Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Luận văn thạc sĩ luật học: Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (48.46 MB, 91 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRUONG ĐẠI HỌC LUAT HÀ NOI

NGÔ THỊ LỘC

NGƯỜI ĐẠI DIỆN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

LUAN VAN THAC Si LUAT HOC Chuyén nganh: Luat dan su va tố tụng dân sự

Mã số: 60.38.01.03

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền

HÀ NỘI —- NAM 2016

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

LỜI CAM ĐOAN

<small>Tôi xin cam đoan đáy là cơng trình của riêng tơi. Các số liệu, ví du trongluận văn là trung thực. Những kêt luận trong luận văn chưa từng được ai công</small>

bồ trong bat kỳ cơng trình nào khác.

<small>Tác giả luận văn</small>

<small>Ngơ Thị Lộc</small>

XÁC NHẬN CỦA GIÁNG VIÊN HƯỚNG DẪN

TS. Bùi Thị Huyền

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

<small>Bộ luật Dân sự</small>

Bộ luật Tổ tụng dân sự

<small>Hơn nhân và Gia đình</small>

Hội đồng thâm phan Tòa án nhân dân tối cao

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>MỤC LỤC</small>

1.Tính cấp thiết của đề tài:... - 5 St ST T1 2111211112111 21111 te | 2.Tình hình nghiên cứu đề tài: ...- 2-2 s52 SE+E£E9EE£ESEEEEEEEEErkrkerkrrrrkd 2

<small>3.Muc ti€u Mghien CUUE 01 ... 4</small>

4.Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu: ...--- 2-5-2 5s secs2 5

<small>5.Câu hỏi nghiÊn CỨu:...- - - .- c1 3222211131321 1311 111111 1111118 1111 ng nhe 56.Phương pháp nghiên CỨu:: ...-- - - -- c E33 2111332113EEEEEEEsrrrrrsvre 6</small>

7.Ý nghĩa khoa học va thực tiễn của luận văn: ...---5-55555555c: 6 8.Bố cục của luận Văn: ...-- - 2 St xE E111 1181111711111111 11111111111. 7 CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE NGƯỜI ĐẠI DIỆN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ...- 8

1.1.KHÁI QUÁT NGƯỜI ĐẠI DIEN CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SỰ:...- - - tt 1E 1E1111 111111111111 110111 111 11g tre 8

1.1.1. Khai niệm đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự: 8 1.1.2.Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự:... 10 1.1.3. Vai trò của người đại diện của đương sự trong tố tụng CAN SUE saasszzzse 13 1.1.4.Phân loại người đại diện của đương sự trong tố tt GAN BUF seessnsensnnmes 14 1.2.Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định về người đại diện của đương sự trong té TOO CU, SWEBssasssseesc„neskdeniaEiie bọ ng22,4000040.0035 Rite tsa a 15

<small>1.2.1.Co sở lí luận: 16</small>

1.2.2.Co sở thực tiến: 18 1.3.Sơ lược về sự phát triển các quy định về đại diện của đương sự trong tố tụng dân Sự: ...--- + St T11 EE111111111011111111111101 2111111 111111111111 g0 19

1.3.1.Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980:... 19 1.3.2.Giai đoạn từ năm 1989 đến nay: 20 1.4.Người đại diện của đương sự trong tổ tụng dân sự trong quy định của một số quốc gia trên thế giới: ...---2- 2 SSE+E£EE2EEEEEEEEEEEEEEEErkererkee 24

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

1.4.1.Bộ Luật Tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp: 24

<small>1.4.2.BLTTDS Liên bang Nga: 26</small>

KET LUẬN CHƯNG :...- - ¿SE SE EEkSEEEEEESEEEEEEEEEEEEkEkrrkrkerrred 28 CHƯƠNG 2: NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TÓ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TÓ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIEN HÀNH::... .- (5t ST E1 X11 1111111111111 11111111111, 29

2.1.MỘT SÓ ĐIÊU KIỆN ĐÓI VỚI NGƯỜI ĐẠI DIỆN NÓI CHUNG CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ: ...---5--5e: 29

2.1.1. Nguoi dai diện của đương sự có thé là cá nhân hoặc pháp nhân: ... 29 2.1.2.Về năng lực chủ thể: 33

<small>2.1.3.Những người không được làm người đại diện: 35</small>

2.2.NGUOI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬTT:...-- - 2 s+s+s+£e+s££ 36

<small>2.2.1.Căn cứ phát sinh quan hệ đại diện — xác định người đại diện của đương sự..36</small>

2.2.2.Phạm vi tham gia t6 tung: 40 2.2.3.Quyén và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật: 43 2.2.4.Cham dứt quan hệ đại diện và hậu quả pháp lý: 49 2.3.NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYÈN:...-- - sccxczsrxerrxee 50

<small>2.3.1.Căn cứ phát sinh quan hệ đại diện: 50</small>

2.3.2.Pham vi tham gia t6 tung: 52 2.3.3.Quyén và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền: 53 2.3.4.Cham dứt quan hệ dai diện và hậu qua pháp lý: 55 KẾT LUẬN CHƯNG 2:...--- 52 S292 E9E12EEE121521212121111 1111 re. 58 CHƯƠNG 3: THỰC TIỀN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUAT VE NGƯỜI ĐẠI DIỆN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ - MOT SO DANH GIA VE NHUNG DIEM MỚI CUA BO LUAT TO TUNG DAN SU 2015 — MOT SO KIEN NGHỊ...-- - 5 scx+xerexerxd 59

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

3.1.THỰC TIEN AP DỤNG BLTTDS SUA DOI BO SUNG NAM 2011 VE NGUOI DAI DIEN CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SU VÀ NHỮNG KHAC PHUC CUA BLTTDS 2015:...--- - 5 2: 59

3.1.1.Lúng túng trong việc xác định tư cách đại diện của một số đối tượng đặc biệt ...60 3.1.2.Hình thức ủy quyền trong tố tụng đân sự: ...----.----cz+2seee+rrxe 65

3.1.3.Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của người đại diện của đương sự

trong tO tụng dân sự: ...--c--2©++++2EEE11+12111111221111112211111212111112121111 21.11.66 3.1.4.Quyền ký đơn của người đại điện theo ủy quyền trong t6 tụng dân sự: ... 68 3.1.5.Chỉ định người đại diện trong tố tụng dân SỰ: ...---ccccccccscceeeesrs 70 3.1.6.Cham dứt đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự: ... -.----72 3.1.7.Chủ thé có thé là người đại điện:...-- 2£ ©++ee+2EEEEeerrEEEkeerrrrke 74 3.1.8.B6 sung về mot số trường hợp người đại diện đặc biệt trên cơ sở cập nhật

<small>ti HỘ TCP TUYỂN] AIL ma sen cs cena an. a eo AN A ThA AAA AT A 75</small>

3.2. Một số kiến nghị... cece ce eeeceeeeceuecceueeceueeseuesesuunsatsseees 71 3.2.1.Về quy định pháp luật:...--- 2 ©++++£+EE+++++2EEE11+122221122277112e.E21. 77 3.2.2. Về thi hành pháp lat: eecccceecccsssessssssssesssssseesssssseeessssseessssseessssssessssseeeessen 79 KET LUẬN CHƯƠNG 3:...-- - 2 S221 E21 1 15E121521217121 111111111 crk. 81 KẾT LUẬN:...-- 52 E13 E11 1111811111111111111111111111111111111 1111 11c. 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài:

Pháp luật không chỉ là công cụ để thiết lập, duy trì, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước nhằm quản lý mọi mặt đời sống xã hội mà pháp luật còn là phương tiện để thực hiện và bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mỗi cơng dân. Sự luật hóa kịp thời và đúng đắn các quan hệ xã hội sẽ góp phần thúc đây kinh tế xã hội phát triển. Do đó, việc mở rộng nghiên cứu các vấn đề pháp luật để đưa ra các dé xuất, kiến nghị nhăm định hướng luật hóa đúng đắn các quan hệ xã hội luôn là yêu cầu can thiết và cấp thiết.

Trong những năm qua, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã có những bước hồn thiện đáng ké, từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vu án dân sự năm 1989 đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đôi, bố sung năm 2011 và mới nhất là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các van dé được luật điều chỉnh cũng ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ xã hội, trong đó có van đề về người đại diện của đương sự.

