Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.3 MB, 29 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>3. Những tác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức </b>
<i><b>1.1. Những tác động tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức</b></i>
<i>Thứ nhất cơ chế thị trường phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của</i>,
<i>con người</i>
Khác với cơ chế bao cấp, cơ chế thị trường chú trọng giải quyết quan hệ cung cầu; quan hệ cạnh tranh, tạo động lực nâng cao chất lượng hàng hóa để đạt được lợi nhuận tối đa. Trong nền kinh tế thị trường, nhà sản xuất phải chủ động, tích cực tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu với giá thấp nhất, tìm thị trường tiêu thụ nhiều nhất, kích thích tiêu dùng, phát triển sản xuất. Người tiêu dùng luôn có động lực để nâng cao mức sống thơng qua việc thỏa mãn các nhu cầu, họ luôn luôn phải nỗ lực chủ động, tích cực trong lao động để nâng cao thu nhập. Chính vì vậy, cơ chế thị trường tăng tính chủ động, tích cực, sáng tạo cho nhà sản xuất để tìm kiếm thị trường và đạt được lợi nhuận tối đa; Đồng thời, cơ chế thị trường tạo động lực cho người lao động chủ động nâng cao năng lực, chủ động tìm kiếm cơ hội, tăng thu nhập nhằm thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của mình.
<i>Thứ hai, cơ chế thị trường tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người laođộng quyền được tự do hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật</i>
Trong kinh tế thị trường, các chủ thể được quyền tự do kinh doanh; tự do quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai; tự do thỏa thuận hợp đồng, tự quyết định giá và trao đổi theo cung cầu thị trường, tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành.
Người lao động được tự do lựa chọn học ngành nghề, tìm cơng việc phù hợp với năng lực và điều kiện phù hợp với cá nhân, tuân thủ theo quy định của pháp luật. Trong cơ chế thị trường, lao động là hàng hóa. Người lao động được tự do lựa chọn những công việc phát huy được năng lực của bản thân, được trả lương theo năng lực nghề nghiệp. Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">là mối quan hệ bình đẳng, khơng phải là mối quan hệ xin cho. Người sử dụng lao động quan tâm đến người lao động và có quyền được lựa chọn người lao động. Ngược lại, người lao động có quyền lựa chọn người chủ doanh nghiệp của mình. Điều này bắt buộc người sử dụng lao động không ngừng cải thiện các điều kiện để nâng cao chất lượng môi trường làm việc và ngược lại, người lao động không ngừng học tập nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
<i>Thứ ba, cơ chế thị trường nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động</i>
Q trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khơng chỉ địi hỏi cá nhân tính năng động, khẳng định tính tự do của cá nhân mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm của cá nhân đối với công việc, đối với tập thể và cộng đồng, xã hội.
Nếu như trong thời kỳ bao cấp, con người ln có ý thức đối phó trong cơng việc thì trong nền kinh tế thị trường con người buộc phải có ý thức trách nhiệm với cơng việc. Trong nền sản xuất hàng hóa, mỗi một khâu sản xuất mới góp phần tạo ra sản phẩm hồn chỉnh. Vì vậy, mỗi cá nhân người lao động phải có tinh thần trách nhiệm với từng công đoạn sản xuất để quyết định chất lượng sản phẩm cuối cùng. Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng cá nhân có trách nhiệm với cơng việc, sản phẩm lao động của mình, ngăn chặn sự gian dối trong sản xuất, lưu thông, tiêu dùng.
Điều này buộc cá nhân phải nâng cao trách nhiệm trong cơng việc của mình đồng thời họ phải có trách nhiệm với bản thân mình. Trách nhiệm của bản thân cá nhân thể hiện trong việc lựa chọn thái độ sống, mục đích sống cho mình và trong quan hệ với gia đình, xã hội. Đó là sự tích cực nỗ lực tu dưỡng tri thức, đạo đức của bản thân để tự chủ được cuộc sống của mình. Đó là sự quan tâm, chia sẻ với những người thân yêu trong gia đình, với bạn bè, đồng nghiệp.
