Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.47 MB, 42 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINHHỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>MÔN : PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ -TRUYỀN THƠNG Câu 1: Nhìn nhận thể chế chính trị tác động tới báo chí, quản lý nhà nướcvới báo chí?</b>
<b>1.Thể chế chính trị tác động tới báo chí : 1.1. Mối quan hệ giữa chính trị và báo chí : </b>
Kể từ khi báo chí xuất hiện, người ta đã nói đến mối quan hệ giữa báo chí với chính trị. Sở dĩ như vậy là do ngay sau khi xuất hiện, báo chí đã tạo ra một thứ quyền năng khá mới và khá lớn, có tác động nhất định đến con người và xã hội. Vậy, mối quan hệ giữa báo chí với chính trị là như thế nào (độc lập hay phụ thuộc nhau hoàn tồn). Về vấn đề này đã hình thành hai cách tiếp cận gần như đối lập nhau: có quan điểm cho rằng báo chí và chính trị là hồn tồn độc lập nhau, hai bên đều có quyền năng như nhau đối với xã hội; còn quan điểm ngược (mà chủ yếu là của giới chính trị) lại cho rằng, đây là hai quyền năng mà về bản chất là lệ thuộc nhau: chính trị chi phối báo chí và báo chí phải tuân thủ và phục vụ chính trị. Đúc rút từ thực tế hoạt động của báo chí
trên thế giới và trong nước, chúng tôi cho rằng, giữa báo chí và chính trị có mối quan hệ qua lại khăng khít và rất biện chứng, vừa độc lập với nhau, vừa hỗ trợ cho nhau.
<b>1.2. Chính trị tác động tới báo chí : </b>
<b>1.2.1. Chính trị phải định hướng cho báo chí: </b>
Với tư cách là quyền lực “cứng”, có chức năng và trách nhiệm quản lý toàn bộ đời sống xã hội (từ thiết kế, tạo lập mơ hình phát triển xã hội; đến tạo điều kiện, giải phóng mọi nguồn lực, tổ chức thực hiện phát triển kinh tế - xã hội; rồi quản trị, bảo vệ, đảm bảo mơi trường ổn định, hịa bình cho sự phát triển của đất nước, dân tộc...), thì chính trị thực sự có quyền năng chi phối
các quyền lực khác. Đó là quyền năng mang bản chất trách nhiệm cộng đồng do xã hội giao phó và quy định. Do vậy, lẽ đương nhiên, các quyền lực khác trong
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">xã hội đều phải chịu sự chi phối ít nhiều của quyền lực chính trị và quyền lực chính trị có trách nhiệm định hướng cho các quyền lực khác, trong đó có báo chí.
Chính trị định hướng cho báo chí khơng phải bằng cách áp đặt, bóp nghẹt, chi phối một chiều đối với báo chí. Chính trị phải đủ tầm để nâng cao năng lực, hiệu lực, xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, hiện đại, nhân văn, đảm đương được việc tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật, định hướng tư tưởng và thẩm mỹ, góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa và con người, tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng nhu cầu thơng tin của nhân dân, đồn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận xã hội, định hình con đường phát triển cho dân tộc. Khi định hướng cho báo chí, chính trị phải chủ động cung cấp thơng tin nhanh, kịp thời, chính xác và trước nhất, khơng phải và khơng thể đi sau giải thích, chấn chỉnh. Định hướng của chính trị phải đúng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ ra: “Có mấy chục triệu người dùng internet và mạng xã hội, làm sao để thơng tin chính thống cũng lên mạng xã hội. Chúng ta không ngăn và cũng không cấm được đâu, quan trọng nhất là đưa thông tin đúng, kịp thời”
Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện đối với báo chí; báo chí cách mạng Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy việc phục vụ Đảng và Nhân dân làm mục tiêu cao cả. Báo chí cách mạng là vũ khí sắc bén, là công cụ đắc lực của Đảng trên mặt trận tư tưởng; “bài báo là tờ hịch cách mạng” tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cổ vũ, tập hợp và đồn kết, nâng cao và bồi dưỡng nhận thức, tình cảm cho quần chúng Nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