Đại diện là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội cũng như trong môi trường pháp lý. Trong tố tụng dân sự, đương sự có qun tham gia tơ tụng dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, khơng phải bat kỳ trường hợp nào đương sự cũng có thể tự mình thực hiện các quyền tố tụng đó. Vì nhiều lý do khác nhau như năng lực hành vi, thời gian, vi trí địa lý, trình độ chun môn... đương sự phải thông qua người khác, tô chức khác để thực hiện các quyên tố tụng đó. Sự tham gia tô tụng dân sự của người đại diện đương sự thời gian qua cho thấy vị trí, vai trò quan trọng của họ đối với việc bảo vệ quyền

<small>và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như việc làm rõ sự thật của vụ việc dân</small>

sự. Do đó, việc nghiên cứu một cách đây đủ, chuyên sâu là rất cần thiết đối với

<small>vân dé này.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Chế định đại diện đã được quy định một cách khái quát ở BLTTDS năm 2004 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung những hạn chế trong BLTTDS sửa đôi năm 2011. Tuy nhiên, nhiều quy định về đại diện của đương sự trong Bộ luật TTDS sửa đổi vẫn chưa day đủ, nhiều quy định còn thiếu tính cụ thể, rõ ràng, nhiều van đề cấp thiết chưa được luật hóa. Bộ luật TTDS năm 2015 được ban hành đã tiễn một bước dai với nhiều van dé được khắc phục, sửa đổi.

Ngoài ra, thực tiễn giải quyết các tranh chấp, yêu cầu dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thời gian qua cũng cho thấy người đại diện còn rất lúng túng trong việc tham gia tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của minh. Tinh trạng các Tòa án sai lầm trong xác định tư cách t6 tụng của người dai điện của đương sự hay không thực hiện đúng các quy định về người đại diện của đương sự... dẫn đến hậu quả quyền và nghĩa vụ của người đại diện của đương sự không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ; bản án, quyết định của Tòa án bị hủy làm kéo dai thời gian giải quyết vụ án vẫn tôn tại trên thực tế.

Việc nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự trong bối cảnh BLTTDS 2015 và BLDS 2015 vừa mới bắt đầu có hiệu lực với những sửa đơi, bơ sung lớn trong chế định

<small>người đại diện của đương sự có ý nghĩa trên cả trên phương diện lý luận và</small>

phương diện thực tiễn, một mặt giải thích về quy định mới của pháp luật, một

<small>mặt đánh giá tác động của những quy định mới tới việc cải thiện thực trạng thực</small>

hiện pháp luật tố tụng dân sự cũ về người đại diện của đương sự, từ đó đưa ra

<small>giải pháp hồn thiện pháp luật.</small>

2. Tình hình nghiên cứu đề tài:

Vấn đề đại diện trong tố tụng dân sự đã thu hút nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những cấp độ và những phương diện khác nhau. Trong quá trình

<small>nghiên cứu, lựa chọn đê tài “Người đại điện của đương sự trong tô tụng dân sự”,</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

tác giả đã tham khảo các cơng trình nghiên cứu và các bài viết có liên quan đến van đề này như: Luận án tiễn sĩ luật học: “Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tô tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Cơng Bình năm 2006; Luận văn thạc si luật học: “Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học: “Người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự hiện nay ở Việt Nam” của tác giả Trần Vũ Tồn năm 2013; Khóa luận tốt nghiệp: “Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Hồ Nguyên Bình năm 2010, của tác giả Nguyễn Thị Long năm 2011; Khóa luận tốt nghiệp: “Chế định người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Phùng Thị Thương.

Bên cạnh đó, cịn có các bài viết đăng trên các bao và tạp chí như: bai viết “Người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Công Bình đăng trên Tap chí Luật học số 06/1998; bài viết “Đại diện theo ủy quyên, từ pháp luật nội dung đến tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Minh Hằng, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05/2005; bài viết “Quyền của người đại diện của đương sự được quy định tại Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự” của tác gia Nguyễn Văn Dũng đăng trên Tạp chí Nghề luật số 04/2006; bài viết “Người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Hồng Thu Yến, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 05/2006; bài viết “Bố mẹ có quyền đại diện cho người con bị tâm thần khởi kiện xin ly hôn hay không” của tác giả Tưởng Duy Lượng, đăng trên Tạp chí Tịa án nhân dân, số 06/2006; bài viết “Người mù khơng có người

đại diện có quyền khởi kiện dân sự” của tác giả Từ Văn Thiết, đăng trên Tạp chí

Tịa án nhân dân, số 18/2006; bài viết “Một số suy nghĩ về đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Tưởng Duy Lượng đăng trên Tạp chi Khoa học pháp luật số 01/2007; bài viết “Chế định đại diện theo quy định của pháp

<small>luật Việt Nam — nhìn từ góc độ Luật so sánh” của tác giả Ngô Huy Cuong, đăng</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

trên Tap chi Nhà nước và pháp luật số 04/2009, bài viết “Một số van đề về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh, đăng trên Tạp chí Tịa án nhân dân số 03/2010.

Những cơng trình nghiên cứu cũng như các bài viết trên dù ở mức độ, phạm vi khác nhau đã góp phần phát triển dần chế định đại diện qua các lần sửa đôi Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, chưa có cơng trình nào tiếp cận chế định người đại diện của đương sự trong t6 tụng dân sự trong BLTTDS 2015 với những đôi mới đáng kê. Do vậy, tôi thực hiện đề tài theo hướng tiếp cận tới chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự trong BLTTDS 2015, để làm rõ hơn sự thay đổi trong quy định của pháp luật tố tụng về người đại diện

<small>của đương sự.</small>

<small>3. Mục tiêu nghiên cứu:</small>

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống và toàn diện van đề đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự dưới góc độ lập pháp va áp dụng pháp luật, chỉ ra những hạn chế, thiếu sót và bat cập trong quy định của pháp luật hiện hành và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề người đại diện của đương sự, góp phần tăng

cường hiệu quả của hoạt động t6 tung dan su trén thuc tế. Tuy nhiên, do

BLTTDS 2015 vừa mới bắt đầu có hiệu lực, thời gian áp dụng trên thực tế quá

ngắn, nên tôi thực hiện nghiên cứu thực trạng việc thực hiện BLTTDS sửa đôi,

bồ sung năm 2011 kết hợp với đánh giá sự khắc phục những tồn tại trong thực trang đó của những quy định mới về người đại diện của đương sự trong tô tụng dân sự cua BLTTDS 2015, từ đó đưa ra những kiến nghị hồn thiện. Cụ thê:

- Làm rõ các van dé lý luận cơ bản về đại diện trong tố tụng dân sự;

- - Nghiên cứu các quy định của BLTTDS Việt Nam năm 2015 về người đại diện của đương sự; So sánh sự thay đôi so với quy định của BLTTDS Việt Nam 2004 sửa đổi bố sung năm 2011.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS sửa đổi, bổ

sung năm 2011 về người đại diện của đương sự. Phân tích những hạn chế,

bất cập của những quy định này, đồng thời đánh giá sự khắc phục những hạn chế đó của quy định mới tại BLTTDS 2015 và đề xuất các giải pháp cụ thé hoan thiện pháp luật về đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. 4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định liên quan đến người đại diện của đương sự trong tố tụng dan sự trong BLTTDS 2015, BLDS 2015 và các pháp luật chuyên ngành khác. Ngoài ra, luận văn cũng nghiên cứu về thực trạng thực hiện quy định của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 về người đại diện của đương sự trong t6 tung dan su.

Trên co sở lý luận về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định trong một số văn bản pháp luật như: Luật Tổ tụng dân sự 2015, Luật dân sự 2015, Luật HN&GD 2014, Luật Lao

<small>động 2013 và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Bên cạnh đó, luận văn</small>

cũng đưa ra những so sánh quy định tại các bộ luật trên về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự với quy định về chế định này của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, BLDS 2005.

<small>5. Câu hỏi nghiên cứu:</small>

<small>Luận văn tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:</small>

- Người đại diện của đương sự trong t6 tụng dân sự là ai?

- Chế định người đại diện của đương sự trong tố tung dân sự trong BLTTDS 2015 quy định thế nào? Có thay đổi gì so với BLTTDS 2004 sửa đôi bồ sung năm 2011?

- Thuc trang ap dung ché dinh người dai diện cua đương sự trong tố tụng dân sự theo BLTTDS 2004 sửa đổi b6 sung năm 2011 vào thực tế đời sống? - Những quy định mới của BLTTDS 2015 khắc phục những vướng mắc,

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

bat cập trong thực trạng áp dung BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 như thế nào?

- Hướng hoàn thiện pháp luật như thế nào dé nâng cao hiệu quả việc áp dụng chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự?

<small>6. Phương pháp nghiên cứu:</small>

<small>Luận văn vận dụng các phương pháp luận cơ bản sau:</small>

- Phuong pháp phân tích, tổng hợp, khái quát: Nhằm đi sâu vào phân tích bản chất của quan hệ đại diện, tổng hợp các quy định pháp luật hiện hành về người đại điện của đương sự, từ đó phân tích làm rõ đi đến khái quát những nguyên tac chung của quan hệ đại diện trong tố tụng dân sự

- Phuong pháp mô tả kết hợp so sánh, đối chiếu: tìm hiểu về chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự theo từng thời kỳ ở Việt Nam, tìm ra những điểm mới tiến bộ của pháp luật hiện hành so với các bộ luật trước, đồng thời so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới trong quy định về người đại diện của đương sự trong t6 tung dan sự, tìm ra những điểm tương đồng giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật các quốc gia đó.

