Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.85 MB, 40 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b> Giảng viên hướng dẫn: TS. Hoàng Lê Sơn</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">Kim tiền thảo
<b>MỤC LỤC</b>
ĐẶT VẤN ĐỀ...1
I. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...2
II. GIỚI THIỆU TỈNH ĐIỆN BIÊN...3
3. Cây Tiết dê...8
4. Cây Kim tiền thảo...9
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>ĐẶT VẤN ĐỀ</b>
Việt Nam là một quốc gia đa dạng dân tộc, có nền y học cổ truyền lâu đời. Sự phong phú của y học cổ truyền Việt Nam được tích lũy qua hàng ngàn năm, để lại nguồn di sản to lớn trong việc sử dụng các bài thuốc dân gian, sử dụng thảo dược để chữa bệnh. Với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều loại thuốc hiện đại đã ra đời và được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, cây thuốc vẫn đóng một vai trị quan trọng, được coi là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá trong việc chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe con người. Mỗi vùng miền của Việt Nam đều có những cây thuốc, cách sử dụng cây thuốc riêng phù hợp với điều kiện địa lý, văn hóa của từng vùng miền, dân tộc. Trong đó, Điện Biên là một trong những khu vực có điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại cây thuốc, nơi đây có y học dân gian phát triển và nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, đa dạng nhưng đang phải chịu tác động mạnh mẽ bởi sự khai thác quá mức của con người.
Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên: 9.541,25 km2. Nằm cách Thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây, phía Đơng và Đơng Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp CHDCND Lào. Địa hình đa dạng chủ yếu là đồi núi dốc hiểm trở xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc, có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao. Ngồi ra, nơi đây cịn có sự phong phú về văn hóa, với đa dạng các dân tộc sinh sống như Thái, Mông, Kinh, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì và các dân tộc khác. Mỗi dân tộc có những nét riêng về ngơn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa… tạo thành bức tranh đa sắc màu cho nền văn hóa Điện Biên. Với đa số dân tộc thiểu số sinh sống tại đây, việc sử dụng cây thuốc trong y học dân gian là một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Các bài thuốc từ cây thuốc được truyền lại qua nhiều thế hệ và trở thành một phần không thể thiếu của văn hóa cua người dân tộc ở Điện Biên. [1]
Tất cả những yếu tố trên đều ảnh hưởng đến sự đa dạng về nguồn dược liệu tại tỉnh Điện Biên. Theo kết quả nghiên cứu thì tại Điện Biên có khoảng 413 loại cây thuốc trên hệ sinh thái núi đá vơi có giá trị làm thuốc chữa bệnh, [2] được sử dụng trong y học dân gian và là nguồn tài nguyên quý giá cho ngành y học. Trong đó, có một số loại cây thuốc thường được người dân Điện Biên thu hái như: cây chè dây, cây đẳng sâm, củ mài, cây dứa dại,cây bình vôi… và nhiều loại cây thuốc quý hiếm như sâm cau hoa vàng, ba kích, bảy lá một hoa ... đều có mặt tại Điện Biên. Bài luận này nhằm mục đích khám phá, tìm hiểu về một số cây thuốc có ở Điện Biên và đánh giá tầm quan trọng của cây thuốc trong văn hóa và y học của người dân tỉnh Điện Biên, cũng như đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên dược liệu trong khu
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>I. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU</b>
- Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu tài liệu có sẵn
- Từ khóa: thực trạng, cây thuốc, đa dạng tài ngun, Điện Biên
- Tìm kiếm các từ khóa trên trong các cơ sở dữ liệu liên quan đến cây thuốc ví dụ như: PubChem, PubMed, hoặc google scholar.
- Sử dụng dữ liệu tìm được từ cơng trình nghiên cứu “THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÂY THUỐC TẠI XÃ CHIỀNG ĐÔNG, HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN
<i>BIÊN”, kết hợp với tra cứu các tài liệu chuyên ngành về cây thuốc “Cây thuốc và</i>
<i>động vật làm thuốc ở Việt Nam” của Đỗ Huy Bích và cộng sự (2006, 2011),“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi, đã chọn được 80 lồi</i>
cây thuốc có tác dụng điều trị bệnh tại tỉnh Điện Biên.