<b>1.2.2. chính trị phải tạo điều kiện cho báo chí thực hiện tốt trách nhiệm xãhội của mình.</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Khi đã được xác định và đóng vai trị là quyền lực chủ đạo, chính trị phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho báo chí phát triển. Khi làm như vậy, quyền lực chính trị đã được củng cố và nhân lên quyền lực của mình. Ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc tạo điều kiện cho báo chí. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10, khóa XI, trên cơ sở chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, kết quả và hạn chế, bất cập và từ thực trạng quản lý, phát triển báo chí, dự báo xu hướng phát triển thông tin, truyền thông, Đảng ta đã đưa ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp quy hoạch phát triển và quản lý báo chí tồn quốc đến năm 2025; trong đó nhấn mạnh, báo chí là phương tiện thơng tin, cơng cụ tun truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Đi liền với đó, Chính phủ đã rất quan tâm để sửa Luật Báo chí nhằm tạo cơ sở và hành lang pháp lý cho báo chí hoạt động và phát triển. Đúng như lời Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã khẳng định: “Sửa luật phải đương nhiên đảm bảo nguyên tắc
báo chí cách mạng. Sửa luật để báo chí phát triển mạnh mẽ hơn, đảm bảo cho báo chí góp phần để nhân dân thực hiện tốt hơn quyền của mình”
Những sự chỉ đạo như vậy thực sự là điều kiện, là tiền đề để báo chí nước ta có cơ sở và nền tảng phát triển đúng hướng trong thời gian tới và có thể thực hiện tốt chức năng xã hội của mình. Rõ ràng là, tạo điều kiện cho báo chí “khơng phải là để kìm hãm báo chí, mà là để tạo ra bước phát triển mới, phù hợp với thực tế của các cơ quan báo chí hiện nay”
<b>1.2.3. chính trị phải tơn trọng tự do của báo chí</b>
Mặc dù quyền lực của chính trị rất lớn, song chính trị khơng bóp nghẹt các loại quyền lực khác, trong đó có quyền lực của báo chí. Được xem là quyền lực “mềm”, nhưng báo chí có sức mạnh riêng, có quy luật tồn tại và phát triển riêng; đồng thời lại có con đường hình thành rất riêng. Theo C.Mác, báo chí “là
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực, lại chảy trở về hiện thực như một dịng thác đầy sinh khí”(5). Cũng chính vì lý do đó mà Napoléon đã phải thốt lên rằng: “nhà nước là cái gì? Khơng là cái gì cả, nếu nó khơng có dư luận”, mà dư luận, theo Napoléon chính là “ý chí và nguyện vọng của dân chúng”. Rất đáng ghi nhận rằng ở nước ta, quyền tự do báo chí đã được cơng nhận và ghi vào Hiến pháp, chúng ta đã nhận thức rất đúng “quyền tự do báo chí là quyền cơ bản của quyền cơng dân, tự do báo chí là xu thế chung của thế giới”. Như vậy quyền của báo chí, dù muốn hay khơng, đều mang trong mình bản chất tự do. Tuy nhiên, phải thấy và phải hiểu đúng tự do của báo chí. “Tự do báo chí phải theo quy định của luật pháp để đảm bảo tự do của người này, tổ chức này không xâm phạm đến tự do và lợi ích của tổ chức và cá nhân khác”
<b>1.2.4. chính trị phải đồng hành cùng báo chí</b>
Do quyền lực “mềm” của báo chí là cánh tay nối dài và nhân lên của quyền lực chính trị, nên dù muốn hay khơng, chính trị khơng chỉ tạo điều kiện mà cịn phải ln sát cánh và đồng hành với báo chí, phải ln coi báo chí là người thân thiết, đồng chí hướng của mình. Sở dĩ như vậy là vì báo chí có thể và
“cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” . Để làm được điều đó thì yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong thái độ đối với báo chí là ở chỗ chính trị phải thấu hiểu, thơng cảm, sẻ chia và đồng hành thực sự cùng với báo chí. Chính trị phải ln quan niệm, ý thức được và thực hiện chủ trương đối với báo chí “mạnh, đúng thì phát huy, hạn chế thì khắc phục, phải rất bình tĩnh trước những bất cập của
hoạt động báo chí, khơng nên chỉ vì một vài biểu hiện tiêu cực mà giật mình, vội vàng ra ngay quy định hạn chế phát triển báo chí”
<b>1.2.5. Chính trị kiểm duyệt các thơng tin đăng tải của báo chí : </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Báo chí Việt Nam chịu sự kiểm duyệt của Nhà nước. Luật Báo chí quy định những nội dung bị cấm đăng tải trên báo chí (Điều 9 Luật Báo chí số 103/2016/QH13), bao gồm:
Thơng tin, tài liệu có nội dung chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc;
Thơng tin, tài liệu có nội dung kích động bạo lực, khủng bố, phá hoại an ninh,
Thơng tin, tài liệu có nội dung khiêu dâm, đồi trụy.