<small>- Bên cạnh những phương pháp chủ đạo trên, luận văn cũng sử dụng</small>

một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp nghiên cứu lịch sử để nghiên cứu quá trình phát triển của chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự qua các thời kỳ của Việt Nam, phương pháp khảo sát thực tế từ đó đưa ra được những vướng mắc, bat cập trong

<small>quá trình áp dụng pháp luật;...</small>

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:

Sự ra đời của LTTDS 2015 đã đưa lại những điểm mới tích cực cho chế định người đại diện của đương sự trong tô tụng dân sự. Với đề tài này, tác giả hi vọng có thé xây dựng được một ngn tài liệu tham khảo hữu ích cho cơng tác

<small>nghiên cứu, giảng dạy luật học nói chung và luật TTDS nói riêng. Bên cạnh đó,</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

luận văn cũng có ý nghĩa thiết thực cho những cá nhân, cơ quan, tô chức không hoạt động trong lĩnh vực pháp luật khi muốn áp dụng chế định người đại diện cho việc tham gia tố tụng của mình. Luận văn góp phần cung cấp những kiến thức lý luận và thực tiễn chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, quy định của pháp luật về chế đỉnh này... Trên cơ sở đó, người đọc có thể tự mình nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng vào thực tế để giải quyết những khó khăn của minh trong việc tham gai tô tụng dân sự, tạo nên tảng cho việc thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, chính xác, nâng cao hiệu quả của hoạt động tố

<small>tụng dân sự;</small>

Ngoài ra, những vấn đề pháp lý cũng như những kiến nghị được đề xuất trong luận văn này cũng phần nào đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố việc thực thi pháp luật ở nước ta hiện nay. Tác giả hi vọng luận văn có thé đem đến một cái nhìn tổng quát về chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự và những van dé cần tập trung nghiên cứu thêm dé ngày càng hoàn thiện BLTTDS, phù hợp với định hướng phát triển của đất nước và mong muốn của mỗi người dân.

8. Bố cục của luận văn:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương như sau:

Chương 1: Một số van đề lý luận cơ bản về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự

Chương 2: Người đại diện của đương sự trong tô tụng dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành

Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tung dân sự - Một sô đánh giá về những điểm mới của Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2015 — Một số kiến nghị

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE NGƯỜI DAI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TÓ TỤNG DÂN SỰ

1.1. KHÁI QUÁT NGƯỜI ĐẠI DIỆN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ:

1.1.1. Khái niệm dai diện của đương sự trong tố tụng dân sự: “Đại diện” theo Từ điển Tiếng Việt /à sự thay mặt cho cá nhân, tập thể”! [1. p. 279]. Theo Từ điển Luật học, “dai diện là việc một người, mot cơ quan, t6 chức xác lap, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyên dai diện.

<small>Người đại điện là người nhân danh và vì các lợi ích của một người khác xác lap,</small>

thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại điện””. [2, p. 575]

Tại cuốn Những van dé cơ bản và thuật ngữ cua Bộ Luật Dan sự của tác giả Nguyễn Thùy Dương — Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh [3], khái niệm Đại diện được định nghĩa rõ ràng hơn dưới dạng là một hành vi, trong đó ton tại hai chủ thể: người đại diện và người được đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi phạm vi thầm quyền đại diện. Quan hệ đại diện được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyên. Trường hợp pháp luật có quy định phải tự mình thực hiện giao

<small>dịch dân sự thì cá nhân khơng được cho người khác đại diện cho mình.</small>

Có thé thay, cơ chế đại diện biểu hiện rõ rệt cho sự linh hoạt linh hoạt, mềm dẻo trong của đời sống pháp lý dân sự. Các giao dịch dân sự luôn có sự đa dạng trong chủ thể tham gia: chủ thé có thé là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, và đối với những chủ thể mà quyền lợi mang tính cộng đồng thì việc tham gia quan hệ pháp luật dân sự buộc phải thông qua hành vi của người đại diện, đối với cá nhân, pháp luật dân sự với sự đề cao nguyên tắc tôn trọng quyên tự định đoạt, được phép tham gia vào các <small>1 Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt, Hà Nội - Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, 2004.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

giao dịch dân sự một cách gián tiếp và được hưởng lợi từ giao dịch đó thơng qua một người khác. Chế định đại diện còn là một phương tiện pháp lý hữu ích đối với các cá nhân mà theo quy định của pháp luật thì khơng thể trực tiếp tham gia

<small>giao dịch dân sự, đưa họ tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, đảm bảo các</small>

quyền năng cơ bản của họ mà pháp luật cho phép họ.Š [4, p. 141]

Với nội dung cốt lõi như vậy, chế định đại diện được áp dụng vào hoạt động tô tụng dân sự. Hoạt động tô tụng dân sự là một hoạt động pháp lý nhằm giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Mặt khác, chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật nội dung nêu trên thơng thường chính là một bên chủ thé tham gia t6 tung dân su với tu cach là đương sự, do vay, tính đa dang va địi hỏi linh hoạt về người tham gia quan hệ pháp luật của các chủ thé đó đã đặt ra yêu cầu áp dụng chế định đại diện trong Tố tụng dân sự.

Đương sự trong tố tung dân sự là những người tham gia tố tụng dân sự dé

bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo về lợi ích cơng cộng, lợi ích

của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyên, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sw.‘ [5, p. 108]

Đương sự trong vụ việc dân sự cũng rất đa dạng, có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự; người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. Đối với trường hợp đương sự là chủ thé mà quyền lợi mang tính cộng đồng, như đã nói ở trên, ln địi hỏi phải thông qua cơ chế đại diện dé bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp cho cộng đồng người đó. Ngồi ra, tương tự như sự tơn trọng quyền tự định đoạt của chủ thê pháp luật dân sự hay đảm bảo quyên tham gia quan hệ pháp luật dân sự của một số chủ thé đặc biệt của pháp luật dân sự, pháp luật t6 tung dân sự cũng cho phép <small>3 Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, vol. Tập một, Hà Nội: NXB. Giáo dục Việt Nam, 2009.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

đương sự hoặc tự mình thực hiện quyên, nghĩa vụ t6 tung cua họ hoặc thông qua

người khác tham gia tố tung thực hiện các quyền và nghĩa vụ tổ tung của đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Và những người tham gia tố tụng với tư cách nêu trên được gọi là người đại diện của đương sự.

Là một dạng cụ thé của người đại diện trong khoa học pháp lý dân sự, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự cũng với ý nghĩa thay mặt đương sự - một loại chủ thé tham gia tô tụng dân sự, nhân danh đương sự tham gia một quan hệ pháp luật — cụ thé là quan hệ pháp luật tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đó — là quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự nhằm bảo vệ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa cho khái niệm Người đại

<small>diện của đương sự như sau:</small>

“Người đại diện của đương sự trong tô tụng dân sự là người thay mặt cho đương sự tham gia tô tụng dân sự, thực hiện các quyên và nghĩa vụ tơ tụng dé bảo vệ qun, lợi ích hợp pháp cho duong sự trong to tụng dân sự”

1.1.2. Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự: e_ Người đại diện thông thường là cá nhân có đủ năng lực pháp luật tổ

tụng dân sự và năng lực hành vi tổ tụng dân sự:

Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự với chức năng người thay mặt cho đương sự tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, trực tiếp thực hiện các quyên và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, do đó, người đại điện thơng

<small>thường là cá nhân có du năng lực hành vi TTDS.</small>

Như đã nói, đối với trường hợp đương sự là tổ chức, tham gia tố tụng vì quyền lợi của cộng đồng tổ chức đó, tơ chức là một chỉnh thé phức tạp hình

thành bởi nhiều bộ phận khác nhau, khơng thể trực tiếp thực hiện các quyên,

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

nghĩa vụ tơ tụng được, do đó, tất u phải có cá nhân cụ thé đứng ra đại diện cho toàn thé tơ chức, trực tiếp thực hiện.

Và chính vì tổ chức là chủ thé không thé trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng nên không thể thể hiện được một cách trực tiếp chức năng đại diện cơ

<small>bản của người đại diện.</small>

Tuy nhiên, có một vài trường hợp đặc biệt, cơ quan, tô chức khởi kiện dé bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người khác cũng được xem là người đại điện của đương sự. Vốn di, cơ quan, tô chức không thé là chủ thé trực tiếp thực hiện quyền năng tố tụng cho người được đại diện, họ vẫn nhất thiết phải thông qua người đại diện cho tổ chức mình thực hiện chức năng đại diện nói trên. Có thé

thấy, đến tận cùng thì chủ thể thực hiện chức năng đại diện vẫn là cá nhân, cịn

tư cách đại diện thì vẫn có thé được gan cho co quan, tô chức trong một SỐ

<small>trường hợp mà pháp luật quy định.</small>

<small>Người được công nhận là người đại diện của đương sự phải là người thực</small>

hiện cơ chế đại diện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, được pháp luật TTDS quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng. Hay nói cách khác người đại diện phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự.

