Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

thực trạng về những lỗi ngôn từ trong báo mạng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.09 MB, 22 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<small>1 </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<small>2. Đặc trưng của ngơn ngữ báo chí ... 5 </small>

<small>2.1. Ngơn ng báo chí là ngơn ng sữữ ự kiện ... 5 </small>

<small>2.2. Tính siêu ngơn ng c a báo chí. ữ ủ... 6 </small>

<small>2.3. Ngơn ng báo chí là ngơn ng cữữ ủa độ không xác định ... 7 </small>

<small>2.4. Ngôn ng báo chí là ngơn ngữữ định lượng ... 7 </small>

<small>3. Tính ch t c a ngơn ng báo chí.ấ ủữ ... 8 </small>

<small>II. CHU N M C NGƠN NG BÁO CHÍẨỰỮ ... 12 </small>

<small>III. THỰC TR NG V ẠỀ NHỮNG L I NGÔN T TRONG BÁO MỖỪẠNG ... 14 </small>

<small>DANH SÁCH TÀI LI U THAM KH OỆẢ ... 22 </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<small>3 </small>

Đề bài :

Câu 1 : Phân tích các đặc trưng và tính chất của ngơn ngữ báo chí

Câu 2 : Trình bày những hiểu biết của anh chị về chuẩn mực ngơn ngữ báo chí? Khảo sát những lỗi thường gặp trên các loại hình báo chí trong thời gian từ năm 2021 đến nay.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>4 </small>

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Ngày nay chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng lên và song hành với đó là mức độ cập nhập thơng tin cũng đòi hỏi yêu cầu cao. Vài thập kỉ trở lại đây, ngơn ngữ báo chí mới được thừa nhận là phong cách chức năng trong hệ thống phong cách chức năng tiếng việt. Do đó chưa có nhiều những thành tựu nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng các phương tiện truyền thơng đại chúng nói chung và báo chí nói riêng ở nước ta đang có những bước phát triển rất mạnh mẽ khơng chỉ về số lượng mà còn về chất lượng. Bên cạnh đó, báo chí có quyền lực thứ tư trong xã hội, góp phần truyền tải , tác động hầu hết vào tất cả các lĩnh vực đời sống của con người như: kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Với mục đích to lớn như vậy, báo chí thường sử dụng kênh ngơn ngữ của mình như một hệ đa chức năng, nhắm vào tất cả các đối tượng không đồng nhất về lứa tuổi, nhu cầu hay giới tính khơng chỉ để truyền đạt thơng tin mà cịn tác động vào họ trong mọi lĩnh vực. Để đạt được mục đích này, ngơn ngữ báo chí được coi là yếu tố quan trọng nhất đòi hỏi phải chứa đựng nhưng thông tin mới lạ, hấp dẫn, chuẩn xác, được tổ chức ngắn gọn, dễ hiểu và rõ ràng. Nó là cầu nối giữa các tác giả, nhà báo tác phẩm cơng chúng, là hình thức bao chưa tồn bộ nội - - dung thơng tin mà tác giả muốn đem đến cho người đọc. Mội nhà báo giỏi luôn là những người giỏi về câu chữ và ngôn từ. Nhưng ngược lại không phải lúc nào ngơn ngữ báo chí cũng đạt được mục tiêu, hiệu quả giao tiếp đúng như mong muốn của các nhà báo hay công chúng ngày nay. Vì vậy bắt buộc phải có một tiêu chí chung cho ngơn ngữ báo chí để có thể đạt được chất lượng cao nhất. Trên những bài báo hiện nay, khơng khó để người ta có thể tìm hay nhìn ra những lỗi dùng từ,

văn bản không phù hợp với chức năng của bài viết. Điều này đã làm ảnh hưởng đến chát lượng thông tin, lượng người truy cập, độc giả và đặc biệt là các cơ quan báo chí, truyền thơng trong nước. Chính vì vậy,thơng qua bài tập lớn này tơi sẽ đi phân tích đặc điểm và những mặt ưu điểm và khuyết điểm của ngơn ngữ báo chí hiện nay đồng thời nêu lên ý kiến về ngơn ngữ báo chí góp phần chuẩn hóa giao tiếp trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là báo chí.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>5 </small>

1. Ngơn ngữ báo chí là gì?

- Báo chí là sản phẩm thơng tin về các vấn đề, sự kiện, xã hội được truyền tải qua nhiều phương thức khác nhau như ngơn ngữ, hình ảnh, âm thanh được sáng tạo và phát hành định kì, phục vụ đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình.

- Ngơn ngữ báo chí là loại ngơn ngữ được sử dụng đặc thù cho những người làm việc trong lĩnh vực báo chí, truyền thơng, phát thanh hay truyền hình. Mục đích của ngơn ngữ báo chí là dùng ngơn từ để truyền tải những thơng tin, thơng điệp về chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế đến với quần chúng

nội dung đó gửi đến độc giả. Chúng ta có thể thấy một số đặc điểm nổi bật nhất của ngơn ngữ báo chí đó là tính ngắn gọn, linh hoạt, súc tích, dễ hiểu và chuẩn xác cao.

- Có th nói nhi m v ể ệ ụ cơ bản và quan trọng nhất của báo chí đó là truyền tải thơng tin. Ch t ch H ủ ị ồ Chí Minh đã từng nói : “Tuyên truyền là đem một

truy n; ph i bi t cách nói. Nói thì phề ả ế ải đơn giản, rõ ràng, thi t th c. Ph i có ế ự ả

từ lạ, ít người hi u. Ch nói ra ngồi , ch lể ớ đề ớ ắp đi lắp lại. Chớ nói qua một

có l ễ độ”. (trích trong bài “Người tuyên truy n và cách tuyên truyề ền”, đăng trên Báo S ự thật, s 79, t ố ừ ngày 26/6 đến 9/7/1947). Vì th ngôn ng s ế ữ ử dụng trong báo chí cần được chú trọng đặc biệt. Nhà báo là người ph n ánh ả các hi n thệ ực thơng quan phân tích, đề cập và chắt lọc sự kiện xuất hi n ệ trong đời sống và xã h i c a nhân dân, n u khơng có s ộ ủ ế ự kiện thì s khơng có ẽ bài báo hay tin tức đem lại cho người đọc. Chính vì điều này đặc trung quan

kiện. S kiện là đặc điểm tiêu biểu c a lo i hình ngơn ng này. ự ủ ạ ữ 2. Đặc trưng của ngơn ngữ báo chí

2.1. Ngơn ngữ báo chí là ngơn ngữ sự kiện

- Ngôn ngữ sự kiện là ngôn ngữ bám sát vào sự thật, thực tế và nguyên dạng để phản ánh. Đồng thời trong ngôn ngữ sự kiện luôn yêu cầu sự trung thực

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<small>6 </small>

hay nói cách khác ngơn ngữ này là bản sao của sự thật đang trực tiếp diễn ra. Tính hư cấu trong ngôn ngữ sự kiện không được phép xuất hiện.

- Các cơ quan báo chí hay nhà báo chỉ được phép thuật lại mà không được thêm thắt bất cứ chi tiết nào như người xưa thường nói rằng: “ Thuật nhi bất tác”. Một khi chúng ta giữ nguyên vẹn tính sơ khai của sự kiện thì mới có thể trở thành những nhà báo có mắt quan sát và phản ánh trung thực. - Ngôn ngữ sự kiện muốn phản ảnh với độ chính xác cao phải ln liên hệ mật

thiết với ngôn ngữ sự kiện hiện hữu. Sự kiện hiện hữu là những sự kiện của ngày hôm nay, đang trực tiếp diễn ra trong cuộc sống hiện tại như : “ chống tham nhũng, chống tệ nạn xã hội,..” đang là những vấn đề thời sự và là những sự kiện nóng như : “ tin tức giáo dục, tin tức giao thông, thời tiết, kinh tế,..” Hay những thông tin được quần chúng đặc biệt quan tâm “ đói nghèo, luật pháp,..”. Tuy nhiên, khái niệm hiện hữu khơng chỉ bó hẹp trong các sự kiện hiện tại mà cịn có thể là các sự kiện của ngày hôm qua, của quá khứ xa xôi nhưng khi các sự kiện đó đặt vào hiện tại địi hỏi vẫn phải có giá trị thời sự hay giá trị hiện hữu.

