Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

thực trạng chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường tại bệnh viện bạch mai năm 2023

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (801.21 KB, 63 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<small>Các Thầy giáo, Cô giáo trong đã trực tiếp hướng dẫn, trang bị kiến thức cho tơitrong suốt q trình học tập tại trường.</small>

Ban Giám đốc, Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên Khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian tiến hành thu thập số liệu tại Khoa Sản- Bệnh viện Bạch Mai.

Đặc biệt tơi xin tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy: . là người thầy kính mến đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt những kinh nghiệm, tạo mọi thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện chuyên đề này.

Tôi xin tân trọng biết ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tơi hồn thiện chun đề.

Tơi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp và các đối tượng nghiên cứu đã nhiệt tình cộng tác để tơi có được số liệu cho nghiên cứu này.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè cùng tập thể lớp chuyên khoa 1 đã động viên, giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập, nghiên cứu.

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Thuỳ Linh

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tơi. Các số liệu trong chuyên đề là trung thực và chưa từng được công bố trong các cơng trình nghiên cứu khác. Nếu sai sót tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.

Học viên

Nguyễn Thị Thuỳ Linh

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

1.1.1. Khái niệm chuyển dạ[2], [3]:<small>...</small>3

1.1.2. Các giai đoạn chuyển dạ[5]:<small>...</small>3

1.1.3. Đẻ thường[4], [5], [6]<small>...</small>4

1.1.4. Chăm sóc sản phụ sau sinh thường 24h[51], [16]<small>...</small>10

1.2. Cơ sở thực tiễn<small>...</small>14

<i>1.2.1. Các nghiên cứu trong nước</i><small>...</small>14

<i>1.2.2. Các nghiên cứu ngoài nước</i><small>...</small>17

Chương 2<small>...</small>20

2.1. Giới thiệu khái quát về Bệnh viện Bạch Mai<small>...</small>20

2.2 Mô tả vấn đề cần giải quyết<small>...</small>23

2.3. Kết quả nghiên cứu<small>...</small>26

2.3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu<small>...</small>26

2.3.2. Thực trạng cơng tác chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường<small>...</small>26

2.3.3. Đề xuất giải pháp<small>...</small>31

Chương 3<small>...</small>34

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu<small>...</small>34

<small>3.2. Thực trạng công tác chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường tại khoa Phụ sản</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH</small>

<small>Bảng 2. 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu...26</small>

<small>Bảng 2. 2. Thực trạng công tác chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường...26</small>

<small>Hình 2. 1. Bệnh viện Bạch Mai...21</small>

<small>Hình 2. 2. Khoa Phụ sản Bệnh viên Bạch Mai...23</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hạnh phúc lớn lao nhất của cuộc đời mỗi người phụ nữ là thiên chức làm mẹ. Cuộc sinh nở tuy là hiện tượng tự nhiên nhưng cũng là một thử thách.Quá trình vượt cạn đầy gian nan, vất vả, khơng thiếu những giọt mồ hôi, máu và nước mắt. Bởi vậy, sau khi sinh, sản phụ cần được chăm sóc thật tốt để có thể sớm phục hồi, tránh được nguy cơ bệnh hậu sản như băng huyết, nhiễm khuẩn, sản dịch hay tiền sản giật, nhiễm trùng đường tiết niệu,… Để được mẹ trịn con vng, cả sản phụ và người hộ sinh đều cần có sự chuẩn bị tốt để thực hiện đúng và kịp thời những điều cần làm khi người mẹ chuyển dạ và sinh nở [4], [8].

Chăm sóc sau sinh khơng chỉ thể hiện sự quan tâm đúng lúc, kịp thời đối với bà mẹ và trẻ mà còn là cách tuyệt vời để giúp mẹ và con sớm phục hồi sức khỏe sau một hành trình gian nan và nhiều cảm xúc, giúp kết nối tình mẫu tử thiêng liêng và khuyến khích bé bú sữa mẹ tốt hơn.Việc thực hiện những lưu ý sau sinh nở là vô cùng quan trọng. Bên cạnh việc tự ý thức điều chỉnh thói quen, lối sống, hành vi sinh hoạt của bản thân, các mẹ bỉm cũng cần được người nhà, gia đình, chăm sóc, hỗ trợ, chú ý để sớm phục hồi sức khỏe nhanh nhất. Người nhà cũng có thể san sẻ bớt gánh nặng chăm sóc trẻ nhỏ với các mẹ bỉm để họ bớt đi áp lực về tâm lý sau sinh, có nhiều thời gian tự chăm sóc bản thân hơn[1], [3]

<small>Ở Việt Nam, hàng năm có khoảng 3000 phụ nữ tử vong do liên quan đến thai nghénvà sinh đẻ. Tỷ lê tử vong mẹ giữa các vùng miền rất khác nhau. Những nguyên nhân dẫntới tử vong mẹ là băng huyết, đẻ khó, sản giật, nhiễm trùng [1].</small>

<small>Thời kỳ hậu sản được tính từ ngay sau đẻ cho đến hết 6 tuần sau đẻ, người mẹ phảiđối mặt với rất nhiều nguy cơ có khả năng để lại những biến chứng lâu dài hoặc thậm chítử vong. Do đó, việc phối hợp chăm sóc hậu sản sẽ giúp ích rất nhiều cho sản phụ và giađình cũng như cho việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ sơ sinh của nhân viên ngành y tế.Tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Bạch mai, hàng năm có khoảng hơn tám nghìn ca sinhthường. Nhưng có rất ít nghiên cứu về đánh giá hiệu</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<i>quả chăm sóc hậu sản của hộ sinh. Vì vậy tơi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạngchăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2023” với 2</i>

mục tiêu:

Mục tiêu

1. Mơ tả thực trạng chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường tại Khoa phụ sản Bệnh viện Bạch Mai năm 2023.

2. Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường tại Khoa phụ sản Bệnh viện Bạch Mai

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Cở sở lý luận:

Chuyển dạ là q trình khó khăn cuối cùng mà các mẹ bầu cần phải vượt qua để gặp con yêu sau chín tháng mười ngày mang nặng vất vả. Tuy nhiên, khi

khoảnh khắc này diễn ra, không phải mẹ bầu nào cũng bình tĩnh đối diện để giúp q trình này diễn ra được sn sẻ.

1.1.1. Khái niệm chuyển dạ[2], [3]:

Chuyển dạ đẻ là một quá trình sinh lý mở đầu là cơn co tử cung, kết thúc là thai nhi và rau được đưa ra khỏi vùng tử cung qua đường âm đạo.

Một cuộc chuyển dạ bình thường xảy ra từ tuần lễ thứ 38 đến cuối tuần 41 (trung bình là 40 tuần) gọi là đẻ đủ tháng khi đó thai nhi đã trưởng thành và có khả năng sống độc lập ngồi tử cung.

Đẻ non là tình trạng gián đoạn thai nghén khi thai có thể sống được. Chuyển dạ đẻ non thường xảy ra khi tuổi thai từ tuần lễ thứ 22 đến 37.

