Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.7 MB, 50 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCMKHOA KINH TẾ</b>
<b>MÔN HỌC: GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH</b>
<b>TIỂU LUẬN</b>
<b>PHÂN TÍCH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN HĨA CẦN LƯU Ý KHI GIAO TIẾPTRONG KINH DOANH VỚI NHẬT BẢN</b>
<b>GVHD: Đinh Hoàng Anh Tuấn</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>LỜI CẢM ƠN</b>
Trước tiên với tình cảm sâu sắc và chân thành nhất, cho phép chúng em được bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các thầy cô và bạn bè đã hỗ trợ, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài tiểu luận này. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của q Thầy Cơ và bạn bè.
Với lịng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến Thầy - người đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Nhờ có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy nên bài tiểu luận cuối kỳ của chúng em mới có thể hồn thành tốt đẹp.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn Thầy - người đã trực tiếp giúp đỡ, quan tâm, hướng dẫn em hoàn thành tốt tiểu luận này trong thời gian qua.
Trong quá trình làm khó tránh khỏi sai sót, rất mong thầy sẽ bỏ qua. Đồng thời do kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy để học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn để làm hành trang cho tương lai. Chúng em xin gửi tới mọi người lời chúc thành công trên con đường sự nghiệp của mình.
Chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy!
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>DANH MỤC HÌNH ẢNH</b>
Hình 2.1 Người Nh t rót rậ ượu cho đồối tác 12
Hình 2.2 Cách người Nh t trao danh thiếốpậ 14
Hình 2.4 Các ki u cúi chào c a ngể ủ ười Nh tậ 18
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>DANH SÁCH THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN</b>
HỌC KỲ I, NĂM HỌC 2021 - 2022
1 Đặng Thị Thùy Dương Phụ trách Chương 2
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>MỤC LỤC</b>
<b>MỞ ĐẦU... 1</b>
<b>1. Lý do chọn đề tài...1</b>
<b>2. Mục tiêu nghiên cứu... 1</b>
<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...1</b>
<b>4. Phương pháp nghiên cứu...1</b>
<b>5. Kết cấu tiểu luận... 2</b>
<b>CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHẬT BẢN...3</b>
2.1.5. Làm việc có phương pháp, cần cù, cẩn thận, không ganh tỵ...9
2.1.6. Người ngoại quốc nghĩ gì về người Nhật?...10
<b>2.2. Văn hố giao tiếp trong kinh doanh của người Nhật...11</b>
2.2.1. Sự hòa thuận... 11
2.2.2. Nghệ thuật chiêu đãi khách...11
2.2.3. Cương vị lãnh đạo và cấp bậc xã hội...12
2.2.4. Các cuộc gặp gỡ trong kinh doanh...13
2.2.5. Giữ chữ tín, giữ lời hứa...15
2.2.6. Nguyên tắc khi giao tiếp của người Nhật...17
2.2.7. Văn hóa quà tặng của người Nhật...22
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b>2.3. Phong cách trong đàm phán kinh doanh của người Nhật...23</b>
2.3.1. Tôn trọng lễ nghi và trật tự thứ bậc Xã hội...23
2.3.2. Coi đàm phán như một cuộc đấu tranh thắng bại...24
2.3.3. Tránh xung đột bằng cách thỏa hiệp...24
2.3.4. Tìm hiểu rõ đối tác trước đàm phán...25
2.3.5. Chiều theo và tơn trọng quyết định...26
2.3.6. Cách nói giảm nói tránh...26
2.3.7. Trao đổi thơng tin, đàm phán rất lâu và kỹ...26
<b>2.4. Những điều cần lưu ý khi giao tiếp với người Nhật...28</b>
2.4.1. Trước khi bắt đầu cuộc đàm phán...28
2.4.2. Trong quá trình đàm phán...30
2.4.3. Sau khi đàm phán...32
<b>CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐIỂM TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TRONG VĂN HĨA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NHẬT...33</b>
<b>3.1. Điểm sáng cần học hỏi trong văn hóa giao tiếp với người Nhật...33</b>
<b>3.2. Những điểm hạn chế trong văn hóa Nhật Bản...37</b>
<b>KẾT LUẬN... 39</b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO...1</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><b>MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài</b>
Trong môi trường kinh tế mở cửa và hội nhập ngày nay, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào tiềm lực tài chính, tiềm lực con người mà còn bởi lối sống, cách giao tiếp với đối tác, quản lý thời gian và phương pháp làm việc hiệu quả. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển ngoạn mục và đang trên con đường cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa như các nước tiên tiến trên thế giới nên việc giao lưu kinh tế để mở rộng thị trường với các nước trong khu vực là điều cần thiết và mang lại nhiều lợi ích. Ngày nay, rất nhiều người Nhật đã, đang và sẽ làm việc với Việt Nam, mối quan hệ giao thương giữa hai quốc gia ngày càng phát triển hơn. Trong quá trình tiếp xúc, giao tiếp với người Nhật, ít nhiều gì chúng ta thường cảm thấy lúng túng hoặc không hiểu nhiều về họ và ngược lại. Điều này khiến cho công việc giữa hai bên không đạt được hiệu quả cao, hoặc chúng ta sẽ mất cơ hội làm ăn hay phải chịu thiệt thịi hơn…. Do vậy, việc tìm hiểu về người Nhật và văn hố kinh doanh của họ dù ít hay nhiều cũng thực sự là rất cần thiết và hữu ích cho chúng ta. Q trình tìm hiểu văn hoá kinh doanh với người Nhật giúp ta giao tiếp xuyên văn hoá được với họ, hiểu được các giá trị hình thành nên hành vi và giao tiếp của họ, cũng như để tránh được những hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra, tạo được mối quan hệ làm ăn lâu dài và có hiệu quả trong quá trình tiếp xúc với họ. Từ những quan điểm trên, nhóm chúng em chọn “Phân tích những đặc điểm văn hóa cần lưu ý khi giao tiếp trong kinh doanh với Nhật Bản” làm đề tài nghiên cứu.