- Qua quá trình tìm hiểu bằng cách đọc tiêu đề và tóm tắt của bài báo và tra cứu tác dụng trong sách của ông Đỗ Tất Lợi, Đỗ Huy Bích và cộng sự, đã loại trừ được 62 cây, còn lại 18 cây sẽ được trình bày ở phần sau.
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>II. GIỚI THIỆU TỈNH ĐIỆN BIÊN1. Lịch sử</b>
Điện Biên là vùng đất ngay từ thời tiền sử xa xưa đã có người sinh sống và cư ngụ. Qua các bằng chứng về khả cổ học từ thời kỳ đồ đá, qua sự hiện diện của các di tích như hang Thẩm Khương, Thẩm Púa (ở Tuần Giáo) đã chứng minh con người từ thời thượng cổ đã có mặt rất sớm và biến nơi đây thành một trung tâm của người Việt cổ. [3]
Thời kỳ Bắc thuộc, Điện Biên thuộc huyện Lâm Tây, quận Tân Hưng. Đời Lý đất Điện Biên nằm trong hạt châu Lâm Tây. Đời Trần Việt Nam có 15 lộ Điện Biên thuộc lộ Đà Giang, cuối Trần là trấn Thiên Hưng; thời Minh thuộc lại chia làm 2 châu Gia Hưng và Quy Hoá. [3]
Tên gọi Điện Biên do Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên Phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu. Tên gọi Điện Biên hay Điện Biên Phủ xuất hiện từ đó. [3]
Ngày 28 tháng 6 năm 1909, ngày Tồn quyền Đơng Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu, nay là tỉnh Điện Biên và Lai Châu. [3]
Trận chiến Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp diễn ra ác liệt. Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây. [3]
Bắt đầu từ năm 1958, một nông trường quân đội được xây dựng ở đây, kéo theo di dân từ đồng bằng Bắc bộ, biến Điện Biên là một thị trấn nông trường, sau được nâng cấp thành thị trấn huyện lỵ của huyện cùng tên thuộc tỉnh Lai Châu. [3]
Trải qua nhiều lần thay đổi, tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên. [3]
<b>2. Địa lý</b>
Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc, có tọa độ địa lý 20o54’ – 22o33’ vĩ độ Bắc và 102o10’ – 103o36’ kinh độ Đông. Nằm cách Thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây, phía Đơng và Đơng Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp CHDCND Lào. Là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Lào và Trung hơn 455 km. [3]
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Điện Biên có 19 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó, dân tộc Thái chiếm 37,99%, dân tộc Mơng 34,81%, dân tộc Kinh 18,43%, cịn lại là các dân tộc khác (Khơ Mú, Lào, Dao, Kháng, Hà Nhì, Hoa, Xinh Mun, Cống, Tày, Sán Chay, Phù Lá, Si La, Nùng, Mường và Thổ...). Mỗi dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên đều mang bản sắc văn hóa riêng, phong phú, độc đáo như: thiên tình sử “Tiễn dặn người yêu” (Xống chụ xon xao) của dân tộc Thái, trường ca “Tiếng hát làm dâu” của dân tộc Mông, các làn điệu dân ca các dân tộc: Thái, Cống, Si La, Mông, Khơ mú..., các điệu dân vũ: xòe (Thái, Lào); điệu múa tăng bu, tăng bẳng (Khơ Mú), múa khèn (Mơng), múa trống (Hà Nhì), các loại hình nhạc cụ truyền thống phong phú: khèn bè, khèn, kèn lá, tính tảu; các loại pí... Kiến trúc nhà truyền thống: nhà sàn, nhà đất, nhà trình tường... [3]
Điện Biên là một tỉnh đa dạng và phong phú các trò chơi dân gian, lễ hội truyền thống và lễ hội lịch sử: lễ kỷ niệm ngày giải phóng Điện Biên 7/5, ngày 25/2 âm lịch hàng năm là lễ hội lịch sử thành bản Phủ; nhiều lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số như: xên bản, xên mường, xên lẩu nó... Các trị chơi dân gian: ném cịn, kéo co, đẩy gậy, đánh khăng, đánh lơng gà, tó mắk lẹ, đánh cù, hát qua ống, tù lu, đua ngựa, bắn nỏ... thường xuyên được nhân dân tổ chức trong các dịp lễ, tết, mừng cơm mới... [3]
