Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.5 MB, 45 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI</b>
<b>NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN LỚP2105QTNA, KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC, TRƯỜNG ĐẠI</b>
<b>HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI.</b>
<b>BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ</b>
<b>Nhóm nghiên cứu: Nhóm 1</b>
<b>Hà Nội, 2022</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI</b>
<b>NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN LỚP2105QTNA, KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC, TRƯỜNG ĐẠI</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên bộ môn Phương pháp nghiên cứu khoa học -Th.S Nguyễn Thị Quỳnhđã tạo điều kiện thuận lợi để nhóm nghiên cứu triển khai và hồn thành đề tài nghiên cứu khoa học này.
Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã hợp tác, giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong q trình thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
<b>TM. Nhóm nghiên cứuNhóm trưởng</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">MXH : Mạng xã hội
QTNNL : Quản trị nguồn nhân lực ĐHNVHN : Đại học Nội vụ Hà Nội
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>MỞ ĐẦU...1</b>
<b>1. Lý do chọn đề tài...1</b>
<b>2. Tổng quan tình hình nghiên cứu...1</b>
<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:...2</b>
<b>3.1. Đối tượng nghiên cứu...2</b>
<b>3.2. Phạm vi nghiên cứu...2</b>
<b>4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu...3</b>
<b>4.1. Mục đích nghiên cứu...3</b>
<b>4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu...3</b>
<b>5. Phương pháp nghiên cứu...3</b>
<b>6. Đóng góp của đề tài...3</b>
<b>7. Kết cấu của đề tài...3</b>
<b>CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN...5</b>
<b>1.1. Một số khái niệm cơ bản...5</b>
<b>1.2. Đặc điểm và tác động của mạng xã hội đối với sinh viên...6</b>
<b>1.2.1. Đặc điểm của MXH...6</b>
<b>1.2.2. Tác động của MXH...7</b>
<b>1.3. Biểu hiện nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên...8</b>
<b>1.3.1. Mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên...8</b>
<b>1.3.2. Thời gian, phương tiện sử dụng mạng xã hội của sinh viên...9</b>
<b>1.3.3. Một số hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên...10</b>
<b>1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên...12</b>
<b>Tiểu kết chương 1...14</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>HỘI CỦA SINH VIÊN LỚP 2105QTNA, KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN </b>
<b>LỰC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI...15</b>
<b>2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu...15</b>
2.2. Phân tích thực trạng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp <b>2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, trường Đại học Nội vụ Hà Nội...16</b>
<b>2.2.1. Nhận thức của SV về MXH...16</b>
<b>2.2.2. Biểu hiện nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên...18</b>
<b>2.2.3. Các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên...27</b>
Tiểu kết chương 2<b>...</b>30
<b>CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN LỚP 2105QTNA, KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI...31</b>
3.1. Nâng cao nhận thức của sinh viên về MXH<b>...</b>31
3.2. Xác định đúng mục đích khi tham gia mạng xã hội<b>...</b>33
3.3. Tổ chức tọa đàm, nói chuyện hướng dẫn cho các sinh viên kỹ năng sử dụng MXH an toàn, hiệu quả<b>...</b>33
Tiểu kết chương 3<b>...</b>34
<b>KẾT LUẬN...35</b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO...37</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Bảng 2.1. Thời gian/địa điểm sử dụng MXH của sinh viên………19 Bảng 2.2. Mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên……….21 Bảng 2.3. Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên qua nội dung đăng tải……….22
<b>DANH MỤC BIỂU ĐỒ</b>
Biểu đồ 1. Khảo sát tỉ lệ sử dụng MXH của sinh viên………16 Biểu đồ 2. Nhận thức của sinh viên về MXH………17 Biểu đồ 3. Mức độ thường xuyên sử dụng mạng xã hội của sinh viên…………...18 Biểu đồ 4. Thời điểm sử dụng mạng xã hội nhiều nhất trong ngày của sinh viên..19 Biểu đồ 5. Thời gian sử dụng mạng xã hội trong một ngày của sinh viên………..20 Biểu đồ 6. Cách thức bảo mật thông tin cá nhân trên MXH của sinh viên……….25 Biều đồ 7. Lợi ích khi sử dụng MXH của sinh viên………27 Biểu đồ 8. Tác động tiêu cực của MXH đến sinh viên………29
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b>1. Lý do chọn đề tài</b>
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, các hệ thống mạng xã hội và internet ngày càng xuất hiện nhiều, phủ sóng với mức độ lớn lên giới trẻ hiện nay, cụ thể hơn là các bạn sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Việc tham gia vào diễn đàn, ứng dụng trên các trang mạng trực tuyến giúp sinh viên nói chung và sinh viên lớp 2105QTNA nói riêng có cơ hội được học hỏi, hội nhập với bạn bè quốc tế, mở mang kiến thức, rèn luyện nhiều kỹ năng quan trọng, phục vụ cho các hoạt động nghề nghiệp sau này.