<b>2. Mục tiêu nghiên cứu</b>
Phân tích những đặc điểm văn hóa cần lưu ý khi giao tiếp trong kinh doanh với Nhật Bản.
<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu</b>
Đối tượng nghiên cứu: người Nhật Bản khi giao tiếp trong kinh doanh. Phạm vi nghiên cứu: đất nước Nhật Bản.
<b>4. Phương pháp nghiên cứu</b>
Tiểu luận sử dụng những phương thức như phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp luận, phương pháp so sánh, thống kê,…
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><b>5. Kết cấu tiểu luận </b>
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì kết cấu bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu chung về Nhật Bản
Chương 2: Văn hóa giao tiếp ứng xử của người Nhật Bản
Chương 3: Những điểm tích cực, hạn chế trong văn hoá giao tiếp của người Nhật
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHẬT BẢN1.1. Khái quát về Nhật Bản</b>
Vị trí địa lí
Nhật Bản là một quốc gia hải đảo hình vịng cung, có tổng diện tích là 379.954km, nằm trải dài theo sườn phía đơng của lục địa châu Á. Đất nước này nằm ở phía Đơng của Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc, trải dài từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển Trung Quốc ở phía Nam. Nhật Bản bốn bề là biển, đất nước gồm bốn hịn đảo
<b>chính là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku.</b>
Hình 1.1. Bản đồ Nhật Bản (Nguồn Internet). Kinh tế
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên, ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh. Tuy nhiên, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi trong những năm 1945 - 1954, phát triển cao độ trong những năm 1955 - 1973 khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục. Nhật Bản là một quốc gia đứng đầu thế giới về khoa học công nghệ, đứng thứ hai thế giới về tổng sản phẩm nội địa và là đứng thứ năm trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phịng. Khơng chỉ vậy, Nhật Bản còn xếp thứ tư thế giới về xuất khẩu và đứng thứ sáu thế giới về nhập khẩu. Quốc gia này là thành viên thường trực của Tổ chức Liên Hợp Quốc. Cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đồn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng Yên Nhật.
Giáo dục
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Nhật Bản được biết đến là một trong những đất nước có nền giáo dục hàng đầu thế giới. Số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ người mù chữ thực tế bằng không và 72.5% số học sinh theo học lên đến bậc đại học, cao đẳng và trung cấp. Điều này đã tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp của Nhật trong thời kỳ hiện đại.
Tại Nhật Bản, yếu tố con người rất được chú trọng, được xem là đòn bẩy thúc đẩy cơng cuộc hiện đại hóa và phát triển kinh tế đất nước. Tấm bằng được cấp bởi những cơ sở đào tạo tại Nhật Bản có giá trị trên tồn thế giới.
Tơn giáo
Nhật Bản là nước có nhiều tơn giáo. Thần đạo, tôn giáo lâu đời nhất ở Nhật Bản, là sự phức hợp của những tín ngưỡng sơ khai ở Đơng Á. Thần đạo có các vị thần được gọi là "kami" có thể ban phúc lành, chẳng hạn như một cuộc hôn nhân. Vào thế kỉ thứ VI, Phật giáo hệ phái Bắc Tông du nhập vào Nhật Bản qua Triều Tiên. Nghệ thuật và kiến trúc tinh tế của đạo Phật khiến cho tôn giáo này thu hút được sự quan tâm của triều đình lúc đó và Phật giáo trở thành quốc giáo của Nhật Bản. Đạo Phật nhanh chóng được truyền bá khắp Nhật Bản và nhiều tông phái Phật giáo đã ra đời và phát triển, trong đó nổi tiếng nhất ở phương Tây là Thiền tông (Zen). Thiên chúa giáo do người Bồ Đào Nha du nhập vào Nhật Bản năm 1549 và được khá nhiều người Nhật tin theo. Ngày nay ở Nhật khơng có một tơn giáo nào nổi trội và trên thực tế, có nhiều người Nhật cùng lúc tin theo nhiều tôn giáo khác nhau. Nhưng Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo của Nhật Bản với khoảng 90 triệu tín đồ và ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn, sâu sắc vào mọi mặt trong văn hóa, xã hội và lối sống của người Nhật.
Ngơn ngữ
Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: chữ Hán hay Kanji và hai kiểu chữ đơn âm mềm Hiragana (Bình Giá Danh) và đơn âm cứng Katakana (Phiến Giá Danh). Kanji dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa. Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ, … Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài, trừ tiếng Trung và từ vựng của một số nước dùng chữ Hán khác. Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại, đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các cơng ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hóa, khi nhập tiếng Nhật vào máy tính và được dạy ở cấp tiểu học nhưng chỉ có tính thí điểm. Số Ả
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số, nhưng cách viết số theo ngữ hệ Hán-Nhật cũng rất phổ biến.