<b>4. Dân số</b>
Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2015, dân trung bình tỉnh Điện Biên 547.785 người, trong đó: nam 273.931; nữ có 273.854 người; dân số sống tại thành thị đạt 82.691 người; Dân số sống tại nông thôn đạt 465.094 người. Kết cấu dân số ở Điện Biên có mấy nét đáng chú ý. Trước hết là "dân số trẻ" tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 33.65%, người già trên 60 tuổi (với nam) và trên 55 tuổi (với nữ) là 10,59%; Mật độ dân số của Điện Biên hiện là 57,4 người/km2. [3]
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><b>III. TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN1. Cây xạ đen</b>
<b>1.1. Tên cây thuốc</b>
<b>- Tên khoa học: Belamcanda chinensis(L.)</b>
<b>- Họ Lay ơn (Iridaceae) [4]1.2. Bộ phận sử dụng</b>
<b>- Rễ và thân rễ rửa sạch, cắt bỏ rễ con phơi hoặc sấy khô. [4]1.3. Kinh nghiệm sử dụng của nhóm dân tộc địa phương</b>
- Người dân tộc Thái và Mông ở xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên sử dụng để chữa các bệnh thời tiết [5]
<b>1.4. Kinh nghiệm sử dụng dân gian</b>
- Belamcanda chinensis đã được sử dụng trong đông y để điều trị các bệnh viêm nhiễm. [4]
<b>1.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới</b>
<b>- Việt Nam: Mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất tại các vùng savan, có</b>
khi được trồng làm cảnh. [4]
<b>- Trên thế giới: Mọc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philipin. [4]</b>
<i>Bản đồ phân bố Belamcanda chinensis(L.) trên thế giới [6]</i>
<b>1.6. Công dụng và chỉ định.</b>
- Theo tài liệu cổ, xạ can có vị đắng, tính hàn, hơi độc, vào hai kinh can và phế. Có tác dụng thanh hóa, giải độc, tán huyết, tiêu đờm. Dùng chữa yết hầu sưng đau, dòm nghẽn ở cổ họng. Phàm người tỳ vị hư hàn không dùng được. [4]
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">- Chủ yếu làm thuốc chữa viêm cổ họng, vùng amidan bị sưng mủ, đau cổ. Nói chung xạ can được coi là một vị thuốc quý chữa mọi bệnh về cổ họng. [4]
- Ngồi ra cịn là một vị thuốc chữa sốt, đại tiểu tiện không thông, sưng vú tắc tia sữa, chữa kinh nguyệt đau đớn, thuốc lọc máu. Có nơi cịn dùng chữa rắn cắn: Nhai nuốt lấy nước, bã đắp lên nơi rắn cắn. [4]
- Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuốc sắc. Hoặc giá củ tươi 10-20g với vài hạt muối. Vắt lấy nước, ngậm nuốt dán. Bã đắp ở ngoài. [4]
- Một số bài thuốc chứa cây xạ đen:
● Bài thuốc chữa tắc cổ họng: Xạ can 4g, hoàng cầm 2g, sinh cam thảo 2g, cất cánh 2g. Các vị tán nhỏ, dùng nước là đun sôi để nguội mà chiêu thuốc.
● Bài thuốc chữa các triệu chứng báng bụng to, nước óc ách, da đen xạm: Xạ can tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, hễ thấy lợi tiểu tiện thì thơi.
<b>1.7. Một số công dụng của cây xạ đen đã được nghiên cứu trong nước và trên thếgiới.</b>
- Độc tính, tác dụng giảm đau, chống viêm của tectorigenin [7].
- Chiết xuất ethyl axetat của rễ cây B. chinensis đã được chứng minh là có hoạt tính chống ung thư [8].
- Hoạt tính chống đột biến và chống oxy hóa của isoflavonoid từ Belamcanda chinensis (L.) [9].
