Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (242.08 KB, 36 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>ĐỀ TÀI 6: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤPTHƯƠNG MẠI QUA HOÀ GIẢI VÀ HOÀ GIẢI TRỰC TUYẾN </b>
<b>Sinh viên thực hiện: Nhóm 7</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>ĐỀ TÀI 6: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤPTHƯƠNG MẠI QUA HOÀ GIẢI VÀ HOÀ GIẢI TRỰC TUYẾN</b>
<b>Sinh viên thực hiện: Nhóm 7</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Giải quyết tranh chấp trực tuyến đã có nhiều bước phát triển trong khoảng thời gian hơn 20 năm trở lại đây. Dưới tác động của đại dịch Covid và nhu cầu giải quyết các tranh chấp quốc tế trong thời gian giãn cách xã hội, hòa giải trực tuyến đang nổi lên như một trong những chủ đề được quan tâm gần đây. Trong năm 2020, chỉ tính riêng tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã ghi nhận hai phiên hòa giải thương mại đã được thực hiện hoàn toàn trên nền tảng trực tuyến được thực hiện thông qua các phương thức được hỗ trợ bởi VIAC. Tháng 6 năm 2020, Trung tâm trọng tài quốc tế Hà Nội (HIAC) đã phát triển nền tảng hòa giải thương mại trực tuyến đầu tiên ở Việt Nam. Theo đó hịa giải viên thương mại có thể xét xử trực tuyến trên nền tảng này chỉ khi các bên đồng ý. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có báo cáo về vụ việc nào đã được giải quyết bằng nền tảng này.
Vậy hòa giải trực tuyến khác biệt như thế nào so với hòa giải truyền thống, đâu là những khó khăn khiến cho việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải trực tuyến vẫn chưa được sử dụng và phát triển tại Việt Nam? Cho đến thời điểm này, nước ta vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào được ban hành để trực tiếp điều chỉnh về hòa giải trực tuyến trong giải quyết tranh chấp thương mại. Từ những phân tích trên, có thể thấy, vì chưa có quy định pháp luật cụ thể nào điều chỉnh trực tiếp vấn đề này nên việc áp dụng phương thức hòa giải trực tuyến trọng giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam là tương đối khó khăn dù phương thức này thực sự có triển vọng phát triển tại nước ta nhờ những ưu điểm của nó. Chính vì vậy, việc xây dựng phương thức hòa giải trực tuyến trọng giải quyết tranh chấp thương mại để triển khai tại Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế là yêu cầu cấp thiết được đặt ra. Do đó, từ những lý do trên, chúng em lựa chọn đề tài “quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại qua hoà giải và hoà giải trực tuyến”.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>LỜI MỞ ĐẦU...iiiMỤC LỤC...ivCHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANHCHẤP THƯƠNG MẠI QUA HOÀ GIẢI VÀ HOÀ GIẢI TRỰC TUYẾN....1</b>
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI...1 1.2. KHÁI QUÁT VỀ HÒA GIẢI VÀ HÒA GIẢI TRỰC TUYẾN...4
<b>CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆNPHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUAHOÀ GIẢI VÀ HOÀ GIẢI TRỰC TUYẾN...10</b>
2.1. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI TẠI TỔ CHỨC HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI...10 2.2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI TẠI TỔ CHỨC HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI...15 2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT...18
<b>CHƯƠNG 3: VÍ DỤ THỰC TIỄN...22CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰCHIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠIQUA HOÀ GIẢI VÀ HOÀ GIẢI TRỰC TUYẾN...26</b>
4.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/2017/NĐ-CP VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI...26 4.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRỰC TUYẾN...27
<b>KẾT LUẬN...v</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...vi</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>1.1.1. Tranh chấp thương mại 1.1.1.1.Khái niệm</b>
Đầu tiên, Luật thương mại năm 2005 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về tranh chấp thương mại, song với sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương mại” theo nghĩa rộng đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về thương mại và tranh chấp thương mại của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”
Dựa vào khái niệm trên có thể suy ra khái niệm về tranh chấp thương mại như sau: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng) giữa hai bên hợp tác với nhau về quyền, nghĩa vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại.
Thứ hai, Điều 51 Luật giao dịch điện tử 2005 quy định: “Tranh chấp trong giao dịch điện tử là tranh chấp phát sinh trong quá trình giao dịch bằng phương tiện điện tử”.