Mặc dù tiện ích là thế, nhưng mạng xã hội không phải không mang đến rủi ro tiềm ẩn đối với sinh viên lớp 2105QTNA. Đặc biệt, khi phải liên tục cập nhật thông tin, ứng dụng và tính năng mới, đa dạng hơn, phong phú hơn. Điều này khiến nhu cầu sử dụng mạng xã hội và thời gian sử dụng của sinh viên gia tăng nhiều, gây ảnh hưởng lớn đến việc học tập, thi cử. Bởi lẽ họ bị cuốn vào “biển” thông tin mỗi ngày, những kho tàng phim ảnh, điện tử,... tràn lan trên các mạng xã hội mà quên mất mục tiêu, cơng việc chính trong cuộc sống.
Từ những lí do trên, thúc đẩy nhóm nghiên cứu chọn đề tài “Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.
<b>2. Tổng quan tình hình nghiên cứu</b>
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái, trong bài viết: “Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam hiện nay” đã chỉ ra rằng:“Sinh viên sử dụng mạng xã hội chủ yếu cho nhu cầu tương tác và giải trí, mặc dù mức độ chịu áp lực từ việc sử dụng mạng xã hội ở sinh viên chưa đáng báo động, nhưng sinh viên càng có nhu cầu sử dụng mạng xã hội cao thì họ càng dễ có nguy cơ chịu áp lực từ mạng xã hội” [4].
Hay theo tác giả Hà Cường, trong bài viết: “Sinh viên cần sử dụng mạng xã hội một cách thông minh” đã chỉ ra rằng: “Bên cạnh những mặt tích cực thì việc sử dụng mạng xã hội gây ra khơng ít những tác động xấu. Mạng xã hội khiến sinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">viên sao nhãng học tập và các hoạt động ngoại khóa. Quỹ thời gian tự học của các bạn bị giảm đi do dành q nhiều cho việc lướt web; vơ tình gây ra hậu quả nhiều bạn trẻ hiện nay có những suy nghĩ sai lệch, hành động sống “ảo” quá khích và ứng xử thiếu văn minh trên các cộng đồng mạng”[3].
Bên cạnh đó, thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Nga cũng đã đưa ra lời khuyên trong buổi tọa đàm “Kỹ năng ứng xử trên trang mạng xã hội” tại Đại học Hịa Bình vừa qua, đó là: “Xây dựng một trang mạng cá nhân thực sự có chất lượng và thu hút đối với cộng đồng mạng là điều tốt nhưng đừng chạy theo những câu nói q khích, hành vi trái đạo đức… để “câu like”, “câu view””[6].
Không chỉ vậy, theo tác giả Prof. Dr. BahireEfe (2012) với tác phẩm: “Thái độ của sinh viên Đại học đối với việc sử dụng MXH” ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy phần lớn sinh viên cảm thấy vui khi sử dụng mạng xã hội và họ dành khá nhiều thời gian cho việc này, sử dụng MXH để giao tiếp, giải trí và học tập với họ khá dễ dàng[1].
Tại Ấn Độ với bài viết: “Nghiên cứu để nâng cao hiểu biết về MXH”, tác giả đã nhận ra kẽ hở của MXH đồng thời khai thác, phân tích những yếu tố tiêu cực và tích cực của MXH. Từ đó có thể đưa ra những cải tiến thích hợp phục vụ nhu cầu của đại đa số sinh viên hiện nay[2].
Như vậy, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Vì thế, đây là đề tài mang tính mới và cần được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau.
<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:3.1. Đối tượng nghiên cứu:</b>
Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên.
<b>3.2. Phạm vi nghiên cứu:</b>
<b>3.2.1. Phạm vi thời gian: năm học 2021-2022.</b>
<b>3.2.2. Phạm vi không gian: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.</b>
<b>3.2.3. Phạm vi khách thể: 56 sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị </b>
nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><b>4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:4.1. Mục đích nghiên cứu:</b>
Từ việc khảo sát thực trạng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, trường ĐHNVHN từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp đáp ứng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên khoa QTNNL, trường ĐHNVHN trong thời gian tới.
<b>4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:</b>
- Cơ sở lý luận về nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên.
- Khảo sát thực trạng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực,trường Đại học Nội Vụ Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp đáp ứng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực,trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian tới.
<b>5. Phương pháp nghiên cứu.</b>
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, tổng hợp, so sánh… - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. + Phương pháp phỏng vấn.
+ Phương pháp thống kê tốn học.
<b>6. Đóng góp của đề tài.</b>
Thực hiện đề tài “Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội” sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp cho Ban giám hiệu nhà trường, Giảng viên, Cố vấn học tập xác định các giải pháp nâng cao hiệu quả việc sử dụng mạng xã hội của sinh viên trong thời gian tới.