<b>2. Cây húng quế2.1. Tên cây thuốc</b>
<b>- Tên khoa học: Ocimum basilicum L.</b>
var. basilicum. [4]
<b>- Họ Hoa môi Lamiaceae [4]</b>
<b>- Tên gọi khác: húng giổi, rau é, é tía, é</b>
quế, hương thái. [4]
<b>2.2. Bộ phận sử dụng. </b>
<i><b>- Để làm thuốc, người ta chỉ hái lá và ngọn có hoa phơi hay sấy khơ. Để cất tinh</b></i>
dầu người ta hải toàn cây, cất tươi hay để hơi héo mới cất. [4]
<b>2.3. Kinh nghiệm sử dụng của nhóm dân tộc địa phương.</b>
- Người dân tộc Thái và Mông ở xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên sử dụng để chữa các bệnh thời tiết [5]
<b>2.4. Kinh nghiệm sử dụng dân gian.</b>
- Theo kinh nghiệm dân gian, cây húng quế dùng để hạ sốt, chữa cảm [10]
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>2.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới</b>
<b>- Việt Nam: Phân bố ở khắp nơi của nước ta [4]</b>
<b>- Thế giới: Cây húng quế được cho là có nguồn gốc từ Trung Quốc và Ấn Độ.</b>
Hiện nay loại cây này đang được trồng rất phổ biến ở các nước nhiệt đới. [4]
<i>Bản đồ phân bố Ocimum basilicum L. var. basilicum. trên thế giới [6]</i>
<b>2.6. Công dụng và chỉ định.</b>
<b>- Ở nước ta thu hoạch hạt để ăn cho mát, hơi có tác dụng chống táo bón: Cho từ 6</b>
đến 12g hạt vào nước thường hay nước đường. Đợi cho chất nhầy nở ra rồi uống. [4]
<b>- Tại các nước khác người ta trồng húng quế chủ yếu làm nguồn cây cho nguyên</b>
liệu cất tinh đầu, hoặc lấy cây sắc uống chữa sốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau dạ dày, ăn uống không tiêu, thông tiểu, nấu nước súc miệng và ngậm chữa đau, sâu răng. Mỗi ngày uống từ 10 đến 25g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Hạt có thể dùng đắp lên mắt đau đỏ. [4]
<b>2.7. Một số công dụng của cây húng quế đã được nghiên cứu trong nước và trênthế giới.</b>
<b>- Một nghiên cứu cho thấy tinh dầu Húng quế ngoài khả năng kháng khuẩn</b>
(Staphylocococcus epidermidis, Staphylocococcus aureus, Bacillus subtilis, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa), kháng nấm (Candida albicans, Candida glabrata), cịn có khả năng chống oxi hóa, chống ung thư tử cung (Hela) và ung thư biểu mô thanh quản (Hep-2) [11], [12], [13].
<b>- Nghiên cứu về hoạt tính sinh học của cây Húng quế cho thấy phổ hoạt tính rất</b>
rộng có khả chống ung thư, bảo vệ thần kinh, chống vi khuẩn, điều hòa miễn dịch, trị đái tháo đường, bảo vệ tim mạch, chống căng thẳng, chống ho, chống sốt, chống viêm khớp, chống oxi hóa [14].
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><b>3. Cây Tiết dê</b>
<b>3.1. Tên cây thuốc [15]</b>
- Tên khác: Dây sâm nam, Hồ đằng lông - Tên khoa học: Cissampelos pareira L. - Họ: Menispermaceae (Tiết dê)
<b>3.2. Bộ phận dùng: Toàn cây [16]</b>
<b>3.3. Kinh nghiệm sử dụng của nhóm dân tộc địaphương</b>
- Người dân tỉnh Điện Biên sử dụng cây để chữa các bệnh về thận như: sỏi thận, suy thận, lợi tiểu… [5]
<b>3.4. Kinh nghiệm sử dụng dân gian:</b>
- Trong dân gian, người ta hay dùng lá tươi, hầu như quanh năm, giã nát hay vò nát lọc lấy nước để đông đặc như thạch, uống cho mát, giải nhiệt. [4]
- Theo kinh nghiệm dân gian, lá tiết dê được coi như một vị thuốc “mát” có tác dụng chữa những trường hợp “nóng” như sốt, tiểu tiện khó khăn, nước tiểu vàng, đái buốt, đái rắt, đái ra máu, nóng ruột, sơi bụng, táo bón, kiết lỵ.
- Rễ hay lá cây còn dùng giã nát đắp lên vết loét. Ngày dùng rễ 5-10g dạng thuốc sắc.
- Lá thường dùng tươi, giã nát vắt lấy nước để đông lại mà uống. Ngày 40-100g lá tươi.