<b>1.2. Văn hoá Nhật Bản</b>
Trang phục truyền thống
Trang phục truyền thống của người Nhật là áo Kimono, theo tiếng Nhật có nghĩa là “đồ để mặc”. Ngày nay, do sự hội nhập quốc tế và tính chất u cầu cơng việc nên Kimono khơng cịn được sử dụng để mặc hàng ngày như lúc trước, mà thường sử dụng vào các dịp lễ tết, tiệc cưới, lễ hội… Ở Nhật, phụ nữ mặc Kimono phổ biến hơn nam giới và có màu sắc hoa văn nổi bật, trong khi đó Kimono của nam giới thường tối màu và khơng có hoa văn.
Đặc biệt, Kimono dành cho nữ chỉ có một size duy nhất, chỉ cần bó trang phục lại cho phù hợp với thân mình là được. Có hai loại Kimono: Tay rộng và tay ngắn, tùy vào sở thích của người muốn mặc để lựa chọn. Bên cạnh Kimono, người Nhật còn mặc Yukata được làm bằng vải cotton nhẹ nhàng, thống khí và đặc biệt dành riêng cho mùa hè. Nhưng Yukata không được phép mặc ra những chỗ trịnh trọng đông người, vì nó giống như quần áo ngủ theo phong cách cổ xưa.
Ẩm thực
Nhắc đến ẩm thực Nhật Bản, ai cũng nghĩ ngay tới món ăn nổi tiếng nhất là món Sushi được chế biến bằng nhiều nguyên liệu khác nhau như tơm, cá, cua… gói cùng cơm trộn với giấm, đường, muối… Sushi rất đa dạng nhưng điểm chung khơng thay đổi giữa các loại đó là phần cơm trộn giấm. Món ngon nổi tiếng Nhật Bản có Sushi và Sashimi, Tempura, mỳ Udon, mỳ Soba, mỳ Ramen…
Văn hóa ăn uống
Người Nhật Bản trước khi dùng bữa sẽ đợi đông đủ tất cả mọi người ngồi vào bàn ăn và đợi người lớn tuổi uống hoặc ăn trước. Đặc biệt, bạn không được ngồi uống trước hoặc uống một mình. Mọi người sẽ cùng nhau nói “cạn chén” hoặc “xin cảm ơn tất cả mọi người”. Ngoài ra, trước khi ăn, người Nhật thường nói “itadakimasu” để cảm ơn những thực vật, động vật đã đánh đổi mạng sống của mình để cho họ bữa ăn ngon.
Người Nhật vẫn giữ thói quen ăn cơm bằng đũa cho nên khi ăn cơm, đũa sẽ để hướng ngang chứ không theo hướng dọc. Vì theo quan niệm người Nhật, đũa để thẳng vào người khác là khơng tốt do đó khi ăn họ kiêng ngoáy đũa hoặc bới thức ăn. Đặc
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">biệt, họ cho rằng không được để lại đồ ăn thừa, việc để đồ ăn thừa trên bàn hoặc ăn rơi vãi là một hành vi bất lịch sự.
Sau bữa ăn, bạn nên sắp xếp lại bát đũa theo trật tự ban đầu và nói câu “gochisosamadeshita” nghĩa là “cảm ơn vì bữa ăn” để thể hiện sự trân trọng khơng chỉ với đầu bếp mà cịn với nguyên liệu chế biến ra món ăn.
Văn hóa trà đạo
Trà đạo là một trong những nét văn hóa đặc trưng của người Nhật, bởi sự cầu kỳ, tinh tế của nó khiến cho cả thế giới phải nghiêng mình thán phục. Văn hóa trà đạo của Nhật khơng chỉ đơn thuần là những phép tắc pha trà và uống trà mà thơng qua đó người Nhật muốn tìm thấy giá trị tinh thần cần có của bản thân. Tinh thần trà đạo được biết đến qua 4 chữ Hòa – Kính – Thanh – Tịnh. Trong đó, “Hịa” là sự hài hịa giữa con người và thiên nhiên; “Kính” là tôn trọng người trên, yêu thương bố mẹ, bạn bè, con cháu; “Thanh” là tâm hồn thanh tịnh, thanh khiết cịn “Tịnh” có nghĩa là sự n tĩnh, vắng lặng mang đến cho con người cảm thấy nhẹ nhàng, tĩnh lặng.
Tinh thần võ sĩ đạo
Đây là nét đặc trưng của người Nhật, tạo nên sự độc đáo và hào khí. Tinh thần võ sĩ đạo là lý tưởng về lối sống đầy nghị lực và quyết tâm mà người Nhật ln hướng đến.
Để có thể trở thành võ sĩ đạo chân chính phải rèn luyện được các tính căn: Ngay thẳng, dũng cảm, nhân từ, lễ phép, tự kiểm sốt bản thân, lịng trung thành và danh dự. Với những đức tính này, từ một nước nghèo ở Đơng Á, chịu nhiều tổn thất từ thế chiến thứ 2 và thiên nhiên khắc nghiệt tàn phá, Nhật Bản đã vươn lên trở thành một trong những nước có nền công nghiệp và kinh tế phát triển hàng đầu thế giới.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><b>CHƯƠNG 2: VĂN HÓA GIAO TIẾP ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN2.1. Tính cách của người Nhật Bản</b>
Người Nhật vừa hung bạo vừa dịu dàng, nghiêm khắc và thơ mộng, mạnh mẽ và mềm mỏng, trung thành và xảo trá, dũng cảm và hèn nhát, bảo thủ và cầu tiến ... Đồng thời, họ chịu ảnh hưởng của Thần đạo và Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
Họ có tính thực dụng cao và tinh thần phiêu lưu mạo hiểm, tự học ở nước ngoài và khéo léo tinh luyện nền văn minh và văn hóa Trung Quốc. Khi họ nhìn thấy sự rực rỡ của văn hóa và văn minh Âu Mỹ, họ cũng đến để học hỏi và làm giàu thêm những gì họ đã có, cả bảo thủ và cấp tiến. Tuy nhiên, khi các phong trào Âu Mỹ càn quét Nhật Bản, họ ít nhiều đánh mất bản sắc của mình. Xã hội Nhật Bản chủ trương kết hợp giữa Nho giáo và sự tôn trọng của tầng lớp võ sĩ đạo, vì vậy người Nhật có tinh thần Lễ – Tín – Nghĩa – Trí – Nhân rất rõ ràng, hệ thống cấp bậc của xã hội Nhật Bản cũng được thể hiện rõ nét trong kinh doanh, trong văn hóa của các cơng ty Nhật Bản.
