bảo tồn được mỗi quan hệ giữa các đương sự. Hay nói cách khác các bên vẫn tiếp cận được cơng lý mà khơng cần Tịa án xét xử.

Thứ ba, CNSTT của các đương sự cịn góp phan nâng cao ý thức pháp luật của

<small>các đương sự thông qua việc giải thích pháp luật của người thứ ba hoặc Toa an.</small>

Trên thực tế, các đương sự phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn có thé là do họ khơng

có hiểu biết pháp luật. Nhưng với sự giải thích pháp luật của Thâm phán thì các đương sự đã hiểu bơn phận và trách nhiệm của mình, qua đó mà đạt được thỏa thuận với nhau. Hay nói cách khác thơng qua việc Tòa án CNSTT của đương sự mà họ hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan đến quan hệ tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của mình cũng như từ đó

<small>thực hiện những hành vi đúng với quy định của pháp luật.</small>

1.1.3.2. Ý nghĩa về pháp lý

Thứ nhất, CNSTT của các duong sự góp phan dam bảo quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời bảo đảm quyên và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Khi tham gia vào các quan hệ dân sự thì các chủ thể có tồn quyền quyết định tham gia hay không tham gia, quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

phương thức dé thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó trên cơ sở thể hiện sự tự do ý chí, cam kết thỏa thuận giữa các chủ thể và khi có tranh chấp hoặc vi phạm xảy ra thì họ cũng hồn tồn có quyền quyết định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thơng qua việc thương lượng, thỏa thuận với nhau dé giải quyết tranh chấp hoặc quyết định có u cầu Tịa án giải quyết hay không? Trong trường hợp các đương sự lựa chọn phương thức thương lượng, điều đình với nhau về việc giải quyết các tranh chấp chính là đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, qua đó có thé bảo vệ quyền

<small>và lợi ích hợp pháp của mình.</small>

Thứ hai, CNSTT của các đương sự giúp Tòa án giải quyết nhanh chóng các

<small>Trong trường hop các đương su tự thỏa thuận với nhau và hòa giải thành, việc</small>

CNSTT của các đương sự giúp tiết kiệm nguồn lực cho Tòa án và tồn xã hội về thời gian, chi phí, nhân lực. Nếu hòa giải thành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thâm thì Tịa án khơng phải mở phiên tịa xét xử, do đó rút ngắn q trình giải quyết vụ án, giảm bớt được một giai đoạn tố tụng kéo dải, tốn kém và hết sức phức tạp. Bên cạnh đó, các quyết định CNSTT của Tịa án thường được giải quyết dứt điểm nên việc khiếu nại, kháng nghị quyết định CNSTT của các đương sự ít khi xảy ra. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp các đương sự có sự thỏa thuận với nhau đã nhanh chóng khắc phục các mâu thuẫn, bất đồng vốn có do tranh chấp gây ra, đồng thời thúc đầu giao lưu dân sự tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, nếu hịa giải khơng thành thì Tịa án cũng có điều kiện nắm vững nội dung vụ việc cũng như tâm tư, nguyện vọng của các đương sự dé xác định đường lối xét xử đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ việc, giúp cho hiệu quả

<small>xét xử được nâng cao.</small>

<small>Thứ ba, việc CNSTT của các đương sự cịn giảm ap lực cơng việc cho Toa an</small>

Việc CNSTT của đương sự mang lại nhiều ý nghĩa trong hoạt động của Tòa án. Trong trường hợp hòa giải thành, Tịa án sẽ giảm bớt được nhiều thời gian, cơng sức cho việc giải quyết VVDS. Nếu hòa giải thành trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Tịa án sẽ khơng phải mở phiên tịa sơ thẩm va khơng phải tiến hành các thủ tục xét xử tiếp theo mà nêu hịa giải khơng thành có thé sẽ phải thực hiện như xét xử phúc thâm, giám đốc thâm, tái thâm. Mặt khác, nếu làm tốt cơng tác hịa giải thì khơng chỉ số lượng xét xử của Tịa án cấp sơ thẩm giảm xuống mà số lượng án ở Tòa án cấp phúc thâm cũng

<small>giảm một cách rõ rệt, hệ quả lả hiệu quả xét xử sẽ được nâng cao. Điêu này sẽ không</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà cịn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín

<small>của cơ quan xét xử nói riêng cũng như cơ quan nhà nước nói chung.</small>

Trong trường hợp hịa giải khơng thành thì Tịa án cũng có điều kiện nắm vững nội dung tranh chấp, tâm tư, nguyện vọng của đương sự dé xác định đường lối xét xử đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án.