<b>7. Kết cấu của đề tài.</b>
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận về nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Chương 2. Khảo sát thực trạng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Chương 3. Đề xuất một số giải pháp đáp ứng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên lớp 2105QTNA, khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><b>CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘICỦA SINH VIÊN</b>
<b>1.1. Một số khái niệm cơ bản (bổ sung trích dẫn)1.1.1. Nhu cầu</b>
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người. Đây là trạng thái đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần khi con người cảm thấy thiếu thốn về mặt nào đó. Tùy theo trình độ nhận thức như độ tuổi và giới tính, mơi trường sống, điều kiện tài chính, tình trạng sức khoẻ, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu có sức chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý, đến hành vi của con người. Vì vậy nên “nhu cầu” được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống và xã hội.[…]
<b>1.1.2.Mạng xã hội</b>
Theo tổng hợp, mạng xã hội với cách gọi đầy đủ là “dịch vụ mạng xã hội” hay “trang mạng xã hội” là nền tảng trực tuyến nơi mọi người dùng để xây dựng các mối quan hệ với người khác có chung tính cách, nghề nghiệp, cơng việc, trình độ,… hay có mối quan hệ ngồi đời thực với rất nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, giúp mọi người dễ dàng kết nối từ bất cứ đâu. […]
Mạng xã hội cho phép người dùng chia sẻ câu chuyện, bài viết, ý tưởng cá nhân, đăng ảnh và video, đồng thời thông báo về hoạt động, sự kiện trên mạng hoặc trong thế giới thực. MXH còn kết nối con người với nhau dù cho có khoảng cách về địa lý hay múi giờ. MXH đưa con người lại gần nhau hơn khi cho phép nhắn tin, video call,… ở mọi thời gianvà địa điểm.
<b>1.1.3. Sinh viên</b>
Sinh viên là đối tượng đang học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Độ tuổi của sinh viên thường từ 18 tuổi đến 25 tuổi. Ta có thể thấy những đặc điểm đặc trưng ở độ tuổi này là dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chun mơnvì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo.
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đơi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt. […]
<b>1.1.4. Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên</b>
Hiện nay, MXH mang lại rất nhiều lợi ích, đặc biệt là dành cho các bạn sinh viên. MXH giúp cho việc học và làm của các bạn SV được dễ dàng hơn, cũng như giúp đỡ các bạn trong đời sống thường ngày. Độ phủ và ảnh hưởng của MXH đến các bạn sinh viên rất mạnh mẽ khi có 99% sinh viên sử dụng MXH là một “người trợ lý ảo” cho mình. […] MXH cịn là nơi giúp các bạn trẻ học tập, thông qua các kênh MXH, kiến thức đến với sinh viên một cách dễ dàng hơn mà không cần mất q nhiều cơng sức và thời gian tìm hiểu, kiến thức trên MXH là những nội dung tóm tắt khiến người trẻ dễ ghi nhớ.
Không chỉ giúp các bạn sinh viên trong cuộc sống và học hành, MXH còn là nơi để các bạn thể hiện bản thân, kết nối với bạn bè và gia đình. Hoặc hơn thế nữa là chia sẽ những điều hữu ích đến những người xung quanh thông qua việc tạo “content” trên MXH, từ đó sẽ có những làn sóng hưởng ứng, chia sẻ và thơng tin đó sẽ được đưa tới nhiều người hơn. Sau nhu cầu học tập và làm việc, nhu cầu giải trí cũng chiếm phần lớn trong thời gian sử dụng MXH của sinh viên. Khi tham gia MXH để giải trí, sinh viên khơng khó khi tìm thấy những trang web, trị chơi, video,… những cơng cụ giải trí. […]
<b>1.2. Đặc điểm và tác động của mạng xã hội đối với sinh viên1.2.1. Đặc điểm của MXH</b>
MXH là những ứng dụng trên nền tảng internet, người dùng có thể tự do sáng tạo, chia sẻ. Những trang MXH đều do người dùng xây dựng nên chúng, vậy nên mỗi trang MXH sẽ có những đặc điểm, đặc trưng khác nhau tuỳ vào người sáng tạo và người dùng.
MXH được tạo nên để tiếp cận với nhiều người với nhiều độ tuổi, giới tính, quốc gia khác nhau. Từ đó kết nối con người với con người, tiếp cận với nhiều nền văn hoá khác nhau, nhiều tư tưởng khác nhau,… MXH tạo điều kiện cho sự phát triển của cộng đồng xã hội trên mạng bằng cách kết nối tài khoản của người dùng với tài khoản của các cá nhân, tổ chức khác.