Quá trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong cơ chế thị trường cịn địi hỏi cá nhân có ý thức trách nhiệm với môi trường sống của cộng đồng, xã hội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Đòi hỏi người sở hữu lao động và người lao động phải tuân thủ những nguyên tắc đạo đức, tuân thủ pháp luật để bảo vệ môi trường tự nhiên - sự sống của con người.
<i>Thứ tư, cơ chế thị trường buộc con người thường xuyên nâng cao trình độ,rèn luyện nâng cao kỹ năng của bản thân </i>
Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu của con người rất lớn và khả năng đáp ứng nhu cầu trong điều kiện kinh tế xã hội đó rất nhanh chóng, do đó, nhu cầu mới liên tục xuất hiện. Sự thỏa mãn nhu cầu gắn liền với những lợi ích nhất định. Tính chất động lực của nhu cầu càng mạnh mẽ là do được thúc đẩy bởi lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ. Vì vậy, để thỏa mãn những nhu cầu gắn liền với những lợi ích vật chất và tinh thần ngày càng cao trong xã hội hiện đaị, con người cần thường xuyên nâng cao trình độ và kỹ năng của bản thân để đáp ứng được những yêu cầu càng cao trong cơng việc để có được những lợi ích tương xứng. Đồng thời, con người cần nâng cao nhận thức văn hóa, kinh nghiệm sống để có chất lượng cuộc sống ngày càng cao. Việc thường xuyên nâng cao trình độ văn hóa, bồi dưỡng các kỹ năng của bản thân giúp họ nhận thức đúng đắn về lợi ích. Đó là sự phù hợp giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích xã hội, hạn chế sự xung đột giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của tập thể, cộng đồng.
<i><b>3.2. Những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường đến đạo đức xã hội</b></i>
Bên cạnh những mặt tích cực của cơ chế thị trường đối với đạo đức xã hội, kinh tế thị trường cũng tác động tiêu cực nhất định đối với đạo đức xã hội
<i>Thứ nhất, kinh tế thị trường chú ý đến lợi ích cá nhân, dễ dẫn đến xung độtgiữa lợi ích cá nhân và lợi ích gia đình, lợi ích xã hội</i>
Nền kinh tế thị trường thúc đẩy con người hành động gắn liền với nhu cầu và lợi ích của cá nhân. Khơng có hành vi nào của con người lại lại không gắn liền với sự thúc đẩy của lợi ích.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Trong xã hội, các lợi ích của cá nhân có thể phù hợp hoặc khơng phù hợp với lợi ích của tập thể, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội cũng dựa trên sự chi phối của đồng tiền. Vì lợi ích của cá nhân là tiền bạc, là quyền lực, là địa vị xã hội… người ta sẵn sàng từ bỏ lợi ích của tập thể, cộng đồng, xã hội. Tình trạng thương mại hóa có thể diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị… đến cả ở những lĩnh vực lấy đạo đức làm đầu là y tế, giáo dục cũng bị chi phối bởi các quy luật của thị trường. Vì lợi ích cá nhân mà người ta có thể hành động bất chấp luân thường đạo lý trong gia đình.
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, do muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân nhưng lười lao động, không biết làm ăn, hoặc làm ăn bất chấp làm khơng ít người sa vào cảnh túng quẫn thành con nợ, hoặc rơi vào con đường phạm tội: cướp của, giết người, buôn lậu…
Có thể nói, lối sống thực dụng đề cao lợi ích cá nhân với các giá trị vật chất đơn thuần vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả cho những xung đột bất hịa trong gia đình giữa cha mẹ với con cái, giữa vợ với chồng, giữa các anh chị em trong gia đình.