2.1.1. Tinh thần kỷ luật đi đôi với giáo dục
Người Nhật nổi tiếng là có tính kỷ luật cao, dù là khó khăn trong cuộc sống, chung tư tưởng, văn hóa, ... thì điều đó đã trở thành kỷ luật tự giác, nhưng khơng phải lúc nào cũng có. So với các dân tộc khác, người Nhật được biết đến là người cung cấp những chỉ dẫn chi tiết nhất.
Những nơi công cộng ln có đầy đủ các biển báo và thơng báo. Xe điện lúc nào cũng thông báo mở cửa bên nào, xin lưu ý đừng để quên hành lý, khi bước ra coi chừng khoảng cách giữa toa xe và thềm ga,… Nhìn vào các con đường ở Nhật Bản, có thể thấy rõ ràng rằng mọi nơi đều có màu trắng và giao thông được phân cách bằng các vạch kẻ. Nơi đông người hoặc nơi dễ xảy ra tai nạn, đường thơng thống. Nó cũng được sơn màu cam hoặc đỏ, và sơn đá laksa ... để xe khơng bị trượt. Ngồi ra cịn bố trí những tấm chỉ đường và loa phát nhạc báo cho người mù ở một số chỗ băng ngang đường. Trên tiền giấy cũng có những dấu hiệu nổi đặc biệt, tại các ga xe điện, người mù có thể tự mua vé vì có bảng ghi bằng chữ nổi dành cho người mù … Xung quanh các trường tiểu học, người dân thường cầm cờ để hướng dẫn trẻ em qua đường.
Nói tóm lại, để mọi con người Nhật đều có ý thức tốt đòi hỏi sự hướng dẫn và giáo dục cụ thể để đáp ứng với môi trường sống và những thay đổi xã hội theo thời đại.
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">2.1.2. Lễ nghĩa – Lịch sự
Bạn có thể thấy rằng người Nhật rất lịch sự và chào nhau không phải một lần mà đến năm lần bảy lần. Ăn mặc lịch sự, ăn nói nhẹ nhàng, khơng hay chửi bới ầm ĩ. Khơng thể đốn được họ đang làm việc gì khi chỉ nhìn họ trên phố, quần áo của họ luôn sạch sẽ, áo quần luôn sạch sẽ, họ chỉ thay quần áo lao động khi đến nơi làm việc.
Việc đàn ông Nhật bắt gặp những người lạ khác giới lngồi đường, có ý dụ dỗ, tán tỉnh, trêu ghẹo là việc không bao giờ xảy ra. Nhưng khi ở với mặt bạn bè, nam và nữ dường như gần gũi và tự nhiên hơn so với người Việt Nam. Cùng nhau nhậu nhẹt, nhưng nếu một bên say thì bên kia sẵn sàng giúp đỡ. Họ cư xử rất điềm đạm và ít khi nổi nóng, nhưng khi nóng giận thì rất khó can thiệp và cũng ít khi can ngăn nhau. Ở cơng sở, xí nghiệp, việc cấp trên mắng cấp dưới cũng như vậy, mặc dù trước mặt nhiều người nhưng cũng không giữ thể diện cho người bị mắng, để người ngoài thấy rõ sự sợ hãi của cấp dưới. Và nhiều khi cấp dưới thực hiện mệnh lệnh mà không cần suy nghĩ, chỉ để làm vui lòng cấp trên! Họ nghiêm khắc với nhân viên của mình nhưng rất vui vẻ và chiều ý khách hàng. Đây là cái giá mà người Nhật đã phải trả cho sự ổn định và phát triển của xã hội.
Nền giáo dục Nhật Bản đào tạo trẻ em Nhật Bản khả năng làm việc cùng nhau ngay từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên, trong các hoạt động bình thường, chẳng hạn như nhóm bạn hoặc hội tự quản ... họ sẽ đối xử với nhau thân thiện và bình đẳng hơn. Đặc biệt người Nhật tham gia các cuộc họp rất nghiêm túc, sôi nổi phát biểu ý kiến và ghi chép rất kỹ. Cuộc họp thường rất dài, và hầu hết mọi người đều biết vấn đề rồi mới bắt đầu làm việc. Các bà mẹ Nhật dạy con tự lập ngay từ khi con biết đi. Người mẹ bỏ đi trước, đứa trẻ theo sau, nếu đứa trẻ vấp ngã, quấy khóc thì người mẹ vẫn đứng trước chờ đợi thay vì chạy đến giúp đỡ như người Việt. Các em tự quyết rất nhiều, đến khoảng 13, 15 tuổi thì bố mẹ không được can thiệp vào cuộc sống riêng tư của các em, không được hỏi thăm kết quả học tập của các em ở trường ... Nhưng vì thế mà họ không được sự chỉ dẫn của người đi trước, họ làm theo bản năng của mình, dễ bạn bè xấu lôi kéo là làm điều xấu, gây ra nhiều tệ nạn xã hội.