<b>3.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới</b>
- Tại Việt Nam: Cây tiết dê thường gặp hầu hết các tỉnh vùng trung du và miền núi
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><b>3.6. Công dụng và chỉ định</b>
- Ở nước ta, lá tiết dê là một vị thuốc kinh nghiệm nhân dân rất phổ biến để chữa những trường hợp đi tiểu tiện khó khăn, sốt, lỵ. Nói chung người ta cho rằng lá tiết dê là một vị thuốc “mát” có tác dụng chữa những trường hợp “nóng” như sốt, táo bón, tiểu tiện khó khăn, đau buốt, ra máu. [4]
- Tại Ấn Độ, lá tiết dê dùng để chữa sỏi thận, sỏi bóng đái, viêm bóng đái, viêm thận, thơng tiểu tiện, sỏi mật. [4]
- Chỉ định: Lợi tiểu, chữa sỏi thận, sỏi bàng quang, viêm thận, ỉa chảy, phù, ho. [4]
<b>4. Cây Kim tiền thảo4.1. Tên cây thuốc </b>
- Tên khác: mắt trâu, đồng tiền long, vảy rồng, mắt rồng [4]
styracifolium (Osb.) Merr. - Họ: Fabaceae (cánh bướm) [4]
<b>4.2. Bộ phận dùng: toàn cây [4]</b>
<b>4.3. Kinh nghiệm sử dụng của nhóm dân tộc tại địa phương</b>
- Người dân tỉnh Điện Biên sử dụng cây để chữa các bệnh về thận như: sỏi thận, suy thận, lợi tiểu… [5]
<b>4.4. Kinh nghiệm dân gian: </b>
- Nhân dân chủ yếu thu hái vào mùa hè và thu, dùng tươi hay phơi hoặc sao khô. Chủ yếu chữa bệnh sỏi túi mật, sỏi thận, bàng quang, phù thũng, bệnh về thận. [4]
<b>4.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới:</b>
- Kim tiền thảo là cây ưa sáng, ưa ẩm nhưng cũng có thể hơi chịu được khô hạn. Cây thường mọc thành đám ở ven rừng, nhất là những nương rẫy mới bỏ hoang. Độ cao phân bố của cây thường là 600m. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, quả chín tự mở để hạt thốt ra ngồi. Về mùa đơng, cây có hiện tượng rụng lá hoặc tàn lụi. Cây con mọc từ hạt thường xuất hiện vào tháng 4 hoặc đầu tháng 5. [17] - Tại Việt Nam: cây thường gặp ở các tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du phía
bắc, từ Nghệ An. [17]
- Trên thế giới, kim tiền thảo phân bố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc, Lào. [17]
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><i>Bản đồ phân bố Desmodium styracifolium (Osb.) Merr. trên thế giới [6]</i>
<b>4.6. Công dụng và chỉ định:</b>
<b>- Kim tiền thảo được dùng chữa bệnh sỏi túi mật, sỏi thận, bàng quang, phùthũng, bệnh về thận, khó tiêu: Liều dùng hàng ngày: 10 – 30 g, sắc nước uống.</b>
Dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác. [4]
<b>5. Ngải cứu</b>
<b>5.1. Tên cây thuốc </b>
- Tên latin: Artemisia vulgaris L. [4] - Họ: Cúc (Asteraceae)
- Tên gọi khác: Thuốc cứu, ngải diệp, quá sú (H’Mông), co linh ly (Thái) [16]
<b>5.2. Bộ phận sử dụng: phần thân trên mặt đất</b>
<b>5.3. Kinh nghiệm sử dụng nhóm dân tộc tại địa phương</b>
- Nhóm người dân tộc Thái và Mông ở Điện Biên sử dụng ngải cứu để chữa các bệnh phụ nữ: khí hư, điều hịa kinh nguyệt. [5]
<b>5.4. Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian</b>