Đẻ già tháng là hiện tượng chuyển dạ đẻ xảy ra sau một tuần lễ trở nên so với ngày dự kiến đẻ. Gọi là thai già tháng khi tuổi thai trên 41 tuần

1.1.2. Các giai đoạn chuyển dạ[5]: - Giai đoạn I: xóa mở cổ tử cung.

Được tính từ khi bắt đầu chuyển dạ thực sự đến khi cổ tử cung mở hết. Giai đoạn này chia làm hai giai đoạn: giai đoạn IA( pha tiềm tàng) tính từ khi bắt đầu chuyển dạ thực sự đến khi cổ tử cung mở 4 cm. Giai đoạn này cho phép kéo dài 8 đến 10 giờ. Giai đoạn Ib (pha tích cực hoặc pha hành động) tính từ khi cổ tử cung mở lớn hơn 4 cm đến khi mở hết, giai đoạn này cho phép kéo dài trên 10 giờ

- Giai đoạn II: Sổ thai. Tính từ khi cổ tử cung mở hết đến khi sổ thai giai đoạn này cho phép tối đa 1 giờ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

- Giai đoạn III: Sổ rau. Tính từ khi thai sổ đến khi rau sổ ra ngoài, giai đoạn này cho phép tối đa 1 giờ.

Tiêu chuẩn chẩn đoán chuyển dạ: Chẩn đốn là chuyển dạ khi có ít nhất 3 trong 5 dấu hiệu sau:

<small>Đau bụng từng cơn, tăng dần Ra dịch nhầy hồng ở âm đạo Có sự thay đổi ở cổ tử cung Đầu ối được thành lập</small>

Có sự tiến triển của ngơi thai sau mỗi cơn co tử cung 1.1.3. Đẻ thường[4], [5], [6]

Đỡ đẻ thường ngôi chỏm: là thủ thuật tác động vào thì sổ thai để giúp cuộc đẻ được an tồn theo đường âm đạo không cần can thiệp (trừ trường hợp cắt tầng sinh mơn)

<i>Cơ chế: Q trình chuyển dạ là một chuỗi các động tác thụ động của thai nhi</i>

đặc biệt là phần ngơi thai trình diện, trong q trình thai nhi xuống để sổ qua đường sinh dục. Trong cuộc đẻ diễn ra qua 4 thì chính:

+ Lọt: là đường kính lớn nhất của ngơi thai trùng vào mặt phẳng eo trên + Xuống: Ngôi di chuyển trong ống đẻ từ mặt phẳng eo trên đến eo dưới <small>+ Quay: Điểm mốc của ngôi hoặc chẩm quay về phía xương mu hay xương cùng</small> + Sổ: Phần thai sổ ra ngoài qua âm hộ

<i>Những hiện tượng giải phẫu và sinh lí1.1.3.1.Thay đổi ở thân tử cung[7]</i>

<small>Sau khi sổ rau, tử cung co chắc thành khối an toàn, trọng lượng tử cung lúc đó nặngkhoảng 1.000g, sau 1 tuần, tử cung còn nặng khoảng 500g, cuối tuần lễ thứ 2 cịn khoảng300g, các ngày sau đó nặng 100g, đến cuối thời kỳ hậu sản trọng lượng bình thường nhưkhi chưa có thai (50-60g).Có 3 hiện tượng trên lâm sàng:</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<i>Sự co cứng: Sau sổ rau, tử cung co cứng lại thực hiện tắc mạch sinh lý. Trên lâm</i>

sàng tử cung là một khối chắc gọi là khối cầu an toàn, tồn tại vài giờ sau đẻ.

<i>Sự co bóp: Trong những ngày đầu sau đẻ, tử cung có những cơn co bóp để</i>

tống sản dịch ra ngồi. Thỉnh thoảng sản phụ có những cơn đau, sau mỗi cơn đau, sản phụ lại thấy có ít máu cục và sản dịch chảy ra ngoài qua âm đạo.

<i>Sự co hồi tử cung: Sau khi đẻ, tử cung ở trên khớp vệ khoảng 13 cm, những</i>

ngày sau đó, đáy tử cung thấp dần, mỗi ngày co hồi khoảng 1cm, nên sau 2 tuần lễ không sờ thấy đáy tử cung trên khớp vệ nữa. Tử cung trở lại kích thước, trọng lượng và vị trí như khi chưa có thai trong vòng 4 tuần sau đẻ.

Thay đổi ở lớp cơ tử cung

Sau đẻ, lớp cơ tử cung dầy 4-5 cm. Thành trước và thành sau co chặt sát vào nhau, các mạch máu bị bóp nghẹt nên khi cắt lớp cơ tử cung sau đẻ thấy thể hiện sự thiếu máu, khác với cơ tử cung khi có thai có màu tím do tăng sinh mạch máu.

Lớp cơ tử cung mỏng dần đi do các sợi cơ nhỏ đi, ngắn lại, một số sợi cơ thoái hoá mỡ và tiêu đi. Các mạch máu cũng co lại do sự co bóp của lớp cơ đan.

Thay đổi ở đoạn dưới tử cung và cổ tử cung

Đoạn dưới tử cung sau đẻ co lại như đèn xếp, dần dần ngắn lại, đến ngày thứ 4 sau đẻ thì thành trở lại eo tử cung.

Sau khi đẻ, đoạn dưới và cổ tử cung giãn mỏng và xẹp lại, mép ngoài cổ tử cung tương ứng với lỗ ngoài cổ tử cung thường bị rách sang 2 bên. Cổ tử cung co nhỏ lại và ngắn dần. Lỗ trong cổ tử cung đóng vào ngày thứ 5 đến ngày thứ 8 sau đẻ, ống cổ tử cung được tái lập như khi chưa có thai. Lỗ ngồi cổ tử cung đóng lại chậm hơn vào ngày thứ 12, 13 sau đẻ. Ống cổ tử cung khơng cịn hình trụ nữa, thường là hình nón, đáy ở dưới vì lỗ ngồi cổ tử cung đã bị biến dạng, từ hình trịn trở thành hình dẹt và thường hé mở.

Thay đổi ở phúc mạc và thành bụng

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Vì cơ tử cung co rút và co hồi nhỏ dần lại sau đẻ, phúc mạc phủ trên tử cung cũng co lại tạo thành các nếp nhăn. Các nếp nhăn này mất đi nhanh chóng do phúc mạc co lại và teo đi.

Thành bụng: các vết rạn da vẫn tồn tại. Cơ thành bụng cũng co dần lại. Các cân và đặc biệt là cân cơ thẳng to co dần lại nhưng thành bụng vẫn nhẽo hơn trước, khi chưa có thai, đặc biệt ở những người đẻ nhiều lần, đa ối, đa thai...

<i>1.1.3.2. Thay đổi ở niêm mạc tử cung[11], [12], [14]</i>

Rau bong ở lớp xốp, khi sổ ra ngoài rau mang theo lớp đặc, lớp màng rụng vẫn còn nguyên vẹn và sẽ phát triển phục hồi lại niêm mạc tử cung.

Lớp cơ tử cung ở vùng rau bám sẽ mỏng hơn ở các nơi khác. Khi kiểm soát tử cung thấy vùng này lõm vào, sần sùi. Ngay sau khi đẻ, vị trí rau bám có kích thước to bằng lịng bàn tay nhưng nó thu nhỏ lại nhanh chóng. Cuối tuần lễ thứ 2, nó chỉ cịn lại 3 - 4 cm đường kính. Sự phục hồi hồn tồn niêm mạc tử cung có thể kéo dài tới 6 tuần.

<small>Ở vùng màng rau bám, khơng có tắc huyết như ở vùng rau bám nên sờ thấy nhẵn. Sau đẻ, niêm mạc tử cung sẽ trải qua hai giai đoạn để trở lại chức phận của</small>

niêm mạc tử cung bình thường.