<b>1.3. Quản lý nhà nước với báo chí :</b>
<b>1.3.1. Nhận thức về quản lý nhà nước đối với báo chí</b>
Ở nước ta, từ khi báo chí cách mạng xuất hiện (21-6-1925) tới nay, mục tiêu ngày càng cao của nó là thiết thực phục vụ lợi ích ngày một nhiều của nhân dân. Luật Báo chí (năm 1989) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí (năm 1999) quy định: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện truyền thông đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân”. Vì thế, báo chí cũng là một đối tượng cần sự quản lý của Nhà nước.
Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật đạt tới mục đích đề ra và theo đúng ý chí của người quản lý. Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy nhằm bảo đảm sự phục tùng và sự thống nhất trong quản lý. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, được sử dụng quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">hội. Quản lý nhà nước đối với báo chí là những hoạt động của bộ máy chính quyền hướng tới sự bảo đảm để báo chí hoạt động ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội. Cũng như bất kỳ dạng quản lý xã hội nào khác, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy nhà nước - là cơng việc của bộ máy hành pháp. Nó là sự tác động của các tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với các hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy hành pháp từ Trung ương đến cơ sở, để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của nhân dân.
Như vậy, để đạt tới tự do chân chính của báo chí cần phải thấy rõ chủ thể, khách thể, đối tượng cũng như mục đích của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí, trong đó chủ thể quản lý là các cơ quan trong bộ máy hành pháp của Nhà nước hay các cá nhân có thẩm quyền quản lý chuyên ngành về hoạt động báo chí được Nhà nước trao quyền về quản lý nhà nước đối với báo chí. Khách thể của quản lý nhà nước đối với báo chí là trật tự quản lý trong q trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập mối quan hệ giữa con người với con người. Đối tượng của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí là tất cả những tổ chức, cá nhân thực hiện những hoạt động liên quan đến báo chí. Mục đích của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí là phát triển các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân, bảo đảm quyền tự do báo chí và ngôn luận.
<b>1.3.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác quản lý nhànước về báo chí</b>
Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai trị của báo chí và truyền thơng đối với đời sống xã hội. Điều này được thể hiện qua nhiều chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách, của Nhà nước với những vấn đề cơ bản sau:
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Một là, cơng tác báo chí là bộ phận cấu thành hữu cơ trong hoạt động của Đảng ta, là yếu tố cấu thành hoạt động tư tưởng, lý luận; là vũ khí xung kích trên mặt này. Báo chí có vai trị quan trọng đối với công tác tư tưởng, lý luận và tổ chức. Quan điểm này được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động của C. Mác - Ph. Ăng ghen - V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta.
Hai là, báo chí phải góp phần tích cực vào tun truyền lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước. Báo chí phải góp phần trực tiếp, thiết thực, hiệu quả cho sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu chính đáng: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy nhiên, việc xây dựng lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giáo dục lòng tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh thế giới phức tạp hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, khi mà giá trị lợi ích đang chi phối nhiều giá trị khác, khi mà chủ nghĩa cá nhân được kích thích là một vấn đề hồn tồn khơng dễ dàng. Trong khi xây dựng chủ nghĩa xã hội - xây dựng cái tốt, cái đẹp, cái ưu việt, cái hơn hẳn lại không thể một sớm một chiều. Vì thế, hơn bất kỳ lúc nào những người làm cơng tác tun truyền, định hướng, trong đó có những người hoạt động trên lĩnh vực báo chí phải có đạo đức cách mạng, kiên trì, nhiệt thành, trung thành, hiểu biết và tính chuyên nghiệp cao.
Ba là, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu đa dạng của hoạt động báo chí.
Bốn là, Đảng lãnh đạo báo chí bằng việc định hướng chính trị, bằng và thơng qua Nhà nước, thơng qua công tác tổ chức - cán bộ, thông qua giám sát, kiểm
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">tra hoạt động thường xuyên trong thực tiễn; bằng sức mạnh của cả hệ thống chính trị.