- Chữa tử cung xuất huyết hoặc kinh nguyệt ra nhiều do suy nhược theo Giao ngải thang – Kim quỹ yếu lược: Sử dụng 12 gram lá ngải cứu, 10 gram đương quy, 3 gram xuyên khung, 10 gram sinh địa và 5 gram bạch thược. Cho tất cả các vị thuốc đã được rửa sạch vào nồi, thêm 800 ml nước và đun sơi. Khi thuốc cạn cịn 300 ml, tắt bếp, lọc lấy nước thuốc rồi thêm 12 gram a giao, khuấy tan. Chia thuốc và uống 3 lần trong ngày. [18]
- Trị tử cung lạnh làm vô sinh theo bài thuốc Ngải phụ nỗn cung hồn – Nhân Trai trực chỉ phụ di: Dùng ngải cứu, đương quy, thục địa, bạch thược, xuyên
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">khung và hương phụ. Sấy khô, nghiền thành bột rồi vo viên. Mỗi ngày uống 12 – 16 gram. [18]
- Điều trị kinh nguyệt khơng đều, chứng hư do chóng mặt, khí huyết, đới hạ, muốn nôn, bụng sường đầy trướng, băng lậu theo Ngải tiễn hồn – Đơng Viên thập thư: Ngải cứu 80 gram, đương quy và hương phụ 240 gram. Tất cả các vị thuốc cho vào bát, chứng với giấm nửa ngày. Sau đó, phơi khơ và nghiền thành bột. Tiếp đến, trộn bột này với giấm đã nấu với nếp làm hồ, vo viên. Mỗi ngày lấy 16 – 20 gram uống. [18]
- Chữa kinh nguyệt không đều, kéo dài gây đau bụng lúc hành kinh (Cao hương ngải – Dược liệu Việt Nam): Sắc 500 gram ngải cứu với hương phụ và 1 lít nước. Mỗi ngày uống 2 lần trước bữa ăn sáng và tối 1 tiếng, mỗi lần 30 ml. [18]
<b>5.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới</b>
- Tại Việt Nam: Mọc hoang ở nhiều nơi trên nước ta. Một số gia đình trồng ngải cứu có tính chất quy mơ nhỏ quanh nhà. Chưa thấy trồng quy mô lớn. [4]
- Trên thế giới: Cây ngải cứu được tìm thấy chủ yếu ở các nước của khu vực Châu Á, Bắc Mỹ, Châu Âu, Bắc Phi, Alaska. [4]
<i>Bản đồ phân bố Artemisia vulgaris L trên thế giới [6]</i>
<b>5.6. Công dụng và chỉ định</b>
- Đông y coi ngải cứu là một vị thuốc có tính hơi ổn, vị cay, dùng làm thuốc ơn khí huyết, trục hàn thấp, điều kinh, an thai, dùng chữa đau bụng do hàn, kinh nguyệt không đều, thai động không yên, thổ huyết, máu cam. [4]
- Ngải cứu được dùng làm thuốc điều kinh: Một tuần lễ trước dự kỳ có kinh, uống mỗi ngày từ 6 đến 12g (tối đa 20g), sắc với nước hay hãm với nước sôi như hãm chè, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng thuốc bột (5-10g) hay dưới dạng thuốc cao đặc 14g. [4]
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">- Nếu có thai. thuốc khơng gây sảy thai vì khơng có tác dụng kích thích đối với tử cung có thai. [4]
<b>6. Sâm cau</b>
<b>6.1. Tên cây thuốc</b>
- Tên dân tộc Soọng cà (Tày), Nam sáng ton (Dao)
<i>- Tên khoa học: Curculigo orchioides Gaertn [4]</i>
- Họ: Hypoxidaceae (Sâm cau) [4]
<b>6.2. Bộ phận dùng: Thân rễ [4]</b>
<b>6.3. Kinh nghiệm nhóm dân tộc tại địa phương</b>
- Loài Sâm cau được cộng đồng dân tộc Thái, dân tộc Mơng (Đồng bào ít người ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta) dùng rễ cây này làm thuốc bổ nên mới gọi là Sâm [19], phần thân và rễ được đào mang đi rửa sạch rồi ngâm rượu uống hoặc đem phơi khô
- Dân tộc Thái, dân tộc Mông sử dụng để chữa trị các bệnh về vô sinh, yếu sinh lý, đau khớp [5], dùng ngoài bằng cách giã đắp vết thương ghẻ, lở loét.