<i>Thứ hai, kinh tế thị trường làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng trong xãhội </i>
Kinh tế thị trường là môi trường thuận lợi cho sự phân hóa giàu nghèo phát triển. Sự phân hóa giàu nghèo tăng lên làm tăng sinh bất bình đẳng trong xã hội. Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích giảm nghèo ấn tượng, nhưng tình trạng bất bình đẳng gia tăng với số người siêu giàu đang tăng nhanh. Theo Báo cáo Thịnh vượng (Wealth Report) mới nhất của Knight Frank dự báo. Mức tăng trưởng số người siêu giàu ở Việt Nam là người siêu giàu nhanh hàng đầu thế giới (31%) trong 5 năm tới, dự kiến đến năm 2025.
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Bất bình đẳng về kinh tế đi cùng với bất bình đẳng về giáo dục, y tế. Bất bình đẳng kinh tế cũng tác động đến bất bình đẳng về giới. Trong nhiều thế hệ, lao động nữ thường khơng có kỹ năng và khơng qua đào tạo, chỉ giới hạn trong các công việc sử dụng nhiều lao động và lương thấp. Lao động nam có thu nhập trung bình cao hơn 33% so với lao động nữ. Tình trạng trọng nam khinh nữ ở các lĩnh vực của đời sống vẫn còn phổ biến. Nam giới cũng kiểm soát đất đai và các tài sản quý khác nhiều hơn.
<i>Thứ ba, cơ chế thị trường làm gia tăng các tệ nạn xã hội làm suy giảm các, giá trị đạo đức truyền thống.</i>
Trong nền kinh tế thị trường, sức hấp dẫn của lợi nhuận làm cho con người có thể bất chấp ln thường đạo lý, khơng từ một thủ đoạn nào để có được lợi nhuận. Trong sản xuất, trao đổi hàng hóa, người ta có thể lừa gạt nhau bằng những thủ đoạn, mánh lới, làm hàng giả, hàng nhái…
Trong đời sống xã hội, quan hệ đồng tiền chi phối công khai hoặc ngấm ngầm trong mọi lĩnh vực ngành nghề. Trước thực trạng xuống cấp về đạo đức cá nhân, đạo đức trong gia đình, xã hội, mọi mệnh lệnh hành chính, hay những khẩu hiệu về đạo đức sẽ trở nên phản tác dụng. Để đạo đức phát huy được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường phải đi liền với việc thực thi pháp luật nghiêm minh.
Kinh tế thị trường làm tăng sự tự do của con người. Công dân được tự do đi lại, cư trú, tự do kinh doanh những ngành nghề, hàng hóa mà pháp luật cho phép. Điều này mang lại cho người dân nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, mặt trái của sự tự do trong cơ chế thị trường lại làm cho con người dễ buông thả lối sống. Việc thanh
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">niên đề cao sự tự do cá nhân, thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình nhiều thế hệ khiến cho họ dễ sống buông thả, vô trách nhiệm với bản thân và gia đình.
Sự thiếu gắn kết giữa cá nhân với gia đình hoặc sự gắn kết lỏng lẻo giữa cha mẹ và con cái trong gia đình thời cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đã làm trẻ vị thành niên rơi vào những khủng hoảng giá trị. Khi không nhận được sự yêu thương, chia sẻ, cảm thơng từ gia đình, trẻ vị thành niên dễ đánh mất đi những tình cảm gia đình thiêng liêng. Khơng ít trẻ vị thành niên mang thai ở độ tuổi học đường mà cha mẹ và người thân không biết; Khơng ít trẻ vị thành niên có thái độ coi thường cha mẹ, hỗn láo với cha mẹ, bỏ học tham gia vào các tệ nạn xã hội
Do nền kinh tế thị trường yêu cầu cao về lao động, nên một bộ phận người lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc, hoặc do lười biếng đã trở thành những kẻ lưu manh, trộm cướp, kinh doanh cờ bạc, lơ đề, địi nợ th…Đối tượng này đang uy hiếp cuộc sống bình yên của người dân từ nông thôn ra thành thị.