1.2. CƠ SỞ CUA VIỆC QUY ĐỊNH CÔNG NHAN SỰ THỎA THUẬN CUA CAC DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

1.2.1. Xuất phát từ bản chất của quan hệ pháp luật dân sự

BLTTDS xây dựng các quy định về CNSTT của đương sự trên cơ sở các nguyên tắc trong giao lưu dân sự. Bản chất của quan hệ pháp luật dân sự chính là sự tự do thương lượng, thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của họ, miễn là những thỏa thuận ấy không vi phạm điều cắm của pháp luật hoặc không trái với đạo đức xã hội. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau dé tìm cách tự giải quyết mâu thuẫn hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết dé bảo đảm quyền va lợi ích hợp pháp của mình. Sự thỏa thuận giữa các bên nếu không vi phạm những điều pháp luật cắm và trái với đạo đức xã hội thì cần được Nhà nước bảo đảm và tơn trọng như một quyền chính đáng của đương sự. Do đó, pháp luật TTDS cần có những quy định về CNSTT của đương sự dé bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp

<small>pháp của đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự.</small>

<small>1.2.2. Phù hợp với các quy định của pháp luật nội dung</small>

<small>Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh</small>

doanh - thương mại, lao động, trong quy định của pháp luật nội dung có quy địnhvề

<small>việc các đương sự được thỏa thuận, hịa giải với nhau.</small>

Điều 4 BLDS năm 2005 đã đưa ra nguyên tắc cơ bản của luật dân sự đó là nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận: “Quyên tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyên, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó khơng vi phạm điều cắm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, khơng bên nào được áp dat, cám đốn, cưỡng ép, de doa, ngăn cản bên nào.Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với cácbên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tơn

<small>trọng "[3|.</small>

Điều 12 BLDS năm 2005 cịn ghi nhận hòa giải là một nguyên tắc cơ bản, theo

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<small>đó: “Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hop với quy dinhcua pháp</small>

luật được khuyến khích. Khơng ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùngvũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dan sự "[3].

Luật Thương mại năm 2005 cũng ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mai. Điều 11 Luật thương mại quy định: “Các bên có quyên tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuân phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyên và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tơn trọng và bảo hộ các qun đó. Trong quan hệ thương mại,

<small>các bên hồn tồn tự nguyện, khơng bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép,de dọa, ngăn can bên nào ”[16].</small>

Bộ luật lao động năm 2012 cũng đưa ra quy định tại Điều 7: “Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đổi thoại, thương lượng, thỏa thuận theo ngun tac tự nguyện, thiện chí, bình dang, hop tác, tôn trọng quyên và lợi ich hợp pháp của nhau ”[4].Khi có tranh chấp lao động xảy ra, Bộ luật lao động cũng đã có quy định về vẫn đề giải quyết tranh chấp thơng qua hịa giải tại Mục 2 và Mục 3 từ Điều 200 đến Điều 206 Bộ luật lao động.

<small>Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, LuậtHơn nhân và Gia đình năm 2014 cũng</small>

có quy định những vấn đề mà vợ chồng có thể được thỏa thuận với nhau như việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Điều 35); việc đưa tài sản chung vào kinh doanh (Điều 36); nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng (Điều 37); chia tài sản chung trong thời ky hôn nhân ( Điều 38)...Luật Hơn nhân và Gia đình cũng có quy định về hịa giải khi vợ chồng ly hơn tại Điều 52 và Điều 54.

Như vậy, các quy phạm pháp luật nội dung đều có quy định về việc thỏa thuận của các bên. Do đó, luật TTDS là ngành luật hình thức cũng cần có quy định về hịa giải và CNSTT của các đương sự dé phù hợp với các quy định của pháp luật nội dung.

1.2.3. Xuất phat từ thực tiễn hoạt động tố tụng dân sự

Tranh chấp phát sinh là một tất yêu khách quan của đời sống xã hội, tuy nhiên, tranh chấp dân sự không phải là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội như tội phạm trong lĩnh vực hình sự. Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của công dân đối với pháp luật, đối với nhà nước, cho nên khi cá nhân, tơ chức có hành vi vi phạm pháp luật hình sự (hành vi phạm tội) thì các cơ quan Nhà nước có thâm quyên sẽ tiến hành khởi tố, trừ những trường hợp khởi tô theo yêu cầu của người bị hại. Còn trách nhiệm dân sự là

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

<small>trách nhiệm giữa các công dân với nhau trong quan hệ dân sự. Do đó, khi xảy ra tranh</small>

chấp thì trước tiên các bên có tự thỏa thuận với nhau để tìm ra phương hướng giải quyết hoặc nhờ người thứ ba đứng làm trung gian hòa giải. Hoặc khi các bên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì vì những lý do khách quan và chủ quan mà các đương sự muốn tự thương lượng, thỏa thuận với nhau dé tìm cách giải quyết mâu thuẫn mà khơng cần có sự can thiệp của Tịa án. Hoặc có thé đo trình độ hiéu biết pháp luật của người dân còn hạn chế, bởi vậy khi họ xảy ra tranh chấp và khởi kiện ra Tòa án nhưng với sự giúp đỡ của Tòa án, các bên đã hiểu rõ các quy định của pháp luật, giải quyết được những vướng mắc của mình nên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Lúc này, pháp luật TTDS cần có quy định về việc CNSTT của các đương sự.