Trên cơ sở hai khái niệm được nêu trong hai bộ luật trên, ta rút ra được khái niệm tranh chấp trong TMĐT như sau: Tranh chấp trong TMĐT là tranh chấp xảy ra khi có sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hoạt động TMĐT.
<b>1.1.1.2.Phân loại tranh chấp thương mại</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Dựa trên những căn cứ pháp lý khác nhau, tranh chấp thương mại được chia thành các loại tranh chấp sau:
<i>Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: bao gồm tranh chấp thương mại trong nước</i>
và tranh chấp thương mại quốc tế.
<i>Căn cứ vào số lượng các bên tranh chấp: bao gồm tranh chấp thương mại</i>
hai bên và tranh chấp thương mại nhiều bên.
<i>Căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp: bao gồm tranh chấp liên quan đến hợp</i>
đồng, tranh chấp về sở hữu trí tuệ, đầu tư, tài chính...
<i>Căn cứ vào quá trình thực hiện: bao gồm các tranh chấp trong quá trình</i>
đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng và tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.
<i>Căn cứ vào thời điểm phát sinh tranh chấp: bao gồm tranh chấp thương mại</i>
hiện tại và tranh chấp thuơng mại trong tương lai.
<b>1.1.2. Giải quyết tranh chấp thương mại</b>
<b>1.1.2.1.Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại</b>
Các văn bản pháp luật hiện nay đã chỉ ra rằng, để giải quyết tranh chấp trong giao dịch nói chung và trong giao dịch TMĐT nói riêng, ta có 4 phương thức. Cụ thể tại Điều 317 Luật thương mại 2005 quy định như sau:
Hình thức giải quyết tranh chấp: 1. Thương lượng giữa các bên.
2. Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án: Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Tồ án do pháp luật quy định.
Theo đó, ta có thể làm rõ và hiểu đơn giản về 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại trên như sau:
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><i>Thương lượng: là phương thức giải quyết tranh chấp do hai bên thỏa thuận</i>
với nhau. Theo phương thức này, các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc và thống nhất giải quyết tranh chấp giữa các bên mà khơng có sự xuất hiện của bên thứ ba.
<i>Hịa giải: là phương thức giải quyết tranh chấp thỏa thuận với nhau. Theo</i>
phương thức này, một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận lựa chọn làm trung gian hòa giải. Bên trung gian hòa giải sẽ hỗ trợ các bên giải quyết các tranh chấp.
<i>Trọng tài thương mại: là phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinh</i>
trong hoạt động thương mại do các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau và được thực hiện theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Theo phương thức này, hội đồng trọng tài do các bên thành lập sẽ đứng ra giải quyết tranh chấp của các bên.
<i>Tòa án: Tòa án là phương thức giải quyết các tranh chấp trọng hoạt động</i>
kinh doanh, thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo phương thức này, hội đồng xét xử sẽ đứng ra giải quyết tranh chấp của các bên.
<b>1.1.2.2.Giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR)</b>
<i>Khái niệm về Giải quyết tranh chấp trực tuyến: </i>
Theo các chuyên gia pháp lí "giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online Dispute Resolution - ODR)" là một thuật ngữ ghép giữa trực tuyến (Online) và giải quyết tranh chấp thay tthế (ADR).
Do đó ODR được hiểu một cách rộng rãi trên thế giới như là việc sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế với sự hỗ trợ của mạng Internet. Với đặc điểm này ODR bao gồm một loạt các quy trình giải quyết tranh chấp thay thế được thực hiện qua cơ chế trực tuyến như internet hoặc một số hình thức cơng nghệ cho phép thực hiện các kết nối thông tin ảo trên mạng mà khơng địi hỏi các bên phải liên hệ trực tiếp trong một không gian vật chất nhất định. Hiện tại, ODR là phương thức giải quyết tranh chấp hiện đại gắn liền với TMĐT vì tính linh hoạt và hiệu quả, phù hợp với lợi ích của các bên.
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Vào tháng 6/2020, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hà Nội (HIAC) là tổ chức Trọng tài đầu tiên tại Việt Nam cung cấp nền tảng cho phép thực hiện việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải và/hoặc tố tụng trọng tài trực tuyến đầu tiên tại Việt Nam (ODR) trên website: www.hiac.vn.