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">MXH có độ tương tác cao, khả năng lưu trử thơng tin và hình ảnh vơ cùng lớn. Cùng với khả năng lan truyền tin tức và hình ảnh chỉ trong giây lát cho dù có khoảng cách địa lý. […]
<b>1.2.2. Tác động của MXH1.2.2.1. Tác động tích cực</b>
Đầu tiên, MXH giúp kết nối, trao đổi thông tin giữa người với người 1 cách dễ dàng. Giao tiếp là vai trò cơ bản của các MXH, bất cứ MXH nào cũng cần có tính ứng dụng là giao tiếp, điển hình như nhắn tin, gọi điện hoặc video call. Khơng chỉ vậy, bởi đặc điểm có tính lan truyền mạnh mẽ, MXH được coi là công cụ quảng bá, quảng cáo vơ cùng hữu hiệu. Với tính chất lan truyền nhanh đến “chóng mặt”, MXH lànơi tiềm năng giúp quảng bá thương hiệu sản phẩm, khiến người dùng tiếp cận được với sản phẩm nhanh và nhiều hơn.
Thứ hai, trên các trang MXH, ngày càng xuất hiện nhiều trang cung cấp các kiến thức trong cuộc sống, các hội nhóm chia sẻ kiến thức học tập và mọi lĩnh vực. Ví dụ nhóm “Luyện Tiếng Anh mỗi ngày” và rất nhiều nhóm với bộ mơn khác trong chương trình học. Bên cạnh đó, ngồi kiến thức học tập,MXH còn cung cấp kiến thức về nấu ăn, kỹ năng sống, chia sẻ cảm xúc, thể thao... thông qua đó, người dùng có thể dễ dàng tích lũy được rất nhiều kiến thức cần thiết trong cuộc sống. […]
Thứ ba, MXH sở hữu tính năng cập nhật, chia sẻ tất cả những thơng tin, hình ảnh, sự việc diễn ra hàng ngày. Điển hinh như những tin tức về các tệ nạn xã hội được chia sẻ rộng rãi và nhanh chóng giúp người dân được cảnh báo trước những hiểm họa có thể diễn ra trong cuộc sống, giúp mọi người nâng cao được tinh thần cảnh giác. […]
<b>1.2.2.2. Tác động tiêu cực</b>
Bên cạnh những tác động tích cực, chúng ta cũng khơng thể ngó lơ những hiểm họa do MXH mạng lại. Điển hình như việc sử dụng MXH quá mức sẽ làm trì trệ sinh hoạt của con người. Thanh thiếu niên hay sinh viên thường xuyên sử dụng mạng xã hội vào những thời điểm lẽ ra cơ thể cần được nghỉ ngơi như khi ăn, khi chuẩn bị đi ngủgây ra những tác động không hề lành mạnh. Khi sử dụng MXH trong bữa ăn sẽ làm con người bị mất tập trung, làm gián đoạn quá trình hấp thu
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">thức ăn, gây ra các hiện tượng như rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, đau dạ dày. Nếu sử dụng MXH trước khi đi ngủ sẽ làm giảm sút chất lượng giấc ngủ, khiến cho thời gian ngủ bị ngắn lại, gây tình trạng mất ngủ trầm trọng, khiến cơ thể mệt mỏi. Đặc biệt, khi tiếp nhận các thông tin xấu, những lời góp ý khơng thiện chí, những vấn đề tiêu cực bên ngoài sẽ rất dễ gây ra tình trạng hoảng loạn tinh thần, ảnh hưởng tới tâm lý.
Bởi có rất nhiều khơng gian giải trí, điển hình như Facebook hay Tiktok, chúng ta sẽ dễ dàng bị cám dỗ gây mất quá nhiều thời gian.Với sinh viên, thời gian rảnh vẫn còn rất nhiều, nếu dành thời gian rảnh để lướt MXH thì qng thời gian đó thật vơ ích, thay vào đó ta có thể làm những cơng việc giúp ích cho bản thân mình hơn như tập thể dục, học thêm, giải trí lành mạnh,…
Vì quá phụ thuộc vào tương tác trên MXH, nhiều bạn trẻ khơng có kỹ năng giao tiếp ngồi đời gây tình trạng giảm tương tác giữa người với người trong thực tế. Trên MXH, một bạn trẻ có thể trở nên rất hoạt ngôn, hài hước, vui vẻ nhưng ở thế giới thực, bạn lại là một người trầm tính, ít nói và rụt rè. Đây là một thực trạng vơ cùng điển hình của nhiều bạn trẻ ngày nay do đã quá quen với “thế giới ảo” thiếu thực tế.
<b>1.3. Biểu hiện nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên1.3.1. Mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên</b>
Mạng xã hội giờ đây được coi là một phương tiện vô cùng phổ biến với giới trẻ ngày nay thậm chí ngay cả những người trung niên cũng sử dụng khá rộng rãi. Đó là nơi chứa đựng mọi kiến thức cũng như thông tin về nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, xã hội, giải trí,... và chúng được cập nhật từ nhiều nơi khác nhau trên toàn thế giới.