2.1.3. Lạnh nhạt – Thân thiện
Nhiều người nhận xét rằng người Nhật rất “lạnh lùng”, có thể điều này cũng đúng, nhưng nó chỉ đúng với một số người Nhật. Khi quen nhau lâu, họ sẽ vượt qua giới hạn ngại ngùng, cởi bỏ vẻ bọc bên ngoài và thân thiện hơn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">Ở Nhật Bản, nhiều người thường đi gõ cửa từng nhà để quảng cáo hoặc mời chào tơn giáo, vì vậy nhiều ngôi nhà được treo biển từ chối để tránh bị quấy rầy. Người Nhật dù ở nhà cũng có thói quen khóa từ bên trong để tránh bất trắc.
Người nước ngoài rất ngạc nhiên khi lần đầu nhờ giúp đỡ thì họ rất nhiệt tình nhưng đến lần thứ hai họ lại lạnh nhạt. Vấn đề là người Nhật sẵn lịng giúp đỡ, nhưng họ đã quen với tính tự lập, nên nếu bạn nhờ lần thứ hai một việc tương tự thì họ cảm thấy khơng vui, khơng muốn giúp nữa mà muốn bạn hãy cố gắng tự lập.
2.1.4. Cứng rắn – Hay khóc?
Những người ở Nhật lâu năm chắc hẳn đã tận mắt chứng kiến và thấy rằng người Nhật rất dễ khóc. Chẳng hạn, khi chia tay họ thường khóc, hoặc chẳng may có người mất, nếu là người thân thì người Việt Nam có thể khóc, nhưng nếu chỉ là bạn bè thì họ sẽ cố gắng giúp đỡ đám tang chứ hầu như khơng có gì. Nhưng người Nhật thì khác, nhiều nhân viên người Nhật mới quen nhau được vài tháng vẫn khóc, đơi khi mặc áo tang một cách thận trọng.
Họ tôn trọng kỷ luật và nghiêm chỉnh chấp hành mọi quy định khi gia nhập tổ chức. Ở những nơi công cộng, họ ln kiên nhẫn xếp hàng dài thay vì xơ đẩy. Hình ảnh phổ biến nhất là một nhà hàng đông đúc, nơi người Nhật sẵn sàng xếp hàng cả tiếng đồng hồ. Trong cuộc sống của một xã hội công nghiệp, họ rất xem trọng việc đúng giờ, đặc biệt là trong các buổi ký kết hợp đồng.
2.1.5. Làm việc có phương pháp, cần cù, cẩn thận, khơng ganh tỵ
Người Nhật chấp nhận khó khăn và phức tạp, học tập và chịu đựng rất kiên nhẫn, và phong cách làm việc bài bản là bí quyết thành cơng của họ. Nó cũng phức tạp như ngơn ngữ của họ, sử dụng tới 5 loại ký tự khác nhau, đó là tiếng Hán, Quốc Tự, Hiragana, Katakana và tiếng Latinh và hán tự lên đến 20, 25 cách phát âm. Làm việc có nề nếp, họp bàn, học tập tận tâm, phân công tận tâm, làm việc tận tâm. Đơi khi người nước ngồi rất sốt ruột, tại sao họ lại mất nhiều thời gian để chuẩn bị, rồi ai cũng ngạc nhiên rằng họ bắt tay vào làm, họ làm nhanh và điêu luyện đến vậy.
Khi bạn mua sắm ở Nhật Bản, đặc biệt là trong các cửa hàng lớn, bạn sẽ thấy đúng "Khách hàng là nhất!". Họ rất tử tế và lịch sự, người mua thì nói lời cảm ơn rất nhiều, thậm chí bạn mở mọi thứ ra nhưng khơng mua thì hãy cảm ơn và sắp xếp lại, nhân viên khơng hề có ý phàn nàn vì việc đó. Khi khách hàng đưa tiền, nhân viên thường cầm tiền bằng hai tay, sau đó kẹp vào máy tính tiền để tránh nhầm lẫn với các
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">loại tiền 5.000 Yên hoặc 10.000 Yên. Đồng thời dùng hai tay khi thối tiền cho khách và sau đó cúi chào, khi nhận tiền cũng như khi thối tiền họ thường điếm lại 2 lần. Trong trao đổi danh thiếp đôi khi thấy họ trao và nhận bằng hai tay, nhất là những người có địa vị thấp hơn.
Người Nhật làm việc đến xong chứ không lo canh giờ về và phải xong một cách hồn mỹ chứ khơng thấy hết giờ thì làm vội qua loa. Khó có thể thấy người Nhật vừa nói chuyện vừa làm việc, vừa hút thuốc vừa uống cà phê. Nói chung họ chủ trương làm chậm mà chắc, mong sản phẩm ln hồn hảo và vượt trội hơn những sản phẩm hiện có.
Khi làm việc cùng nhau, người Nhật không hỏi nhau về mức lương để xem liệu cơng việc của họ có tương xứng với mức lương của họ hay khơng.
2.1.6. Người ngoại quốc nghĩ gì về người Nhật?
Trong chương trình của CHTV – Tokyo No Sugao (Đơng Kinh Tố Nhan, Mặt Thật Của Tokyo), phóng viên đã phỏng vấn một số người ngoại quốc, yêu cầu họ cho một lời cảm nghĩ về Nhật. Cuộc phỏng vấn bất chợt và chớp nhống, đơi khi người trả lời nửa đùa, nửa thật, không thể hiện hết mọi sự kiện, nhưng cũng cho chúng ta vài nét khái lược.