Năm là, cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Mỗi nhà báo là một cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, tư tưởng của Đảng, là nhà tuyên truyền vận động xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nhà báo là chủ thể tích cực trong q trình hoạt động báo chí, đồng thời là nhân tố tích cực bảo đảm để cơng tác quản lý nhà nước về báo chí có hiệu quả.
<b>1.3.3. Những nguyên tắc căn bản trong quản lý nhà nước để báo chí hoạtđộng sáng tạo</b>
- Đảng lãnh đạo báo chí. Đảng ta đã xác định báo chí là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của đồn thể và là diễn đàn của nhân dân, qua đó kết nối Đảng với quần chúng nhân dân lao động. Mục tiêu cao cả, nhân văn của Đảng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Mục tiêu đó cũng chính là định hướng để báo chí hoạt động. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: Hướng báo chí xuất bản làm tốt chức năng tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội, giới thiệu gương tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán những hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thơng tin, khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa” trong hoạt động báo chí xuất bản.
Trong suốt chặng đường cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí nước ta đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng; lành mạnh hóa các quan hệ xã hội; đóng một vai trị quan trọng trong việc củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, những khó khăn trong nước, khơng ít người làm báo thiếu bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức; một số tờ báo, cơ quan quản lý báo chí chưa ngang tầm làm cho tình hình hoạt động báo chí chưa thật lành mạnh. Nhiều ý kiến của bạn đọc chân chính đã đề xuất, nên chẳng cần phải có một cơ chế kiểm tra, giám sát báo chí thật chặt chẽ và linh hoạt. Điều đó giúp cơ quan báo chí chống xu hướng xa rời tơn chỉ, mục đích; chống xu hướng “né” chính trị, “trung lập hóa” bảo đảm cho báo chí phát triển lành mạnh, thực sự gắn chặt và bám sát với thực tiễn phát triển của đất nước, của nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát còn thể hiện trách nhiệm của Đảng đối với hệ thống báo chí. Điều đó thể hiện ở sự quan tâm, tạo điều kiện, phát hiện những sai lầm nhược điểm để khắc phục. Có thể khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với báo chí khơng những khơng làm hạn chế việc thơng tin tuyên truyền của báo chí, sự tự do sáng tạo của người làm báo mà cịn giúp báo chí phát triển đúng theo mục tiêu, định hướng, tôn chỉ, mục đích của mình và người làm báo ngày càng được bạn đọc tin yêu.
- Nhà nước quản lý báo chí. Nhà nước cụ thể hố đường lối, chủ trương của Đảng thành hệ thống chính sách, pháp luật… tạo nên hành lang pháp lý cho hoạt động của báo chí. Đến nay, hệ thống văn bản quản lý, chế độ, chính sách đối với báo chí nước ta đã tương đối hồn chỉnh. Tuy nhiên, cơng tác quản lý báo chí theo quy định của Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật vẫn còn nhiều bất cập, đòi hỏi phải khắc phục, sửa chữa.
Sự quản lý của Nhà nước còn thể hiện trong cơng tác quy hoạch hợp lý hệ thống báo chí nhằm tạo sự thống nhất, tính hợp lý để báo chí có thể phát huy tốt nhất hiệu quả thơng tin, tuyên truyền phục vụ nhân dân; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các hiện tượng, vụ việc phát sinh cụ thể… Ngoài những nguyên tắc chung nhất nêu trên, hoạt động quản lý báo chí là hoạt động đặc thù cần lưu ý một số vấn đề sau:
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Một là, tơn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân. Đây được xem là nguyên tắc hiến định khi được quy định cụ thể tại Điều 69 - Hiến pháp năm 1992 sửa đổi: Cơng dân có quyền tự do ngơn luận, tự do báo chí, có quyền được thơng tin... theo quy định của pháp luật. Quy định này đã được cụ thể hoá tại Điều 12, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngơn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trị của mình”. Cụ thể, Điều 4, Luật Báo chí cũng quy định rõ: Cơng dân có quyền được thơng tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và trên thế giới; tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo. Gửi tin bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thơng tin; phát biểu ý kiến về tình hình trong nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên các tổ chức đó.
Như vậy, quyền tự do báo chí, tự do ngơn luận trên báo chí được cơng khai rõ ràng, mạch lạc và có hệ thống ngay từ những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp.