Và đối với sinh viên nói riêng thì mạng xã hội giống như một cơng cụ đắc lực hỗ trợ tối đa về nhiều mặt trong cuộc sống hàng ngày như tìm kiếm, thu thập và chia sẻ thông tin, kiến thức, tài liệu học tập.Đồng thời MXH thường xuyên cập nhật những tin tức mới mẻ giúp sinh viên không bị rơi vào trường hợp “lạc hậu” so với thời đại phát triển như hiện nay. Khơng những thế sinh viên cịn sử dụng mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau tùy vào nhu cầu của bản thân mỗi người.
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Hiện nay, với thời đại 4.0 chuyển biến nhanh chóng và phức tạp, hầu hết mọi người trên khắp thế giới đều sống trong thế giới “ảo” và việc xây dựng bản thân tốt đẹp trên các nền tảng mạng xã hội là điều rất quan trọng. Thậm chí nhiều sinh viên nói riêng cũng như người sử dụng mạng xã hội nói chung tận dụng điểm mạnh này của mạng xã hội để kinh doanh các mặt hàng online và đem lại cho họ lợi nhuận không hề nhỏ. Khơng ít những người nhờ mục đích sử dụng đó mà thành cơng trong lĩnh vực kinh doanh về sau này.
Hiện nay tỷ lệ sinh viên phải xa gia đình, bạn bè ln chiếm phần lớn vậy nên mạng xã hội giống như một người bạn kết nối họ với mọi người thân. Tuy không được gặp gỡ trực tiếp nhưng nhờ MXH, sinh viên vẫn có thể dễ dàng nhìn được hình ảnh, âm thanh trực tiếp của người thân từ phương xa trong mọi thời điểm thích hợp.
Khơng chỉ mang vai trị kết nối, MXH cịn là nơi tìm kiếm cơ hội việc làm vơ cùng hữu ích. Ngày nay, cơng tác tuyển dụng trở nên rất thuận tiện bởi thơng tin tuyển dụng có thể tiếp cận các ứng viên nhanh chóng và dễ dàng hơn bao giờ hết, ứng viên có thể gửi CV của mình thơng qua gmail của nhà tuyển dụng khiến mọi cơng đoạn trở nên nhanh chóng hơn. Vì vậy đây yếu tố đem lại cơ hội việc làm cao và rút ngắn thời gian tìm việc cho hầu hết sinh viên.
<b>1.3.2. Thời gian, phương tiện sử dụng mạng xã hội của sinh viên1.3.2.1. Thời gian sử dụng mạng xã hội của sinh viên</b>
Theo số liệu thống kê của Comscore - Công ty hàng đầu trong việc đo lường đối tượng, nhãn hiệu và hành vi người dùng ở mọi nơi đã báo cáo rằng thời gian sử dụng MXH hàng ngày của giới trẻ có tỷ lệ cao nhất là từ 1-3 tiếng chiếm 35,7%, từ 3-5 tiếng là 25,7% và từ trên 5 tiếng chiếm 22,6%.Đặc biệt tỉ lệ người sử dụng ít hơn 1 tiếng chỉ chiếm 16,0%. Bên cạnh đó, với cơng nghệ wifi phủ rộng khắp nơi nên các bạn trẻ có thể linh hoạt trong việc sử dụng, tỉ lệ sử dụng tại nhà chiếm 95,8% là cao nhất, tiếp sau đó tại nơi làm việc và trường học chiếm 17,3% và cuối cùng là quán net chiếm 9,5%. Như vậy, tần suất sử dụng mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam hiện nay đang ngày càng gia tăng. Qua đó cho thấy giới trẻ hay sinh viên đang đang có nhu cầu khá lớn trong việc sử dụng mạng xã hội. Và lượng thời gian mà sinh viên sử dụng mạng xã hội được thống kê trong báo cáo đang là vấn đề cần
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">xem xét và có biện pháp cụ thể để đáp ứng nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên một cách an toàn và lành mạnh[8].
<b>1.3.2.2. Phương tiện sử dụng mạng xã hội của sinh viên</b>
Theo như thống kê trong báo cáo thường niên “Digital 2021” của WeAreSocial phối hợp với Hootsuite đã nêu ra những số liệu về tỉ lệ phần trăm các phương tiện được sử dụng để truy cập vào mạng xã hội tại Việt Nam. Trong số 68.72 người dùng Internet tại Việt Nam thì có đến 96.9% sử dụng điện thoại thông minh để truy cập, và đối với sinh viên thì việc truy cập Internet bằng điện thoại gần như là tuyệt đối bởi thiết kế nhỏ gọn nhưng vẫn đầy đủ tính năng và đặc biệt là phù hợp với tài chính của sinh viên, vị trí á qn khơng thể khơng kể đến đó là máy tính/laptop chiếm 66.1% người dùng và cuối cùng là máy tính bảng với tỉ lệ người dùng là 31.9%[7].