1.3. CÁC YEU TO ANH HUONG DEN VIỆC CÔNG NHAN SỰ THOA THUAN CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SỰ

Việc CNSTT cua đương sự trong TTDS phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó các quy định pháp luật TTDS về CNSTT của đương su, sự hiểu biết pháp luật TTDS của đương sự về CNSTT và trình độ, năng lực của thâm phán là những yếu tố tác động trực tiếp đến việc CNSTT của đương sự.

1.3.1. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự thỏa

<small>thuận của các đương sự</small>

Các quy phạm pháp luật TTDS điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong q trình Tịa án giải quyết VVDS, quy định trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu để Tòa án giải quyết các VVDS. Theo đó, các quy định pháp luật TTDS là công cụ pháp lý quan trọng cho các cá nhân, cơ quan, tơ chức bảo vệ qun và lợi ích hợp pháp

trước Tòa án, bảo đảm cho việc giải quyết VVDS được chính xác, đúng đắn. Đồng

thời những quy định về vấn đề CNSTT của đương sự còn là căn cứ để Tịa án

CNSTT của đương sự. Do đó, các quy định của pháp luật TTDS về CNSTT của các đương sự cần phải thê hiện đầy đủ, rõ ràng về quyền thỏa thuận của đương sự cũng như về việc CNSTT của các đương sự cũng như phải bảo đảm cho các đương sự được bình đăng với nhau trong việc thực hiện quyền thỏa thuận về việc giải quyết VVDS. Hon nữa, các quy định về CNSTT của đương sự phải thống nhất với các quy định của pháp luật nội dung về CNSTT của các đương sự. Nếu các quy định

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

của pháp luật TTDS về CNSTT của đương sự không day đủ, rõ ràng, minh bạch sẽ làm cho đương sự khó có thể thực hiện được việc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VVDS cũng như gây khó khăn cho Tòa án trong việc CNSTT của đương sự.

1.3.2. Sự hiểu biết pháp luật tố tụng dân sự của đương sự về công nhận

<small>sự thỏa thuận của đương sự</small>

Việc đương sự hiểu biết pháp luật nói chung và pháp luật TTDS nói riêng về CNSTT của các đương đóng vai trị quan trọng trong việc đảm bảo quyền tự đỉnh đoạt cũng như quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự. Nếu các đương sự không hiểu biết pháp luật về CNSTT của các đương sự thì nhiều khi đương sự khó có thê

<small>đạt được thỏa thuận hoặc tuy có đạt được thỏa thuận thì thỏa thuận đó của các</small>

đương sự có khi lại vi phạm điều cắm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Chính vì vậy, khi các đương sự hiểu biết pháp luật TTDS về CNSTT thì các đương sự dễ

<small>dàng đạt được sự thỏa thuận cũng như thỏa thuận đó sẽ được Tịa án cơng nhận do</small>

xuất phát từ ý chí tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cắm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Hơn nữa, sự hiểu biết pháp luật của đương sự còn giúp đương sự xác định xem Tịa án ra quyết định CNSTT có đúng quy định của

<small>pháp luật TTDS hay khơng?</small>

1.3.3. Trình độ, năng lực chuyên môn của thẩm phán

CNSTT của đương sự là hoạt động do Tòa án tiễn hành, do vậy, khơng thê phủ nhận vai trị của các thâm phán. Nếu thâm phán có trình độ chun mơn hạn chế, khơng chủ động tìm hiểu nội dung vụ án cũng như các phương án để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn của đương sự thì khi được giao giải quyết VVDS,

thâm phán sẽ bị lúng túng, khơng có được lịng tin của đương sự, không làm cho

các đương sự hiểu hết được những thuận lợi, khó khăn cũng như quyền và lợi ích của họ trong q trình giải quyết VVDS. Do đó, các đương sự khơng đưa ra thỏa thuận được với nhau về giải quyết VVDS.Khi các thâm phán có trình độ và năng lực chun mơn cao thì việc giải quyết các VVDS cũng như CNSTT của các đương sự sẽ được tiễn hành nhanh chóng, đúng với những quy định của pháp luật, đồng