Để thực hiện được nguyên tắc này, Nhà nước cần tạo ra cơ chế pháp lý phù hợp với các loại hình hoạt động báo chí nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần đề ra một phương thức hướng các hoạt động báo chí tuân thủ pháp luật nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các cơ quan chức năng thuận lợi hơn trong quá trình quản lý.
Hai là, phải bình đẳng trong thụ hưởng thành quả báo chí của tất cả cơng dân. Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngân sách tạo điều kiện cho xuất bản, phát hành đến với nhân dân các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây được xem là nguyên tắc thể hiện tính nhân văn sâu sắc với mục tiêu nâng cao dân trí, đem thành quả của hoạt động báo chí tới mọi thành phần, mọi đối tượng trong xã hội.
Muốn thực hiện tốt được nguyên tắc này, Nhà nước cần có chính sách ưu tiên để người dân có thể tiếp cận với các ấn phẩm của nhiều loại hình báo chí khác nhau. Huy động các nguồn lực khác nhau để bảo đảm sự hoạt động hài hòa của cơ quan báo chí cũng như phục vụ tốt nhất nhu cầu truyền thông của nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội. Đồng thời, Nhà nước cần chú trọng tạo ra các chính sách đẩy mạnh sự phát triển của các cơ quan báo chí để sẵn sàng phục vụ nhân dân tại các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn.
Ba là, đấu tranh chống lợi dụng việc tôn trọng tự do báo chí, tự do ngơn luận làm trái pháp luật. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, báo chí có sự ảnh hưởng nhất định đến an ninh chính trị của quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mà quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận được xem như quyền cơ bản của con người mà các thể chế chính trị đều phải coi trọng. Thực tế, các thế lực thù địch lợi dụng báo chí để chống phá Nhà nước, chống phá chế độ mà Việt Nam theo đuổi. Âm mưu “diễn biến hồ bình” của các thế lực thù địch luôn là mối nguy cơ đe doạ an ninh dân tộc. Vì thế, hơn lúc nào hết cần phải ngăn chặn, đấu tranh đập tan mọi mưu đồ lợi dụng tự do báo chí, tự do ngơn luận để chống phá Nhà nước, chống phá chế độ. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 mặc dù khẳng định sự tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngơn luận nhưng cũng đồng thời tạo ra rào chắn hướng hoạt động của báo chí vào bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân: “báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Khơng ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, tự do ngơn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”. Đây là quan điểm chung và thống nhất nhằm ngăn cản việc sử
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">dụng quyền tự do báo chí, tự do ngơn luận để phá hoại hịa bình, độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta.
<b>1.3.4. Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí</b>
Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc xây dựng khung khổ pháp lý cho hoạt động báo chí. Các bản Hiến pháp: năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đều khẳng định quyền tự do báo chí, tự do ngơn luận và xác định đó là một trong những quyền cơ bản của cơng dân.
Ngoài đạo luật cơ bản là Hiến pháp và trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến báo chí như Sắc lệnh 41 ngày 29-3-1946 về chế độ kiểm duyệt báo chí; Luật số 100/SL-L-002 ngày 20-5-1957 quy định chế độ báo chí (Luật Báo chí 1957); Nghị định 197/Ttg ngày 9-7-1957 quy định chế độ và quyền lợi của người làm báo chuyên nghiệp và Nghị định số 298/Ttg ngày 9-7-1957 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí 1957; Nghị định 133/HĐBT ngày 20-4-1992 của HĐBT quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí; Chỉ thị 63/CTTW về tăng cường cơng tác quản lý báo chí -xuất bản; Thơng tư 131/TT-VP ngày 20-11-1990 của Bộ Văn hố - thơng tin hướng dẫn thi hành Nghị định 384/HĐBT và có điều chỉnh một số tiêu chuẩn nghiệp vụ của chức danh viên chức báo chí… Các văn bản này thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau đối với hoạt động báo chí và bước đầu đặt nền móng cho việc xây dựng cơ sở pháp lý cho quản lý hoạt động báo chí của cơ quan có thẩm quyền. Ngày 28-12-1989, Quốc hội thơng qua Luật Báo chí, ngày 2-1-1990, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Luật Báo chí nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay thế Luật Báo chí năm 1957, và ngày 12-6-1999, Quốc hội khố X đã thơng qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí và có hiệu lực cho đến nay. Ngày 26-4-2002, Chính phủ ban hành Nghị định 51/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí.