<b>1.3.3. Một số hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên</b>
Hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên là những hành vi được bộc lộ trên những nền tảng xã hội như việc đăng tải nội dung trên các trang MXH. Những hành động đó đều được xã hội đánh giá về mọi mặt như trình độ hiểu biết, cách ứng xử văn hóa,... của cá nhân đó. Vậy nên hành vi sử dụng mạng xã hội được coi là hành vi có nhận thức và có ứng xử phù hợp với chuẩn mực mà Bộ Thông tin đã quy định để từ đó có những ứng xử phù hợp giữa sinh viên với sinh viên và sinh viên với mọi người xung quanh.Như vậy, hành vi sử dụng mạng xã hội nói chung và hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên nói riêng được phát triển bởi hiệu ứng tích hợp từ hành vi cá nhân và tác động của các yếu tố bên ngoài. Điều này được biểu hiện qua những yếu tố sau:
<b>1.3.3.1. Biểu hiện qua thời gian sử dụng mạng xã hội</b>
Theo số liệu thống kê trong báo cáo “Digital 2021” đã chỉ ra rằng lượng thời gian mà người sử dụng MXH tại Việt Nam nói chung và của sinh viên nói riêng đều dựa vào thời gian sinh hoạt của gia đình và nhà trường. Do sinh viên được độc lập và tự do về thời gian học tập nên xác suất lượng truy cập Internet nhiều hơn so với lứa tuổi học sinh cũng như những người đã đi làm. Và số lượng sinh viên truy cập mạng xã hội không ngừng tăng lên trong những năm gần đây[7].
<b>1.3.3.2. Biểu hiện qua nội dung chia sẻ trên mạng xã hội</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">Với độ phủ sóng cao của MXH, việc sinh viên thường đăng tải những nội dung liên quan đến cá nhân là điều bình thường. Thơng qua nhiều cơng cụ tiện ích của MXH, sinh viên có thể đăng tải hình ảnh bản thân hay những món ăn u thích sự quan tâm và nhận được nhiều tương tác từ những người xung quanh. Nội dung được chia sẻ trên các trang mạng xã hội rất đa dạng và được thể hiện nhiều chiều. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, một số sinh viên lợi dụng lượt tương tác để gây chú ý bằng những hình ảnh phản cảm hay có những phát ngôn gây sốc để dồn tâm điểm chú ý về mình. Thậm chí có những sinh viên chia sẻ những thông tin độc hại trên mạng xã hội mà khơng nhận thức được hành vi của mình mà hồn toàn làm theo trào lưu.
<b>1.3.3.3. Biểu hiện qua mục đích sử dụng mạng xã hội</b>
Hầu hết người sử dụng mạng xã hội hiện nay đều sử dụng vào mục đích giải trí để thư giãn sau ngày dài làm việc như xe phim, nghe nhạc, chơi game,... Nhưng vẫn có những người sử dụng để phục vụ cho cơng việc. Theo thống kê trong báo cáo “Digital 2021” có đến 55.9% sử dụng mạng xã hội phục vụ công việc. Có thể thấy MXH vẫn là nơi đem lại nhiều lợi ích trong đời sống, và thường những đối tượng sử dụng cho mục đích cơng việc đều là những người ý thức được hành vi của mình trong việc sử dụng mạng xã hội. Tuy nhiên, mục đích giải trí vẫn là chủ yếu nhưng khơng phải lạm dụng quá nhiều để dẫn đến tình trạng “nghiện” mạng xã hội[7].
<b>1.3.4. Cách thức bảo mật thông tin trên không gian mạng</b>
Có thể nói, mạng xã hội là một cơng cụ vơ cùng quan trọng của giới trẻ. Nó vừa chứa những thông tin cá nhân, vừa là phương tiện chính để các bạn trẻ giao tiếp và trao đổi thông tin với nhau. Tuy nhiên theo thống kê, Việt Nam lại là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất từ những vụ bê bối lộ thông tin trên Facebook, cũng như có số lượng người bị hack tài khoản MXH vô cùng cao. Vậy câu hỏi đặt ra là làm sao để bảo vệ được tài khoản MXH của mình? Sau đây nhóm nghiên cứu xin nêu ra vài phương pháp mà nhóm đã tự mình sử dụng hoặc tìm hiểu được.
Thứ nhất, khơng bao giờ nhấn vào những đường link lạ, không rõ nguồn gốc. Kẻ xấu thường sẽ yêu cầu người sử dụng nhập mật khẩu trang mạng xã hội cá nhân, rồi từ đó truy cập vào tài khoản và thực hiện những ý đồ xấu. Nguy hiểm
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">hơn nữa, có những đối tượng cịn dùng những thủ đoạn tinh vi hơn để đánh cắpdữ liệu thông tin bảo mật tài khoản ngân hàngnhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai, hãy nâng cao độ phức tạp của mật khẩu tài khoản. Sử dụng những mật khẩu dài, kết hợp nhiều kí tự đặc biệt để kẻ xấu khó lần ra hơn. Không đặt mật khẩu liên quan đến thông tin cá nhân hay sử dụng một mật khẩu cho nhiều tài khoản. Và đặc biệt, thường xuyên thay đổi mật khẩu và bật tính năng xác thực 2 yếu tố. Hiện nay, cũng có rất nhiều biện pháp bảo mật tiên tiến như nhận diện dấu vân tay hay nhận diện bằng khn mặt. Sinh viên cũng có thể sử dụng những hình thức ấy để bảo mật tốt hơn.