<b>6.4. Kinh nghiệm sử dụng</b>
- Thân rễ, thu hái quanh năm, đào về rửa sạch ngâm nước vo gạo để khử bớt độc, thái mỏng rồi sấy khô làm thuốc [4]
- Đơn thuốc có Sâm Cau dùng trong nhân dân:
● Chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thân kinh suy nhược, liệt dương. Sâm cau thái mỏng, sao vàng 50g, rượu trắng 650ml. Ngâm trong vòng và 7 ngày hay hơn. Mỗi ngày uống hai lần, vào trước hai bữa ăn chính, mỗi lần một chén nhỏ chừng 25-30ml. [16]
● Chữa huyết áp cao, nhất là phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh: Sâm cau, ba kích, dâm dương hoắc, tri mẫu, hoàng bá, đương quy, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang. [16]
● Chữa nam giới liệt dương, phụ nữ tử cung lạnh khó thụ thai: Sâm cau 20g; thục địa, ba kích, phá cố chỉ, hồ đào nhục, mỗi vị 16g; hồi hương 4g. Sắc uống ngày một thang. [16]
<b>6.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">- Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới Châu Á. [16]
- Trên thế giới: Phía nam Trung Quốc, Lào, một vài nước khu vực Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Phi-lip-pin,…), …
- Ở Việt Nam, cây phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi, từ Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng đến Tây Nguyên. [16]
- Do khai thác quá mức nên nay đã trở nên hiếm dần, gần đây đã được đưa vào “Danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam” (Nguyễn Tập, 1996, 2001) [16]
<i>Biểu đồ phân bố Curculigo orchioides Gaertn trên thế giới [6]</i>
<b>6.6. Công dụng và chỉ định</b>
- Tác dụng dược lý:
● Rễ sâm cau thử nghiệm dưới dạng cao cồn có hoạt tính làm tăng khả năng thích nghi, chống viêm, chống co giật, an thần, có hoạt tính hormon sinh dục nam, và kích thích miễn dịch. Sâm cau được đánh giá cao nhất với tác dụng tăng cường chức năng sinh lý, chống bất thường tinh trùng giúp tăng cường khả năng tình dục, sinh sản của nam giới. [16]
● Cao nước của rễ gây tác dụng kích thích co bóp tử cung. [16]
● Hợp chất phenolic trong Sâm cau đã được chứng minh là có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch bằng cách tác động cả trên các đại thực bào và các tế bào lympho giúp tăng hệ miễn dịch, chống oxy hóa mạnh và chống lỗng xương [16]
- Cơng dụng
● Sâm cau được dùng chữa nam giới tinh lạnh, liệt dương, người già đái són, lạnh dạ, kém ăn, tê thấp, lưng gối vận động khó khăn. Liều dùng mỗi ngày 12 – 20g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị khác. [4]
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">● Còn dùng chữa hen và tiêu chảy. [4]
● Ngồi ra người ta cịn dùng chữa ho, trĩ, vàng da, đi ỉa lỏng, đau bụng, lậu. Dùng ngoài giã nát đắp lên nơi ghẻ, lở lt. [4]
● Ngồi cơng dụng điều kinh, ngải cứu cịn được dùng làm thuốc giúp sự tiêu hóa, chữa đau bụng, nôn mửa, thuốc giun, sốt rét. [4]
<i><b>Lưu ý: Dùng sâm cau liều cao kéo dài sẽ gây cường dương, làm tinh hao kiệt sức.</b></i>
Người hư yếu không dùng. [4]
<b>7. Cỏ xước </b>
<b>7.1. Tên cây thuốc</b>
- Tên khác: Ngưu tất nam, co nhả lìn ngu (Thái) [4]
- Tên khoa học: Achyranthes aspera L [4] - Họ: Amaranthaceae (Rau rền) [4]
<b>7.2. Bộ phận dùng: Rễ</b>
<b>7.3. Kinh nghiệm sử dụng của nhóm dân tộc tại địa phương</b>
- Rễ được loại bỏ rễ con, được rửa sạch, xông sinh rồi phơi hoặc sấy. Có thể dùng ở dạng sống (cách này thường dung, hoặc tẩm rượu hoặc muối tùy theo từng trường hợp, rồi phơi hay sấy khô. [20]
- Bảo quản: nơi khơ ráo, thống mát, tránh mối mọt. [20]