Do kinh tế thị trường tạo điều kiện cho công dân được tự do tham gia các thành phần kinh tế nhưng do luật pháp và các thủ tục cải cách hành chính cịn trong quá trình xây dựng. Tội phạm đã lợi dụng khe hở của pháp luật của chính sách nhà nước để làm ăn phi pháp. Cơ chế thị trường làm nảy sinh rất nhiều loại tội phạm nguy hiểm: tội phạm công nghệ, tội phạm rửa tiền, tội phạm buôn lậu, tội phạm ma túy… khơng những làm suy thối nền kinh tế, chính trị mà cịn làm suy thối đạo đức xã hội.
Đặc biệt sự suy thoái đạo đức diễn ra trong một bộ phận cán bộ cơng chức có quyền chức, địa vị cao trong bộ máy công quyền. Khi lợi nhuận là mục tiêu của các nhà sản xuất, kinh doanh, để đạt được điều đó, khơng ít các cá nhân, doanh nghiệp đã tìm mọi cách mua chuộc đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước ở những vị
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">trí cao cấp có quyền lực như cán bộ hải quan, cán bộ thị trường, cán bộ thuế… những cán bộ giữ vị trí cấp cao ở huyện, tỉnh, thành phố cấp trung ương đều là đối tượng dễ bị mua chuộc. Hình thức tham nhũng hiện nay mn hình vạn trạng, từ trực tiếp đến gián tiếp, bằng tiền bạc hoặc hiện vật: vàng, đơla, nhà đất biệt thự…
Có thể nói, những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức xã hôi đặt ra vấn đề cần nâng cao dân trí xã hội, bởi trình độ dân trí của con người là yếu tố quyết định nhận thức và hành động đạo đức. Cùng với đó, để điều chỉnh nhận thức và hành vi đạo đức cá nhân, khắc phục sự tha hóa do cơ cấu xã hội sinh ra, cần gắn đạo đức với việc <i>thực thi pháp luật,</i> với <i>tòa án dư luận. </i>Tòa án dư luận có vai trị tác động lên nhận thức, lương tâm của con người, để họ tự điều chỉnh hành vi đạo đức một cách tự nguyện.
<b>3. Vai trò của đạo đức trong nền kinh tế thị trường </b>
Vai trò của đạo đức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở những khía cạnh sau:
<i>Thứ nhất, đạo đức góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nềnkinh tế thị trường</i>
Việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một vấn đề chưa có trong tiền lệ lịch sử. Để giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, đạo đức có vai trò quan trọng.
Trước hết đối với cán bộ, việc tu dưỡng đạo đức giúp họ nhận thức đúng đắn về lợi ích. Đó là lợi ích cho dân, cho quốc gia chứ khơng phải vì lợi ích cá nhân. Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa không thể theo đuổi chủ nghĩa vị kỷ, mà là sự tiến bộ chung của con người. Nó không chấp nhận sự làm giàu
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">bất chính, làm giàu bằng bất cứ giá nào. Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường nước ta đòi hỏi người lãnh đạo, người quản lý vừa có tài năng và đạo đức.
Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, người lãnh đạo cần có tinh thần đạo đức vì dân, vì nước, chứ khơng phải là lợi ích của cá nhân hay một nhóm người. Khơng chỉ vậy, việc xây dựng, thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cần có những cơng dân yêu nước, yêu lao động, cần cù và sáng tạo.
Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, vấn đề của đạo đức là cần giải quyết hài hòa, đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi lợi ích cộng đồng và lợi ích xã hội.
<i>Thứ hai, đạo đức có vai trò giáo dục, phát triển nhân cách con người trongcơ chế thị trường</i>
Quan niệm duy vật lịch sử nhìn nhận sự hình thành và phát triển nhân cách chịu sự quy định của các điều kiện tồn tại xã hội trong đó nổi bật là sự quy định của điều kiện kinh tế và điều kiện giáo dục trong một giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội. Vì vậy, nhân cách của con người trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khơng thể thiếu được vai trị của đạo đức.