Hơn nữa, cá nhân dé đủ điều kiện thực hiện chức năng đại diện của người đại diện của đương sự phải là cá nhân có đủ năng lực, nhận thức dé tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Hay nói cách khác, cá nhân thực hiện chức năng đại diện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Theo đó, cá nhân này phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi và khả năng nhận thức, làm

<small>chủ hành vi của mình mà pháp luật quy định.</small>

e Người đại diện tham gia quan hệ tổ tụng trên cơ sở quan hệ đại diện và nhân danh đương sự thực hiện các quyên và nghĩa vụ tổ tụng của đương sự: Người đại diện không đương nhiên có tư cách t6 tụng ma ho có được tu cach đó hoặc do pháp luật quy định trong một SỐ trường hợp cụ thể hoặc do

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

đương sự trao cho thông qua cơ chế đại diện. Người đại diện tham gia đồng thời hai quan hệ pháp luật, một là quan hệ đại diện và hai là quan hệ tô tụng. Quan hệ đại diện là tiền đề để người đại diện tham gia tố tụng, nếu khơng có quan hệ đại diện, người đại diện khơng hình thành va khơng ai có tư cách tố tụng của đương sự thay đương sự tham gia gia tố tụng.

<small>Với ý nghĩa cơ bản của quan hệ đại diện là sự thay mặt của người đại diện</small>

đối với người được đại diện, người đại diện được pháp luật hoặc đương sự trao cho quyền tham gia tô tụng thay cho đương sự, thực hiện các quyền năng tổ tung của đương sự. Tuy nhiên, người đại diện thực hiện các quyền năng đó dưới danh nghĩa của đương sự, vì quyền lợi của đương sự. Điều này phân biệt người đại diện với người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng đồng thời với đương sự, có vị trí pháp lý tương đối độc lập với đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng riêng biệt mà pháp luật quy định, không phải là thực hiện quyền và nghĩa vụ tổ tụng của

<small>đương sự.</small>

© Quyên và nghĩa vụ của người đại diện phụ thuộc vào quyén và nghĩa vụ của đương sự và bản chất của quan hệ đại diện:

Như đã phân tích ở trên, vì là thay mặt đương sự thực hiện các quyên, nghĩa vụ tô tụng của đương sự thông qua quan hệ đại diện, cho nên, quyền và

nghĩa vụ của người đại diện phụ thuộc vào nội dung quyền, nghĩa vụ t6 tung cua

đương sự. Người đại diện của nguyên đơn thực hiện các quyền va nghĩa vu tố tụng của nguyên đơn, người đại diện của bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ

tố tụng của bị đơn,... Quyên, nghĩa vụ tố tụng của những đương sự ở vị trí tố

<small>tụng khác nhau thì khác nhau, theo đó người đại diện của từng loại đương sự</small>

khác nhau thì thực hiện các quyền và nghĩa vụ tơ tụng khác nhau.

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

Ngoài ra, quan hệ đại diện có nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng quan hệ đại

<small>diện lại mở ra những phạm vi đại diện khác nhau cho người đại diện, theo đó,</small>

người đại diện sẽ được thực hiện các quyền và nghĩa vụ t6 tung của đương su ở các mức độ khác nhau. Ví dụ, trong quan hệ đại diện theo ủy quyên sẽ thực hiện

<small>đại diện khác nhau cho người đại diện, theo đó, người đại diện sẽ được thực hiện</small>

các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự ở các mức độ khác nhau. Ví dụ, trong quan hệ đại diện theo ủy quyên sẽ thực hiện quyên, nghĩa vụ tổ tụng theo phạm vi ủy quyền mà đương sự đưa ra, còn trong quan hệ đại diện theo pháp

luật, người đại diện được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định

<small>của pháp luật.</small>

1.1.3. Vai trò của người đại diện của đương sự trong to tụng dân sự: Người đại diện tham gia tố tụng tham gia tô tụng như một cau nói kết nói giữa đương sự và cơ quan tiễn hành tố tụng. Đối với đương sự, người đại diện thay mặt đương sự thực hiện những quyên, nghĩa vụ tố tụng mà đáng ra họ phải tự mình thực hiện, trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Qua đó, đương sự vừa được đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của mình vừa được thực hiện hộ những quyên và nghĩa vụ của bản thân.

Đối với cơ quan tiễn hành tố tụng, người đại diện giúp họ kết nối được với đương sự một cách thuận lợi và hiệu quả nhất. Như đã biết, không phải tất cả các loại chủ thé có thé tham gia một cách trực tiếp vào quan hệ tổ tụng dân sự, hoặc họ là một tô chức hoặc họ không đủ khả năng hoặc không đủ kiến thức hay một vài lý do chủ quan khác. Trong những trường hợp đó, dé giải quyết được vụ việc liên quan đến những chủ thê đó, họ đã sử dụng cơ chế uy quyén dé kết nối mình vào quan hệ tố tung dé bảo vệ lấy quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân. Nhờ vậy, cơ quan tiễn hành tố tụng có thé nhanh chóng tiếp cận được với sự thật khách quan, giải quyết vụ việc theo đúng chức năng của mình, đặc biệt là chức năng bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của các chủ thé trong xã hội.

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

1.1.4. Phân loại người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự:

Trong tơ tụng dân sự, có nhiều tiêu chí để phân loại người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, mỗi cách phân loại có những ý nghĩa riêng biệt, mỗi cách phân loại sẽ đưa lại những góc độ nhận thức khác nhau về khái niệm

<small>người đại diện, tùy vào mục đích nghiên cứu mà lựa chọn cách phân loại phù hợp.</small>

e Nếu dựa vào cơ sở tham gia của người đại diện có thể chia người

<small>đại diện làm ba loại:</small>

<small>- Người đại diện theo pháp luật</small>

- Người đại điện theo ủy quyền

<small>- Người đại diện do toàn án chỉ định” [5, p. 119]</small>

e Nếu dựa vào vị trí tố tụng của người được đại diện, có thé chia

<small>người đại diện theo ba loại sau:</small>

- Người đại diện của nguyên đơn/người yêu cầu

<small>- Người đại diện của bị đơn</small>

- Người đại diện của người có quyền và nghĩa vụ liên quan

e Dua vào loại chủ thé được đại diện, chia người đại diện thành hai

<small>- Người đại diện của cá nhân</small>

- Người đại diện của cơ quan, tơ chức

e Dua vào ý chí của chủ thể, chia người đại diện thành hai loại: - Người đại diện theo ủy quyền

<small>- Người đại diện theo pháp luật</small>

<small>Trong phạm vi luận văn nay, tôi chọn phân loại người đại diện theo tiêu chíý chí của đương sự. Theo đó, người đại diện được chia thành hai loại:</small>

- Người đại diện theo ty quyên: là người tham gia tô tụng dé bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự ủy quyền của đương sự trên

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

<small>cơ sở ý chí của đương sự. Do đó, đương sự trong trường hợp này là người</small>

có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, nhưng họ có ý chí muốn nhờ người khác tham gia tố tụng hộ mình. Và họ phải có đủ năng lực hành vi dân sự thì mới có thé thực hiện quan hệ đại diện với người đại diện, dé trao quyền tham gia tố tụng cho ho.

Trong trường hợp này, người đại diện chỉ được tham gia quan hệ tố tụng khi được đương sự ủy quyền. Đương sự có thể ủy quyền cho bất cứ cá nhân nào có đủ năng lực hành vi tố tụng dé thay mặt minh, trừ một SỐ người đặc biệt như cán bộ, cơng chức trong ngành tịa án, kiểm sát, cơng

an để đảm bảo tính khách quan cho việc giải quyết vụ việc dân sự; và

trong việc li hôn, do gắn liền với yếu tô nhân thân của đương sự nên đương sự cũng không được ủy quyên cho người khác tham gia tố tụng.

Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Người đại diện theo pháp luật: là người tham gia tố tung dé bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyên.

Người đại diện trong trường hợp này tham gia t6 tụng khơng dựa trên ý chí riêng biệt của đương sự, mà họ tham gia tố tụng theo những nguyên tắc đã được pháp luật đề ra hay dựa trên những nguyên tắc đó.

<small>Những đương sự được đại diện trong trường hợp này khơng có năng</small>

lực hành vi hành vi tơ tung dân sự đầy đủ, họ khơng thé tự mình tham gia quan hệ t6 tụng, do đó, pháp luật đã đưa ra cơ chế đại diện để giúp họ tham gia được quan hệ tố tụng để đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp

<small>của họ được bảo vệ.</small>

1.2. Co sở khoa học của việc xây dựng quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự:

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

<small>1.2.1. Cơ sở lí luận:</small>

- _ Việc xây dựng các quy định về người đại diện của đương sự trong t6 tung dân sự nhằm đảm bảo quyên được tiếp cận công lý và quyên được bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của công dân.