- Bất kì cá nhân hay các cơ quan báo chí nào cũng có lịng ham muốn với tồn bộ sự thật, muốn truyền tải tồn bộ thơng tin sự thật cho quần chúng nhân dân và thậm chí người đọc cũng có những địi hỏi u cầu ấy ở các nhà báo. Chính vì vậy nhà báo phải nắm được quy tắc ngôn ngữ sự kiện là ngôn ngữ bám sát vào sự vận động của sự kiện để phản ánh. Khi chúng ta- những người tiếp cận với báo chí để tìm hiểu thơng tin quan sát một sự kiện nào đó trong xã hội đang được chú ý thì chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy một mặt của sự kiện hay một mặt vận động của tin tức đó. Vì vậy thực sự thì con người chỉ đang tiếp cận với chân lý của sự kiện chứ không tiếp cận hết giá trị của sự kiện như triết học đã khẳng dịnh. Chính vì vậy, nhà báo tuyệt đối khơng được phép sử dụng những ngơn từ mang tính tuyệt đối hóa, tính cá nhân và đặc biệt thì cấu trúc tin bài tốt nhất nên là cấu trúc mở, tránh quy chụp mọi mặt vấn đề của sự kiện. Muốn đứng lên phân trần một vấn đề, địa diện cho sự thật của vấn đề đó là điều bất khả kháng với những nhà báo, những người có niềm đam mê với viết lách

2.2. Tính siêu ngơn ngữ của báo chí.

phù hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng. Nó là phương thức diễn đạt thường trực của nhà báo. Hay nói cách khác, ngơn ngữ trong tác phẩm báo

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<small>7 </small>

chí là siêu ngôn ngữ. Siêu ngôn ngữ giúp nhà báo phản ánh trung thực, chính xác và đảm bảo yêu cầu thơng tin.

- Ngơn ngữ mang tính siêu ngơn ngữ là cách gián tiếp để đề cập vào thông tin sự kiện mà người viết vẫn có thể truyền tải được tồn bộ điều mình muốn nói cho độc giả.

- Ví dụ cụ thể đó là trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, khi chúng ta giành chiến thắng ở bất kì trận đánh giành lại độc lập thì việc cần làm ngay sau khi kết thúc đó là cử phái bộ ngoại giao sang để cầu hòa.Việc làm này được coi là sử dụng siêu ngôn ngữ để giữ vững hịa bình, độc lập, dân tộc của nước nhà. Bên cạnh đó, những nhà báo phải tuân theo rất nhiều quy định, điều kiện khách quan khi đặt bút để viết về một sự kiện. Vì vậy những nhà báo giỏi thực sự không thể “ nghe sao nói vậy” trong những trang báo của mình, đây được coi là cách ứng xử văn hóa trong viết lách.

2.3. Ngơn ngữ báo chí là ngôn ngữ của độ không xác định

- Ngôn ngữ của độ không xác định là nhà báo sử dụng câu từ, cách diễn đạt, trần thuật với nhiều sự liên tưởng phong phú để lại ấn tượng day dứt và khó qn trong lịng người đọc. Cách diễn đạt này sẽ có một lợi ích rất lớn đó là hạn chế khả năng phán đốn của độc giả, gây sự tị mị, kích thích cho người xem, nhờ thế hiệu ứng của độc giả sẽ tốt hơn sau khi đọc. Thay vì sử dụng lối viết cá nhân hóa, khi viết bài có cấu trúc mở sẽ tạo ra sự hiện đại vượt thời gian của bài viết, đồng thời cũng để bài viết sẽ được tiếp cận trong một thời gian dài.

- Nhà báo có nhiệm vụ truyền tải thông tin với những ngôn từ dễ hiểu, cơ đọng, hàm súc và mang tính chuẩn xác cao chính vì vậy khi nhìn vào tít bài, tiêu đề hay phần mở đầu cho ta những tác động ở trên sẽ khiến bài viết lôi cuốn, không nhàm chán, thu hút và tăng hiệu ứng tốt cho người đọc. 2.4. Ngôn ngữ báo chí là ngơn ngữ định lượng

- Đây được coi là sự phái sinh, cụ thể hóa của ngơn ngữ sự kiện, nhưng lại địi hỏi sự chuẩn xác cao chính là tính định lượng của ngôn ngữ. Sự trung thực khi phản ánh sự kiện ngày nay luôn được đề cao và là nhu cầu của tất cả người đọc.