- Một phụ nữ Đức: "Người Nhật thân thiện. Ở đây nhiều đồ điện, kỹ thuật quá, tôi muốn một cái gì tự nhiên, giản dị hơn".
- Một phụ nữ Canada: "Người Nhật rất lễ nghĩa. Ở đây ít công viên quá".
- Một phụ nữ Hoa Kỳ: "Ở đây an tồn. Cịn cái xấu là ơng chồng tơi, ơng ta là người Nhật".
- Một đàn ông Hoa Kỳ: "Người Nhật không thân thiện với người ngoại quốc. Ở đây bất tiện vì ít bảng chỉ đường bằng tiếng Anh".
- Một phụ nữ Bỉ (Belgium): "Người đông quá, môi trường bị ô nhiễm, bị kẹt xẹ". - Một đàn ông Trung Quốc: "Th nhà khó khăn, địi hỏi người bảo lãnh... Sở Nhập Quốc gây khó khăn".
- Một đàn ơng Việt Nam "Thuê nhà, cơ sở thương mại khó khăn, thường bị từ chối". - Một phụ nữ Miến Điện: "Bị đối xử phân biệt".
- Một phụ nữ Lào: "Chỉ thích tiền Nhật."…
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><b>2.2. Văn hố giao tiếp trong kinh doanh của người Nhật</b>
2.2.1. Sự hòa thuận
Trong giao tiếp, người Nhật không muốn đối đầu, họ tin tưởng sự thỏa hiệp và hòa giải. Tin tưởng tuyệt đối vài quyết định của tập thể, khơng nói ra cảm xúc thật vì muốn duy trì sự hịa thuận. Tính bằng hữu trong kinh doanh thì quan trọng hơn tính logic, người Nhật thường nói chuyện xã giao trước khi bàn bạc và hãy xem đối tác để quyết định thời điểm bắt đầu thảo luận công việc. Người Nhật thường tỏ ra khó hiểu, khá phức tạp. Lời nói “vâng” của họ có thể có nghĩa là “khơng” nếu đi kèm với những cụm từ như We will think about it (chúng tôi sẽ suy nghĩ về điều đó), We will see (chúng tơi sẽ xem lại) hoặc Perhaps (có lẽ). Bạn có thể mất ba lần gặp gỡ và có khi một năm để mối quan hệ kinh doanh của họ trở thành chính thức.
Người Nhật đánh giá cao sự đồng tâm hiệp lực, lãnh đạo là người quyết định sau khi nghe ý kiến nhân viên. Quyết định sau cùng phải được mọi người nghiêm túc chấp hành vì quyết định đó thể hiện sự đồng tâm hiệp lực của tất cả mọi người. Không tranh cãi: người Nhật khơng quen với việc tranh cãi vì họ khơng thích tách mình ra khỏi tập thể. Tỏ thái độ bất đồng được xem là thô thiển, họ thích nói nhẹ nhàng và lịch sự.
2.2.2. Nghệ thuật chiêu đãi khách
Ăn uống là thông lệ chung của các doanh nhân, sự tương tác của hai phía trong bữa tiệc cịn quan trọng hơn cả thức ăn. Khơng nên mang vợ đến những buổi tiệc này, chủ tiệc người Nhật thường là đàn ông và họ không bao giờ mang phu nhân theo họ. Người Nhật vẫn còn trọng nam hơn nữ, nên chúng ta rất ít gặp những đối tác kinh doanh là nữ. Các buổi tiệc chiêu đãi thường vào buổi tối và có rất nhiều thức ăn và rượu uống thoải mái, và đây là lúc họ nói lên cảm xúc thật của mình. Việc đổ nước tương trực tiếp lên cơm bị xem là bất thường.
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">Hình 2.1. Người Nhật rót rượu cho đối tác (Nguồn Internet).
Người ta ít khi tự rót rượu cho mình trong các cuộc giao tế. Thơng thường, một người sẽ rót rượu cho người đi cùng và ngược lại người bạn sẽ rót rượu cho người đó. Tuy nhiên nếu một trong hai người đang uống rượu từ trong chai và người kia chỉ uống từ ly thì bạn có thể tự rót rượu, nếu khơng sẽ phải chờ rất lâu.
2.2.3. Cương vị lãnh đạo và cấp bậc xã hội
Người Nhật đánh giá cao sự đồng tâm hiệp lực, lãnh đạo là người ra quyết định sau cùng sau khi đã lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Quyết định của lãnh đạo là đại diện của sự đồng tâm hiệp lực của tất cả mọi người. Giá trị của mỗi cơng ty là sự hịa thuận và tuân theo của từng thành viên và quyết định sau cùng phải được mọi người nghiêm túc chấp hành.
Nhật Bản là một xã hội luôn nhấn mạnh “Chúng tôi” thay vì “Tơi”. Các quyết định quan trọng thường được thảo luận và chỉ khi có sự nhất trí thì mới được đưa ra. Cũng vì mọi kết quả đều là sự nỗ lực của cả một tập thể nên sẽ là không phù hợp khi khen ngợi một cá nhân cụ thể.
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">2.2.4. Các cuộc gặp gỡ trong kinh doanh Người Nhật rất coi trọng giờ hẹn
Khi đi làm việc với người Nhật ta phải chủ động lựa chọn phương tiện hợp lý và thời gian đảm bảo để tránh trễ hẹn với bất kì lý do nào. Cách tốt nhất là chúng ta nên có mặt ở nơi hẹn trước 5 phút, điều này cũng được xem là là sự tôn trọng và coi trọng cuộc hẹn với họ.