Quyền được tiếp cận công lý là quyền được tiếp cận với các thiết chế tư pháp dé cơng dân có thé bảo vệ quyền lợi của mình, mà nền tang của nó là khn khổ các qun, nghĩa vụ của công dân và khuôn khổ các thiết chế cho phép tất cả mọi người có thé vận dụng hoặc được trợ giúp dé có thé có được sự bù đắp, khắc phục những bất công, thiệt hại mà mình phải gánh chịu. Một khía cạnh khác của tiếp cận cơng lý là khả năng địi hỏi, theo đuổi vụ việc của công dân trong tố tụng. Tuy nhiên, khơng phải ai cũng có khả năng làm tốt việc địi hỏi va theo đi vụ việc dé bảo vệ mình (có thể do kém hiểu biết về pháp luật, khơng có thời gian, hạn chế về địa lý, hoặc thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng...), hay thậm chí họ khơng đủ khả năng, nhận thức dé tham gia tố tụng một cách bình thường theo quy định của pháp luật (ví dụ như người mắt năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự....). [6]

Điều tối thiêu để bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của bản thân tại Tịa án là quyền được tham gia t6 tụng của đương su. Những su bất lợi, cản trở đương sự tiếp cận quyền năng đó trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận cơng lý của

cơng dân, do đó, chúng cần thiết phải được khắc phục. Và cơ chế đại diện là một

phương thức hữu hiệu giải quyết những khó khăn cản trở sự tham gia tố tụng của các chủ thể trong xã hội. Những người đại diện sẽ có những điều kiện, phẩm chất mà đương sự khơng có hoặc khơng đủ để tham gia tố tụng một cách thuận lợi và hiệu quả, người đại diện thay mặt đương sự, bù đắp những thiếu sót của đương sự để từ đó bảo đảm tối đa quyên, lợi ích hợp pháp mà đương sự đáng

<small>được hưởng.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

- Viéc xây dựng các quy định về người đại điện của đương sự trong lô tụng dân sự đồng thời cũng dam bảo thực hiện nguyên tắc bình dang trong tơ

<small>tụng dân sự.</small>

Ngun tắc bình dang về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Tổ tụng dân sự, nó đóng vai trị tiền đề chủ yếu dé thực hiện tranh tụng tại phiên tịa. Theo đó, giữa các đương sự phải được bình đăng về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, đương sự này được đưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích của mình thì bên kia cũng phải được đưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

<small>của họ.</small>

Cũng như phan trên đã đề cập, không phải mọi chủ thé dé có đủ những điều kiện, phẩm chat dé có tư thế ngang nhau khi tiếp cận những quyền, nghĩa vụ tố tụng. Cơ chế đại diện chính là bàn nâng cho những thiếu hụt của đương sự, để họ có khả năng tiếp cận và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng một cách ngang nhau.

- _ Việc xây dựng quy định về người đại diện dựa trên cơ sở tôn trọng quyên

<small>tự định đoạt của đương sự.</small>

Quyền tự định đoạt có thé nói là một trong những quyên năng đặc trưng của chủ thê tham gia quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nói riêng. Về bản chất, người đại diện của đương sự trong tố tụng

<small>dân sự cùng với đương sự tham gia quan hệ đại diện — một loại quan hệ dân sự.</small>

Do đó, những quy định về người đại diện phải dựa trên cơ sở tơn trọng quyền tự

<small>định đoạt nói trên.</small>

Đương sự khi tham gia t6 tụng được tu quyết định về quyền, lợi ích của họ

và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hay nói cách khác, quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự cho phép đương sự trong tô tụng dân sự được lựa chọn phương thức tham gia tố tụng theo cách mà họ cho rằng đó là thuận lợi nhất và tốt nhất cho việc bảo vệ

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

qun, lợi ích hợp pháp của mình. Đó là trực tiếp tham gia hay nhờ người thay mặt mình tham gia t6 tung, va ho có thé tự lựa chon người phù hợp thay thế mình đó, họ tự mình ràng buộc giới hạn thay thế đối với người được nhờ đó. Và đây chính là cơ chế đại diện mà đương sự được pháp luật cho phép sử dụng.

Những quy định của pháp luật là bộ khung để hướng dẫn đương sự có được

quan hệ đại diện đúng dan, đạt hiệu quả tốt nhất. Đương sự chính là người quyết

định những nội dung cụ thể trong bộ khung đó. 1.2.2. Cơ sở thực tiễn:

Tủ nhất, trong xã hội khơng phải tat cả mọi chủ thé đều có khả năng, điều kiện, năng lực nhận thức, kiểm soát hành vi của bản thân như nhau. Sẽ có những người có khuyết tật về nhận thức, hay chưa đủ tuổi tham gia các quan hệ pháp luật tố tụng, hay mắc những căn bệnh làm giảm sút khả năng kiếm sốt bản thân, khả năng nhận thức ... mà khơng thể tham gia một cách trực tiếp vào quan hệ tố tụng theo quy định của pháp luật, hay chi đơn giản là do cấu tạo là một tổ chức mà chủ thể không thê trực tiếp đứng ra tham gia tố tụng, hay là vì những hạn chế về hiểu biết mà chủ thé không đủ tự tin tham gia t6 tụng. Và cơ chế đại diện là một biện pháp hạn chế những cản trở đó cho đương sự, giúp đương sự được tham gia vào tố tụng một cách bình đăng.

Thứ hai, đời sơng dân sự đang ngày một phức tạp, nhiều dang quan hệ ra

<small>đời với những nội dung vô cùng đa dạng, phong phú. Những vụ việc phát sinh</small>

từ đời sống dân sự cũng từ đó mà phức tạp theo. Có những trường hợp, nếu đương sự không chuyên sâu về pháp lý chuyên ngành thi rat khó khăn dé hiểu về

<small>vụ việc của chính mình. Đương sự ngày càng khó khăn trong việc tự mình bảo</small>

vệ quyén và lợi ich hợp pháp của bản thân, từ đó, đây nhu cầu được trợ giúp

<small>pháp lý ngày càng tăng cao. Quy định người đại diện của đương sự là mở ra cho</small>

đương sự con đường giải quyết nhu cầu cấp thiết đó.

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Khi tham gia tố tụng dân sự, đương sự không chỉ đơn thuần đưa ra yêu cầu mà chính đương sự còn phải đưa ra những chứng cứ chứng minh cho yêu cau của mình hay bảo vệ mình trước những yêu cầu của bên đối lập. Nhưng những

đương sự có khuyết tật, hạn chế về nhận thức, hạn chế về hành vi nói chung hay

hạn chế về nhận thức pháp luật nói riêng khó khăn trong việc nhận biết về các giai đoạn của tố tụng, hiểu về quyền và nghĩa vụ của bản thân khi tham gia tố tụng, ... thì làm sao có thể tìm ra được cách thức bảo vệ mình tốt nhất trong quá trình tố tụng, hay đưa ra được những chứng cứ hợp lý có lợi cho mình nhất, chưa kê đến phản biện lại bên đối lập.

Tóm lại, mục tiêu xuyên suốt của hoạt động t6 tụng đó chính là tìm ra sự

thật khách quan, giải quyết vụ việc dân sự, dé đạt được mục tiêu này, hoạt động

tranh tụng trong tố tụng phải được thực hiện hiệu quả, các đương sự phải nhận thức đúng và đủ các quyền và nghĩa vụ tơ tụng của mình. Cùng với xu hướng mở rộng tranh tụng hiện nay, những yêu cầu đó lại càng được coi trọng, đây val trò của người đại diện thêm một tầm quan trọng, đặc biệt là người đại diện theo ủy quyền. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc xây dựng các quy định về đại diện trong tố tụng dân sự là một hoạt động cần thiết.

1.3. Sơ lược về sự phát triển các quy định về đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự:

1.3.1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1989: Ngày 13/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33 về việc thành lập tòa án quân sự, trong đó khăng định “bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ

<small>người khác bênh vực mình”. Đây chính là cơ sở cho việc sau này pháp luật nước</small>

ta ban hành các quy định về người đại diện của đương sự trong q trình tố tụng

<small>nói chung và tơ tụng dân sự nói riêng.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

Đến Sắc lệnh 144/SL ngày 22/12/1949, nhà nước đã ban hành quy định mở rộng quyên bào chưa cho các đương sự: “Điều 1. Trước các tòa án nguyên cáo, bị cáo, bị can có thé nhờ một người cơng dân khơng phải luật sư bênh vực mình.