<i>Giai đoạn thoái triển: Xảy ra trong 14 ngày đầu sau đẻ, 2 - 3 ngày đầu sau đẻ,</i>

lớp màng rụng sẽ biệt hoá thành 2 lớp. Lớp bề mặt (các ống tuyến, sản bào...) bị hoại tử và thốt ra ngồi cùng sản dịch. Lớp đáy gồm đáy tuyến vẫn còn nguyên vẹn và là nguồn gốc của niêm mạc mới.

<i>Giai đoạn phát triển: Các tế bào trụ trong đáy các tuyến phát triển và phân bào</i>

dưới ảnh hưởng của các estrogen và Progesteron. Sau đẻ 6 tuần, niêm mạc tử cung phục hồi hoàn toàn và sẽ thực hiện chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên nếu như không cho con bú.

<i>1.1.3.3. Thay đổi ở phần phụ, âm đạo, âm hộ[11], [12], [14]</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Buồng trứng, vòi trứng, dây chằng trịn, dây chằng rộng dần dần trở lại bình thường về chiều dài, hướng và vị trí.

Âm hộ và âm đạo bị giãn căng trong khi đẻ cũng co dần lại và 15 ngày sau sẽ trở lại bình thường.

Màng trinh sau khi đẻ bị rách chỉ còn lại di tích của màng trinh.

<i>1.1.3.4. Thay đổi ở hệ tiết niệu[11], [12], [14]</i>

Sau khi đẻ, không chỉ thành bàng quang bị phù nề và xung huyết mà còn xung huyết ở dưới niêm mạc bàng quang. Bàng quang cịn có hiện tượng tăng dung tích và mất nhạy cảm tương đối với áp lực của lượng nước tiểu ở trong bàng quang. Vì vậy, sau đẻ cần phải theo dõi hiện tượng bí đái, đái sót. Tác dụng gây liệt cơ của thuốc mê, đặc biệt là gây tê tuỷ sống, rối loạn chức năng thần kinh tạm thời của bàng quang là các yếu tố góp phần thêm vào. Bàng quang bị chấn thương cộng thêm bể thận và niệu quản bị giãn tạo ra những điều kiện thuận lơị cho nhiễm trùng đường niệu sau đẻ phát triển. Bể thận và niệu quản bị giãn sẽ trở lại trạng thái bình thường sau đẻ từ 2-8 tuần.

<i>1.1.3.5. Thay đổi ở vú[11], [12], [14]</i>

<small>Vú sau đẻ phát triển nhanh, 2 vú căng lên, to và rắn chắc. Núm vú to, dài ra, các tĩnhmạch dưới da vú nổi lên rõ rệt. Các tuyến sữa phát triển to lên, nắn thấy rõ ràng, có khilan tới tận nách. Sau khoảng 2-3 ngày vú tiết ra sữa gọi là hiện tượng xuống sữa. Cơ chếcủa hiện tượng xuống sữa là sau đẻ, nồng độ estrogen tụt xuống đột ngột, Prolactin đượcgiải phóng và tác động lên tuyến sữa gây ra sự tiết sữa.</small>

Sự tiết sữa được duy trì bởi động tác mút đầu vú, nó kích thích thuỳ trước tuyến n tiết Prolactin liên tục. Mặt khác, do tác dụng của động tác mút vú, thuỳ sau tuyến yên tiết ra oxytocin làm cạn sữa ở tuyến bài tiết sữa.

<i>1.1.3.6. Những hiện tượng lâm sàng[9], [13], [17]</i>

* Sự co hồi tử cung

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Sau đẻ, tử cung cao trên khớp mu 13 cm, trung bình mỗi ngày tử cung co hồi 1cm, ngày đầu có thể co nhanh hơn 2 - 3cm và sau đẻ 12 - 13 ngày khơng thấy đáy tử cung trên khớp vệ.

Vì trong tử cung vẫn còn máu cục và sản dịch, nên thỉnh thoảng tử cung có những cơn co bóp mạnh để tống máu cục và sản dịch ra ngoài gây ra những cơn đau ở tử cung, ở người con so thường ít gặp vì chất lượng cơ tử cung cịn tốt, tử cung luôn luôn co chặt lại. Các cơn đau tử cung thường gặp ở người con rạ, mức độ đau nhiều hay ít tuỳ theo cảm giác của mỗi người, nhưng càng đẻ nhiều lần càng đau vì chất lượng cơ tử cung yếu dần, tử cung cần phải co bóp mạnh hơn các lần trước để đẩy máu cục và sản dịch ra ngồi. Đơi khi, các cơn đau tử cung này cần phải dùng thuốc giảm đau vì cường độ quá mạnh. Ở một số sản phụ, các cơn đau này có thể kéo dài nhiều ngày. Các cơn đau tử cung đặc biệt cũng có thể gặp khi cho trẻ bú do oxytocin được giải phóng ra nhiều. Thơng thường các cơn đau giảm dần về cường độ và sản phụ thấy dễ chịu vào ngày thứ 3 sau đẻ.

Sau đẻ cần phải theo dõi sự co hồi tử cung bằng cách đo chiều cao tử cung, tính từ khớp mu tới đáy tử cung. Sự co hồi tử cung phụ thuộc vào:

- Ở người con so tử cung co hồi nhanh hơn ở người con rạ. - Ở người đẻ thường co nhanh hơn người mổ đẻ.

- Người cho con bú co nhanh hơn người không cho con bú.

- Tử cung bị nhiễm khuẩn co chậm hơn tử cung không bị nhiễm khuẩn. - Bí đái, táo bón sau đẻ tử cung bị đẩy lên cao và co hồi chậm.

Trên lâm sàng nếu thấy tử cung co hồi chậm, tử cung còn to và đau, bệnh nhân sốt, sản dịch hôi cần phải nghĩ tới nhiễm khuẩn hậu sản.

Sản dịch

Là dịch từ buồng tử cung và đường sinh dục chảy ra ngoài trong những ngày đầu của thời kỳ hậu sản.

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Thành phần: Sản dịch được tạo nên bởi máu cục và máu loãng chảy từ niêm mạc tử cung, nhất là từ vùng rau bám, các mảnh ngoại sản mạc, các sản bào, các tế bào biểu mô ở cổ tử cung và âm đạo bị thoái hoá bong ra.

Tính chất: Trong 3 ngày đầu, sản dịch tồn máu lỗng và máu cục nhỏ nên có màu đỏ sẫm. Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 8, sản dịch lỗng hơn, chỉ cịn là một chất nhầy lẫn ít máu nên có màu lờ lờ máu cá. Từ ngày thứ 9 trở đi, sản dịch chỉ còn là một dịch trong. Bình thường, trong sản dịch khơng bao giờ có mủ, nhưng khi đi qua âm đạo, âm hộ, sản dịch mất tính chất vơ khuẩn và có thể bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh.

<small>Mùi: Sản dịch có mùi tanh nồng, pH kiềm, nếu bị nhiễm khuẩn sẽ có mùi hơi.</small>

Khối lượng: Thay đổi tuỳ người. Trong 10 ngày đầu, trung bình sản dịch có thể ra tới 1500g, đặc biệt ngày thứ nhất và ngày thứ hai ra nhiều, có thể lên đến 1000g. Các ngày sau sản dịch ít dần, sau 2 tuần sản dịch sẽ hết hẳn.