<i>Cơ chế hoạt động của hệ thống ODR: </i>
Tùy theo chức năng và phạm vi hoạt động của từng tổ chức ODR, hệ thống ODR sẽ cho phép các bên thực hiện thủ tục giải quyết vụ việc tranh chấp của mình bằng một, hai hay cả ba phương thức sau:
(i) Thương lượng trực tuyến giữa các bên tranh chấp;
(ii) Hòa giải vụ việc tranh chấp trực tuyến giữa các bên với sự tham gia của hòa giải viên thuộc tổ chức ODR;
(iii) Xét xử vụ việc theo thủ tục trọng tài trực tuyến nếu tổ chức ODR có chức năng hoạt động trọng tài.
<i>Một vài đặc điểm của Giải quyết tranh chấp trực tuyến: </i>
ODR cho phép các bên có thể thực hiện được tồn bộ q trình xử lý vụ việc trên nền tảng ODR online mà các bên được cấp quyền truy cập. Việc này giúp cho việc giải quyết vụ việc tranh chấp trở nên rất thuận tiện, thúc đẩy tiến trình giải quyết vụ việc nhanh và hiệu quả hơn nhiều so với phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống tại tòa án.
Việc kiểm tra, xem xét tài liệu, chứng cứ của các bên nộp cho tổ chức ODR sẽ được công nghệ hỗ trợ rất nhiều. Đối với những tài liệu cần xác minh, xác thực thì tổ chức ODR có thể u cầu các bên tranh chấp cung cấp bản gốc, bản sao chứng thực hoặc thực hiện ký chữ ký số vào tài liệu đó để xác nhận, chịu trách nhiệm pháp lý.
Hệ thống ODR cũng cho phép các bên tranh chấp có thể gặp nhau trực tuyến để trao đổi thương lượng, hịa giải, xét xử trọng tài theo hình thức text communication (trao đổi tin nhắn, chat) hoặc video conference (họp trực tuyến) rất tiện lợi, giúp đẩy nhanh được tốc độ giải quyết vụ việc tranh chấp cho các bên.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Do có thể thực hiện toàn bộ thủ tục giải quyết tranh chấp qua mạng internet nên mức phí dịch vụ hòa giải hay trọng tài trực tuyến của các tổ chức ODR khá thấp so với các phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống.
<b>1.2.KHÁI QUÁT VỀ HÒA GIẢI VÀ HỊA GIẢI TRỰC TUYẾN1.2.1. Khái qt về Hịa giải</b>
<b>1.2.1.1.Khái niệm</b>
Theo Từ điển tiếng Việt, hòa giải là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa”
Từ định nghĩa này, có thể thấy hịa giải có một số đặc trưng sau:
<i>Một là, hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp. </i>
<i>Hai là, hịa giải có bên thứ ba làm bên trung gian giúp cho các bên thỏa</i>
thuận với nhau về giải quyết mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp. ðiều này làm cho hịa giải có sự khác biệt với thương lượng. Người trung gian phải có vị trí độc lập với các bên và hồn tồn khơng có lợi ích liên quan ñến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và khơng có quyền đưa ra phán quyết.
<i>Ba là, hoà giải trước hết là sự thoả thuận, thể hiện ý chí và quyền định</i>
đoạt của chính các bên tranh chấp. Nói cách khác, chủ thể của quan hệ hồ giải phải chính là các bên tranh chấp. Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hịa giải khơng có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên.
Với các đặc trưng trên, có thể hiểu hịa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, làm trung gian, giúp các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết ñược những bất đồng và đạt được thỏa thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó.
<b>1.2.1.2.Các hình thức hịa giải </b>
Ở nước ta hiện nay có những hình thức hịa giải khác nhau: Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án, Hòa giải trong tố tụng trọng tài, Hòa giải tranh chấp
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">lao động, Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Hòa giải ở cơ sở.
<i>Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án: Hòa giải trong tố tụng dân sự</i>
của Tòa án là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hơn nhân và gia đình, thương mại, lao ñộng, trừ những trường hợp pháp luật quy định khơng được hịa giải hoặc khơng tiến hành hịa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Trường hợp các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Tịa án lập biên bản hịa giải thành. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hịa giải thành mà khơng có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì Thẩm phán chủ trì phiên hịa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tịa án phân cơng phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và khơng bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
<i>Hòa giải trong tố tụng trọng tài: Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại</i>
trọng tài, các bên tranh chấp có thể thương lượng, tự hịa giải hoặc đề nghị trọng tài giúp các bên hịa giải. Trọng tài cũng có thể chủ động tự mình tiến hành hịa giải các bên. Nếu các bên thơng qua hịa giải giải quyết được tranh chấp thì có thể u cầu trọng tài viên xác nhận sự thỏa thuận đó bằng văn bản, lập biên bản hịa giải thành và cơng nhận sự thỏa thuận của các bên. Văn bản này có giá trị như quyết định trọng tài - có hiệu lực thi hành, khơng bị kháng cáo.