Ngày 22/5/1950, Sắc lệnh 65/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Điều 2 có quy định “Luật sư có thé được tham gia tố tung dé bảo vệ quyền

<small>và lợi ích hợp pháp cho đương sự”.</small>

Năm 1972, Chính quyền Ngụy Sài Gòn ban hành Bộ Luật Dân sự và

Thương sự quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, Trong đó có

các quy định tiễn bộ như thừa nhận quyền tự bảo vệ của đương sự, quyền nhờ Luật

sư, tôn thuộc, ty thuộc, vợ chồng, anh em thay mặt tham gia quá trình tố tụng.

Sau chiến thang của cuộc tổng tiến công năm 1975, đã nước ta thống nhất. Năm 1980, Hiến pháp được ban hành, trong đó có ghi nhận “tổ chức luật su được thành lập dé giúp bi cáo và các đương sự khác về pháp lý” và được cụ thé hóa trong Pháp lệnh tơ chức luật sư 1987, theo đó, một trong những hình thức

<small>giúp đỡ pháp lý của luật sư là “đại diện cho các bên đương sự trọng vụ án dân</small>

sự, hơn nhân va gia đình, lao động” (khoản 1 Điều 13). 1.3.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến nay:

Trong giai đoạn này, nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTDS như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vu án dân sự năm 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chap lao động năm 1996;...Những văn bản này có những quy định đổi mới quan trọng về tổ chức TTDS, trong đó đều có các quy định về người đại diện của

<small>đương sự.</small>

Đến năm 2001, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh luật sư thay thế Pháp lệnh

<small>Luật sư năm 1987.</small>

Trên cơ sở kế thừa các pháp lệnh về thủ tục trước đó đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Pháp, Nga, Trung

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Hoa, đồng thời kết hợp với những nguyên tắc cơ bản của quan hệ đại diện trong pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2004, Quốc hội Việt Nam đã xây

<small>dựng BLTTDS và thơng qua ngày 15/5/2004 và chính thức có hiệu lực thi hành</small>

từ ngày 1/1/2005. Quy định về người đại diện của đương sự được ghi nhận tại 5 điều từ Điều 73 đến Điều 78, tại đây pháp luật đưa ra các quy định liệt kê loại người đại diện, định nghĩa về từng loại người đại diện đó, quy định về quyền và

<small>nghĩa vụ của người đại diện, những trường hợp không được làm người đại diện,</small>

các trường hợp chỉ định người đại diện, quy định về châm dứt đại diện và hậu quả pháp lý của chấm dứt đại diện. Đây là lần đầu tiên chế định người đại diện của đương sự được thể hiện cụ thê trong hệ thống pháp luật tổ tụng dân sự.

Sau 7 năm thi hành Bộ Luật Tố tụng dân sự 2005, năm 2001, Quốc hội thực hiện sửa đổi, bố sung Luật Tố tụng dân sự 2004. Tuy nhiên, quy định về chế định người đại diện không có bat cứ sửa đối, bỗ sung nao.

Vừa qua, ngày 27/11/2015, Quốc hội đã ký thông qua Bộ Luật Tổ tụng dân sự năm 2015 thay thế Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đôi, bố sung năm 2011. Trong Luật Tố tụng dân sự 2015, quy định về người đại diện đã có những sự thay đổi phù hợp với các luật chuyên ngành.

Về bản chất, chế định người đại điện vẫn được giữ nguyên như ở BLTTDS cũ. Ở BLTTDS 2015 đã có những bổ sung làm rõ hon, cụ thé hơn về chế định

<small>người đại diện của đương sự.</small>

Tại BLTTDS 2015, người đại điện cho đương sự được quy định có thể là cá nhân hoặc tổ chức, điều này đã giải quyết vướng mắc trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của cơ quan tô chức khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng như để phù hợp với những đổi mới trong các hệ thống pháp luật chuyên ngành. Vướng mắc này đã gây ra khơng ít khó khăn cho cơng tác tư pháp ở nhiều địa phương.

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

BLTTDS 2015 bồ sung thêm quy định về việc tham gia tố tụng của 6 chức đại điện tap thể lao động, trong đó tơ chức này là người đại diện cho tập thê người lao động tham gia tố tụng trên cơ sở bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc trên cơ sở sự ủy quyên của tập thê người lao động:

“Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tô tụng tại Tịa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm; tô chức đại điện táp thể lao động đại điện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tô tụng khi được người lao động uy quyên. ”

Hoặc người đại diện của tơ chức này thay mặt một nhóm người lao động trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị có chung yêu cầu trên cơ sở quan hệ ủy quyền:

“Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cẩu đối với người sử dung lao động, trong cùng một doanh nghiệp, don vi thì họ được ủy quyên cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tơ tụng tại Tịa án. ”

Trong Luật Hơn nhân va Gia đình 2014 có bổ sung quyền u cau ly hơn của cha mẹ, người thân thích của vợ/chồng trong một số trường hợp:

“Cha, mẹ, người thân thích khác có qun u cau Tịa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chỗng do bị bệnh tâm thân hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, lam chu được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh mạng, sức khỏe, tinh than của họ”

Để phù hợp và thống nhất với quy định mới trên của Luật HN&GD 2014, BLTTDS 2015 cũng đã có sự bố sung về tư cách tham gia tố tụng dân sự của cha, mẹ, người thân thích khác đứng ra yêu cầu ly hôn theo quy định trên:

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

“Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tịa án giải quyết ly hơn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là

<small>người đại diện.”</small>

Đặc biệt, trong quy định về chỉ định người đại diện, BLTTDS 2015 đã có những b6 sung đầy đủ hơn về các trường hợp cần phải chỉ định người đại diện:

“Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người chưa thành niên,

người mat năng lực hành vi dân sự, người bị han chế năng lực hành vi dân sự,

<small>người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà khơng có người đạidiện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp</small>

quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện dé tham gia tố tụng.

2. Đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là người chưa thành niên mà khơng có

<small>người đại diện và Tịa án cũng không chỉ định được người đại diện theo quy</small>

định tại khoản 1 Điều này thì Tịa án chỉ định tô chức đại diện tập thé lao động

<small>đại diện cho người lao động đó.”</small>

Trong khi đó, BLTTDS sửa đổi, bố sung năm 2011 chỉ dừng lại ở người hạn chế năng lực hành vi dân sự mà khơng có người đại diện hoặc người đại

<small>diện theo pháp luật của họ rơi vào các trường hợp không được làm người đạidiện theo quy định của pháp luật.</small>

BLTTDS 2015 đã chính thức được thông qua với những bổ sung quan trọng trên, tuy nhiên, những bồ sung đó vẫn chưa có hiệu lực trên thực tế. Có thé nói, đây là lần sửa đổi có tính đột phá trong quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Liệu sự đột phá có đem lại những hiệu quả thực tế cũng mang tính đột phá hay khơng thì cịn phải cần một khoảng thời gian nhất định kiểm chứng bằng thực tế.

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

1.4. Người đại diện của đương sự trong t6 tụng dân sự trong quy định của một số quốc gia trên thế giới:

1.4.1. Bộ Luật Tổ tụng dân sự của Cộng hòa Pháp:

BLTTDS Cộng hòa Pháp được ban hành năm 1806, gồm 1507 điều, trong đó, chế định người đại điện được quy định tại Thiên XII, bao gồm 10 điều, từ Điều 411 đến Điều 420, với tên gọi “Đại diện và trợ giúp tại tòa an” và một SỐ điều luật khác rải rác trong bộ luật.

BLTTDS Pháp quy định: “M⁄/ bên đương sự chỉ có thể nhờ một trong những người, thể nhân hoặc pháp nhân, có đủ tư cách theo quy định của pháp luật, đề đại diện cho mình tại Tịa án” (Diéu 414)

Duong su có thé ủy quyền đại diện tại Tòa án cho “Luật sư; vợ hoặc chồng; cha mẹ hoặc những người thân thích trực hệ; cha mẹ hoặc những người bang hệ đến hết hàng thứ ba; những người quan hệ mật thiết với đương sự, như những người phục vụ riêng hoặc người cộng tác đắc lực trong công việc của đương sự. Nhà nước, các tỉnh, các xã và các cơ sở cơng có thể nhờ một cơng chức hoặc viên chức hoặc một viên chức thay mặt hoặc trợ giúp ” (Diéu 628)

Quy định của BLTTDS Pháp mang tính giới hạn những chủ thé có thé làm người đại diện bằng cách liệt kê, còn trong BLTTDS Việt Nam chỉ giới hạn băng cách chỉ ra những trường hợp không được làm người đại diện. Hay nói

<small>cách khác, phạm vi người có khả năng được làm người đại diện cho đương sựtheo quy định của pháp luật Việt Nam rộng hơn.</small>

“Để được đại diện cho một bên đương sự thì những người này phải chứng mình là mình đã được đương sự ủy quyên đại diện, tuy nhiên luật sư bào chữa hoặc luật su đại diện không can phải chứng minh điều này và thừa phát lai cũng được hưởng quyên miễn trừ này trong trường hợp thừa phát lại được đại diện cho duong sự” (Điều 416)

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

“Đối với thẩm phán và bên tranh chấp kia, người được ủy quyên đại diện tại Toa an được coi như có quyền hạn đặc biệt dé rút đơn hoặc chấp nhận việc rút don, dé dé xuất hoặc chấp nhận một lời đề nghị, một lời tự thú, một sự thỏa thuận ” (Điễu 417)

Những quy định này cho thấy sự chi tiết hóa của BLTTDS Pháp về quyền và nghĩa vụ của người được đại diện khi tham gia tố tụng thay đương sự.