Ở người con so, sản dịch hết nhanh vì tử cung co hồi nhanh hơn. Ở người mổ đẻ, sản dịch thường ít hơn so với người đẻ thường.

Trên lâm sàng, 3 tuần sau đẻ ở một số sản phụ có thể ra một ít máu, đó là hiện tượng kinh non do niêm mạc tử cung phục hồi sớm.

Sự xuống sữa

<small>Trong thời kỳ có thai, có thể đã có sữa non. Sau đẻ 2 - 3 ngày đối với con rạ, 3- 4 ngày đối với con so, dưới tác dụng của Prolactin, 2 vú sẽ căng to và tiết sữa, gọi</small>

là hiện tượng xuống sữa. Khi xuống sữa, sản phụ thấy người khó chịu, sốt nhẹ (T<sup>0</sup> > 38 <sup>o</sup>C), hai vú căng tức, rắn chắc, mạch hơi nhanh. Các hiện tượng này mất đi sau khi sữa được tiết ra.

Sữa non được tiết ra trong 3 ngày đầu sau đẻ, có màu vàng chanh, chứa nhiều muối khoáng và Protein (globulin và kháng thể), ít đường và mỡ. Sữa non phù hợp với trẻ sơ sinh trong những ngày đầu. Về sau sữa tiết ra sẽ đặc hơn, ngọt hơn, đó là sữa mẹ bình thường.

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<i>1.1.3.7. Các hiện tượng khác[5],[10]</i>

Cơn rét run: Ngay sau đẻ, sản phụ có thể lên cơn rét run, đó là cơn rét run sinh lý, mạch, nhiệt độ, huyết áp vẫn bình thường.

Bí đại tiểu tiện: Sau đẻ, sản phụ có thể bí đại tiểu tiện do nhu động của ruột bị giảm, do chuyển dạ kéo dài, ngôi thai đè vào bàng quang.

Các hiện tượng khác về toàn thân: Mạch thường chậm lại 10 nhịp/phút và tồn tại 5-6 ngày sau đẻ, nhiệt độ bình thường khơng thay đổi, huyết áp trở lại bình thường sau đẻ 5-6 giờ, nhịp thở chậm lại và sâu hơn do cơ hồnh khơng bị đẩy lên cao nữa.

<small>Máu: Những ngày đầu sau đẻ, Hemoglobin, Hematocrit, hồng cầu hơi giảm so vớitrước khi chuyển dạ đẻ do lượng máu bị mất đi trong chuyển dạ đẻ. Sau 1 tuần lễ, khốilượng máu trở lại gần bằng trước khi có thai. Cung lượng tim cịn tăng cao ít nhất 48 giờsau đẻ. Sau đẻ 2 tuần, các thay đổi này trở lại giá trị bình thường.</small>

Số lượng bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu hạt tăng lên. Fibrinogen và tốc độ lắng máu cịn cao ít nhất 1 tuần sau đẻ.

Trọng lượng cơ thể: Sau đẻ sản phụ có thể sụt 3-5 kg do sự bài tiết mồ hôi, nước tiểu, sản dịch.

Nếu khơng cho con bú, có thể có kinh lại lần đầu tiên sau 6 tuần sau đẻ và đó cũng là chấm dứt thời kỳ hậu sản, kỳ kinh nguyệt đầu thường nhiều và kéo dài hơn các kỳ kinh bình thường.

Bất kỳ sản phụ nào cũng có nguy cơ đối diện với các biến chứng, các tai biến sản khoa, các tai biến sản khoa có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào của thời kỳ thai nghén: Khi mang thai, trong khi chuyển dạ và sau 06 tuần sau sinh. Trong đó, các biến chứng, tai biến xảy ra trong thời kỳ chuyển dạ chiếm tỷ lệ cao nhất và đặc biệt nguy hiểm, gây tỷ lệ tử vong cao cho mẹ và thai nhi.

<i>1.1.4. Chăm sóc sản phụ sau sinh thường 24h[51], [16] *Sự co hồi tử cung</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<small>- Có thể theo dõi sự co hồi tử cung hàng ngày bằng cách đo chiều cao tử cung tínhtừ khớp mu tới đáy tử cung. Sau khi đẻ tử cung cao chừng 13 - 15 cm, ở dưới rốn haikhốt ngón tay. Mỗi ngày chiều cao tử cung thu lại 1 cm và đến ngày thứ 12</small>

- 13 thì khơng lắm thế tử cung trên khớp mu nữa

co bóp mạnh để tống máu cục và sản dịch ra ngoài. Những cơn co bóp mạnh này làm bà mẹ cảm thấy đau nên gọi là cơn đau tử cung, thường xảy ra trong những ngày đầu sau đẻ mức độ đau ít hay nhiều tùy thuộc vào cảm giác của từng người, nhưng thường đẻ càng nhiều lần càng đau vì tử cung càng cần phải co bóp mạnh hơn những lần đẻ trước để tống máu cục và sản dịch ra ngoài.

<small>-</small> Thường ở những người đẻ con so tử cung co hồi nhanh hơn những người đẻ con rạ, đẻ thường tử cung co hồi nhanh hơn mổ đẻ, người cho con bú co hồi nhanh hơn người khơng cho con bú. Trường hợp bí đái, táo bón thân tử cung sẽ bị đẩy lên cao và sự cơ hồi tử cung càng bị chậm lại, nếu thấy tử cung co hồi chậm, to và đau bà mẹ có sốt thì phải nghĩ ngay tới nhiễm khuẩn sau đẻ

<i>* Sản dịch: là chất dịch từ trong đường sinh dục nhất là từ trong tử cung chảy </i>

ra ngoài trong những ngày đầu của thời kỳ sau đẻ

<small>-</small> Số lượng sản dịch thay đổi tùy theo từng người. Trong 10 ngày đầu trung bình sản dịch có thể ra tới 1500 ml ra nhiều vào ngày thứ nhất và ngày thứ hai (ngày đầu tiên không quá 300 ml), từ ngày thứ 15 trở đi sản dịch hầu như hết hẳn khoảng ngày thứ 18 - 20 bà mẹ có thể lại ra huyết đỏ tươi lỗng trong 1-2 ngày đó là hiện tượng kinh non do niêm mạc tử cung được phục hồi sớm ở người con so hoặc người cho con bú vì tử cung co hồi nhanh hơn nên sản dịch hết nhanh hơn, nếu sản dịch ra kéo dài hoặc đã hết huyết đỏ sẫm rồi nhưng lại ra huyết đỏ trở lại và kéo dài phải theo dõi sót rau.

đến ngày thứ tám sản dịch lờ lờ máu cá, từ ngày thứ tám trở đi sản dịch khơng

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

có máu,chỉ là một chất dịch trong.Mùi sản dịch có mùi tanh nồng của máu, pH kiềm.Nếu bị nhiễm khuẩn sản dịch sẽ có mủ và mùi hơi

<i>* Tầng sinh mơn:</i>

- Hàng ngày làm thuốc âm hộ, tầng sinh môn cho bà mẹ

- Quan sát và phát hiện dấu hiệu nhiễm khuẩn vết khâu tầng sinh môn

- Hướng dẫn bà mẹ vệ sinh bộ phận sinh dục đúng cách: không ngồi vào chậu nước, dùng ca múc nước rửa bộ phận sinh dục, tránh không cho nước vào trong âm đạo, thấm khơ và đóng băng vệ sinh.