<i>Hịa giải tranh chấp lao động: Hòa giải tranh chấp lao động được Hội</i>
đồng trọng tài lao động hoặc hịa giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hòa giải viên lao động) tiến hành khi có tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề giữa người lao động với người sử dụng lao động. Thẩm quyền và trình tự hịa giải tranh chấp lao động được quy định tại Bộ luật Lao động.
<i>Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn:</i>
Đây là việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">chấp đối với các tranh chấp về ñất đai theo quy định của Luật đất đai năm 2013. Tại điều 202 Luật đất đai năm 2013 quy định việc hịa giải tranh chấp đất đai như sau:
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thơng qua hịa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp khơng hịa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hịa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hịa giải thành hoặc hịa giải khơng thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi ñến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hịa giải đến Phịng Tài ngun và Mơi trường ñối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
<i>Hòa giải ở cơ sở: Khác với các loại hình hịa giải nêu trên, hòa giải ở cơ</i>
sở trước hết xuất phát từ đặc điểm lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc. Ở Việt Nam, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước với nhu cầu làm thủy lợi, đắp đê, chống lụt, thêm vào đó là nguy cơ giặc ngoại xâm ln đe dọa đã khiến cho người Việt cổ sớm hình thành lối sống cộng đồng, truyền thống đồn kết, tương thân, thương ái. Trong các làng xã cổ truyền, người nông dân quen sống với các mối quan hệ xóm làng, huyết thống ràng buộc nhau một cách chặt chẽ, do đó họ rất coi trọng tình làng, nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Nếu có xích mích, mâu thuẫn,
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dịng họ, hàng xóm láng giềng thì họ chủ trương “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn, xây dựng cộng đồng hòa thuận, yên vui, hạnh phúc. Vì vậy, hịa giải được xem là phương án tối ưu để giải quyết xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân… Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này”. Như vậy, có thể hiểu rằng, hịa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật nhằm giữ gìn đồn kết và tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân, củng cố phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an tồn xã hội trong cộng đồng dân cư. Hoạt động hịa giải được thơng qua các hịa giải viên ở các tổ hòa giải.
<b>1.2.2. Khái quát về Hòa giải trực tuyến1.2.2.1.Khái niệm </b>
Theo Ethan Katsh và Janet Rifkin, hòa giải trực tuyến được định nghĩa là “một phương thức giải quyết tranh chấp mà ở đó tranh chấp giữa các bên được giải quyết một phần hoặc toàn bộ trực tuyến bởi một bên thứ ba là hòa giải viên nhằm đạt được một thỏa thuận chung.” Như vậy, hòa giải trực tuyến vẫn mang đặc điểm cơ bản của phương thức hịa giải, chính là việc giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua một bên thứ ba. Tuy nhiên, khác với hịa giải truyền thống, một phần hoặc tồn bộ quy trình hịa giải sẽ được tiến hành thơng qua cách thức trực tuyến. Do đó, sự phát triển của hòa giải trực tuyến gắn liền với sự phát triển và hiện đại hóa của các giải pháp cơng nghệ. Từ những nền tảng cho phép trao đổi email trong q trình hịa giải, cho tới những nền tảng cho phép tiến hành hịa giải hồn tồn trực tuyến, yếu tố cơng nghệ giúp hịa giải được thực hiện ngày càng dễ dàng hơn mà không làm mất đi bản chất của phương thức giải quyết tranh chấp này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><b>1.2.2.2.Loại tranh chấp được giải quyết bằng hịa giải trực tuyến</b>
Việc sử dụng các yếu tố cơng nghệ khiến hòa giải trực tuyến phù hợp với các tranh chấp giữa các bên khơng có khả năng, bị hạn chế khả năng hoặc khơng thích gặp gỡ trực tiếp. Bên cạnh đó, hịa giải trực tuyến phù hợp với các tranh chấp mà ở đó quyền lực của các bên tranh chấp khơng có sự chênh lệch q lớn. Hiện nay, hòa giải trực tuyến được sử dụng trong nhiều loại tranh chấp, như tranh chấp về mua bán hàng hóa, bảo hiểm, xây dựng, cho thuê mặt bằng, … Đặc biệt, hòa giải trực tuyến phổ biến trong thương mại điện tử (bao gồm TMĐT ở các hình thức B2C, C2C, B2B …) do thương nhân hoạt động TMĐT thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><b>THƯƠNG MẠI TẠI TỔ CHỨC HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI</b>
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải thương mại có tính chuyên nghiệp đã được quy định tại một số văn bản pháp luật, như Bộ luật Hàng hải, Luật Thương mại, Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ người tiêu dùng…Hiện nay, khuôn khổ pháp lý về hoà giải thương mại tại tổ chức hoà giải thương mại ở Việt Nam được xây dựng tương đối đầy đủ. Qua đó, một cơ chế giải quyết tranh chấp hồ bình, thân thiện và nhanh chóng được hình thành.