Yêu cầu về tính xác thực quan hệ đại diện được quy thành nghĩa vụ chứng minh tư cách đại điện cho người đại diện khi tham gia tổ tụng, còn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, mặc dù cũng có yêu cầu về sự xác thực quan hệ đại diện, tuy nhiên, nó được quy định trong BLDS thơng qua sự quy định về hình thức giao kết của quan hệ đại diện theo ủy quyền hay theo quy định của pháp luật tô tụng dân sự vé sự chấp thuận của Tòa án đối với sự tham gia cua người đại diện của đương sự mà đương sự và người dai diện phải biết và thực

Người đại diện theo quy định của BLTTDS Pháp có đặc quyên trong việc rút đơn hoặc chấp nhận việc rút đơn, dé đề xuất hoặc chấp nhận một lời dé nghị, một lời tự thú, một sự thỏa thuận. Tức là, mỗi khi đương sự ủy quyền cho người khác thay mặt mình tại Tịa án, thì người đó có quyền thay đương sự thực hiện quyền năng đặc biệt đó, cho dù đương sự có ủy quyền hay khơng. Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, ngoại trừ người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của đương sự chỉ được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà đương sự ủy quyên, họ khơng có bat cứ đặc qun nao.

Ngồi ra, quy định về chấm đứt quan hệ đại diện của BLTTDS Pháp có phần chặt chẽ hơn, khi ràng buộc nghĩa vụ cho người đại diện thông báo sự chấm dứt quan hệ đại diện với người ủy quyền, với Thâm phán, bên đối lập nếu muốn chấm dứt việc đại diện. Hay đối với trường hợp đại điện là bắt buộc, Luật sư đại diện hoặc Luật sư bào chữa chỉ được miễn nhiệm khi có người thay thé.

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

Quy định đảm bảo cho các bên đương sự nắm bắt kịp thời những sự thay đổi về

sự tham gia của đối phương và đảm bảo cho người được đại diện được bảo vệ

<small>một cách liên tục.</small>

<small>1.4.2. BLTTDS Liên bang Nga:</small>

BLTTDS Liên bang Nga được Quốc hội thông qua ngày 23/10/2002 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2003. Bộ Luật này gồm 7 phan, 47 chương, 446 điều. Chế định người đại diện của đương sự được quy định tại Chương V với 7 Điều (từ Điều 48 đến Điều 54).

<small>Khác với BLTTDS Pháp và BLTTDS Việt Nam, Pháp luật TTDS Liên</small>

bang Nga quy định “Công dân có quyền tự mình hoặc thơng qua đại diện tham gia tố tụng. Việc tu mình tham gia to tụng không can trở sự tham gia tô tụng của người đại diện ” (khoản 1, Diéu 48). Có thê hiéu rang, đương sự có thé đồng thời tham gia t6 tụng cùng với người đại diện của minh.

<small>BLTTDS Nga cũng giới hạn phạm vi người được làm người đại diện thông</small>

qua việc quy định loại trừ những người không được làm đại diện trong tố tụng

<small>dân sự và cũng quy định ba căn cứ phát sinh quan hệ đại diện là đại diện theo</small> pháp luật và đại diện theo ủy quyền, đại diện theo sự chỉ định của Tòa án tương

<small>tự như BLTTDS Việt Nam.</small>

Về vẫn đề xác thực quan hệ đại diện, BLTTDS Nga cũng quy định cụ thể tại chương Dai điện trong tô tụng dân sự này. Nghia vụ chứng minh cũng thuộc về người đại diện, và chứng minh thông qua văn bản ủy quyền, giấy giới thiệu hay giấy tờ chúng minh nhân thân. Đặc biệt, BLTTDS Nga còn quy định cho phép xác lập thẩm quyền đại diện bằng lời nói được ghi trong biên bản phiên tòa hoặc bằng văn bản của người ủy qun làm tai Tịa án. Điều đó có nghĩa rằng, đương sự có thé ủy thác cho người đại diện tham gia tô tung ở bat kỳ giai đoạn tố tụng nào mà họ muốn. Cả BLTTDS Pháp và BLTTDS Việt Nam đều khơng

<small>có quy định linh hoạt này.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

Pháp luật TTDS Nga cũng không quy định đặc quyền của người đại diện như pháp luật TTDS Pháp. Những quyền đặc biệt của đương sự như ký đơn khởi kiện, quyền đưa đơn ra tòa án, quyền yêu cầu chuyên tranh chấp, quyền khởi kiện ngược lại, quyền rút một phần hay toàn bộ đơn kiện, giảm mức yêu cầu,

thừa nhận việc kiện, thay đôi căn cứ hoặc đối tượng tranh chấp... được nhấn

mạnh địi hỏi phải có sự ủy quyền của đương sự.

BLTTDS Nga có khá nhiều quy định tương đồng với BLTTDS Việt Nam, như quy định về khái niệm người đại diện trong tố tụng dân sự, phạm vi thâm quyền đại diện, những trường hợp không được làm đại diện.

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

KET LUẬN CHƯƠNG 1:

Người đại diện của đương sự là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự nhằm bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc. Người đại diện thường là cá nhân, người này địi hỏi phải có NLHVTTDS day đủ, nhân danh đương sự tham gia tố tụng trên cơ sở quan hệ ủy quyền hoặc theo quy định của

<small>pháp luật. Dựa theo căn cứ phát sinh quan hệ đại diện mà chia người đại diệncủa đương sự thành hai loại, đó là người đại diện theo pháp luật và người đại</small>

diện theo ủy quyên. Sự tham gia tô tụng của người đại điện góp phần nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, thuận lợi hon cho hoạt động tổ tụng và rút ngắn thời gian, chi phí t6 tụng trong q trình

giải quyết vụ việc dân sự, nhanh chóng tìm ra sự thật khách quan, thực thi công

lý trên thực tế, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

CHƯƠNG 2: NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TÔ TỤNG DAN SỰ THEO QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT TO TUNG DAN SU VIET

NAM HIEN HANH:

Ngày 25/11/2015 vừa qua tai Kỳ hop thứ 10 của Quốc hội nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, các đại biéu quốc hội đã bỏ phiếu thông qua Dự thảo Luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2016. Bộ Luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đã được sửa đổi bố sung theo Luật số 65/2011/QH12 hết hiệu lực ké từ ngày Bộ Luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực (trừ các quy định tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 tiếp tục có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31 tháng

<small>12 năm 2016).</small>

Thời điểm thực hiện cơng trình nghiên cứu này, trên thực tế, đối với chế định Người đại diện của đương sự trong tổ tụng dân sự vẫn áp dụng các quy đinh của BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011 đến 30/06/2016, BLTTDS 2015 bắt đầu có hiệu lực và được áp dụng từ ngày 01/01/2017.

<small>Do đó, trong cơng trình nghiên cứu này, tôi tập trung nghiên cứu các quy</small>

định của BLTTDS 2015 về Người đại diện của đương sự là chủ yếu, trên cơ sở

so sánh với những quy định của BLTTDS sửa đổi, b6 sung năm 2011.

2.1. MOT SO DIEU KIEN DOI VỚI NGƯỜI ĐẠI DIỆN NÓI CHUNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TÓ TỤNG DÂN SỰ:

2.1.1. Người đại diện của đương sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân:

<small>Day là một quy định mới của BLTTDS 2015. Trước đây, trong BLTTDS</small>

sửa đổi, b6 sung năm 2011 không dé cập đến chủ thé nào có thé làm người đại diện. Quy định pháp nhân có thé là người đại diện được nhận biết thông qua quy định về trường hợp “Cá nhân, cơ quan, tô chức khởi kiện dé bảo vệ quyển và lợi ich hợp pháp của người khác cũng là đại diện theo pháp luật trong tô tung dân

<small>sự của người được bảo vệ”. Trường hợp này, pháp nhân đứng ra khởi kiện cho</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<small>người khác thì pháp nhân này là người đại diện của người được khởi kiện thay,còn người đại diện của pháp nhân đó đứng ra thay mặt pháp nhân thực hiện chức</small>

năng đại diện đối với đương sự, chứ họ không phải người đại diện trực tiếp. Sự không rõ ràng này đã dẫn đến khá nhiều những hiểu lầm về vai trò đại

diện của hai chủ thé đại diện trong mối quan hệ đại diện hai tầng này. Đến

BLTTDS 2015, các nhà làm luật đã khắc phục vướng mắc đó bởi một quy định rõ ràng hơn “Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự”. Quy định này được đặt ra cũng là dé thông nhất với sự sửa đổi trong pháp luật dân sự 2015 khi quy định về người giám hộ - một loại người đại diện theo pháp luật của cá nhân, có thê là pháp nhân.