Cuối cùng, vô cùng đơn giản nhưng rất nhiều người hay quên. Khi truy cập MXH tại những điểm Internet công cộng, hay bằng thiết bị của một người khác, hãy nhớ đăng xuất sau khi dùng xong.
Mất tài khoản mạng xã hội có thể gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Một số kẻ xấu có thể nhắn tin mượn tiền người thân hay lợi dụng những thông tin bảo mật để bôi nhọ danh dự cá nhân - điều mà khơng ít các ngơi sao đã nếm trải. Bởi vậy, nhóm chúng tơi đã đưa ra những biện pháp nêu trên để khắc phục một số tình trạng mất an tồn thường gặp trên không gian mạng.
<b>1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinhviên</b>
<b>1.4.1. Yếu tố khách quan</b>
Có thể nói, mơi trường sống là một trong những yếu tố khách quan hàng đầu gây ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng MXH của SV. SV là những người đã đến tuổi trưởng thành, được tự lập và chịu trách nhiệm cho cuộc đời của mình. Mơi trường đầu tiên mà SV được trải nghiệm là trường Đại học, một nơi xa lạ với nhiều điều mới mẻ, khó khăn. Tại đây sẽ có rất nhiều SV khác nhau, đến từ những vùng miền khác nhau. Vậy nên, bước đầu tiên để có thể dễ dàng hịa nhập vào mơi trường Đại học chính là kết nối và làm quen với thầy cô, anh chị và bạn bè mới. Hiện nay, các trang MXH đã hoàn thành rất tốt nhu cầu này. Trong thời đại số phát triển, rất nhiều các trang MXH ra đời với nhiều tính năng hiện đại, giúp nhân loại nói chung cũng như sinh viên nói riêng có thể dễ dàng gắn kết với nhau, liên lạc, trao đổi về cuộc sống... Đối với SV, MXH là nơi giúp ích rất nhiều trong việc tìm kiếm tin tức, thơng tin phục vụ cho việc học tập. Kiến thức là bao la và khơng chỉ cịn tóm gọn
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">bằng những con chữ, trên những trang giấy. Với lòng nhiệt huyết, niềm khát khao được chinh phục của tuổi trẻ, SV luôn mong muốn được biết thêm nhiều kiến thức mới đến từ nhiều nguồn khác nhau. Và MXH chính là một kho tàng bách khoa có thể đáp ứng được nhu cầu này. Chỉ với một cú nhấp chuột, SV có thể dễ dàng chạm tới thế giới bên ngồi mà không cần phải đến tận nơi “mắt thấy, tai nghe”. Ngồi ra cịn có các trang MXH mang tính chất giải trí, giúp SV có thể giải tỏa sau những giờ học căng thẳng. Môi trường Đại học xa gia đình, khơng cịn phải chịu nhiều sự quản chế nghiêm khắc từ phụ huynh khiến SV có lối sống thoải mái hơn, có thể thường xuyên truy cập MXH để tìm kiếm niềm vui hơn. Nhờ những tiện ích này, MXH dần trở thành yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi SV.
Việc MXH trở lên quan trọng và khó có thể thay thế trong thời đại hiện nay là điều có thể dễ dàng hiểu được bởi sự tiện ích của nó là khơng thể phủ nhận. Tiện ích được sinh ra là vì nhu cầu. Nhu cầu càng lớn thì nguồn cung ứng cũng sẽ tăng lên. Và nhu cầu được sử dụng MXH của SV hiện nay là rất cao, cũng do một phần bởi sự phát triển của thời đại số đã cho ra đời nhiều thiết bị hiện đại. Chúng ta khơng khó để bắt gặp những SV sở hữu những chiếc điện thoại thông minh hay máy tính cá nhân. Vì hiện nay những thiết bị ấy đã trở lên thịnh hành, được sản xuất rất nhiều, với những mẫu mã đa dạng, giá cả phải chăng cũng như mang nhiều tiện ích. Khơng cịn là thời của ơng cha ta ngày xưa, khi cả xóm chỉ có được một chiếc tivi đen trắng. Mỗi SV hiện nay có thể dễ dàng sở hữu những thiết bị hiện đại, cài đặt nhanh chóng nhiều nền tảng MXH để phục vụ cho nhu cầu cá nhân.