<b>2.1.1. Quy định pháp luật về hòa giải trực tuyến2.1.1.1.Quy định pháp luật về dân sự, thương mại</b>
Tại Việt Nam, các luật liên quan đến doanh nghiệp, thương mại, người tiêu dùng đã có những quy định khuyến khích các bên liên quan lựa chọn các phương thức ADR, trong đó có hịa giải, khi giải quyết tranh chấp. Quy định của pháp luật dân sự không hạn chế phương thức xác lập giao dịch và giải quyết tranh chấp (bao gồm cả các phương thức trực tuyến).
Các văn bản Luật Giao dịch điện tử 2005, Luật Công nghệ thông tin 2006 và nhiều văn bản dưới luật đã góp phần tạo nền tảng pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ trong giải quyết tranh chấp, trong đó có hịa giải trực tuyến. Luật Giao dịch điện tử 2005 đã đưa ra các quy định cụ thể về thông điệp điện tử, chữ ký điện tử, tạo ra cơ sở pháp lý cho việc sử dụng phương tiện điện tử trong giao dịch dân sự và kinh doanh thương mại. Các Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT, Nghị định 130/2018/NĐ-CP về chữ ký số về dịch chứng thực chữ ký số, Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và cung cấp thông tin điện tử trên Internet cũng góp phần tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại trực tuyến.
<b>2.1.1.2.Quy định pháp luật về hòa giải thương mại</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Hiện nay, Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại là văn bản quy định cụ thể về hoạt động hòa giải thương mại. Theo Nghị định này, 03 nguyên tắc cần tuân thủ khi giải quyết tranh chấp bằng hịa giải bao gồm:
(i) Tự nguyện và bình đẳng;
(ii) Giữ bí mật về vụ việc hịa giải và
(iii) Nội dung thỏa thuận hịa giải khơng vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức, xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền của bên thứ ba.
Các nguyên tắc này phù hợp với các điều kiện công nhận kết quả hịa giải thành ngồi tịa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các nguyên tắc thực hiện hòa giải để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
Về phương thức tiến hành hòa giải, Nghị định 22/2017/NĐ-CP không quy định cụ thể về hoạt động hịa giải trực tuyến và khơng hạn chế phương thức giao tiếp, liên lạc giữa các bên. Đồng thời, theo Nghị định này, các bên và hòa giải viên được quyền lựa chọn trình tự, thủ tục hịa giải, địa điểm, thời gian tiến hành hịa giải. Vì vậy, các bên và hòa giải viên được phép lựa chọn phương thức trực tuyến để tiến hành hòa giải, với điều kiện phải đảm bảo quy trình này tuân thủ 03 nguyên tắc được quy định tại Điều 4.
Sau khi tiến hành hòa giải trực tuyến, các bên cũng cần quan tâm tới các quy định liên quan đến văn bản về kết quả hòa giải thành. Theo Điều 15, khoản 3, văn bản về kết quả hòa giải thành phải có chữ ký của các bên và hịa giải viên thương mại. Đồng thời, các nguyên tắc quy định tại Điều 4 cũng có thể được Tịa án xem xét khi các bên yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành.
<b>2.1.2. Quy định về tổ chức hòa giải thương mại. </b>
<i>Thứ nhất, thành lập Trung tâm hoà giải thương mại: Theo pháp luật hiện</i>
hành, việc thành lập trung tâm hồ giải được quy định “Cơng dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn hịa giải viên thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định này muốn thành lập Trung tâm hòa giải thương mại gửi 01 bộ hồ sơ đến Bộ Tư
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">pháp Trung tâm hoà giải thương mại được thành lập nên bởi cá nhân là cơng dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn hoà giải viên thương mại theo quy định pháp luật” (Khoản 1 Điều 21 Nghị định 22/2017/NĐ-CP).