<b>7.4. Kinh nghiệm sử dụng trong nhân dân</b>
<i>Bài thuốc có cỏ xước [20]</i>
- Chữa thấp khớp:
● Rễ cỏ xước 40g, hy thiêm 28g, thổ phục linh 20g, cỏ nhọ nổi 16g, ngải cứu 12g, thương nhĩ tử 12g. Sao vàng, sắc đặc ngày uống 1 thang, uống 7 - 10 ngày liền. ● Rễ cỏ xước, vòi voi, kim ngân, thổ phục linh, hy thiêm, ké đầu ngựa, thiên niên
kiện, cây xấu hổ, dây dau xương, cây cà gai (lượng bằng nhau), chế thành cao
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">● Rễ cỏ xước 20g; củ gấu (tứ chế), ích mẫu, nghệ xanh, mỗi vị 16g; lá mần tưới, tô mộc, chỉ xác, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang (3 - 5 thang mỗi tháng). - Chữa đau nhức các khớp không nóng đỏ:
● Triệu chứng: các khớp nhức mỏi, đau một chỗ, tê bì, đau các cơ, vận động khó, miệng nhạt, rêu lưỡi trắng dính
● Rễ cỏ xước 12g, ý dĩ 16g, tỳ giải 16g; ngũ gia bì, xuyên khung, đan sâm, mỗi vị 12g, rễ cây lá lốt 8g,quế chỉ 6g, bạch chỉ 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
<b>7.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới</b>
- Achyranthes aspera L là một chi nhỏ trong họ amaranthaceae, ở Việt Nam ước tính có 4 lồi trong đó có cỏ xước. [20]
- Trên thế giới, cỏ xước là cây của vùng nhiệt đới, cây cỏ xước được tìm thấy ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Campuchia, Malaysia và một số nước khác phân bố ở Lào, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc. [20]
- Ở Việt Nam cỏ xước phân bố ở hầu hết các vùng đồng bằng, trung du và 1 số tỉnh vùng núi thấp dưới 1000m như: Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu.... [20]
<i>Biểu đồ phân bố Achyranthes aspera L trên thế giới [6]</i>
<b>7.6. Công dụng và chỉ định</b>
- Tính theo đơng y: vị chua, đắng, bình, khơng độc, vào hau kinh can và thận. Có tác dụng phá huyết, hành ứ (sống), bổ can thận, mạnh gân cốt (chế biến chín). - Trong nhân dân, ngưu tất được dung trong bệnh viêm khớp, đau bụng, kinh
nguyệt khó khan.
- Ngày dùng 3 – 9g dưới dạng thuốc sắc. [4] - Chống chỉ định: Người có thai khơng được dùng
<b>8. Tỏa Dương</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">- Tên gọi khác: Củ Gió Đất, Củ Ngọt Núi, Hoa Đất [4]
<i>- Tên khoa học: Balanophora spp. [4]</i>
<i>- Họ: Gió đất Balanophoraceae [4]</i>
<b>8.2. Bộ phận dùng Toàn cây</b>
<b>8.3. Kinh nghiệm sử dụng của nhóm dân tộc tại địa phương</b>
- Hái đem về rửa sạch, thái mỏng, sao cho khô để dành.
<b>8.4. Kinh nghiệm nhân dân</b>
- Toả dương sau khi thu hái về, tước bỏ những phiến của lá bắc và bao hoa, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, sao qua, rượu 35 – 40 độ. Cứ 1 phần toả dương, 5 phần rượu. Ngâm trên 1 tháng mới dùng được, hoặc càng lâu càng tốt. Khi đó rượu có màu đỏ sẫm, vị hơi đắng, chát. Nếu khó uống có thể cho thêm ít đường hoặc mật ong cho dễ uống. Ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần uống 1 chén con (khoảng 30ml).
- Làm kích thích ăn ngon miệng, hồi phục sức khỏe cho phụ nữ sau khi sinh nở.
<b>8.5. Phân bố tại Việt Nam và trên thế giới</b>
- Trên thế giới, có khoảng 20 lồi, đều là những cây sống kí sinh trên rễ của những lồi thực vật có hoa khác. Chúng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và Australia. [16]
- Ở Việt Nam thường gặp ở Hà Tây, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái,…. [16] - Hiện nay đã có 2 loại của tỏa dương được đưa vào sách đỏ Việt Nam. [16]
<i>Bản đồ phân bố Balanophora spp. trên thế giới [6]</i>
<b>8.6. Công dụng và chỉ định</b>
</div>