Người có cấp bậc cao nhất sẽ là người tiến vào phòng đầu tiên, chủ nhà sẽ là người giới thiệu các thành viên tham dự và theo cấp bậc từ cao đến thấp.
“Họ” được dùng để giới thiệu cùng với cấp bậc thay vì tên.
Trong giao tiếp phải có khoảng cách, khi giới thiệu cúi đầu chào nhau, cúi thấp hay cao tùy thuộc vào cấp bậc.
Khi bắt tay không nên siết mạnh và không giao tiếp bằng mắt, các vị khách quan trọng thường là người bước ra khỏi phòng trước.
Những tinh thần chủ đạo trong văn hóa danh nhân: · Doanh nhân phục vụ đất nước.
· Quang minh chính đại. · Hịa thuận nhất trí. · Lễ độ khiêm nhường. · Phấn đấu vươn lên. · Đền đáp công ơn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">Trao danh thiếp
Hình 2.2. Cách người Nhật trao danh thiếp (Nguồn Internet).
Nhật Bản là một trong những nước sử dụng danh thiếp nhiều nhất thế giới, vì vậy khi trao đổi làm ăn với họ để tránh gây ấn tượng khơng tốt là khơng có hay hết danh thiếp thì ta phải chuẩn bị kĩ danh thiếp của mình, trao danh thiếp ở lần gặp đầu tiên. Danh thiếp nên in 2 mặt, một mặt tiếng Nhật và mặt còn lại bằng tiếng Anh. Nên chuẩn bị nhiều danh thiếp hơn so với dự trù một tí. Vì việc khơng có hoặc hết danh thiếp khi giao dịch là điều bất lịch sự và để lại ấn tượng không tốt với doanh nhân tại đây. thiếp cho đối tác cần thực hiện nghiêm túc và ứng xử theo cách có văn hóa. Danh thiếp phải được cho và nhận bằng hai tay, trong suốt cuộc gặp gỡ danh thiếp phải được để trên bàn. Sau khi gặp xong phải được trân trọng cho vào ví và khơng bao giờ được nhét vào túi quần sau.
Người Nhật rất coi trọng việc gặp mặt trước khi hợp tác và rất chu đáo trong việc chăm sóc khách hàng.
<b>Làm quen: bắt đầu từ những cuộc gặp gỡ đầu tiên, thời gian này khơng nên</b>
hấp tấp. Vị trí ngồi cũng như cách giới thiệu phụ thuộc vào cấp bậc từ cao đến thấp. Sau cuộc gặp này, họ thường mời bạn dùng cơm tối với họ đây cũng là cách xây dựng mối quan hệ thân mật hơn.
<b>Thu thập thông tin: hãy đề cho người cấp cao nhất và trợ lý ông ta đề cập đến</b>
mục đích gặp, đây cũng là dấu hiệu của cuộc thương thảo sắp bắt đầu. Chúng ta thu
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">thập thông tin từ đối tác và chuẩn bị thật chi tiết cho đề nghị của mình, nên sẵn sàng trả lời những câu hỏi từ phía họ. Người Nhật khơng ra quyết định cho lần gặp này.
<b>Đùa cợt không được chấp nhận trong thương lượng: rất nghiêm túc trong</b>
công việc nên họ không bao giờ đùa giỡn khi chưa chứng tỏ được năng lực của mình. Họ chỉ đùa giỡn sau khi hồn thành xong công việc hay sau giờ làm việc.
<b>Thỏa thuận miệng: người Nhật tin vào thỏa thuận bằng miệng và đối với</b>
những hợp đồng chuẩn bị chi tiết sẽ gây mất lịng tin từ hai phía, sự tranh chấp được coi là giảm đi sự hòa thuận.
<b>Các thương nhân người Nhật rất thích chụp ảnh: trong các buổi hội đàm,</b>
nhất là dưới hình thức quốc huy, quốc kì và lãnh tụ của các nước sở tại. Và đối với việc mời ăn, đón, tiễn sân bay sẽ gây được thiện cảm tốt, đặc biệt chú ý trong bữa ăn mời khách, ta nên chủ động rót đồ uống cho khách, tránh trường hợp khách tự rót đồ uống cho mình. Đối với các bữa ăn của doanh nhân thì khơng nên mang vợ theo, chủ tiệc người Nhật thường là đàn ơng vì Nhật cịn trọng nam hơn nữ nên họ sẽ không bao giờ mang phu nhân họ theo. Và chúng ta cũng sẽ rất ít gặp đối tác kinh doanh là nữ, các bữa tiệc thường được tổ chức vào buổi tối có rất nhiều thức ăn và rượu. Đây chính là lúc họ nói lên cảm xúc thật của mình. Việc đổ nước tương trực tiếp vào cơm bị xem là bất thường.
<b>Tôn trọng ý kiến tập thể: Trong công việc người Nhật thường gạt cái tôi lại để</b>
đề cao cái chung, tìm sự hịa hợp giữa mình và những người xung quanh. Các tập thể có thể cạnh tranh với nhau rất gay gắt song cũng có lúc họ lại bắt tay với nhau để có thể đạt được mục đích chung như để đánh bại đối thủ nước ngồi. Vì vậy mà điều tối kỵ là làm mất danh dự của tập thể.
2.2.5. Giữ chữ tín, giữ lời hứa
Người Nhật rất nguyên tắc về thời gian và sự cam kết. Khi người Nhật hứa làm xong việc vào đúng thời gian này, thì chắc chắn họ sẽ thực hiện đúng thời gian và đảm bảo chất lượng và không rộng lượng, dễ bỏ qua lỗi lầm cho người khác khi sai hẹn. Vì họ coi trọng ấn tượng của lần đầu tiên gặp mặt nên nếu doanh nghiệp Việt Nam không thực hiện được lừi hứa thì việc đầu tiên là phải xin lỗi, cho dù bất cứ lý do gì. Sau đó tìm cơ hội thích hợp để giải thích.
<b>Câu chuyện của Giáo sư Kiyohiro Kokarimai về giữ lời hứa với sinh viênViệt Nam.</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Giáo sư Kiyohiro Kokarimai chọn Việt Nam để làm cuộc viếng thăm. Mỗi ngày trên các tờ báo Nhật ơng đều đọc và tìm hiểu về Việt Nam. Ông đã lập kế hoạch và trao đổi trong ba năm để thực hiện chuyến đi này. Ông đi cùng vợ, bà tốt nghiệp ngành sư phạm chuyên về lịch sử.
Hình 2.3. Giáo sư Kiyohiro Kokarimai (Nguồn Internet).
Vợ chồng giáo sư rất hăm hở vì muốn chứng kiến sự đổi thay của đất nước Việt Nam và mong muốn đến thuyết giảng với sinh viên trẻ của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh. Chắc chắn cuộc sống sẽ trở nên hữu ích hơn khi những tri thức tích lũy lâu nay được chuyển giao cho các bạn trẻ Việt Nam để họ có thể vận dụng, xây dựng đất nước mình. Ơng nói muốn phát triển, khơng có con đường nào khác ngồi việc nâng cao vai trị của giáo dục và mở rộng hợp tác với các Đại Học Quốc Tế. Trên đường tiễn ông ra sân bay, tôi có hỏi về tình hình động đất và sóng thần ở Nhật. Ơng có người thân hay bạn bè ở những nơi đó khơng? Giáo sư nói q hương ơng ở Morioka, tỉnh Iwate, ở đó cịn anh trai và em trai của ơng. Người em trai có một chuỗi 42 siêu thị, trong đó có nhiều cái ở bờ biển đã bị sóng thần cuốn đi. Động đất xảy ra một ngày trước khi ông đến Việt Nam. Những người thân vợ của ơng cũng ở nơi này.
Ơng đắn đo mãi, tuy vậy vẫn thực hiện chuyến đi vì đã hứa với sinh viên Việt Nam. Cần phải giữ lời vì mối quan hệ quốc tế. Ơng nói vùng Iwate bây giờ rất khó khăn: mất điện, nước cúp, thức ăn thiếu thốn và ngoài trời tuyết đang rơi... Khơng thể bội tín, ơng đã bỏ lại sau lưng những người thân u của mình trong lúc khó khăn nhất, bỏ lại sau lưng những nỗi đau, những do dự... để đến Việt Nam, nơi những sinh viên đang
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">mong chờ lĩnh hội kiến thức từ ông. Xin cầu nguyện cho đất nước Nhật Bản vượt qua đợt thảm họa này. Với văn hóa vì cộng đồng dân tộc, sức mạnh kết tinh như vậy sẽ làm nên một sức sống mới cho Nhật Bản. Nơi đó khơng chỉ là sức mạnh của kỹ thuật với hàng hóa nổi tiếng chất lượng cao mà cịn những giá trị nhân văn, chữ tín mà nhiều dân tộc khác phải ngước nhìn đầy thán phục.
2.2.6. Nguyên tắc khi giao tiếp của người Nhật
Trong giao tiếp, người Nhật rất chú trọng những quy tắc, vì vậy khi giao tiếp với người Nhật cần phải biết những điều sau đây để tránh thể hiện những hành vi không lịch sự, gây ảnh hưởng đến mắt nhìn của người Nhật đối với chúng ta.
Với truyền thống văn hóa nghiêm ngặt như vậy, thì văn hóa giao tiếp của người Nhật Bản chủ yếu thể hiện qua các hình thức như sau:
Cúi chào
Trong giao tiếp của Nhật Bản, nghi thức đầu tiên khi gặp bất kỳ một người nào là nghi thức chào hỏi.
Nghi thức chào hỏi hay lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình và dựa vào đối phương có các cấp bậc thế nào mà sử dụng những kiểu cúi chào khác nhau để thể hiện lịng kính trọng của mình đối với người khác.
Người Nhật có ba kiểu cúi chào sau:
<b>Kiểu Saikeirei: là phải cúi xuống từ từ và rất thấp, dây là hình thức cúi chào cao</b>
nhất, nó biểu hiện sự kính trọng sâu sắc và được sử dụng trước bàn thờ trong các đền thờ của các Thần Đạo, Phật giáo, trước Quốc kỳ và trước Thiên Hoàng.
<b>Kiểu Keirei - cúi chào bình thường: thân mình cúi xuống khoảng 20 đến 30 độ</b>
và giữ nguyên từ 2 đến 3 giây. Còn nếu đang ngồi trên sàn mà muốn chào thì phải đặt hai tay xuống sàn, lịng bàn tay phải úp xuống dưới và đặt cách nhau khoảng 10 đến 20 cm, đầu phải cúi thấp cách sàn nhà và cách sàn từ 10 đến 15 cm.
<b>Kiểu Eshaku - khẽ cúi chào: là cách chào mà thân mình và đầu chỉ hơi cúi</b>
xuống khoảng một giây và hai tay đặt để bên hông.
</div>