<i>Thứ hai, đăng ký hoạt động hoà giải thương mại của Trung tâm trọng tài:</i>
Về việc đăng ký bổ sung hoạt động hoà giải thương mại, Trung tâm trọng tài cần chuẩn bị hồ sơ bao gồm: Giấy đề nghị bổ sung hoạt động hoà giải thương mại theo mẫu số 03/TP-HGTM ban hành kèm theo Thông tư số 02/2018/TT-BTP, dự thảo Quy tắc hoà giải của Trung tâm. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ Tư pháp ra quyết định bổ sung hoạt động hoà giải cho Trung tâm trọng tài, nếu từ chối thì phải thơng báo lý do bằng văn bản.
<i>Thứ ba, quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức hồ giải thương mại:</i>
Tổ chức hịa giải thương mại có một số những quyền cơ bản như sau:
<i>Một là, quyền cung cấp dịch vụ hoà giải. Hoạt động cung cấp dịch vụ hoà</i>
giải bao gồm việc tiếp nhận vụ việc đến việc sắp xếp để tiến hành giải quyết tranh chấp như hỗ trợ chỉ định hoà giải viên theo yêu cầu của các bên.
<i>Hai là, quyền thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ liên quan</i>
đến hoà giải thương mại.
<i>Ba là, quyền đối với hồ giải viên thương mại thuộc tổ chức mình.</i>
Về nghĩa vụ, tổ chức hồ giải thương mại có các nghĩa vụ cơ bản sau:
<i>Một là, nghĩa vụ đối với các bên tranh chấp. Nghị định 22/2017/NĐ-CP</i>
không tập trung quy định nghĩa vụ của tổ chức hoà giải đối với các bên tranh chấp, mà chủ yếu sẽ được căn cứ vào Quy tắc hoà giải và thoả thuận hợp đồng với các bên.
<i>Hai là, nghĩa vụ đối với hồ giải viên thương mại. Tổ chức hồ giải có</i>
trách nhiệm trả thù lao và các chi phí khác cho hòa giải viên thương mại.
<i>Ba là, một số nghĩa vụ khác về mặt chuyên môn trong hoạt động cung cấp</i>
dịch vụ hoà giải thương mại. Tổ chức hoà giải thương mại cần ban hành quy tắc đạo đức và ứng xử của hòa giải viên thương mại; xây dựng, ban hành và cơng bố cơng khai Quy tắc hịa giải, mức thù lao hòa giải.
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><i>Bốn là, một số nghĩa vụ nhằm phục vụ hoạt động quản lý hành chính Nhà</i>
<b>2.1.3. Quy định về hồ giải viên:</b>
Hoà giải viên thương mại là cá nhân trực tiếp thực hiện việc giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM bằng phương pháp hoà giải.
Tiêu chuẩn hành nghề hoà giải viên thương mại: Pháp luật Việt Nam hiện nay áp dụng cả hai loại tiêu chuẩn định lượng và định tính cho việc hành nghề của hồ giải viên. Về tiêu chuẩn định lượng, hoà giải viên phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thời gian công tác trong lĩnh vực được đào tạo từ 02 năm trở lên.
<b>2.1.4. Quy định pháp luật về trình tự, thủ tục hoà giải trực tuyến:</b>
Hiện nay, Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại là văn bản quy định cụ thể về hoạt động hòa giải thương mại.
<i>Thứ nhất, các bên tranh chấp lựa chọn/chỉ định hoà giải viên và xác định</i>
quy tắc hoà giải. Nghị định 22/2017 về hoà giải thương mại đã xác định hoà giải viên thương mại (chủ thể giải quyết tranh chấp) bao gồm hoà giải viên thương mại vụ việc và hoà giải viên thương mại của tổ chức hoà giải thương mại.
<i>Thứ hai, trình tự, và thủ tục tiến hành hồ giải trực tuyến. Như đã phân</i>
tích ở trên, pháp luật hiện hành của Việt Nam khơng có các quy định cụ thể điều chỉnh trình tự thủ tục tiến hành hoà giải trực tuyến.
<i>Thứ ba, kết thúc hồ giải. Q trình hồ giải thương mại có thể được kết</i>
thúc trong những trường hợp sau:
(i) Khi các bên đạt được kết quả hoà giải thành;
(ii) Khi hoà giải viên, sau khi tham khảo ý kiến các bên, tuyên bố rằng theo ý kiến của hoà giải viên thì việc tiếp tục thủ tục hồ giải trực tuyến khơng có khả năng đạt được kết quả;
(iii) Khi một hoặc các bên thơng báo tới hồ giải viên rằng bên đó muốn chấm dứt hồ giải;
</div>