<i>* Chăm sóc bầu vú:</i>

- Trước và sau mỗi lần cho con bú, cần sử dụng nước ấm dùng khăn mềm để lau rửa đầu vú và xung quanh bầu vú thật sạch sẽ, khơ thống

cạn lượng sữa thừa để tránh tình trạng ứ đọng sữa gây viêm tắc tuyến sữa.

- Không nên cho trẻ vừa ngủ vừa ngậm vú. Khi trẻ vừa bú vừa ngủ thường nhay, cắn vào đầu vú, có thể gây tổn thương đến viêm nhiễm đầu vú.

- Sau khi đẻ, ngực của bà mẹ thường căng to và chảy xệ do đó cần mặc áo ngực vừa vặn phù hợp với kích cỡ ngực khơng lên mặc áo ngực có gọng kim loại để dịng sữa được lưu thông dễ dàng và tránh tổn thương vú do cọ xát.

- Nếu vú có biểu hiện sưng đau, nhức bầu vú, nứt núm vú…. Bà mẹ cần tạm thời ngưng cho bú và đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để các bác sĩ hướng dẫn cách chăm sóc và điều trị nếu có viêm nhiễm.

<i>*Các dấu hiệu khác:</i>

- Cơm rét run sau đẻ: Sản phụ có cơn rét run sau đẻ, đó là cơn rét run sinh lý, nhưng chỉ thống qua, mạch-huyết áp bình thường.

- Bí đại tiểu tiện: do nhu động ruột bị giảm trong q trình thai nghén, do chuyển dạ kéo dài ngơi thai chèn ép vào bàng quang trong quá trình chuyển dạ nên sau đẻ bà mẹ có thể bị bí đại tiểu tiện.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

- Các biểu hiện tồn thân sau đẻ: mạch bình thường chậm lại và tồn tại 5 - 6 ngày mới trở lại bình thường. Nhiệt độ cơ thể vẫn bình thường, huyết áp trở lại bình thường sau đẻ 5 -6 giờ. Nhịp thở sẽ sâu hơn và chậm hơn. Trọng lượng cơ thể mẹ giảm sút từ 3 - 5 kg do sợi bài tiết mồ hôi, nước tiểu, sản dịch trong 10 ngày đầu.

- Kinh nguyệt xuất hiện trở lại

<i>* Chăm sóc tinh thần cho bà mẹ sau đẻ</i>

- Cuộc đẻ là một biến động lớn về giải phẫu và sinh lý của người phụ nữ, cũng là một biến động về tình cảm, cuộc sống của người phụ nữ nhất là cuộc đẻ không theo ý muốn của người mẹ, vì vậy chăm sóc sau đẻ cần phải được quan tâm một cách chu đáo về mọi mặt

- Động viên giải thích cho bà mẹ n tâm, khơng bận tâm lo lắng sau cuộc đẻ, đặc biệt là những cuộc đẻ khơng phù hợp với ý muốn

- Gia đình người thân ln quan tâm, chia sẻ khó khăn giúp đỡ bà mẹ ln có tinh thần thoải mái

<i>* Chăm sóc thể chất cho bà mẹ sau đẻ</i>

- Dinh dưỡng: Ăn phải đủ chất đạm glucid, lipid muối khoáng và các vitamin mục đích để ni dưỡng cơ thể tốt đảm bảo đủ sữa cho con bú, chỉ nên kiêng các chất kích thích như: rượu, bia, chè, cà phê....ăn nhiều rau quả tránh táo bón. Khuyến khích bà mẹ uống nhiều nước nhằm cải thiện tình trạng đại tiểu tiện tăng sự tiết sữa qua thức ăn. Đảm bảo hợp vệ sinh an toàn thực phẩm: thức ăn phải ấm và chín kỹ, khơng ăn tái.

- Vận động, nghỉ ngơi: Đối với bà mẹ sau đẻ thường và sau 6 giờ có thể vận động nhẹ nhàng. Bà mẹ sau khi đẻ 1-2 tháng nên tập các bài thể dục nhẹ nhàng. Những bài thể dục sẽ giúp co khít cơ niệu đạo, cơ âm đạo, tránh bị són tiểu sau này, trường hợp bị táo bón có thể chườm nóng, tắm nước ấm, massage vùng xương mu, mát xa vùng bụng

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<small>- Vệ sinh: Theo dõi vết khâu tầng sinh môn hàng ngày, phát hiện sớm các nhiễmkhuẩn tại chỗ. Vệ sinh bộ phận sinh dục cho bà mẹ 2lần/ngày bằng nước sạch hoặc nướcmuối sinh lý. Hướng dẫn bà mẹ cách tự vệ sinh bộ phận sinh dục hàng ngày và sau mỗilần đại tiểu tiện, thay băng vệ sinh 4 đến 5 lần. Hướng dẫn vệ sinh thân thể nên tắm rửahàng ngày bằng nước ấm, tránh ngâm mình. Khuyên bà mẹ nằm ở tư thế thoải mái, nênnằm nghiêng co gối hoặc nằm ngửa kê gối dưới theo chân, chế độ vận động nhẹ nhàng,không ngồi xổm nhiều, không mang vác, gánh nặng, hướng dẫn cách thư giãn, cách thở.Dùng thuốc giảm đau theo y lệnh</small>

<small>-</small> Quan hệ tình dục sau đẻ: thơng thường sau sinh khoảng 6 tuần có thể quan hệ tình dục bình thường trở lại. Tuy nhiên nếu bà mẹ chưa hết sản dịch thì tuyệt đối không nên quan hệ để tránh bị nhiễm khuẩn

phương pháp tránh thai tự nhiên tận dụng hiệu quả khả nănng tránh thai tự nhiên của sữa mẹ. Phương pháp này có thể đạt hiệu quả đến 90%, tuy nhiên bà mẹ phải cho con bú hoàn toàn cả ngày lẫn đêm. Dùng bao cao su cũng là biện pháp tránh thai đơn giản và hiệu quả, ngồi ra cịn có thể sử dụng các biện pháp khác như đặt dụng cụ tử cung, thuốc tránh thai hàng ngày, cấy que…

<small>-</small> Luyện tập sau đẻ: Bà mẹ cần được nghỉ ngơi sau đẻ, làm việc nhẹ nhàng. Sau 2 tháng có thể bắt đầu tập thể dục ban đầu chỉ nên tập những động tác đơn giản nhẹ nhàng cường độ tập luyện có thể tăng dần theo khả năng chịu đựng của cơ thể. Sản phụ cần nghỉ ngơi những tháng đầu sau đẻ không nên làm những việc nặng hay vận động nhiều để phòng sa sinh dục.