Chuyển sang cơ chế thị trường, dưới tác động của các điều kiện kinh tế xã hội đến cá nhân, điều dễ nhận thấy sự gia tăng tính tích cực của nhân cách. Trong cơ chế thị trường, lợi ích cá nhân được khuyến khích và bảo đảm bằng pháp luật. Cơ chế thị trường tạo ra các điều kiện thuận lợi để cá nhân tham gia vào các quan hệ kinh tế, xã hội đa dạng. Việc mở rộng quan hệ xã hội, gia tăng các hoạt động kinh tế xã hội của con người khiến cho lợi ích của con người được mở rộng, tạo động lực cho con người tích cực, năng động hơn. Những phẩm chất, tính cách mới
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">như sự khôn ngoan, mạnh dạn, kiên trì, linh hoạt trở nên nổi bật, tiêu biểu cho nhân cách của con người trong cơ chế thị trường.
Tuy nhiên, những biểu hiện của tính cách mới này chưa bảo đảm cho cá nhân khẳng định những tính tích cực của nhân cách. Khi những lợi ích trở nên hấp dẫn, thì sự khơn ngoan, linh hoạt, mạnh dạn, mạo hiểm, khơng cịn là sự biểu hiện của sức mạnh bản chất của con người. Trái lại, khi những tính cách mới này kết hợp với lối sống ích kỷ, hưởng thụ, đề cao vật chất, chúng dễ biến thành phương tiện đánh thức những thói xấu đạo đức như tham lam, tham ô, tham nhũng, lừa đảo, … trong con người. Những tính cách đạo đức này sẽ dẫn đến sự méo mó nhân cách, làm đối lập lợi ích giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội. Thực tiễn cho thấy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tồn tại 35 năm nhưng đã có một bộ phận khơng nhỏ đảng viên, cán bộ có địa vị quyền chức trong các cơ quan cơng quyền sa đạo về lối sống, đạo đức. Để khắc phục tình trạng này, Đảng và Nhà nước ta khẳng định, giáo dục đào tạo, trong đó có giáo dục đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu. Giáo dục đạo đức sẽ góp phần quan trọng vào việc đánh thức lương tâm, ý thức trách nhiệm, ý thức về nhân cách của con người, biến ý chí và sự khơn ngoan của con người thành sức mạnh sáng tạo, xây dựng, cống hiến đem lại lợi ích cho mình phù hợp với các mối quan hệ xã hội chứ không phải cản trở sự phát triển của xã hội.
Dưới áp lực cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, con người ln phải tự thể hiện mình, tự khẳng định mình. Muốn khẳng định mình, cá nhân phải ln nỗ lực và vượt trội hơn người khác. Cơ chế thị trường ở khía cạnh này tạo động lực cho cá nhân phát triển. Tuy nhiên, nhu cầu về khẳng định mình, vượt trội của bản thân dẫn đến sự đối lập nhất định giữa giá trị đích thực của nhân cách với hình thức biểu hiện nhân cách. Khơng ít cá nhân khẳng định bản thân bằng hình thức phơ trương, sự đua địi chạy theo vật chất hào nhống về hình thức nhưng thực lực
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">khơng có… Đó là những hiện tượng che dấu sự nghèo nàn và méo mó về nhân cách. Trong điều kiện đó, giáo dục đạo đức phải hình thành và củng cố lối sống chân thật, củng cố niềm tin về những giá trị đích thực và lâu bền của con người. Đó là tình thương, trách nhiệm, sự trung thực, khiêm tốn, giản dị, là những phẩm chất đạo đức có giá trị với mọi thời đại.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ. Khi con người dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội, trên bình diện nhân cách, làm nảy sinh sự mất cân bằng trong giao tiếp, sự thiên lệch trong đời sống tình cảm của con người làm cho con người trở nên hời hợt, phiến diện, thiếu gắn kết với gia đình với thiên nhiên. Điều này tác động xấu đến nhân cách con người. Vì vậy, giáo dục đạo đức trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có vai trị <i>ni dưỡng tính nhân văn t</i>rong bản chất của con người. Bằng giáo dục đạo đức, sự gắn kết giữa cá nhân với gia đình, giữa con người với tự nhiên làm phong phú, mạnh mẽ thế giới tình cảm của con người. Sự gia tăng tình cảm nhân tính của con người sẽ kích thích khát vọng nhận thức và hành động sống tích cực, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội.