<small>thời bảo đảm quyên và lợi ích của các đương sự.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

1.4. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VA PHÁT TRIEN CUA PHÁP LUAT TO TUNG DAN SU VE CÔNG NHAN SỰ THỎA THUAN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SU’

1.4.1. Giai doan tir nam 1945 đến năm 1989

<small>Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước mới được thành lập</small>

nên ngay lập tức chúng ta chưa thể ban hành ngay được các văn bản pháp luật mới. Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời ngày 10 thang 10 năm 1945 quy định: “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tam thời giữ nguyên như cũ, nếu như những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này ”[24]. Như

vậy, việc CNSTT của đương sự ở thời kì này cơ bản vẫn áp dụng theo những quy định

của chế độ cũ.

Văn bản đầu tiên quy định về CNSTT của các đương sự là Sắc lệnh của Chủ tịch nước số 13 ngày 21 tháng 1 năm 1946 về tổ chức Tịa án, theo đó “Ban tu pháp xã có quyên hòa giải tất cả các VDS và thương mại. Nếu hịa giải được, ban tư pháp có thể lập biên bản hịa giải có các ty viên và những người đương sự kí ”[25].

Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa số 51 ngày 17

<small>tháng 4 nam 1946 lại có quy định biên ban hịa giải thành chỉ có hiệu lực chứng thư:</small>

“Ban tu pháp xã hòa giải tất cả các việc hộ và thương mại do các người đương sự muốn mang ra trước ban tư pháp áy. Biên bản hòa giải thành chỉ có hiệu lực chứng thư ”[26] và “khi nhận được đơn kiện về dân sự hay thương sự, ông Tham phán sơ cấp phải đòi hai bên đến để thử làm hịa giải. Biên bản hịa giải có hiệu lực chứng

<small>thư ”[26].</small>

Đến năm 1950, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và Luật tố tụng. Trong đó có quy định về việc hoa giải như sau: “TAND huyện họp thành Hội đơng hịa giải dé thử hòa giải tat cả các vụ kiện về dân sự và thương sự, kế cả các việc ly di, trừ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự khơng có qun diéu đình”, “Biên bản hịa giải thành là một cơng chính chứng thư, có thể đem chấp hành ngay. Tuy nhiên, cho đến lúc biên bản hòa giải được chấp hành xong, nếu Biện lý xét biên bản ay phạm trật tự chung thì có qun u cau Tịa án có thẩm qun sửa đổi lại hoặc bác bỏ những diéu hai bên đã thỏa thuận, Han kháng cáo là 15 ngày tròn ké từ ngày phòng biện lý nhận được hòa giải thành "[21].

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

Như vậy, đặc trưng của pháp luật về CNSTT của đương sự trong giai đoạn này là không ra quyết định CNSTT của đương sự mà chỉ lập biên bản hòa giải thành. Biên

<small>bản hòa giải thành do ban tư pháp xã lập chỉ có hiệu lực chứng thư, còn biên bản hòa</small>

giải thành đo Tòa án lập là một cơng chính chứng thư, có thé đem ra chấp hành ngay. Do đất nước vẫn đang trong tình trạng chiến tranh và chia cắt, pháp luật chưa có điều kiện để phát triển và hoàn thiện, cho nên những quy định về CNSTT của đương sự còn nhiều hạn chế. Trong đó, bất cập lớn nhất chính là việc không ra quyết

định CNSTT của đương sự mà chỉ lập biên bản hòa giải thành dẫn tới việc hòa giải

khơng có hiệu lực thi hành bắt buộc đối với các bên đương sự cũng như nhiều trường

<small>hợp Tòa án phải mở phiên tòa xét xử sau khi đã lập biên bản hịa giải thành do các bên</small>

khơng tự nguyện thi hành thỏa thuận hay tự ý thay đôi những thỏa thuận đó. Thêm vào đó, chỉ có biện lý mới có quyền kháng cáo u cầu Tịa án sửa đổi hay bác bỏ thỏa thuận giữa hai bên còn các đương sự khơng có qun này, điều này đã hạn chế quyền

<small>tự định đoạt của đương sự trong TTDS.</small>

Khắc phục những bat cập này, Thông tư số 25/TATC ngày 30 tháng 11 năm 1974 hướng dẫn việc hòa giải trong TTDS [35] đã đưa ra một số các quy định sau đây:

- Nếu hịa giải thành thì Tịa án lập biên bản hịa giải thành. Sau đó TAND ra một quyết định cơng nhận hịa giải thành dé các thỏa thuận có giá trị chấp hành.

- Nếu hịa giải khơng thành thì Tịa án lập biên bản hịa giải không thành và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Về hiệu lực của quyết định công nhận việc hịa giải thành, các quyết định cơng nhận hịa giải thành đều có hiệu lực như bản án. Đương sự, Viện kiểm sát có quyền kháng cáo, kháng nghị. Người đệ tam — người có quyền và nghĩa vụ liên quan — có quyền chống quyết định cơng nhận của Tịa án cấp sơ thâm. Nếu quyết định cơng nhận việc hịa giải thành đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì vụ kiện sẽ

được xét xử theo trình tự giám đốc thâm. Đối với quyết định chưa có hiệu lực pháp

luật mà chỉ một mình người đệ tam chống quyết định thì trong thời hạn 30 ngày kê từ khi ra quyết định sơ thâm, Tòa án sẽ thụ lý đơn và giải quyết về khoản mà người đệ tam chống quyết định.

Như vậy, có thé thấy Thơng tư 25/TATC ra đời đã đánh dau một bước phát triển quan trọng trong chế định hịa giải nói chung và việc CNSTT của đương sự nói riêng. Thơng tư đã có những quy định chỉ tiết về thủ tục, trình tự cũng như các phương

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

pháp hòa giải và CNSTT của đương sự, đáp ứng được nhu cầu cấp thiết cho Tòa án khi tiến hành hòa giải, CNSTT cho các đương sự, góp phần giải quyết vụ án đạt hiệu

<small>quả cao.</small>

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 là giai đoạn đất nước ta dau tranh chống giặc ngoại xâm và giải phóng đất nước, đi lên xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, những văn bản pháp luật thời kì này cịn bộc lộ nhiều hạn chế và không đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của đời sông xã hội, đặc biệt là trong những quy định về hòa giải cũng như CNSTT của đương sự trong TTDS. Tuy các quy định về CNSTT của đương sự còn năm rải rác và có hiệu lực pháp lý khơng cao, nhưng đây là những quy định đóng vai trị là nền tảng để xây dựng và hoàn thiện những quy định về CNSTT trong các văn bản pháp luật sau này.

1.4.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004

<small>Ngày 29 tháng 12 năm 1989, PLTTGQCVADS được ban hành. Đây là văn ban</small>

pháp luật quy định cụ thể, chi tiết nhất về thủ tục giải quyết các VADS trong thời ki

<small>nay. Theo pháp lệnh, thủ tục hòa giải và việc CNSTT của đương sự được quy định tai</small>

Điều 44 như sau: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có mặt khi hịa giải. Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về van dé phải giải quyết

<small>trong vụ án thì Tịa án lập biên bản hịa giải thành. Bản sao biên bản này được gửi</small>

ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung. Nếu trong thời hạn mười lam ngày, kế từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến hoặc Viện kiểm sát, tổ chức xã hội khởi kiện vi lợi ích chung phản đối sự thỏa thuận đó, thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử; nếu trong thời hạn đó khơng có sự thay

đơi ý kiến hoặc phản đối thì Tịa án ra quyết định cơng nhận sự thỏa thuận của các

đương sự. Quyết định này có hiệu lực pháp luật. Nếu các đương sự không thỏa thuận được với nhau thì Tịa án lập biên bản hịa giải khơng thành để đưa vụ án ra xét xử. Nếu bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn văng mặt khơng có lý do

<small>chính đáng thì Tịa án đưa vụ án ra xét xử.</small>

Có thể thấy, PLTTGQVADS ra đời đã có những quy định pháp luật về sự thỏa

thuận của đương sự mang tính hồn thiện hơn so với Thơng tư 25 của Tòa án tối cao và các văn bản hướng dẫn ở thời kì trước. Cụ thể, Pháp lệnh đã quy định thời hạn là mười lăm ngày để các đương sự, Viện kiểm sát, t6 chức xã hội khởi kiện về việc phản đối sự thỏa thuận giữa các đương sự. Nếu hết thời han này mà khơng có ai thay đôi ý

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

kiến và phản đối thì Tịa án mới ra quyết định CNSTT của các đương sự và lúc ấy quyết định này mới có hiệu lực. Đây là điểm tiến bộ của PLTTGQVADS so với các

<small>văn bản pháp luật trước đó.</small>

Trong giai đoạn này, TANDTC và các cơ quan hữu quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn việc thực hiện các quy định trong PLTTGQVADS như Nghị quyết 03 ngày 19 tháng 10 năm 1990 hướng dẫn áp dụng một số quy định của PLTTGQCVADS, Công văn số 124/KHXX ngày 31 tháng 10 năm 1997 của TANDTC, Công văn số 34/KHXX ngày 21 tháng 04 năm 1988 của TANDTC trả lời về TTDS... Các văn bản này đều đưa ra các quy định về thủ tục tiến hành hòa giải, thành phần tham gia hòa giải, thời hạn để các đương sự xem xét lại thỏa thuận giữa các bên và đều quy định quyết định CNSTT của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay.