- Ngôn ngữ sự kiện và ngôn ngữ định lượng mang đến những giá trị của thông tin, sức nặng của bài viết để quyết định sự tồn tại của nó ở trong “ mơi trường báo”

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<small>8 </small>

3. Tính chất của ngơn ngữ báo chí. 3.1. Tính chính xác, khách quan

- Báo chí là một cách thu thập và chia sẻ thông tin để tất cả chúng ta có thể hiểu những sự kiện hay bất cứ điều gì đang xảy ra trong thế giới của chúng ta. Ngôn ngữ mà các nhà báo sử dụng phải được đảm bảo và kiểm duyệt khắt khe, bên cạnh đó thì thơng tin phải được xác thực, có căn cứ thậm chí là phải đưa ra được bằng chứng. Các nhà báo phải sử dụng các nguồn đáng tin cậy và có bằng chứng để hỗ trợ cho bài báo của họ trước khi đăng chúng Điều này rất quan trọng nó giúp chúng ta đưa ra những nhận thức về thông tin sáng suốt vì bản chất của báo chí là định hướng xã hội và tiếp cận với rất nhiều đối tượng không đồng nhất. Nếu xuất hiện những sai sót nhỏ rất có thể làm giảm chất lượng xã hội và gây ra rất nhiều hậu quả về tư tưởng, hành động của dân chúng.

- Các nhà báo cần thông thạo ngôn ngữ mẹ đẻ hay ngôn ngữ mà họ sử dụng để viết bài , cũng như đưa tin chính xác và nguyên bản. Để làm được điều này, các nhà báo yêu cầu phải nắm vững ngữ pháp và từ vựng, cũng như hiểu biết tốt về ngữ âm và văn phong. Ngoài ra, họ phải bám vào các sự kiện đã thực sự xảy ra, thay vì tạo ra hay thêm thắt cho câu chuyện.

- Nhà báo dùng từ ngữ chính xác để thơng tin hiệu quả và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em, những người thường tìm đến báo chí để được hướng dẫn khi sử dụng ngơn ngữ. Báo chí Việt Nam càng chính xác thì người Việt Nam càng có cơ hội phát triển đúng nghĩa.

- Ví dụ : Một nhà báo đã viết một bài tin tức sau sau khi quan chức cấp cao của Việt Nam sang thăm Trung Quốc : " Chúng tôi đã chia tay với tình hữu nghị dạt dào của hai nước Việt Trung " . Có thể thấy rằng cách dùng từ - “với” ở đây thực sự không phù hợp vì nếu dùng trong trường hợp này đang sử dụng với nghĩa “ từ giã, chia tay , chấm dứt” cần phải thay từ “với” bằng từ “ trong”.

- Các nhà báo là những người phải suy nghĩ nhanh chóng và chính xác về những tin tức quan trọng, nhưng đôi khi họ cũng phải đối phó với những thơng tin khơng chính xác. Trong một số trường hợp, điều này đã dẫn đến hậu quả có hại cho các nhà báo và cơng chúng. Ví dụ như vụ “Vải Lục Ngạn”, hay một nhà báo bị tố là không trung thực sau khi đưa tin về một vụ

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<small>9 </small>

bê bối tham nhũng. Và trong vụ “Rau Thanh Trì”, một nhà báo đã bị sa thải sau khi đưa tin về vấn đề an tồn thực phẩm. Thời gian gần đây, thơng tin sai sự thật lan truyền trên mạng gia tăng khiến một số nhà báo bức xúc. Đơn cử như vụ “bắt cóc trẻ em” ở tỉnh Hải Dương, có người lầm tưởng có một nhóm người bắt cóc trẻ em. Hậu quả, chúng đã đốt cháy xe và làm hư hỏng tài sản của những người liên quan.

Tính chính xác của Ngơn ngữ báo chí khác với Ngôn ngữ văn học:

được s d ng. Ngôn ng ử ụ ữ văn học thường sử ụ d ng ngơn ng tượữ ng hình d a ự trên hư cấu, cho phép nhà văn sáng tạo ra những điều khơng có th t, s d ng ậ ử ụ những ngôn từ mang đậm ch t ngh thu t trong các tác ph m c a mình. ấ ệ ậ ẩ ủ

gì h nhìn thọ ấy và nghe th y mấ ột cách chu n xác nh t và không bao gi bẩ ấ ờ ịa đặt thơng tin. khơng được phản ánh những gì mà khơng có bằng chứng,

chứng cứ. Các nhà báo khơng được bịa chuyện hoặc sự kiện, và phải luôn sử dụng thông tin trung thực để viết về các sự kiện. Nếu một nhà báo có thơng tin về một sự kiện, họ không được thay đổi sự thật để làm cho nó có vẻ thú vị hoặc hấp dẫn hơn. Họ phải luôn sử dụng thông tin họ có để báo cáo chính xác những gì đã xảy ra.

thời đảm b o r ng nhả ằ ững tiến b trong tiêu chu n và thông l ộ ẩ ệ được thực hiện.

hội, thì bản thân các nhà báo cũng phải tuân thủ những tiêu chuẩn cao. Các

thể. Các nhà báo cũng cần phải đột phá để luôn c p nh t và cung c p cho ậ ậ ấ

sự thật; nó có nghĩa là tìm ra những cách m i và sáng tớ ạo để truyền đạt

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<small>10 </small>

thông tin. K t h p hài hòa gi a chu n m c và l l i, nhà báo có th p tế ợ ữ ẩ ự ề ố ể tiế ục

- Khi m t nhà báo vi t v chính h , có th khó gi ộ ế ề ọ ể ữ được tính khách quan.