Những yếu tố trên là khách quan vì chúng khơng được sinh ra bởi chủ thể là SV, nhưng lại gây ảnh hưởng đến chủ thể, bao gồm cả nhận thức và hành vi. Môi trường hiện đại hay điều kiện dễ dàng sẽ hình thành thói quen phụ thuộc vào MXH, và cũng đã phản ánh phần nào về thực trạng sử dụng MXH của SV hiện nay.
1.4.2. Yếu tố chủ quan
Nếu nói yếu tố khách quan là những yếu tố khó có thể kiểm sốt vì chúng nằm ngồi phạm vi thuộc về chủ thể, thì yếu tố chủ quan chính là những yếu tố thuộc về chủ thể, do chủ thể quản lý và chịu trách nhiệm.
Yếu tố chủ quan thể hiện ở tư duy, thái độ, cách nhìn nhận sự vật, sự việc của chủ thể. Vậy nên, yếu tố chủ quan gây ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng MXH
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">của SV đến từ chính nhận thức cá nhân của SV khi sử dụng MXH. MXH nào là cần thiết? MXH nào là môi trường độc hại, không nên sử dụng? Đó là quan điểm cá nhân của mỗi SV khi lựa chọn MXH để sử dụng, cũng như phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân của SV. Có thể nói, nhận thức khi lựa chọn MXH là bước nền quan trọng, quyết định cho việc hình thành nhu cầu sử dụng MXH của SV sau này.
Thực chất, phần lớn nhu cầu của chủ thể được hình thành do những mong muốn từ bên trong và vẫn thuộc quyền quyết định của chủ thể. Vậy nên, nhu cầu sử dụng MXH của SV xuất phát từ những mong muốn của SV. Mong muốn được học tập, tìm kiếm thơng tin; mong muốn được gặp gỡ, kết nối, giao lưu; mong muốn được vui chơi, giải trí… Tất cả những mong muốn ấy là động cơ thúc đẩy cho hành vi sử dụng MXH, ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng MXH của SV. Vì mong muốn cá nhân là khác nhau nên nhu cầu sử dụng MXH của mỗi SV cũng sẽ khơng giống nhau.
<b>Tiểu kết chương 1</b>
Tóm lại, trong chương 1 nhóm tác giả đã khái quát các nội dung về nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên. Nhóm nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu đi trước đã khái quát và đưa ra một số khái niệm cơ bản như: khái niệm nhu cầu, khái niệm MXH và nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên; đặc điểm và tác động của MXH. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề cập đến vấn đề biểu hiện nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên với các khía cạnh như: mục đích sử dụng, thời gian, phương tiện sử dụng MXH cũng như một số hành vi sử dụng MXH cơ bản của sinh viên. Nhóm nghiên cứu đã khái quát những yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến sử dụng mạng xã hội của sinh viên cũng như cách thức bảo mật thông tin cá nhân trên không gian mạng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22"><b>CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃHỘI CỦA SINH VIÊN LỚP 2105QTNA, KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN</b>
<b>LỰC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu</b>
Trường Đại học Nội vụ là cơ sở Đại học công lập trực thuộc Bộ Nội vụ, được thành lập ngày 14/11/2011, tiền thân là Trường Trung học Văn thư lưu trữ trung ương I, được thành lập năm 1971 theo quyết định số 109/BT ngày 18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Trường Đại học Nội vụ có chức năng, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực Nội vụ. Hiện nay nhà trường đang phát triển về cả chất lượng và hiêu quả đào tạo trên các mảng khác như: Quản trị nhân lực, Luật, Quản trị văn phòng, Quản lí nhà nước, Chính trị học,…Đội ngũ giảng viên của trường là những người được đào tạo và có bằng cấp phù hợp với từng chuyên ngành để có thể truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Điều đặc biệt là đội ngũ giảng viên có nhiều người trẻ, nhiệt huyết, là một trong những nguồn lực quan trọng phát triển tương lai của nhà trường.
Khoa Quản trị nguồn nhân lực là đơn vị chuyên mơn thuộc Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, có chức năng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục, đào tạo trình độ đại học, sau đại học; tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ gắn với chuyên môn của Khoa; thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế; khoa học và công nghệ phù hợp với mục tiêu, phương hướng phát triển của Trường. Chương trình đào tạo ngành Quản trị nhân lực cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản và nâng cao về ngành nhân sự để có thể thực hiện các cơng việc của ngành về tuyển dụng, đào tạo, phúc lợi thuộc khu vực công hoặc khu vự tư.
Lớp 2105QTNA niên khóa 2021-2025 thuộc khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Vào học năm 2021, lớp có tất cả 71 thành viên đến từ nhiều tỉnh thành khác nhau nhưng đều có một tinh thần học tập rất lớn đặc biệt là với ngành học u thích này. Mỗi thành viên trong lớp đều có một mục tiêu chung đó là ra trường với tấm bằng khá trở lên và có một cơng việc ổn định, đúng với ngành mà mình đã học và đã chọn.
</div>