Bên cạnh đó, để giải quyết những vụ án trong lĩnh vực kinh tế và lao động, PLTTGQCVAKT và PLTTGQTCLĐ cũng đã được ban hành lần lượt vào năm 1989 và năm 1996. Hai pháp lệnh này đều có những quy định về CNSTT của đương sự.

Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004, thủ tục hòa giải và việc CNSTT của đương sự trong TTDS đã được quy định cu thé và chi tiết nhất về thủ tục tiễn hành hòa giải, thành phần tham gia hòa giải cũng như thời hạn thay đổi ý kiến hay phản đối thỏa thuận giữa các bên và hiệu lực của quyết định CNSTT của đương sự. PLTTGQVADS và các văn bản liên quan khác trong thời kì này đã góp phần đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong chế định hòa giải và việc CNS TT của đương sự

<small>trong pháp luật TTDS các giai đoạn sau nay.</small>

1.4.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Qua các văn bản pháp luật quy định về hòa giải và sự thỏa thuận của các đương

sự đã nêu trên đây, có thê thay rang, việc CNSTT cua đương sự trong TTDS đã được

quy định trong một số văn bản. Song các quy định này còn nằm rải rác, chưa mang tính hệ thống. Do vậy, trước yêu cầu phát triển ngày càng cao của đời sống kinh tế xã hội, việc hồn thiện hệ thơng các quy định về hịa giải nói chung và việc CNSTT của đương sự trong TTDS nói riêng là một địi hỏi cần thiết.

Ngày 15 tháng 6 năm 2004, BLTTDS đã được Quốc hội thông qua. Đây là sự kiện đánh dấu bước phát triển quan trọng trong pháp luật TTDS Việt Nam. Trong BLTTDS năm 2004, các quy định về CNSTT của đương sự đã kế thừa những quy định trong các văn bản pháp luật ở giai đoạn trước cũng như tiếp tục hoàn thiện và khắc

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

phục những hạn ché, bat cập của pháp luật khi quy định về van dé này. BLTTDS cũng đã thống nhất về trình tự và thủ tục hịa giải, CNSTT của đương sự trong các VVDS, hơn nhân gia đình, kinh tế, lao động.

Đặc biệt, BLTTDS năm 2004 đã có thêm các quy định về CNSTT của đương sự như nguyên tắc, thủ tục công nhận, hiệu lực pháp luật của quyết định CNSTT của đương sự. Những quy định nay là cơ sở pháp lý quan trọng dé Tòa án tiến hành việc

<small>CNSTT của đương sự trong các VVDS.</small>

Lần đầu tiên, các u cầu cơng nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi, chia tài sản, yêu cầu công nhận thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo thủ tục riêng là thủ tục giải quyết VDS. Việc quy định này đã tạo

<small>thuận lợi cho Tòa án trong việc CNSTT của các đương sự cũng như giúp cho sự thỏa</small>

thuận của đương sự nhanh chóng được thực hiện trên thực té.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS trong may năm qua cho thay BLTTDS đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác, chưa phù hợp hoặc khơng cịn phù hợp, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn nhiều cách hiểu khác nhau, chưa đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, chưa đáp ứng các yêu cầu cam kết quốc tế song phương và đa phương. Bên cạnh đó, một số van đề mới

<small>phát sinh trong hoạt động TTDS nhưng BLTTDS năm 2004 lại chưa có quy định.</small>

Những hạn ché, bất cập này đã gây khó khăn khơng nhỏ trong hoạt động tố tụng, làm ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động tố tụng; đồng thời chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của nhiệm vụ tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tơ chức; đảm bảo trình tự và thủ tục TTDS công khai, dân chủ, đơn giản, thuận lợi cho người tham gia tố tụng; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tô chức khi tham gia hoạt động TTDS; bao đảm giải quyết các VVDS nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật.

Khắc phục những bất cập và hạn chế này, ngày 29 tháng 3 năm 2011, Quốc hội

thông qua Luật sửa đôi, bố sung một số điều của BLTTDS. Theo đó, một số quy định của BLTTDS được sửa đổi, bố sung rõ rang, chi tiết, chặt chẽ hơn như quy định về thâm quyền của Tòa án, thành phần phiên hòa giải (Điều 184) và trình tự hịa giải (Điều 185a). Có thê thấy răng, Luật sửa đôi, bồ sung một số điều của BLTTDS ra đời đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật TTDS nói chung và việc CNSTT của đương sự nói riêng, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân,

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

cơ quan, tô chức trong TTDS, đồng thời tạo điều kiện về cơ sở pháp ly dé Tòa án thực

<small>hiện tôt công tác xét xử.</small>

KET LUẬN CHUONG 1

Việc nghiên cứu về lý luận CNSTT của đương sự trong TTDS là quan trong va cần thiết, giúp chúng ta có cái nhìn tong quát về van dé này. Trong chương | của luận văn, tác giả đã phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc CNSTT của đương sự trong TTDS, cơ sở của việc hình thành các quy định về CNSTT của đương sự cũng như khái quát quá trình hình thành và phát triển các quy định về CNSTT của đương sự

<small>trong lịch sử pháp luật Việt Nam, thơng qua đó, đưa ra những bình luận, đánh giá các</small>

quy định của pháp luật về CNSTT của đương sự trong từng giai đoạn. Những vấn đề lý luận chung về CNSTT của đương sự đã tạo ra một nền tảng vững chắc dé tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực trạng việc áp dụng các quy định về CNSTT của đương sự trong thực tiễn, từ đó đưa ra những kiến nghị dé hồn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật ở các chương tiếp theo

<small>của luận văn.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

<small>Chương 2</small>

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT TO TUNG DAN SUVIET NAM HIỆN HANH VE CÔNG NHAN SỰ THOA THUAN CUA

DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SỰ

2.1. QUY ĐỊNH VE CONG NHAN SỰ THOA THUAN CUA CÁC ĐƯƠNG SU TRONG VU AN DAN SU

2.1.1. Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân

Theo Khoản 2 Điều 5 BLTTDS thì các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau

<small>một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội [5]. Bên cạnh đó, Khoản 2</small>

Điều 180 BLTTDS khi quy định về nguyên tắc hòa giải cũng chỉ rõ việc hịa giải phải

<small>tơn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe</small>

doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của

<small>mình và nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái</small>

đạo đức xã hội. Do đó, nguyên tắc CNSTT của đương sự là:

2.1.1.1. Nguyên tắc thỏa thuận phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của các

<small>đương sự</small>

Khi giải quyết tranh chấp trong VADS, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận

với nhau có nghĩa là các đương sự tự lựa chọn, quyết định giải quyết mâu thuẫn bằng

cách hòa giải và thương lượng với nhau. Tự nguyện thỏa thuận còn thể hiện ở chỗ các đương sự tự do về mặt ý chí và tự do bày tỏ ý chí về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, nếu như các đương sự tiễn tới sự thỏa thuận về giải

quyết tranh chấp mà việc thỏa thuận nay lại do hành vi dùng vũ lực, bi de dọa dùng vũ

lực tác động đến ý chí chủ quan của đương sự buộc họ phải lựa chọn cách thức thỏa thuận để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của mình thì

<small>khơng được coi là tự nguyện thỏa thuận. Hay nói cách khác Tòa án sẽ CNSTT của các</small>

đương sự nếu sự thỏa thuận của các đương sự xuất phát từ ý chí tự nguyện.

2.1.1.2. Nguyên tắc nội dung thỏa thuận của đương sự không trai pháp luật

<small>và dao đức xã hội</small>

Khi tiến hành CNSTT của đương sự thì theo quy định tại Điều 5, Điều 180,

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

Điều 220 và Điều 270 BLTTDS việc CNSTT không chi được Toa án tiến hành theo

<small>đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định mà nội dung thỏa thuận giữa các đương</small>

sự không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Sự tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc trong đời sống xã hội cho nên mọi thỏa thuận trái pháp luật đều khơng có giá trị pháp lý. Dao đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, bởi vậy sự thỏa thuận của các đương sự không được trái với những chuẩn mực này.

Tuy nhiên, điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS quy định một trong những điều kiện dé giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Muc đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cam của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”. Điều cam của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Như vậy, giữa luật nội dung và luật tố tụng quy định khơng thống nhất với nhau. Sở di có sự khơng thống nhất như vậy là vì khi ban hành BLTTDS thì BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực nên Điều 5 BLTTDS được xây dựng dựa trên Điều 131 BLDS năm 1995. Theo Điều 131 BLDS năm 1995 thì một trong các điều kiện có

<small>hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Muc dich và nội dung của giao dich không trai pháp</small>

luật và trai đạo duc xã hội”. Ngày 1/1/2006, BLDS năm 1995 hết hiệu lực và BLDS năm 2005 có hiệu lực. Việc quy định khơng thống nhất như vậy sẽ rất khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như việc ra quyết định của Tịa án. Như vậy, nếu theo quy định của Điều 5, Điều 220 BLTTDS thì đương sự sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng việc thực hiện

<small>đó phải “khơng trái pháp luật”, nghĩa là đương sự chỉ được thỏa thuận đúng với quy</small>