“tơi” của công chúng là hai con người khác nhau.

- Có m t câu nói n i ti ng cộ ổ ế ủa đại văn hào người Nga A. P. Chekhov có l ẽ đã

hướng của báo chí đó là: " Ngắn gọn là ch c a thành cơng " ị ủ

người nghe có th ể hiểu thông tin d ễ dàng hơn. Và, nếu phải đọc một thông

người viết và cho người tiếp cận

- Đối với người đọc trong thời đại thơng tin q t i,h có vô vàn s l a chả ọ ự ự ọn

phẩm báo chí r t quan trấ ọng - chúng ph i ng n g n và d ả ắ ọ ễ hiểu.

tiết quan tr ng nh t. Ngoài ra, họ ấ ọ nên tránh vi t nh ng bài dài không tế ữ ập

báo ch ỉ viết bài t p trung vào thông tin mà h ậ ọ đang đưa tin mà không quan tâm đến cách họ sử d ng ngôn ngụ ữ, không nêu được cốt lõi c a s ủ ự kiện hay

không phân bi t ngh nghiệ ề ệp, trình độ nhận thức, địa vị xã hội, l a tuứ ổi, giới tính... đều là đối tượng ph c v cụ ụ ủa báo chí.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<small>11 </small>

- Báo chí là phương tiện thơng tin đại chúng. Tất cả mọi người trong xã h i, ộ không phân bi t ngh nghiệ ề ệp, trình độ nhận thức, địa vị xã hội, tu i tác, giổ ới tính... đều là đối tượng ph c v cụ ụ ủa báo chí: đây cũng là nơi họ tiếp xúc. thơng tin, cũng như là nơi họ có thể bày t ý kiỏ ến ủa mình. Do đó, ngơn c

qt. Tuy nhiên, được phổ biến rộng rãi khơng có nghĩa là dễ dãi hay kém cỏi. Vì, như nhà ngơn ngữ học nổi tiếng người Nga V. Kostomarov đã nêu ra quan điểm về vấn đề này như sau : Ngơn ngữ báo chí ph i phù h p v i mả ợ ớ ọi

hi u.ể

- M t ngôn ng không ph ộ ữ ổ biến, t c là ch ứ ỉ phục vụ cho một số lượng độc giả hạn ch nhế ất định, báo chí khó có th ể thực hiện được chức năng tác động

do t i sao các tác ph m báo chí ít s d ng các thu t ng chuyên môn cao, t ạ ẩ ử ụ ậ ữ ừ

đối với m i quan h ố ệ giữa ti ng nói cá nhân c a h và khế ủ ọ ối lượng ngơn ng ữ nói chung.

m ẽ đến tâm tư, tình cảm của con người. Nhà báo c n sáng t o, s d ng ngôn ầ ạ ử ụ

sự lôi cu n trong l i vi ố ố ết.

- S c h p d n c a ngơn ng báo chí là cách nói, cách th ứ ấ ẫ ủ ữ ể hiện thơng tin m i, ớ giàu hình ảnh, sinh động, hấp d n. Nhà báo cẫ ần ph i luôn sáng tả ạo để ử s dụng lo i hình ngơn ng này m t cách ạ ữ ộ hiệu qu . Tuy nhiên, cái m i là ả ớ không làm cho cách vi t c a hế ủ ọ ố r i rắm, khó hi u, khơng rõ ràng v ể ề ngữ

trong sáng, dân dã. S c h p d n c a ngơn ng báo chí có l i cho viứ ấ ẫ ủ ữ ợ ệc tăng lượng tương tác của độc giả thay vì ch ng lố ại nó .

- Tính bi u cể ảm ẩn ch a trong v p cứ ẻ đẹ ủa ngơn ng ữ chính là cái tác động

người vi t v n ch ế ẫ ờ đợi.

</div>

×