<small>Trước đây ở BLDS 2004, thông qua quy định “giám hộ là việc ca nhán hay</small>

tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cứ để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mat năng lực hành vi dân sự” dé hiểu rằng tơ chức cũng có thể thực hiện chức năng giám hộ, chứ khơng có bat cứ quy định rõ ràng nào về khả năng đó hay điều kiện để thực hiện khả năng đó. Đến BLDS 2015 vừa rồi mới được thơng qua thì Tổ chức được thực hiện chức năng giám hộ được quy định rõ ràng là những tơ chức có tư cách pháp nhân và đi kèm với những điều kiện mà pháp nhân phải đáp ứng khi

<small>tham gia hoạt động giám hộ.</small>

<small>Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, BLTTDS 2015 có cịn chặt chẽ với quy</small>

định người đại diện có thé pháp nhân hoặc cá nhân khi BLTTDS 2015 vẫn duy trì quy định “Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyên va lợi ích hop pháp của người khác cũng là đại diện theo pháp luật trong tô tụng dân sự của người được bảo vệ” đồng thời còn bỗ sung quy định về việc 76 chức đại điện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động

khởi kiện vụ án lao động, tham gia tô tụng tại Toa an khi quyên, lợi ích hợp

<small>5 Điều 85 BLTTDS 2015</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

pháp cua tập thể người lao động bị xâm phạm; hay tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia t6 tung khi được người lao động ủy quyên, mà trong đó Tổ chức đại diện tập thé lao động tại cơ sở là Ban chấp hành cơng đồn cơ sở hoặc Ban chấp hành cơng đồn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập cơng đồn cơ sở, nó khơng có tư cách pháp nhân. Những 16 chức đứng ra khởi kiện vi lợi ích của người khác như Hội Liên hiệp phụ nữ, Tổ chức đại diện tập thể lao động...khơng có tư cách pháp nhân cũng khơng phải là cá nhân nhưng van có thé là người đại diện của đương Sự trong tố tụng dân sự.

Bên cạnh việc bố sung quy định về đối tượng có thé làm người đại diện, BLTTDS 2015 còn bồ sung quy định về đương sự trong việc dân sự. Trước đây, trong BLDS 2011 tại Chương VI, chỉ có mục quy định về đương sự trong vụ án dân sự mà khơng có bất cứ quy định nào về đương sự trong việc dân sự. Các khái niệm người yêu cầu, người bị yêu cầu, người có liên quan trong việc dân sự không được liệt kê và định nghĩa một cách cụ thé, rõ ràng như các loại đương sự trong vụ án dân sự. Hơn nữa, theo quy định của các Điều 313, 316 BLTTDS sửa đổi, bô sung năm 2011 thì người có liên quan trong việc dân sự còn bao gồm cả người bị yêu cầu trong việc dân sự. Sự bất cập này gây ra rất nhiều lúng túng cho cơ quan tiễn hành t6 tụng trong việc xác định tư cách đương sự, quyền và nghĩa vụ tô tụng cho các đương sự và người đại diện hợp pháp của họ.

<small>Trong BLDS 2015, tên của mục đó đã được sửa thành “Đương sự trong vụ</small>

việc dân sự” và về nội dung, đã có bổ sung các quy định cụ thé về đương sự trong việc dân sự. Tại Điều 68 BLTTDS 2015, khái niệm đương sự trong vụ

<small>việc dân sự được định nghĩa một cách rõ ràng tại khoản 1:</small>

“Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tô chức, cá nhân bao gồm người <small>,</small>

<small>yêu cau giải quyét việc dan sự và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan.’</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

Và từng loại đương sự trong việc dân sự được liệt kê và định nghĩa cụ thê

<small>tại khoản 5 và khoản 6:</small>

“5, Người yêu cau giải quyết việc dân sự là người u cẩu Tịa án cơng nhận hoặc khơng cơng nhận một sự kiện pháp ly làm căn cứ phát sinh quyển, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tô chức, cá nhân khác; yêu cau Tịa an cơng nhận cho mình quyền về dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

6. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu câu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Toa an chấp nhận đưa họ vào tham gia to

tung với tư cách là người có quyên lợi, nghĩa vu liên quan.

Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyên lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà khơng có ai dé nghị dua họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có qun lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tịa án phải đưa họ vào tham gia tổ tụng với tư cách là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. ”

Theo quy định này thì đương sự trong việc dân sự chỉ bao gồm người yêu câu và người có quyên lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự, khái niệm người bị yêu cầu, người có liên quan trong việc dân sự trong BLTTDS sửa đổi, bồ sung năm 2011 đã khơng cịn được sử dụng, thay vào đó những người tham gia tố tụng với tư cách là người bị yêu cầu theo quy định của BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 được gộp chung với những tham gia tô tụng với tư cách người có liên quan trong việc dân sự theo quy định của BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011, và gọi tên là người có quyên và nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. Cách quy định này khá hợp lý, xét đến tận cùng, trong việc dân sự, yêu cầu cần được giải quyết chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu hoặc người khác hoặc công nhận quyên, nghĩa vụ cho họ. Do vậy, người bị cầu theo quy định của BLTTDS sửa đôi, bố sung năm 2011 về bản chất cũng chỉ là người có quyên, nghĩa vụ liên quan đến yêu cau của người yêu cầu.

Quy định mới về đương sự này đã làm rõ ràng hơn về tư cách tham gia tố tụng cho từng loại đương sự, từ đó xác định tư cách tham gia tổ tụng cho người

<small>đại diện hợp pháp của họ cũng thuận lợi hơn.</small>

Quy định về người đại diện của đương sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân đã làm rõ hơn về khả năng làm người đại diện của pháp nhân, từ đó, chủ thé pháp nhân nhận thức rõ hơn về điều đó và chủ động hơn trong việc thực hiện chức năng đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, tuy nhiên, vẫn còn bỏ rơi chủ thê là tổ chức trong phạm vi quyên hạn của mình cũng đại diện cho người khác tham gia tơ tung dé bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp cho họ. 2.1.2. Về năng lực chủ thể:

Người đại diện của đương sự tham gia tố tụng với nhiệm vụ tiếp nhận và thực hiện quyền và nghĩa vụ tổ tụng của đương sự hộ đương sự, cùng với sự bù đắp những thiếu hụt của bản thân đương sự kìm hãm thuận lợi của đương sự khi tham gia t6 tung dan su.

Với trong trách đó, tối thiểu người dai diện phải có đủ điều kiện để tham gia quan hệ t6 tụng như một đương su một cách trực tiếp. Hay nói cách khác, người đại diện của đương sự phải đảm bảo năng lực chủ thể của đương sự trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với trường hợp người đại điện là cá nhân, năng lực chủ thể là tổng hợp bởi hai yếu tố, đó là: năng lực pháp luật tố tụng dân sự va năng lực hành vi tố

<small>tụng dân sự.</small>

Năng lực pháp luật to tụng dân sự là khả năng có các quyên, nghĩa vu trong tô tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

năng lực pháp luật to tụng dân sự như nhau trong việc yêu cau Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Năng lực hành vi tơ tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyên,

nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ty quyên cho người đại điện tham gia tô tung dân sự. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đây đủ năng lực hành vi tổ tung dân

su, trừ người mat năng lực hành vi dán sự hoặc người han chế năng lực hành vi <small>dan sự.Š</small>

Về cơ bản, cả hai Bộ Luật Tố dụng dân sự 2015 và Bộ Luật Tổ tụng dan sự 2011 đều quy định về van dé năng lực chủ thé của đương sự với nội dung như trên.

Đối với trường hợp, người đại diện là pháp nhân theo quy định của BLDS, thì pháp nhân đó cũng phải đảm bảo năng lực chủ thé quan hệ pháp luật t6 tụng dân sự. Năng lực chủ thé của pháp nhân cũng bao gồm hai yếu tổ là năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi t6 tung dan su.

Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ tổ tụng dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thâm quyên thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào số đăng ký.

Năng lực hành vi t6 tụng dân sự của pháp nhân xuất hiện đồng thời với năng lực pháp luật hành vi tố tụng dân sự khi pháp nhân được thành lập.

Một tô chức đảm bảo đầy đủ các điều kiện để có tư cách pháp nhân thì đồng thời đã đảm bảo được năng lực chủ thể cho mình.

Năng lực chủ thé của pháp nhân trong tô tụng dân sự không được quy định rõ trong BLTTDS mà được viện dẫn sang BLDS.

<small>8 Điều 69 BLTTDS 2015</small>

</div>

×