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">Với việc ban hành Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 đã khắc phục được những hạn chế của các văn bản quản lý trước đó, tạo ra khung pháp lý cơ bản cho hoạt động quản lý nhà nước về báo chí.
<b>1.3.5. Cơ quan quản lý nhà nước về báo chí</b>
<b> Trải qua các bản hiến pháp khác nhau có sự khác nhau trong việc xác định chức</b>
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan nhà nước. Chính vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí cũng có sự thay đổi qua mỗi thời kỳ lịch sử. Theo quy định tại Hiến pháp năm 1992 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí được quy định cụ thể như sau:
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí.
2. Bộ Văn hóa - Thơng tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về báo chí theo quy định của Chính phủ.
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về báo chí.
4. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><b>Câu 2 : Quan niệm thế nào là báo chí, vai trị báo chí được quy phạm trongvăn bản pháp lý (địa vị pháp lý báo chí trong pháp luật 1989, 1999, 2016)1.Quan niệm thế nào là báo chí : </b>
Luật Báo chí số 103/2016/QH13 ngày 05/4/2016 nêu rõ: Báo chí là sản phẩm thơng tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.
<b>2. Địa vị pháp lý, vai trò, nhiệm vụ của báo chí trong đời sống xã hội đượcquy định ở trong các văn bản quy phạm pháp luật : </b>
<b>2.1. Luật báo chí năm 1989 : </b>
Điều 1. Vai trị, chức năng của báo chí Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội ; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức) ; là diễn đàn của nhân dân. Điều 6. Nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí
Báo chí có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :
1- Thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới
2- Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo tơn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí ; góp phần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
3- Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội ; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân ;
4- Phát hiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới ; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác ;
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">5- Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
<b>2.2. Luật báo chí năm 1999 : </b>
Đã được sửa đổi bổ sung nhưng vẫn giữ nguyên những quy định về vai trò của báo chí, nâng cao địa vị pháp lý của báo chí, thể hiện sự tơn trọng và bảo vệ quyền lợi của báo chí cũng như của các nhà báo. Vai trị, nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí cũng được quy định gồm: Thơng tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tơn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. Góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngơn luận của nhân dân.
<b>2.3. Luật báo chí năm 2016 : </b>
Quá trình chuẩn bị (chỉnh sửa, bổ sung, hồn thiện Luật báo chí 1999) để cho ra đời Luật báo chí 2016 là khá dài. Ngay từ ngày 12/12/2007, tại Thừa Thiên Huế, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) đã phối hợp với Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học về chủ đề: “Đánh giá việc thực hiện Luật Báo chí hiện hành và những kiến nghị đề xuất cần sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí”. Trong hội thảo này có rất nhiều nhà báo tinh thơng nghề báo và am tường luật pháp đã góp ý kiến cho Luật Báo chí, sau 10 năm thực hiện đã bộc lộ nhiều điểm chưa bắt kịp với hoạt động thực tiễn.
Để khắc phục những hạn chế của luật báo chí hiện hành và đáp ứng nhu
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">cầu cấp thiết cho sự phát triển của các loại hình báo chí, Bộ TT&TT đã thực hiện các bước chuẩn bị cho nhiệm vụ soạn thảo Dự thảo Luật báo chí. Khi xong Dự thảo Luật Báo chí, Bộ TT&TT đã tiến hành 12 lần lấy ý kiến của các luật sư, nhà báo, công dân, nhằm mục đích để Luật Báo chí được chỉnh lý có chất lượng cao nhất. Dự kiến Dự thảo Luật báo chí sẽ được trình Quốc hội Khóa XII tại kỳ họp tháng 10/2008, tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến tiếp tục đóng góp, nên chưa thể thống nhất và thơng qua văn bản chính.
Mãi đến năm 2016, sau 10 năm chuẩn bị, với sự đầu tư trí tuệ, tâm huyết của hàng triệu triệu người, Luật Báo chí 2016 ra đời, gồm 6 Chương, 61 Điều, được Quốc hội nước Cộng hịa XHCN Việt Nam Khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05-4-2016, do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân ký. Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Trần Đại Quang ký Lệnh cơng bố Luật ngày 19 -5-2016.