1.2. Cơ sở thực tiễn

<i>1.2.1. Các nghiên cứu trong nước</i>

Nghiên cứu của tác giả Ngô Hà Liên năm 2019 cho thấy chất lượng dịch vụ chăm sóc sản phụ nói chung và sản phụ sau sinh tại khoa sau đẻ thường A3, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, rất đảm bảo. Sản phụ sau sinh đã được chăm sóc theo

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<small>đúng quy trình mà khoa, bệnh viện và Bộ y tế quy định. Sản phụ được tư vấn về chế độ vệsinh, dinh dưỡng, chế độ vận động, chăm sóc bản thân, tự phát hiện được các dấu hiệu bấtthường cũng như cách nuôi con bằng sữa mẹ. Công tác chăm sóc sản phụ sau đẻ thường100% sản phụ đều được thực hiện theo dõi dấu hiệu sinh tồn, theo dõi phát hiện sớm cácbiến chứng. Hồ sơ bệnh án ghi đầy đủ thông tin, ghi đúng giờ. Về theo dõi sự co hồi tửcung và sản dịch thì 100% sản phụ được theo dõi co hồi tử cung, sản dịch đúng quy trình.100% sản phụ sau sinh được theo dõi đánh giá thường xuyên vị trí vết khâu tầng sinh mônvà ghi lại đầy đủ thông tin vào phiếu theo dõi. 100% sản phụ được làm thuốc ngày 2 lần:sáng, chiều [6]</small>

<small>Một nghiên cứu khác của tác giả Đỗ Thị Lệ Qun về “Thực trạng cơng tác chămsóc sản phụ sau sinh 24h tại Khoa sản, Trung tâm y tế huyện Hàm Yên năm 2021” kết quảcho thấy Các bước chăm sóc sản phụ sau sinh so với quy trình chuẩn tại khoa sản Trungtâm y tế huyện Hàm Yên về cơ bản đã được thực hiện rất tốt các nội dung chăm sócchiếm tỷ lệ 100% bao gồm: tình hình theo dõi tại phịng sinh, theo dõi co hồi tử cung,hướng dẫn chăm sóc, theo dõi sau sinh. Hướng dẫn cách chăm sóc trẻ sơ sinh, tư vấn kếhoạch hố gia đình. Bên cạnh đấy có những nội dung chăm sóc đã làm nhưng chưa thựchiện được đầy đủ và đúng quy trình. Tình hình theo dõi dấu hiệu sinh tồn tại phịng hậusản có 40 sản phụ được theo dõi chiếm 41.24%. chăm sóc, vệ sinh tầng sinh mơn và bộphận sinh dục ngồi chiếm 72.16%. Tư vấn chế độ ăn uống sau sinh chiếm 50.52%.Hướng dẫn tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ chiếm tỷ lệ thấp 30.93% Nhận thức của các sảnphụ và người nhà về việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản sau khi sinh cịn chưa được đầy đủ.Các thơng tin, giáo dục truyền thông và tư vấn về sức khoẻ sinh sản sau sinh cho các bàmẹ cịn nhiều thiếu sót về nội dung, loại hình, về kỹ năng giáo dục truyền thông, về tàiliệu tuyên truyền vận động cũng như về kinh phí. Quan tâm, trấn an tinh thần khi đau sausinh chiếm tỷ lệ thấp nhất 10.31%[8].</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

<small>Tác giả Phan Thị Anh cũng nghiên cứu về “Thực trạng cơng tác chăm sóc sản phụ24h sau sinh tại Khoa điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2018” chỉra rằng: Chất lượng dịch vụ chăm sóc sản phụ nói chung và sản phụ sau mổ đẻ chủ độngnói riêng tại khoa điều trị theo yêu cầu đều rất đảm bảo. Sản phụ sau sinh đã được chămsóc theo đúng quy trình mà khoa, bệnh viện quy định. Sản phụ được tư vấn về chế độ vệsinh, dinh dưỡng, chế độ vận động, tự phát hiện</small>

các dấu hiệu bất thường cũng như cho con bú. Cũng với những kết quả đạt được thì vẫn cịn những vấn đề chăm sóc cần cải thiện, như vấn đề quá tải sản phụ của khoa, làm cho điều dưỡng phải làm việc q tải, do đó khơng đảm bảo đủ thời gian chăm sóc theo quy định cho từng sản phụ sau mổ. Qua đó đơi khi điều dưỡng bỏ qua những chăm sóc cơ bản, theo dõi những dấu hiệu hoặc tư vấn không chi tiết. Cần tăng cường hơn nữa về cơ sở vật chất cũng như con người để cung cấp chất lượng dịch vụ tốt hơn cho sản phụ 24h sau đẻ[1]

<small>Nghiên cứu của Phan Thị Bạch Tuyết năm 2019 cho kết quả: Chất lượng dịch vụchăm sóc sản phụ nói chung và sản phụ sau sinh tại khoa điều trị theo yêu cầu rất đảmbảo. Sản phụ sau sinh đã được chăm sóc theo đúng quy trình mà khoa, bệnh viện và bộ ytế quy định. 100% trẻ được lau khô, ủ ấm, 100% trẻ được da kề da cùng mẹ ngay sau khisinh (với các trẻ đủ chỉ định), 70% trẻ được da kề da cùng mẹ ngay sau sinh kéo dài 90phút, 100% thực hiện tiêm bắp 10UI oxytoxin đúng thời điểm tiêm, Xoa đáy tử cung15p/lần kéo dài 2 giờ đầu sau sinh được thực hiện 100%. 100% sản phụ đều được thựchiện theo dõi dấu hiệu sinh tồn sau sinh, Theo dõi sự co hồi tử cung và sản dịch đạt 100%,về chăm sóc vết khâu tầng sinh môn100% sản phụ sau sinh được theo dõi đánh giá thườngxun vị trí vết khâu tầng sinh mơn và ghi lại đầy đủ thông tin vào phiếu theo dõi.100%sản phụ được làm thuốc ngày 2 lần: sáng, chiều. 100% sản phụ được tư vấn, hướng dẫnchế độ ăn sau sinh. 100% sản phụ được hướng dẫn, hỗ trợ cách cho con bú (càng sớmcàng tốt). 85% các bà mẹ có thể thực hiện được cho con bú đúng cách sau sinh. 100%</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

sản phụ được tư vấn, hướng dẫn những dấu hiệu bình thường sau sinh và cách phát hiện những dấu hiệu bất thường, 100% trẻ sơ sinh được tắm đúng kỹ thuật và sản phụ, gia đình sản phụ được hướng dẫn cách tắm cho trẻ[9]

Năm 2020 tác giả: Ngô Thu Thuỷ nghiên cứu về chăm sóc sản phụ sau sinh cho thấy: các bước chăm sóc sản phụ sau sinh so với quy trình chuẩn tại khoa sản Trung tâm y tế huyện Chiêm Hóa về cơ bản đã được thực hiện nhưng chưa thực hiện được đầy đủ và đúng quy trình.Nhận thức của các sản phụ và người nhà về việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản sau khi sinh cịn chưa được đầy đủ.Các thông tin, giáo dục truyền thông và tư vấn về sức khoẻ sinh sản sau sinh cho các bà mẹ cịn nhiều thiếu sót về nội dung, loại hình, về kỹ năng, giáo dục truyền thơng, về tài liệu tuyên truyền vận động cũng như về kinh phí[10]