<i>Thứ ba, vai trò của đạo đức trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa góp phần phát huy các giá trị đạo đức truyền thống</i>
Sự tác động của nền kinh tế thị trường đến đời sống kinh tế, xã hội đã khiến cho nhiều giá trị đạo đức truyền thống và nếp sống văn hóa vận động và biến đổi. Cùng với sự xuất hiện của các giá trị đạo đức mới, nếp sống văn hóa mới lành mạnh phù hợp với sự phát triển kinh tế thì đã có những giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống văn hóa tốt đẹp của dân tộc có nguy cơ bị xâm hại và mai một. Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận khơng nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả các cán bộ tổ chức có quyền.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Trước tình hình đó, vấn đề giữ gìn đạo đức và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Nhận thức được tầm quan trọng , ý nghĩa to lớn và sự bức thiết của việc giữ gìn các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa các dân tộc trên thế giới làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam; đấu tranh chống lại sự thâm nhập của các loại văn hóa độc hại, những khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất ngốc. Khắc phục tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn” . Các giá trị đạo đức truyền thống mà dân tộc ta có<small>1</small> được trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước trở thành bộ phận cốt lõi trong các giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Đó là lịng u nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đồn kết, ý thức gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, sự giản dị trong lối sống. Các giá trị đạo đức truyền thống này vừa là cơ sở, vừa là động lực của dân tộc ta trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, giao lưu và tiếp biến văn hóa, là yếu tố cơ bản tạo dựng nên bản sắc văn hóa dân tộc, bản lĩnh và nhân cách con người Việt Nam.
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội. Đời sống kinh tế xã hội thay đổi tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi trong đạo đức xã hội. Tuy nhiên, ý thức đạo đức có tính ổn định bền vững so với các hình thái ý thức xã hội <small>1 Đảng Cộng Sản Việt Nam: </small><i><small>Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII</small></i><small>, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội, 1996, tr. 111.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">khác trong mối quan hệ tác động với tồn tại xã hội. Thực tế cho thấy, có nhiều quan niệm đạo đức truyền thống ăn sâu vào tiềm thức của cá nhân, phong tục tập quán của cộng đồng. Các quan niệm đạo đức được lưu truyền từ đời này qua đời khác có sức sống bền vững trong lịng dân tộc. Đạo đức có tính dân tộc nhưng nó cũng có tính thời đại. Vì vậy, trước những tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của nền kinh tế thị trường, ý thức đạo đức đứng trước sự chuyển đổi các giá trị dù nhanh hay chậm.