định của pháp luật. Còn theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS thì đương sự có thê thỏa thuận tất cả những gì mà pháp luật khơng cắm. Việc quy định như BLDS là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chất lượng xây dựng và hồn thiện hệ thong pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020[12,tr. 23-29]. Vì vậy, cần sửa đổi quy định trong khoản 2 Điều 5 và Điều 220 BLTTDS mở rộng quyền thỏa thuận của đương sự cũng

<small>như tạo ra sự phù hợp giữa luật TTDS với luật dân sự.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

2.1.2. Quy định về phạm vi các vụ án mà Tịa án cơng nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.1.2.1. Đối với trường hợp Tòa án tiễn hành hòa giải thành giữa các đương

Điều 180 BLTTDS quy định: "7rong trường hợp chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải dé các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vu án khơng được hịa giải hoặc khơng tiễn hành hòa giải được". Như vậy, phạm vi những vụ án mà Tòa án tiễn hành hòa giải rất rộng bao gồm tất cả các VADS chỉ trừ những vụ án khơng được hịa giải và vụ án khơng tiến hành hòa giải được còn lại khi giải quyết vụ án, Tòa án phải tiễn hành hòa giải. Nếu các đương sự hịa giải thành và khơng có đương sự phản đối ý kiến trong thời hạn pháp luật quy định thì Tịa án ra quyết định CNSTT của các đương sự. Vậy, những vu án nao thì Tịa án không ra quyết định CNSTT của các đương sự?

Thứ nhất, những vụ án mà pháp luật cam không được tiến hành hịa giải thì cho

<small>dù các đương sự có đạt được sự thỏa thuận thì Tịa án cũng khơng được CNSTT của</small>

các đương sự. Bởi vì, nếu Tịa án CNSTT của các đương sự thì sẽ trái với mục đích xét xử các vụ án này.Theo quy định tại Điều 181 BLTTDS thì những VADS khơng được hịa giải và Tịa án khơng được CNSTT của các đương sự bao gồm:

- Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

<small>- Những VADS phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.</small>

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [31] thì đối với vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự,... gây ra và người được giao chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có u cầu địi bồi thường. Vì vậy, cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tô chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thơng qua cơ quan có thẩm qun, thì khi có u cầu địi bồi thường

thiệt hại đến loại tài sản này, Tịa án khơng được hịa giải và không được ra quyết định <small>CNSTT của đương sự.</small>

+ Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

<small>nhà nước, góp vơn trong các doanh nghiệp liên doanh có vơn đâu tư của các chủ sở</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có u cầu địi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Tịa án tiến hành hịa giải dé các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Trong trường hợp các bên hịa giải thành thì Tịa án ra quyết định CNSTT của các đương sự theo quy định pháp

Đối với trường hợp khơng được hịa giải là những vụ án phát sinh từ giao dịch

<small>trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những trường hợp mà bản thân giao dịch dân</small>

sự trước đó giữa các bên là các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích. Đây là những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Theo Điều 137 BLDS năm 2005 thi" giao dich dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự của các bên ké từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đâu, hồn trả cho nhau những gì đã nhận”. Vì vậy, Tịa án khơng được CNSTT của đương sự đối với những vụ án này. Tuy nhiên, nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vơ hiệu đó thì Tịa án vẫn phải tiễn hành hòa giải dé các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vơ hiệu đó (Khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP). Bởi sự thỏa thuận của các bên ở đây là việc thống nhất phương thức khơi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả lại tài sản [13]. Do đó, nếu các bên đạt được sự thỏa thuận về giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vơ

hiệu thì Tịa án vẫn CNSTT này của các đương sự.

Thứ hai, những vụ án mà Tòa án không thể CNSTT của các đương sự được. Theo quy định tại Điều 182 BLTTDS đó là các trường hợp đương sự khơng thể tham gia hịa giải được vì có lý do chính đáng; bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cô tinh văng mặt; đương sự là vợ chồng trong vụ án ly hôn mà một bên bị mất

<small>năng lực hành vi dân sự. Day là những trường hợp mà pháp luật quy định phải hịa giải</small>

nhưng thực tế có những trở ngại khách quan, chủ quan dẫn đến Tịa án khơng hịa giải được và khơng thể CNSTT của các đương sự. Sở dĩ những trường hợp này tịa án

<small>khơng hịa giải được vì hịa giải là sự thỏa thuận của chính các đương sự, cho nên khi</small>

tiến hành hịa giải nếu vắng mặt một bên đương sự hoặc một bên đương sự mat năng

<small>lực hành vi dân sự mà quan hệ tranh châp là quan hệ găn liên với nhân thân của đương</small>

</div>

×