<i>1.2.2. Các nghiên cứu ngồi nước</i>

<small>Tạp chí Sản Phụ khoa Quốc tế (2012) đã nhấn mạnh các khía cạnh cụ thể của việcquản lý giai đoạn 3 trong đó nêu rõ giai đoạn 3 là giai đoạn gặp nhiều tai biến nhất trongchuyển dạ, sự đóng góp của hộ sinh có trình độ và tay nghề cao là rất quan trọng đối vớiviệc đỡ đẻ an toàn. Trong khi thực hiện đỡ đẻ, hộ sinh cần hướng dẫn sản phụ về cáchthức phối hợp để khuyến khích mẹ rặn khi cổ tử mở hết, khi đầu trẻ đã bắt đầu trình diệnở âm hộ và sản phụ cảm thấy muốn rặn đẻ, cách nín hơi, cách thổi khi khơng có cơn co.Để đảm bảo an tồn trong q trình đỡ đẻ, yêu cầu cần có hai người, thường là hộ sinhhoặc bác sỹ sản để hỗ trợ sản phụ khi sinh. Cần phải có người chăm sóc thứ hai để duy trìnghe tim thai và hỗ trợ cho các sản phụ trong khi hộ sinh hoặc bác sĩ đeo găng tay vôtrùng để chuẩn bị đỡ đẻ, theo dõi các thông số của thai nhi và thông số của giai đoạn thứhai của chuyển dạ. Điều này bảo đảm sự hỗ trợ cho hộ sinh chính khi cần thiết, nhất là khicó biến chứng xảy ra, người thứ hai có thể giúp đỡ và bắt đầu chăm sóc khẩn cấp theo quyđịnh cấp cứu sản khoa trong khi không làm mất đi sự chăm sóc liên tục của người</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

đỡ đẻ chính. Vì vậy, việc có ít nhất 2 hộ sinh chăm sóc trong cuộc đẻ là hết sức cần thiết để đảm bảo an toàn cho mẹ và con.

Trên thế giới, tình hình khám lại sau sinh khá thấp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Theo một kết quả nghiên cứu, phần lớn những phụ nữ Palestine coi việc thăm khám sau sinh là cần thiết chiếm 66,1%, nhưng chỉ có 36,6% có khám lại sau sinh. Bởi 85% phụ nữ cho rằng họ không bị bệnh, họ hồn tồn khoẻ mạnh, khơng cần phải khám lại sau sinh; 15,5% không khám lại sau sinh do không được bác sỹ dặn phải khám lại. Tại Nepal tỷ lệ phụ nữ khám lại sau sinh ở mức thấp chiếm 34%, chỉ 19% được khám lại trong vòng 48 giờ sau sinh. Nghiên cứu tiến hành tại Bangledesh, tỷ lệ bà mẹ có khám thai là 93%, nhưng tỷ lệ khám lại sau sinh chỉ là 28%.

Ý thức quan tâm đến sức khoẻ của người phụ nữ kém là trở ngại chính cho việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh. Nghề nghiệp, dân tộc, số lần mang thai, số con của bà mẹ, tình trạng kinh tế - xã hội, nghề nghiệp và giáo dục của người chồng là những yếu tố có liên quan, có ý nghĩa thống kê đến việc sử dụng dịch vụ

chăm sóc sau sinh của các bà mẹ trên thế giới, tỷ lệ khám lại sau sinh của các bà mẹ vẫn còn khá thấp, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự công bằng trong sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ như khoảng cách địa lý, khu vực cư trú, học vấn của các bà mẹ và chồng, điều kiện kinh tế. Có sự khác biệt trong việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ giữa người nghèo và người giàu, người giàu khám lại sau sinh cao gấp 1,5 lần so với người nghèo.

<small>Cơng tác đảm bảo vơ khuẩn trong quy trình đang là vấn đề được quan tâm tại nhiềubệnh viện. Theo nghiên cứu trên 75 hộ sinh làm việc ngay tại thủ đô I rắc năm 2010, tỷ lệđảm bảo vơ khuẩn vẫn cịn thấp, chỉ có 81,3% sát khuẩn vùng âm hộ và 61,3% làm sạchvùng tầng sinh môn với nước sạch. Thậm chí chỉ có 30,7%</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

hộ sinh rửa tay bằng xà bông và nước sạch và lau khơ hồn tồn trước khi tiến hành đỡ đẻ.

Mario R.Festin và cộng sự năm 2003 đã có cuộc khảo sát đa quốc gia về những thay đổi thực tế liên quan đến công tác quản lý giai đoạn 3 của chuyển dạ. Kết quả cho thấy, mặc dù các bằng chứng khoa học đánh giá XTTCGĐ3 có hiệu quả trong chăm sóc chuyển dạ và đã được quảng bá rộng rãi trong thực hành lâm sàng nhưng dữ liệu về việc áp dụng thực hành này còn hạn chế. Báo cáo về việc đào tạo XTTCGĐ 3 trong 15 bệnh viện đại học tại 10 quốc gia cho thấy tỷ lệ đào tạo khác nhau, từ 0% đến 98% cơ sở nghiên cứu có tổ chức đào tạo (25% tính chung cho tất cả các bệnh viện). Tỷ lệ đào tạo này nhìn chung khá thấp dẫn đến những thiếu hụt về kiến thức XTTCGĐ3 của CBYT trong lĩnh vực sản khoa nói chung và nhóm hộ sinh nói riêng

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Chương 2

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SẢN PHỤ 24H SAU SINH THƯỜNG TẠI KHOA PHỤ SẢN - BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2023 2.1. Giới thiệu khái quát về Bệnh viện Bạch Mai

Bệnh viện Bạch mai là một trong những bệnh viện lớn nhất cả nước, hàng ngày tiếp đón hàng nghìn bệnh nhân đến khám bệnh, đây là Bệnh viện Đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt đầu tiên của Việt Nam là tuyến cao nhất trong bậc thang điều trị của ngành y tế. Bệnh viện hiện có 56 đơn vị với quy mô 3200 giường bệnh và hơn 4000 cán bộ và nhân viên y tế đang phục vụ công tác.

Với sự nỗ lực và cố gắng của mình trong suốt chặng đường phát triển, BV Bạch Mai đã tạo được uy tín và thương hiệu riêng, là địa chỉ khám chữa bệnh tin cậy của nhân dân cả nước. Hàng năm BV tiếp nhận khám chữa bệnh và điều trị cho gần 2 triệu bệnh nhân ngoại trú và 165.000 bệnh nhân nội trú.Nhờ phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, cùng với việc chú trọng đầu tư phát triển các kỹ thuật y học chuyên sâu gắn với đầu từ trang thiết bị hiện đại, BV Bạch Mai đã thực hiện được nhiều kỹ thuật tiên tiến hiện đại sánh ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới.Rất nhiều kỹ thuật cao được triển khai thường quy tại BV đã cứu sống được nhiều ca bệnh nguy kịch đem lại niềm vui khôn xiết cho người bệnh và gia đình cũng như các y bác sĩ.

<small>Với quan điểm coi người bệnh là trung tâm và mong muốn người dân khi tới khámcảm nhận được sự thoải mái, thuận tiện trong khi sử dụng dịch vụ, Ban lãnh đạo Bệnhviện, đặc biệt là Giám đốc Bệnh viện luôn chỉ đạo sát sao để triển khai các hoạt động nângcao chất lượng khám chữa bệnh. Từ tháng 3-2020 dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát thìBệnh viện Bạch tiến hành hạn chế người nhà vào chăm sóc người bệnh trọng phịng bệnhvà tiến hành lộ trình chăm sóc tồn diện cho người bệnh.Khi đó, ở bệnh viện chỉ còn bệnhnhân và nhân viên y tế và đây chính là cơ hội rất tốt để tiến hành chăm sóc tồn diện chongười bệnh. Thời gian này,</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