<b>III. Sự chuyển biến các giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay</b>
<i><b>1. Giá trị và giá trị đạo đức </b></i>
Khái niệm giá trị ra đời từ thời kỳ cổ đại, gắn liền với triết học và nằm trong cấu trúc của triết học. Sau này khái niệm giá trị được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học. “Giá trị là các tư tưởng bao quát được cùng nhau tin tưởng mạnh mẽ ở một nhóm người, một giai tầng, một dân tộc hoặc một thời đại về cái gì là đúng, sai, thiện, ác hợp lý hay không hợp lý, xấu, tốt.” Giá trị là một khái niệm<small>2</small> đặc thù, thỏa mãn những nhu cầu nhất định của con người, có vị trí quan trọng trong đời sống của xã hội. Một sự vật, hiện tượng được coi là giá trị phải thông qua sự đánh giá của con người. Mỗi giai đoạn lịch sử xã hội nhất định, giá trị được nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Giá trị được chia thành nhiều loại: giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ…
<i>Giá trị đạo đức là những chuẩn mực, những khuôn mẫu, lý tưởng về mặtđạo đức, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa các hành vi đạođức của con người trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.</i>
<small>2 Huỳnh Khái Vinh (chủ biên): </small><i><small>Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội,</small></i><small> Nxb Chính trịQuốc gia Hà Nội, 2001, tr. 52,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><b>2. Sự chuyển biến các giá trị đạo đức ở Việt Nam hiện nay</b>
<i><b>2.1. Những nhân tố tác động đến sự chuyển biến giá trị đạo đức ở ViệtNam hiện nay</b></i>
<i>Thứ nhất, sự chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa. </i>
Nền kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp ở nước ta vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về việc thu nhập. Nhà nước thực hiện can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế, không coi trọng các quy luật thị trường. Trong cơ chế quan liêu bao cấp, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác sẽ không được chú trọng.
Khác với cơ chế quan liêu bao cấp, cơ chế thị trường đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh theo các quy luật của thị trường: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Cơ chế thị trường kích thích tính năng động, tích cực, nỗ lực của cá nhân ln nâng cao tri thức, tìm kiếm các cơ hội việc làm, mang lại hiệu quả công việc, hiệu quả kinh doanh, nâng cao thu nhập tương ứng.
<i>Thứ hai, sự nghiệp cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước</i>
“Cơng nghiệp hóa là q trình chuyển đổi căn bản tồn diện các hoạt động kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ cơng là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” . <small>3</small>
Q trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước chuyển lao động thủ cơng sang lao động bằng may móc, dây chuyền cơng nghệ. Thực tiễn này, đòi hỏi người lao động phải có những nguyên tắc đạo đức mới: tác phong lao động khẩn trương, có kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm. Ngồi việc nâng cao trình độ chun mơn, kỹ
<small>3 Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Trung ướng 7 Đại hội VII, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội, 1994, tr.4.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">năng nghề nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động cần có sự thay đổi trong tư duy, nhận thức; từ tư duy bị động sang tư duy chủ động, nhanh nhạy; từ tư duy kinh nghiệm sang tư duy hiệu quả kinh tế, từ tư duy manh muốn sang tư duy liên kết, hội nhập.
<i>Thứ ba, q trình dân chủ hóa trong đời sống xã hội</i>
<i>“Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”</i><small>4</small>. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp, thơng qua các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó nịng cốt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trên cơ sở nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Khơng có dân chủ thì khơng có chủ nghĩa xã
<i>hội. Với tư cách là đỉnh cao trong tồn bộ lịch sử tiến hố của dân chủ, dân chủ xã</i>
hội chủ nghĩa kết tinh trong bản thân mình tồn bộ những giá trị dân chủ đạt được trong lịch sử và nảy sinh những giá trị dân chủ mới về chất. Ở đây, dân chủ trở thành giá trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi quan hệ chính trị - xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao quát mọi góc độ trong sự tồn tại của con người, tạo ra ngày càng đầy đủ những điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người. Đây cũng là căn cứ để Đảng ta xác định, dân chủ là một trong những thành tố quan trọng trong hệ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, <i>dân chủ</i>, công bằng, văn minh”.
Tuy nhiên, “Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi cịn bị vi phạm; vẫn cịn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật” . Do<small>5</small>
hoạt động của hệ thống chính trị chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả, các điều kiện để
<small>4</small><i><small>Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi</small></i>
<i><small>lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đăng trên Báo Nhân dân, ngày 16/5/2021.</small></i>
<small>5ĐCSVN – </small><i><small>Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, </small></i><small>Tập I, Nxb Chính trị quốc gia, sự thật, Hà nội. 2021, tr. 89.</small>
</div>