Ngay trong dịng đầu tiên của Chương I, Điều 1. Phạm vi điều chỉnh: quy định rõ: “Luật này quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngơn luận trên báo chí của cơng dân,...”, đã cho thấy, nội dung trọng tâm của Luật Báo chí 2016 là hướng đến cơng dân - chủ thể thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngơn luận trên báo chí. Báo chí làm ra cũng là để thỏa mãn nhu cầu được biết, được hưởng thụ thông tin, được chia sẻ thông tin, được biểu đạt ý kiến theo quan điểm riêng của con người.
Nội dung quản lý nhà nước về báo chí được quy định tại Điều 6 Luật báo
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">4. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ người làm báo của các cơ quan báo chí và cán bộ quản lý báo chí.
5. Tổ chức quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chí. 6. Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động báo chí và thẻ nhà báo. 7. Quản lý hợp tác quốc tế về báo chí, quản lý hoạt động của cơ quan báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngồi và hoạt động của báo chí nước ngồi tại Việt Nam.
8. Kiểm tra báo chí lưu chiểu; quản lý hệ thống lưu chiểu báo chí quốc gia. 9. Chỉ đạo, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác khen thưởng, kỷ luật trong hoạt động báo chí.
10. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về báo chí.
Theo Điều 4 Luật báo chí 2016, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí được quy định:
1. Báo chí ở nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân. 2. Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;
b) Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tơn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">c) Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân;
d) Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phịng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội;
đ) Góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam;
e) Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hịa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.
<b>3. Ý nghĩa, vai trò của các quy định về vai trò, nhiệm vụ của báo chí quacác văn bản quy phạm pháp luật</b>
Pháp luật về báo chí là phương tiện để nhà nước quản lý báo chí, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển văn hóa và kinh tế, nâng cao dân trí, đời sống tinh thần của nhân dân nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các quy định về báo chí giúp cho người làm báo giữ gìn và phát huy vai trị, trách nhiệm công dân, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp nhà báo, giúp nhà báo có những định hướng đúng đắn về tư tưởng, để tác phẩm báo chí của họ có giá trị hơn, định hướng cho người dân và xã hội ngày càng tốt hơn. Ngồi ra cịn giúp tạo ra môi trường ổn định trong việc thiết lập các mối quan hệ về báo chí truyền thơng giữa các quốc gia trong việc thực hiện mục tiêu Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hịa bình, độc lập dân
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">Quyền tự do ngôn luận là quyền của con người trong việc tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thơng tin, ý kiến của mình đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội dưới hình thức bằng lời nói, văn bản (viết tay hoặc đánh máy) hoặc dưới bản điện tử (email, facebook, zalo…) hoặc dưới hình thức khác (tranh vẽ, biểu diễn nghệ thuật…) Quyền tự do báo chí là quyền của công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí, tiếp cận thơng tin báo chí, cung cấp thơng tin cho báo chí, phản hồi thơng tin trên báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo in. Báo chí có
vai trị là phương tiện để cơng dân thực hiện quyền tự do ngơn luận của mình. Quyền tự do ngơn luận trên báo chí của cơng dân là cơng dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với
các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác (Điều 11 Luật Báo chí năm 2016).
Quyền tự do báo chí của cơng dân được luật quy định bao gồm các quyền: Sáng tạo tác phẩm báo chí.
Cung cấp thơng tin cho báo chí Phản hồi thơng tin trên báo chí. Tiếp cận thơng tin báo chí.
Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí. In, phát hành báo in
Tự do ngôn luận trên báo chí được thể hiện qua các quyền: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới.
Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác.
<b>2.Quy định đối với tự do báo chí và tự do ngơn luận báo chí trong các vănbản pháp luật : </b>
<b>2.1. Trong Luật Báo chí năm 1989</b>
Điều 4. Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngơn luận trên báo chí của cơng dân Cơng dân có quyền
1. Được thơng tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới ; 2. Tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh
và tác phẩm khác cho báo chí mà khơng chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin ;
3. Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới ;
4. Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ;
5. Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó.
Điều 5. Trách nhiệm của báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngơn luận trên báo chí của cơng dân
Cơ quan báo chí có trách nhiệm :
1. Đăng , phát sóng tác phẩm, ý kiến của công dân ; trong trường hợp khơng đăng, phát sóng phải trả lời và nói rõ lý do ;
2. Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có chức vụ trả lời bằng thư hoặc trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến.
<b>2.2. Luật Sửa đối, bổ sung một số Điều của Luật Báo chí (năm 1999)</b>
</div>