<small>người bệnh được trải qua một giai đoạn tiếp xúc trực tiếp với nhân viên y tế mà khôngphải người nhà của mình. Về phía ngược lại, nhân viên y tế cũng là người gần gũi, chămsóc bệnh nhân, qua đó hiểu được tâm tư, tình cảm, sự cảm thơng, chia sẻ. Từ đó thay đổimạnh mẽ tư duy, tình cảm của nhân viên y tế đối với người bệnh và ngược lại. Đây chínhlà động lực để nhân viên BV Bạch Mai tiếp tục duy trì mơ hình chăm sóc tồn diện ngườibệnh trong hiện tại và cả tương lai sau này.Tuy nhiên, tâm lý của người Việt Nam vẫnmuốn có sự hiện diện của người thân khi người nhà phải nằm viện, mặc dù đã được chămsóc tồn diện. Chính vì thế, BV cũng đang nghiên cứu để làm sao giải quyết được vấn đềnày, đó là có thể quy định ra những giờ cụ thể để người nhà vào chăm sóc và gặp bệnhnhân.</small>

<i>Hình 2. 1. Bệnh viện Bạch Mai</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Khoa Phụ Sản - Bệnh viện Bạch Mai Cơ cấu tổ chức - nhân sự:

Khoa Phụ sản - Bệnh viện Bạch Mai gồm 88 CBNV: 79 cán bộ nhân viên bệnh viện, 07 nhân viên nhà trường ĐHY Hà nội và 02 bác sỹ nội trú.

Khoa Phụ sản, Bệnh viện Bạch Mai được thành lập năm 1929 nhưng do yêu cầu của ngành, năm 1960 toàn bộ nhân viên và thiết bị được chuyển lên Viện C để thành lập Bệnh viện chuyên ngành phụ sản nay là Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tới năm 1969, để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện đa khoa trọng yếu của thủ đô, Khoa Phụ sản được tái thành lập. Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, tới nay, Khoa Phụ sản có 88 nhân viên, được chia thành 5 đơn nguyên: Phòng đẻ, phòng Sản bệnh- sơ sinh, Phòng khám- tái khám, Phòng điều trị phụ khoa – hậu phẫu, Đơn vị Hỗ trợ sinh sản.

Mỗi năm, Khoa Sản hỗ trợ khoảng 8000 sản phụ sinh con, thực hiện gần 1000 ca mổ phụ khoa, trong đó trên 50% số ca được thực hiện mổ nội soi, mổ nội soi cắt tử cung. Phòng Sản bệnh thường xuyên tiếp nhận các bệnh nhân nặng, các tai biến sản khoa có phối hợp với bệnh lý phức tạp, kèm nhiều biến chứng nặng nề từ các khoa lâm sàng trong bệnh viện cũng như từ các bệnh viện chun khoa, tuyến dưới và khơng ít các bệnh nhân được chuyển đến từ các bệnh viện tuyến trung ương khác.

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<i>Hình 2. 2. Khoa Phụ sản Bệnh viên Bạch Mai </i>

2.2 Mô tả vấn đề cần giải quyết

Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các sản phụ sinh thường trong 24h đầu đang nằm điều trị tại khoa Phụ sản - Bệnh viện Bạch Mai

Tiêu chuẩn lựa chọn: Sản phụ nghe nói tốt Tiêu chuẩn loại trừ: Người bệnh không hợp tác

Thời gian: Từ tháng 01/08/2023 đến 01/10/2023. Địa điểm: Khoa Phụ Sản – Bệnh viện Bạch Mai Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu toàn bộ: chọn toàn bộ những người bệnh đang nằm điều trị tại khoa Phụ sản- Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ 01/08/2023 đến 01/10/2023 tổng có 200 người bệnh.

Phương Pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang Xử lý và phân tích số liệu

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

- Số liệu được nhập và phân tích trên phần mềm Excel 2010 - Tính tỉ lệ % đơn thuần

Phương pháp thu thập số liệu

Người bệnh sẽ được phát 1 bộ câu hỏi, sau đó người nghiên cứu sẽ hướng dẫn để người bệnh hoàn thành được bộ câu hỏi đó. Người nghiên cứu sẽ có mặt bên cạnh người bệnh để trả lời những thắc mắc về bộ câu hỏi.

Thông tin chung cần thu thập số liệu từ HSBA, người nghiên cứu sẽ lấy thông tin từ HSBA và điền vào bộ câu hỏi.

Tiến trình thu thập số liệu

+ Bước 1: Lựa chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu.

+ Bước 2: Những đối tượng đủ tiêu chuẩn được giới thiệu mục đích, nội dung, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu, sau đó được hướng dẫn trả lời các thông tin trong phiếu điều tra.

+ Bước 3: Những đối tượng tham gia nghiên cứu được sẽ được phát 1 bộ câu hỏi, sau đó người nghiên cứu sẽ hướng dẫn để người bệnh hoàn thành được bộ câu hỏi đó

+ Bước 4: Người thu thập dữ liệu tham khảo hồ sơ bệnh án, sử dụng mã số quản lý để tìm bệnh án và tham khảo thêm thông tin cần thiết của người bệnh. Phương pháp đánh giá

Thực hiện phỏng vấn trực tiếp người bệnh để thu thập thơng tin về thực trạng chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường. Sử dụng phiếu điều tra đã được các tác giả sử dụng trong nghiên cứu của họ như: Tác giả Đỗ Thị Lệ Quyên trong nghiên cứu

<i>Thực trạng cơng tác chăm sóc sản phụ sau sinh 24h tại Khoa sản Trung tâm y tếhuyện Hàm Yên năm 2021. Tác giả Ngô Thu Thuỷ trong nghiên cứu Thực trạngcơng tác chăm sóc sản phụ sau sinh 24h tại Khoa Sản Trung Tâm y tế huyện ChiêmHóa 2020</i>

* Phiếu điều tra gồm 3 phần (phụ lục 1)

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

Phần A: Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, trình độ học vấn, số lần sinh con

Phần B: Thực trạng cơng tác chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường tại khoa Phụ Sản, Bệnh viện Bạch Mai gồm các nội dung:

<small>Thời gian nằm tại phòng sinh trong 2h đầu sau sinh; theo dõi sản phụ tại phòng sinh;theo dõi dấu hiệu sinh tồn tại phòng hậu sản; theo dõi co hồi tử cung; chăm sóc vệ sinhtầng sinh mơn và bộ phận sinh dục ngồi; hướng dẫn chăm sóc và theo dõi sau sinh; tưvấn chế độ ăn uống sau sinh; chế độ luyện tập sau sinh; hướng dẫn tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ;hưỡng dẫn cách chăm sóc trẻ sơ sinh; tư vấn kế hoạch hố gia đình; động viên trấn an tinh thần người bệnh khi đausau sinh</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

2.3. Kết quả nghiên cứu

2.3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

<i>Bảng 2. 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu</i>

Nhận xét: Phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu ở độ tuổi dưới 35 chiếm 89.5%. Trình độ học vấn từ trung cấp trở lên chiếm gần nửa đối tượng tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ sản phụ sinh con lần 2 trở lên nhiều hơn sản phụ sinh 1 con. Về nơi cư trú thì người bệnh ở thành phố chiếm tỷ lệ cao nhất 49%

2.3.2. Thực trạng cơng tác chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường

<i>Bảng 2. 2. Thực trạng cơng tác chăm sóc sản phụ 24h sau sinh thường</i>

<small>1Thời gian nằm tại phòng sinh trong 2 giờ đầu sau sinh2Tình hình theo dõi tại phịng sinh</small>

<small>3Tình hình theo dõi dấu hiệu sinh tồn tại phòng hậu sản4Theo dõi co hồi tử cung:</small>

</div>

×