ĐÁNH GIÁ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VỐN VAY NƯỚC NGOÀI THÔNG
QUA KÊNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP (FDI)
1. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA FDI CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Vốn FDI được hầu hết các nước đang phát triển coi là một kênh quan trọng để bổ sung
nguồn lực cho quá trình tăng trưởng và công nghiệp hoá vì những thế mạnh sau
(Helleiner, 1987, Karel Jansen, 1995):
(1) Về vốn: nguồn vốn FDI thường ổn định hơn so với các loại vốn nước ngoài khác, ví
dụ so với vốn vay thương mại hay vốn đầu tư gián tiếp, và mang tính dài hạn hơn vì các
nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư vào các dự án
dài hạn.
(2) Về công nghệ: công nghệ các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào thường rất đa dạng, có
thể là công nghệ mới hoặc công nghệ thích ứng với đặc điểm của nước chủ nhà; hoặc
nâng cấp công nghệ hiện có hay thay đổi mô hình tiêu dùng hiện có. Đôi khi các nhà đầu
tư còn xây dựng các cơ sở nghiên cứu và triển khai (R&D) ở nước chủ nhà nên cũng góp
phần làm thay đổi công nghệ của các doanh nghiệp trong nước qua tấm gương của họ.
Chính vì vậy mà tiến bộ kỹ thuật trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thường tăng
nhanh hơn khu vực sử dụng vốn trong nước (De Melo, 1988; Van Wijnbergen, 1986).
(3) Về thị trường: các nhà đầu tư nước ngoài có thể tạo điều kiện tiếp cận thị trường
nước ngoài cho một số hàng hoá và dịch vụ được sản xuất tại nước chủ nhà và hỗ trợ
nước chủ nhà phát triển các loại hình sản xuất và dịch vụ mới nhằm khai thác tốt hơn lợi
thế cạnh tranh của nước đó. Lợi ích thu được qua quá trình này cũng rất lớn; các doanh
nghiệp trong nước có thể học hỏi được kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến, tăng được
hiệu quả kinh tế, mở rộng cạnh tranh, tăng khả năng tiếp cận các thị trường mới
(4) Về kỹ năng và phương pháp quản lý: khi triển khai các dự án FDI, các nhà đầu tư
nước ngoài thường thực hiện các chuyển giao kỹ năng và tri thức qua các khoá đào tạo.
Các doanh nghiệp trong nước cũng có thể tiếp thu các kiến thức mới thông qua học hỏi
trực tiếp các chuyên gia. Lợi ích của việc chuyển giao tri thức này rất lớn, không chỉ đối
với doanh nghiệp trong nước mà ngay cả đối với các doanh nghiệp có vốn FDI, vì sau khi
cải tiến để thích nghi với tình hình mỗi nước, các kỹ năng, tri thức và phương pháp quản
lý sẽ giúp các doanh nghiệp nước ngoài duy trì được khả năng cạnh tranh của họ.
(5) Về môi trường: thông qua việc đưa công nghệ sạch và hệ thống quản lý môi trường
hiện đại vào các nước chủ nhà, các dự án FDI có khả năng tác động tới phương pháp
quản lý và công nghệ thực hiện tại các doanh nghiệp trong nước cũng như bản thân các
doanh nghiệp có vốn FDI để hướng các doanh nghiệp này phát triển theo quan điểm sạch
hơn và phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường.
(6) Đặc biệt, vốn FDI có một ảnh hưởng rất tích cực tới đầu tư của khu vực tư nhân.
Vì vốn FDI là một thành phần của đầu tư tư nhân; do đó việc tăng lượng vốn FDI bản
thân nó cũng là tăng vốn đầu tư của khu vực tư nhân. Hơn nữa, vì vốn FDI và vốn tư
nhân trong nước cùng được xác định bởi một số biến phản ánh môi trường đầu tư của đất
nước nên khi dòng vốn FDI chảy vào nhiều thì các nhà đầu tư tư nhân trong nước sẽ nghĩ
rằng môi trường đầu tư đã tốt hơn, do đó tăng thêm đầu tư. Tăng đầu tư tư nhân nói
chung sẽ kéo theo tăng tổng cung và tổng cầu theo cơ chế nhân tử (thu nhập) và cơ chế
gia tốc (đầu tư).
Mặt khác, các dự án FDI mới thường huy động thêm nguồn vốn trong nước để bổ sung;
và do trong các dự án liên doanh, vốn trong nước thường được triển khai nhanh hơn vốn
nước ngoài nên khi có huy động vốn nước ngoài thì tốc độ tăng trưởng của vốn tư nhân
trong nước thường tăng lên khá mạnh (Helleiner, 1987). Ngoài ra các doanh nghiệp trong
nước có thể cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho các doanh nghiệp có vốn FDI, do đó
cũng có thêm cơ hội phát triển.
2. TÁC ĐỘNG 2 MẶT
Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên to lớn của dòng vốn nước ngoài qua các kênh thu hút
đầu tư trực tiếp (FDI), như bổ sung vốn đầu tư và gia tăng nguồn động lực mới, tích cực
và mạnh mẽ hơn cho phát triển của đất nước, cải thiện cơ cấu và trình độ phát triển kinh
tế, công nghệ, thị trường, đội ngũ lao động và quản lý… vẫn cần tỉnh táo nhận diện
những tác động mặt trái của chúng để có các giải pháp thích ứng.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới mọi dạng sẽ an toàn và tốt hơn việc trực tiếp
vay nợ thương mại (kể cả dưới dạng mua hàng trả chậm theo L/C). Hơn nữa, điều này
còn tránh cho nước tiếp nhận đầu tư những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường,
kinh nghiệm quản lý-kinh doanh quốc tế. Cùng với những bảo đảm pháp lý có tính quốc
tế, bằng cách điều chỉnh những chiếc “van” như: Ưu đãi thuế, tài chính, tiền tệ, phát triển
hạ tầng cứng-mềm, các thủ tục hải quan, hành chính, các nước chủ nhà có thể hướng dẫn
luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đúng chỗ, đúng lúc, đủ khối lượng cần thiết
theo kế hoạch định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội của mình. Song, trong lĩnh vực
tưởng chừng toàn những điều tốt lành này, những tác động mặt trái của FDI vẫn ẩn khuất
đâu đó:
Thứ nhất, thực tiễn thế giới cho thấy, dòng vốn đầu tư này chỉ thực sự tích cực và góp
phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu
phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả
năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và
giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. Ngược lại, nếu thiên về khuynh hướng
kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt
quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu tư, thì về lâu dài,
chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu và làm mất cân đối
tài khoản vãng lai, do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước.
Thứ hai, nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”) không được
thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc nhiên “những
lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt. Mặt khác, khi đó
nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ, khả năng xuất khẩu,
mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này
theo kiểu “bỏ thì vương, thương thì tội”. Ngoài ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc
một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư
kiểu ấy gây ra. Do đó, hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi, hoặc không
tương xứng với chi phí của nước chủ nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi
trường, tức “một tiền gà, ba tiền thóc”.
Thứ ba, để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các chuyên gia thế
giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3 USD, thậm chí
nhiều hơn. Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ
lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên
những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra.
Thứ tư, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự án FDI,
nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp, tạo áp lực thất nghiệp và là nguồn phát
thải, gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai. Đặc biệt, các dự án xây dựng sân golf ở
đồng bằng, vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho các nhà kinh doanh du
lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai.